Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, November 18, 2011

HOÀNG TẤN LINH – LỜI CHIA TAY


Tiễn những học sinh lớp 12 ra trường



Mùa hạ về và em như cây đàn cổ
Những bâng quơ dấu ái cũng qua dần
Mưa và nắng, đỏ và xanh ngày cũ
Từ bên trời thầm thĩ tiếng ve ngân


Chùm lửa cháy nói với em điều đó
Lá xuân thì ủ kín môi nghiêng
Cây bút dở khóc cười bên ô cửa
Da diết nhìn em tuổi ngoan hiền


Nhớ đừng khóc để ngày mai gặp lại
Vùng thương yêu hoa lá cũng về gần
Ô cửa níu xuân thì bên trang vở
Nụ xuân đầu quên nhớ bâng khuâng


Ta sẽ nói: mong em ngày gặp lại
Vì mai kia khi cuội đá trở mình
Ngoan hiền nhé soi mình em sẽ thấy
Mộng sơ nguyên e ấp bóng nguyên trinh

2010
HTL

linhtanhoang@yahoo.com.vn
thpthl@quangtri.edu.vn
READ MORE - HOÀNG TẤN LINH – LỜI CHIA TAY

Chùm thơ xướng họa chào mừng NGÀY NHÀ GIÁO VN 20-11

      Cô giáo trường làng - Quảng Trị 1967


Bài xướng    

NHỚ  MÃI CÔNG ƠN               

Võ  Làng Trâm                  

Nhờ ai dìu dắt chỉ đường khôn ,
Mới được nên thân, xác lẫn hồn.
Thầy dạy tận tình tròn đạo nghĩa,
Cô bày cặn kẻ vẹn lòng son.
Khuyên răn trên lớp - sâu như biển,
Nhắc nhở vào đời - lớn tựa non.
Mô  phạm một thời trang giáo án ,
Người ơi ghi nhớ mãi trong con !                                

                    VLT, Nha Trang-Khánh Hòa                         

           
Các bài họa

HẬU THẾ  VUI MỪNG LỚP CHÁU CON          

Nguyễn Hồng Trân 

Chẳng được học hành khó biết khôn,
Dày công luyện tập mới nên hồn.
Thầy lo dạy bảo lòng tâm huyết,
Trò nguyện chăm rèn chí sắt son.
Vững mạnh tinh thần bơi xuống biển,
Sẵn sàng ý chí chạy lên non.
Tương lai rộng mở chờ tài trẻ,
Hậu thế vui mừng lớp cháu con.                            

                                            NHT, Huế

CÔNG ƠN TRỜI BIỂN                                  

Thu Vân 

Thông suốt rạch ròi chữ dại khôn
Sạch trong chẳng vẩn đục tâm hồn
Uy nghiêm bục giảng ngời câu tứ
Thẳng thắn lời phê rạng nét son
Khắc cốt ơn đền sâu tựa biển
Ghi lòng nghĩa trả rộng như non
Cương nhu, sâu sắc nhà mô phạm
Cung kính, am tường phận của con.                                      

                                                TV 

THẦY LÀ  SAO SÁNG CỦA ĐỜI CON                                 

Lương Thế  Hùng 

Nhờ người dạy dỗ được nên khôn
Cuộc sống quanh con đã có hồn.
Chữ đức ghi lòng tươi sắc thắm
Nét tài tạc dạ đẹp màu son.
Công lao dài rộng như sông biển
Ơn nghĩa cao dày tựa núi non.
Kính chúc thầy cô luôn mạnh khỏe
Mãi là sao sáng của đời con.                               

                                          LTH                         


ƠN THẦY                   

Sông Thu   

Nhờ ai dạy dỗ mới nên khôn
Ơn ấy xin ghi tận đáy hồn
Trang bị, bổ sung nguồn kiến thức
Phát huy, gìn giữ tấm lòng son
Cả đời tận tụy trong câu chữ
Trọn kiếp trung thành với nước non.
Thầy: một vầng trăng luôn rạng rỡ
Tỏa ngàn tia sáng xuống đời con.                          

                                             ST

                  

NHỚ  ƠN CÔ           

Cao Bằng 

Cô hỡi em nay đã lớn khôn
Nhờ người chỉ dạy nở tâm hồn
Giờ đây nhớ kỹ dầu khôn lớn
Thuở ấy siêng rèn bởi tuổi son
Nghiêm nghị bàn cao - sư đạo mạo
Chăm ngoan duới lớp - đệ măng non
Ân cần khuyên bảo bao điều quý
Soi sáng tâm thần trí não con.

                                     CB  

GƯƠNG THẦN


Châu Thạch 

Thầy mở cho con kho trí khôn
Thầy nâng con cất cánh tâm hồn
Thầy bày con đứng như tùng bách
Thầy dạy con đi tựa vệt son
Lời ấy thầy ban sâu với biển
Ơn nầy con nhận lớn bằng non
Nhìn thầy bình dị đời mô phạm
Sáng cả gương thần trong mắt con ./.
                                                
                                            CT
READ MORE - Chùm thơ xướng họa chào mừng NGÀY NHÀ GIÁO VN 20-11

CÁP XUÂN TÚ – TÀ RỤT XA XÔI


Ai chưa đến đó

Tà Rụt, tôi đã từng nghe nhiều người đến đó, thậm chí có những người đã sống ở đó kể lại về một vùng đất heo hút. Tôi chỉ mường tượng, không định hình được nó như thế nào, con đường đến đó ra sao. Và Tà Rụt trở thành ước mong của tôi là một ngày sẽ đến.

Tôi tâm đắc câu thơ của Tố Hữu: Trường Sơn Đông nắng Tây mưa/Ai chưa đến đó thì chưa rõ mình. Thật vậy, Tà Rụt chưa đến thì chưa hiểu được Tà Rụt, và mình chưa hiểu được chính mình.

Đầu tháng 8, Đông Hà vẫn còn nắng rát với gió Lào khô khốc. Tôi được điều lên Tà Rụt công tác ba ngày - tập huấn chương trình dạy học của Intel ITGS. Vui lắm. Chạy xe máy từ Đông Hà lên đến cầu treo Đakrông, cảm giác bình thường với nóng trong khung cảnh quen thuộc, đồi tiếp đồi, núi tiếp núi cao dần cao dần. Dừng chân nghỉ ở quán nước ven đường Đường 9 tại ngã rẽ ngay chân cầu treo tôi lại bắt đầu đi theo Đường 14 - là đường Hồ Chí Minh đi vào phía Nam .



Chập chùng đại ngàn

Con đường quanh co, khúc khuỷu, uốn lượn theo sườn núi, bám theo dòng sông Đakrông. Nuớc sông mùa này không nhiều, thậm chí cạn ráo để trơ những lèn đá liêu xiêu hay những bãi cuội vàng ươm xen kẻ cây bụi lúp xúp. Hai bên sườn núi dựng đứng cao vút, bỗng thấy mình lọt thỏm giữa đại ngàn trùng điệp, núi tiếp núi lô nhô, sừng sững. Con đường sáng lên màu xám bạc tựa như con rồng con rắn uốn mình, lúc lên, lúc xuống. Có những đoạn đường nằm chênh vênh tưởng như đang treo bên sườn núi, sườn đổ xuống phiá sông dốc sâu thăm thẵm.



Bây giờ hơn 4 giờ chiều, tôi biết được từ Cầu treo Đakrông vào đến Tà Rụt là 50 km nên phải làm sao đến nơi trước 6 giờ tối. Lạ đường, đường quanh co hiểm trở nên không giám chạy nhanh dù rằng đường rất vắng xe. Thỉnh thoảng mới có một chiếc xe máy đi ngược chiều hoặc ai đó quen đường phóng nhanh chạy vượt lên - đặc biệt là mấy thanh niên người Pakô, Vân Kiều chở ba không đội mũ bảo hiểm. Phải vào Tà Rụt trước lúc trời tối cũng do sợ giữa đường trời mưa. Đuờng 14 nằm phía Tây Trường Sơn rồi nên khí hậu giống đất bạn Lào có nghĩa là nếu Đông Hà mùa nắng thì đó là mùa mưa. Mà mưa rừng nhiệt đời thì xối xả, chạy xe trong mưa thì như ai ném đá vào mặt. Hơn nửa phiá bên núi bạt taluy dốc quá nên dễ sụt đất.



Đi mấy cây số vắng ngắt mới có một bản  người dân tộc. Bản nằm trên sườn núi gần bờ sông. Cũng có vài bản thức thời hơn làm nhà dọc theo Đường 14. Qua một vài trung tâm xã như Tà Liêng, Tà Long, Húc Nghì , Pa Hy... cũng có trường, có trạm y tế, có điểm giao dịch của ngân hàng chính sách... và bóng dáng người Kinh.

Dọc đường cầu nhiều lắm, tên cầu cũng là điều cần phải nói. Ngoài một vài cầu có tên riêng như Cầu Tà Liêng, Cầu Húc Nghì.... còn phần lớn có hai cái tên được gọi nhiều nhất là CẦU BẢN - có lẽ do gần một bản làng nào đó, hoặc CẦU BTCT (tôi đoán là CẦU BÊ TÔNG CỐT THÉP). Cứ nghĩ rằng nếu gọi điện cho ai đó nói là mình đang đến cầu BTCT thì chắc người Tà Rụt cũng không thể biết mình đang ở chỗ nào đâu nếu không nói rõ vị trí.



Phần lo sợ trời tôi, đường quanh co lo giữ vững tay lái nên cái lưng mỏi cứng mà không dám nghĩ, chỉ mong sao đến được Tà Rụt. Xung quanh toàn núi bao quanh, khoảng trời thu nhỏ lại cùng mấy đám mây đen bay lững thửng. Gió núi mát lạnh. Tôi miên man suy nghĩ về những đồng nghiệp của mình đã gắn bó với mảnh đất này. Tôi tự hỏi vì sao họ có thể bám trụ ở đây hay ngày đầu tiên họ lên nhiệm sở thì họ có suy nghĩ gì và có ý định bỏ về không, nếu có thì cái gì níu giữ họ lại cho đến hôm nay...

Cái vẻ đẹp hùng vĩ của đại ngàn Trường Sơn làm tôi nhớ đến câu thơ của Quang Dũng trong Tây Tiến: Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm / Heo hút cồn mây súng ngửi trời... Tôi ngắm như cố thu hết tất cả vào trong tâm trí mình. Có dừng lại chụp mấy cái ảnh nhưng sau phải cúi đầu chạy cho kịp về trước khi trời tối.


Thị tứ

Rồi Tà Rụt cũng hiện phía bên kia sườn núi. Lác đác mấy cái nhà xây hai tầng, một cột ăng-ten của viễn thông có vẻ ra dáng thị thành. Ah, mà Tà Rụt là một thị tứ mà. Hai bên đường có nhiều quán xá: quán nhậu, quán café, quán karaoke, quán bán tạp hoá, bán hàng điện tử, tiệm may... đủ cả. Giữa đường, mấy chú dê vẫn chạy nghênh ngang, miệng gọi nhau be be... Mấy sơn nữ Pakô vẫn mang achói, miệng ngậm tẩu thuốc nhưng áo và xấn cũng bằng vải người Kinh đưa lên, cũng có mấy mé mang xấn thổ cẩm. Có những chiếc xe Wave Tàu lao vun vút do hai hoặc ba thanh niên dân tộc phóng đi vẫn đầu trần không mũ bảo hiểm.



Bao quanh thị tứ vẫn là núi, là mây. Có lẽ quá trình đô thị hoá đang diễn ra nhanh chóng trên đất này. Sau này tôi biết có một miếng đất rộng 10 mét sâu 25 mét nằm trên đường nhánh đi vào trường THPT Tà Rụt mà giá hơn 180 triệu. Oái, không biết người ta dự đoán nơi đây diễn ra những gì trong tương lai gần mà hét giá đất lên cao như vậy, cao hơn giá trị thực tại quá nhiều lần.

Hai bên đường nhánh rẽ vào từ Đường 14, nhà ở của đồng  bào dân tộc xen lẫn quán xá của người Kinh. Nhà sàn cũng đổi thay theo, vật liệu bê tông cốt thép, ván tráp xung quanh, mái lợp tôn thép hoặc tôn xi măng. Lâu lâu mới có được nhà sàn lợp tranh, vách nứa. Dù sao họ vẫn giữ lại nếp xưa đó là cái bậc thanh lên nhà vẫn bằng gỗ rừng, khung cửa sổ mặt trước vẫn là nơi để mọi người ngồi trầm lặng nhìn ra bên ngoài. Tôi có cảm giác như ngôi nhà bó buộc họ như rừng núi bó buộc họ cho dù cuộc sống hiện đại đang phát triển và lan dần đến đây và họ ngồi nhìn sự thay đổi và xem mình không phải là chủ thể của sự thay đổi đó.



Giữa bãi đất rộng sau trường THPT Tà Rụt còn những cây nêu bỏ lại sau ngày lễ hội đâm trâu tế Giàng của người Pakô. Chúng đã ngã mục vì nắng mưa lâu ngày bên gốc cây gạo cao vút lá réo với gió rừng lộng lộng. Không ai dám đến đó vì những đồ vật tế Giàng mà sờ vào thì bị phạt trâu, phạt bò cho cả bản. Ở đó chỉ có mấy con dê lẩn thẩn gặm cỏ, rồi tung tăng rượt đuổi nhau và cất lên be be be...



Nét nguyên sơ

Dù tại thị tứ, thay đổi diễn ra là vậy, nhưng đi về phiá A Bung cách 10 km về phiá Nam, cứ gọi là "Ngoại ô của Thị tứ" ta bắt gặp nét hoang sơ giữa núi rừng. Mái nhà sàn lợp tranh tre vẫn giữ gìn ngọn lửa ở cái bếp chính giữa gian nhà. Cô gái Pakô cười duyên mến khách,  trọ trẹ tiếng Kinh chào hỏi. Có gái chắc tuổi không nhiều nhưng những nếp nhăn đã hằn lên gương mặt và tấm lưng cong lại như gánh gồng khổ cực, ba bốn đứa trẻ đen nhẻm chạy đùa lung tung. Ngôi nhà với mái tranh toe tua, phên nứa xộc xệch, gầm sàn chất đầy đầy củi rừng. Củi rừng được lấy về bằng gùi chứ không gồng gánh như người Kinh. Gùi (achói) là loại công cụ lao động của người dân tộc dùng để mang vác. Gùi đan bằng mây song rất chắc chắn, được đặt trên bếp để hun khói và quét một lớp nhựa cây. Mùa này mới hái bắp xong, bắp phơi đầy sân.



Rất may mắn, tôi bắt gặp một cái nhà dài bị bỏ hoang. Nhà dài vốn là nơi bảo lưu rất rõ nét cơ cấu đại gia đình phụ quyền. Con trai lấy vợ, cháu trai lấy vợ làm thêm một gian nhà, thế rồi nhà cứ dài ra. Hiện nay bà con dân tộc làm nhà riêng ứng với một gia đình nhỏ. Quá trình phát triển xã hội và hiện đại cũng đồng thời là quá trình hủy diệt văn hóa cổ truyền chăng??? Như máy bơm nước thâm nhập làm cho gàu sòng, guồng đạp nước bị bỏ nát hay tivi, máy hát băng đĩa, karaoke làm xa dần những nhạc cụ mộc mạc của người dân tộc và những câu hát lý lơi ... chính đó là nguyên nhân làm rạn nứt các tập tục cổ truyền.


Mái tranh của ngôi nhà sàn vẫn còn, chiếc mõ gỗ phát ra lách cách của chú bò gặm cỏ, cái gùi vẫn đen màu khói, làn da cô gái Pakô vẫn rám nắng... bên cạnh là chiếc xe máy Tàu, chiếc áo pull phơi bên cạnh cái chảo bắt sóng vệ tinh VTV hay VTC...

Rồi cái nguyên sơ kia sẽ mất theo tháng năm, quá trình hiện đại hoá, đô thị hoá đang diễn ra ở đại ngàn Trường Sơn phiá Tây Quảng Trị vốn xưa là lam sơn chướng khí.



Tôi gặp biển báo khu vục biên giới. Nơi đây vẫn vậy, những thay đổi không khác mấy so với thị tứ Tà Rụt. Đầu nguồn dòng sông Đakrông vẫn cạn để trơ những bãi đá lô xô. Phiá bên kia bờ xa xa, mấy cô gái đang tắm mình trong dòng nước đục ngầu. Mấy hôm nay Tà Rụt mưa...

 

Xin hát về bạn bè tôi...

Bà con ở đây là vậy, nên những đồng nghiệp của tôi ở Trường THPT Đakrông II (Tà Rụt) cũng gặp không ít khó khăn. Trường mới được xây một dãy nhà ba tầng, dáng tạc vào dáng núi. Thị tứ chỉ có toà nhà này là cao tầng nhất. Học sinh ở đây gần 90% là người dân tộc. Tiếng Kinh là ngoại ngữ nên chắc chắn thầy cô mình sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Tôi đến trường khi nhà trường đang tổ chức học sinh thi lại. Nhìn danh sách gọi tên, từ đầu đến cuối toàn là họ HỒ. Các em ngồi làm bài nghiêm túc, không ai hỏi ai.





Nhiều thầy cô cho biết, nhà trường yêu cầu các em nên sử dụng tiếng Kinh trong giao tiếp, nhưng mà học sinh dân tộc nhiều quá nên mấy em học sinh người Kinh cũng nói tiếng dân tộc luôn. Các em thường theo bố mẹ lên rừng làm rẫy, hay nghỉ học. Mùa mưa này, khi nước ở con sông, con suối lên cao các em không thể đến trường được. Các em thiếu sách, vở, dụng cụ học tập. Cái nghèo khổ còn đó, trông chờ vào cái rẫy, cái nương, không đủ ăn, đủ mặc lấy gì mà sắm sửa cho việc học. Hàng năm Sở GD-ĐT Quảng Trị vẫn đề nghị các trường ở đồng bằng quyên góp giúp đỡ, nhưng biết mấy cho đủ... Đầu năm học, chưa có trợ giúp, các em không có sách học. Các thầy cô có ý định bỏ tiền ra mua sách cho các em rồi thu tiền lại sau. Chà, biết khi nào mà thu lại được, các em còn thiếu cái ăn, cái mặc, không có tiền mua sách vở thì lấy đâu ra tiền mà trả lại cho các thầy...


Khu tập thể giáo viên được xây mới thêm mấy phòng, còn chủ yếu ở 2 dãy nhà cũ. Các thầy cô đề rất trẻ, nhiều thầy cô ra trường mới 1 năm, 2 năm. Cả thầy Hiệu trưởng cũng xa vợ (vợ dạy ở Triệu Phong) cũng sống chung với anh em. 



Bể nước tập thể buổi sáng, mọi người ra đánh răng, rửa mặt, giặt giũ như khu tập thể sinh viên. Họ nấu ăn chung, bếp tập thể tềnh toàng cũng có đủ bát đĩa soong nồi.



Mỗi ngày cắt bốn giáo viên không có tiết phụ trách cơm nước, cứ luân phiên nhau. Giữa rừng núi xa xôi nên giá cả đắt đỏ, nhưng mà hàng hoá ở đây khá đầy đủ.



Chiều, các thầy cô cùng nhau đánh bóng chuyền. Sinh hoạt thường nhật. Món ăn tinh thần của anh em. Tôi cảm nhận được những tình cảm thương yêu, gắn bó sâu sắc, những mối đồng cam cộng khổ để cùng vượt qua khó khăn. Những ngày sống ở đây, tôi mới hiểu được và trả lời được câu hỏi mà mình day dứt trong suốt chặng đường lên với Tà Rụt: Vì sao họ có thể bám trụ được ở đây để dạy dỗ? Có phải chăng trong khó khăn gian khổ con người sống chan hoà yêu thương nhau hơn là khi họ được một điều kiện sống sung túc thuận lợi. Chốn đô thị phồn hoa lấp lành ánh đèn màu, những người chưng diện phấn son áo dài lả lướt đã khoả lấp và làm mờ nhạt những tình cảm gắn bó yêu thương và chen lẫn vào đó là những đố kỵ, ganh ghét, tỵ nạnh, nham hiểm và thủ đoạn...

Ai cũng chọn việc nhẹ nhàng, gian khổ sẽ về phần ai
Ai cũng một thời trẻ trai, cũng từng nghĩ về đời mình
Phải đâu may nhờ rủi chịu, phải đâu trong đục cũng đành
...
Xin hát về bạn bé tôi những người sống vì mọi người
Ngày đêm canh giữ đất trời, rạng rỡ như cành mai chiều xuân.

Ngày trở về Đông Hà. Năm giờ chiều bắt đầu rời Tà Rụt. Suốt chặng đường 100 km tôi hát thầm bài Một đời người một rừng cây không biết bao nhiêu lần. Bên tai vẫn văng vẳng lời dặn: "Thầy về đến Đông Hà thì nhắn tin cho em nghe!"

Cáp Xuân Tú

Bài và ảnh của Cáp Xuân Tú từ trang
vn.360plus.yahoo.com/capxuan-tu và  trang dayhocintel.net

Email: capxuantu@gmail.com, 
ĐT: 0914 061 428, 0944 944 648.
READ MORE - CÁP XUÂN TÚ – TÀ RỤT XA XÔI

Thursday, November 17, 2011

TRẦN HỮU THUẦN - GIỌNG NÓI TIẾNG VIỆT NAM TỪ BẮC VÔ NAM

 Chợ Quảng Trị, 1969




Một nhận xét về biến chuyển của phát âm và giọng đọc tiếng Việt

1.       Về bài Tiếng Quảng trị
Sau bài Tiếng Quảng trị[1], tôi may mắn được mở rộng thêm tầm mắt với hai bài phân tích Thử xem qua một số từ vựng Quảng trị[2] của Nguyên Nguyên  và Giọng Huế - Giọng Quảng trị: Phụ âm lỏng/chặt – Nguyên âm thường/ngằn[3] của Trần Văn Mầu. Không biết còn có vinh dự được thức giả nào bàn đến ở nơi nào khác nữa không. Nếu có, trước hết tôi xin tạ lỗi, và sau đó nếu có ai biết đến xin vui lòng cho tôi được biết.
Tôi vốn chỉ là người nêu lên dữ kiện mà không nhận xét vì bản thân thực không một mảy may kiến thức dù sơ đẳng nhất về ngôn ngữ học và nhân chủng học. Nếu tôi có đưa ra nhận xét thì chẳng qua cũng chỉ là thiển ý mà thôi. Và vì không kiến thức nên khi đọc bài của Nguyên Nguyên, tôi chỉ nhận ra được một cảm giác chung chung là, “Thì ra các từ mà tôi cho là của tiếng Việt cổ đó cũng chỉ là vay mượn của các dân tộc khác.” Ngay trong phân tích hai từ áo lá đầu tiên, Nguyên Nguyên đã cho thấy “‘Áo’ là một từ mang gốc Mon-Khmer [?aav ]…. ‘Lá’ là một từ mang gốc Thái [laa] ….” Lối phân tích này tôi cho là rất gần với phương pháp của học giả Bình Nguyên Lộc trong Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam[4], ví dụ phân tích từ lá cây ở trang 332. Tuy nhiên, học giả Bình Nguyên Lộc không cho từ “lá” mang gốc nào khác mà chỉ là “một danh từ chung của cả hai bọn cổ Mã Lai di cư thành hai đợt cách nhau 2.500 năm” (sđd. tr. 331).
Khi viết bài Tiếng Quảng trị, tôi không muốn nói rằng bản liệt kê của tôi là đặc thù của Quảng trị. Bối cảnh bài viết tôi đã thu gọn vào chỉ làng An du tây của tôi, và đặt vấn đề tại sao trong chỉ một làng nhỏ mà lại có các cách dùng từ khác nhau. Một số từ trong liệt kê của tôi được dùng ở vùng từ Thanh hóa vào đến Thừa Thiên, số khác được dùng ở các tình khác đôi khi với ý nghĩa khác. Từ cươi chẳng hạn được vùng Bình định dùng nhưng với nghĩa hẹp là sân phơi lúa, và hình như một số vùng ở Miền Nam cũng dùng với nghĩa này. Về các từ ngày trước có ghi trong từ điển thời Alexandre de Rhodes mà Nguyên Nguyên cho là “có vẻ quốc ngữ chưa phân biệt âm [Y] với [Nh]: dè dẹ=nhè nhẹ; dịn=nhịn…,” tôi không nghĩ như vậy. Tôi cho là vì Alexandre de Rhodes và các linh mục thừa sai thời đó phát xuất từ Đàng Trong, vùng Bình Trị Thiên nên đã ký âm tiếng Việt theo phát âm của vùng đó. Người Bình Trị Thiên “chính gốc” không nói nhè nhẹ mà giè giẹ, không là cái nhà mà là cấy già vv, với [GI] không có âm gió như [D] của giọng Miền Bắc. Nếu de Rhodes ký âm là dè dẹ đi nữa thì cũng không đáng ngạc nhiên vì vùng này không phân biệt [GI] và [D] như vừa nói. Vào thời này, có rất nhiều từ tiếng Pháp chẳng hạn chúng ta chưa dịch được nên phải mượn âm Hán việt để ký ví như từ inspiration (cảm hứng) tiếng Pháp được ký thành [yên sĩ phi lý thuần], từ évêque (giám mục) ký thành đức vít vồ (ký âm từ Latin episcopus), từ croix ký thành câu rút (ký âm từ Latin crux hay Tây ban nha cruz[5]), từ chêne (cây sồi) định nghĩa là một thứ cây kia! Quí vị nào còn giữ được từ điển thời đó thì thấy ngay. Tôi còn cho rằng các từ được ghi trong các từ điển của Alexandre de Rhodes hay của Huỳnh Tịnh Của không xác định nguồn gốc của tiếng Việt ta mà chỉ là các từ được dùng vào thời đó. Có từ không được ghi trong các từ điển đó thì chẳng lẽ không phải là từ Việt. Ví dụ, từ lang (thầy lang, ông lang, lang băm) không được ghi trong Đại Nam Quấc âm Tự vị của Huỳnh Tịnh Paulus Của[6] thì chẳng lẽ không phải  là từ tiếng Việt?
Cũng theo thiển ý, một dân tộc thường có một số từ nguyên thủy của ngôn ngữ và một số từ vay mượn. Số từ nguyên thủy nhiều hay ít tùy theo sự phát triển của dân tộc đó trước khi giao lưu với các ngôn ngữ khác. Ví dụ, người Pháp có các từ gốc Gaulois, người Anh Anglo-Saxon. Cũng có thể bây giờ người ta thấy một số dân tộc có cùng chung các từ nguyên thủy vì lúc ban đầu các dân tộc này là một. Việc vay mượn thường có qua có lại, nhưng từ mà dân tộc lớn vay mượn của dân tộc nhỏ thường ít hơn so với việc vay mượn ngược lại. Việc vay mượn này cũng đi qua hai nguồn, bình dân và học giả. Quan sát ngôn ngữ chúng ta vào thời Pháp thuộc, ta thấy chúng ta vay mượn bình dân từ tiếng Pháp một số từ ví như cùi dìa (cái muỗng—cuillière), xúp (canh—soupe), va li (cái rương đựng áo quần—valise) vv. Ngược lại, người Pháp cũng đem vào ngôn ngữ họ các từ của ta như là le nhaque (người nhà quê, thôn quê), le cainha (cái nhà)  vv. Đến thời giao lưu với tiếng Anh, chúng ta cũng thấy hiện tượng đó. Bình dân Việt Nam vay mượn tiếng Anh ví như từ car (xe ca), và ngược lại người Mỹ cũng nhận vào pho (phở), chagio (chả giò). Tuy nhiên, như vừa nói, việc vay mượn này tùy thuộc vào sự chung đụng văn hóa và lịch sử, và dân tộc nhỏ vay mượn từ dân tộc lớn nhiều hơn. Các ngôn ngữ châu Âu vay mượn tiếng Latin vì dân tộc Rôma đã từng là một đế quốc hùng mạnh; người Nga người Anh một thời đã coi trọng tiếng Pháp, nhất là giới thượng lưu.
Nếu điều này là một lệ thường thì tại sao dân tộc Việt lớn hơn các dân tộc chung quanh lại toàn vay mượn của dân tộc khác mà không nói ngược lại là các dân tộc khác đã vay mượn của chúng ta? Đây không phải là tự ái dân tộc mà là một nhận xét theo lệ thường. Giả sử một ai đó nghiên cứu về từ [laa] Thái thì sẽ cho đó là tiếng nguyên thủy Thái hay là một từ mang gốc Việt Nam [lá], một cách nói ngược lại phân tích của Nguyên Nguyên cho rằng từ lá “là một từ mang gốc Thái [laa]….”? Tiện thể, cũng trong câu này, Nguyên Nguyên nhận xét “Ngày trước, thứ áo lót ‘mai-dô’ cũng được gọi nôm na: ‘áo thun lá’.” Theo tôi, không phải “ngày trước” mà ngày nay người Miền Bắc vẫn gọi là áo thun lá cái áo lót ‘mai-giô’ do tiếng Pháp le maillot (mai-giô chứ không đọc được là mai-dô) được bình dân vay mượn vào tiếng Việt chúng ta như tôi vừa thảo luận bên trên.
Ngược lại, tôi rất thâm ý với phân tích của Trần Văn Mầu về âm tiếng Việt chúng ta. Đây là lần đầu tiên, thú thực, tôi thấy việc phân tích từ Việt thành âm ngắn âm dài như vậy. Không thể ký âm các từ Bình Trị Thiên như “ôông” thành ôn được vì ôông dài mà ôn  thì ngắn. Tôi cũng tán đồng việc ký âm mà Trần Văn Mầu gọi là phụ âm cuối lỏng còn tôi thì cho là dài, ví như thọg hay thọk để đọc là thoọc. Tuy nhiên, nếu đề nghị loại bỏ hai chữ cái ă và â thì ký âm thế nào cho thuận tiện để phân biệt câm và cơm, và ký âm từ tăm cách thế nào? Nếu có thay đổi cách ký âm tiếng Việt hiện đại, theo tôi, chúng ta nên nghĩ lại các âm cứng [cờ] mà ta dùng cả [C] và [K]. Thật khổ cho trẻ con ráp vần, C+A=Ca nhưng C+E≠Ce mà phải là K+E=Ke. Tôi nghĩ điều này do các linh mục thừa sai ký âm tiếng ta nhưng chịu ảnh hưởng của các ngôn ngữ châu Âu như Latin, Pháp, Tây ban nha vv. về âm tiết này. Riêng về [Y] và [I], tôi nghĩ có hai trường hợp khác nhau. Khi cả hai được dùng như nguyên âm thì tại sao lại không qui định bỏ [Y] chỉ dùng [I] mà thôi. Có sự khác biết gì trong giọng đọc tiếng Việt chúng ta với cách viết quốc ngữ lý trí và lí trí, tỷ số và tỉ số? Do đó, nên hay chăng qui định chỉ giữ lại một cách viết mà thôi? Khi [Y] được dùng như nguyên âm kép thì không thể bỏ được, vì [AI] phát âm khác với [AY], ví dụ nai với nay.
2.       Biến chuyển giọng của tiếng Việt:
(21) Giọng Miền Bắc:
Bây giờ, xin cho tôi được chuyển qua một nhận xét về giọng tiếng Việt. Từ Bắc vô Nam ta lại nắm tay. Nắm tay thì tốt rồi nhưng e có chút trở ngại là đôi khi không hiểu nhau dù tất cả đều nói một thứ tiếng—tiếng Việt. Nếu lấy Huế làm trung điểm của cán cân, ta thấy có một sự thay đổi trong giọng nói của tiếng Việt chúng ta từ Bắc vô Nam. Sự biến chuyển này ở các vùng liền nhau  là tiệm tiến một cách có thể khó nhận ra. Tuy vậy, giọng nói của chúng ta có thể được phân chia thành ba miền rõ rệt: giọng Miền Bắc, Miền Trung và Miền Nam mà tôi gọi là giọng bắc, giọng trung, và giọng nam. Miền Bắc nói chung từ cực bắc đến tiếp giáp Miền Trung có một giọng nói thanh tao. Một tài liệu cổ (rất tiếc tôi không nhớ được nha đề, xuất xứ và không thể truy cứu vào lúc không thuận tiện này) của một quan lại Trung quốc báo cáo về cho triều đình Trung quốc đã mô tả rằng tiếng Việt nghe ríu rít như chim. Ông quan này đã ký âm một số từ Việt bằng chữ Trung hoa mà khi ta đọc lại theo âm Hán Việt thì không còn biết được âm thật của tiếng ta vào thời đó như thế nào nữa. Ví dụ, trong văn kiện này có từ Hán Việt đọc là đà bị[7] mà tôi còn nhớ để chỉ người vợ. Giọng nói nghe ríu rít như chim này nhất định là giọng Miền Bắc nước ta vì vào thời đó, Miền Trung và Miền Nam chưa thuộc về nước Việt.
Thế nhưng, ngay trong phạm vi Miền Bắc, giọng nói cũng thay đổi từ vùng này sang vùng khác. Khởi đầu từ cực bắc với Sơn tây, Lạng sơn, Cao bằng vv., giọng miền bắc có một chút “ngọng ngịu” và phát âm [L] và [N] đều  thành [N], vì dụ lẫn lộn thành nẫn nộn. Giọng Hải phòng và Hà nội vẫn có một chút khác biệt, vì nghe như giọng Hải phòng nặng hơn, tuy có người cho rằng giọng Hà nội nghe có phần điệu hơn. Vòng qua Bùi chu, Phát diệm, Nam định, giọng Bắc đã nghe có âm hưởng nặng thêm chút nữa.
Ưu điểm của giọng bắc là phân biệt rõ ràng các phụ âm cuối [C] và [T], [N] và [NG] và đầu [D] và [GI]. Xin cho tôi ngưng lại để tạ ơn những người đã chế ra chữ quốc ngữ.  Thật khó mà diễn tả điều tôi muốn nói nếu tiếng ta được ký âm bằng chữ Nôm hay lối chữ tượng hình nào khác. Người Bắc không bao giờ lẫn lộn giữa cắc (bạc cắc) và cắt (cắt thịt), khăn (cái khăn) và khăng (khăng khăng), giây (giây phút) và dây (dây dưa). Có lẽ tôi phải quay lại để không đồng ý với Nguyên Nguyên về nhận xét trong bài Thử xem qua khi đề cập đến từ thọoc. Nguyên Nguyên cho rằng “thời chưa có quốc ngữ, phân biệt âm cuối [T] và [C] không được nhấn mạnh, tại phần lớn nước Việt.” Phân biệt hay không phân biệt theo tôi là tại tiếng chứ không tại chữ, như Trần Văn Mầu viết “học tiếng, chứ không học chữ.” Tôi nghĩ là giọng Miền Bắc đã từ lâu phân biệt rõ rệt các âm như vừa trình bày, còn các miền khác cho đến nay đã có chữ quốc ngữ vẫn không được “nhấn mạnh.” Do đó, nếu nói các miền còn lại giọng nói không phân biệt các âm cuối [C] và [T] theo ký âm chữ quốc ngữ hiện thời thì phát biểu này không sai. Có hay không có cách ký âm gọi là quốc ngữ thì giọng nói của ba miền đất nước chúng ta vẫn như vậy. Một điều chắc chắn nữa, các từ với phụ âm cuối là [C] hay [T] theo quốc ngữ hiện thời, dù cách đọc khác biệt của các miền đất nước vẫn được ký âm chỉ bằng một cách viết chữ Nôm mà thôi, không phải một cho giọng bắc và một cho giọng nam. Nghĩa là, một âm được ký bằng chữ Nôm vẫn được đọc các cách khác nhau nếu có giữa các miền khác nhau. Nguyễn Du chỉ ký âm một cách duy nhất câu thơ được ký âm lại bằng chữ quốc ngữ là Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen đề được giọng bắc đọc là Chời (Giời) xanh quen thói mà hồng đánh ghen trong khi giọng Huế đọc là Trời xanh queng thoái má hồng đánh gheng.
Về âm sắc, giọng Bắc phân biệt các dấu hỏi, ngã. Điều lạ là, Alexandre de Rhodes và các giáo sĩ thừa sai hồi đó đến trước hết ở Đàng Trong tại sao lại biết được sự phân biệt hỏi, ngã của giọng Miền Bắc. Cũng nên ghi nhận là biểu tượng dấu ngã bây giờ lúc ban đầu không phải chỉ để biểu hiện cách phát âm từ thấp vút lên cao của dấu ngã mà còn để thay thế âm cuối [NG]. Trong cuốn Phép giảng tám ngày[8] tôi còn nhớ đã viết, “Tôi càu cũ Đức Chúa Blời….” (Tôi cầu cùng Đức Chúa Trời). Phải chăng điều này cho thấy đã có sự cộng tác của những người nói giọng bắc trong việc hình thành chữ quốc ngữ bây giờ.
Nhược điểm của giọng bắc là không phân biệt [CH] và [TR] nói thành [CH], [S] và [X] nói thành [X], ví dụ Châu (châu phê) và trâu (con trâu) nói giống nhau thành châu; sanh (sanh sản) và xanh (màu xanh) đều nói thành xanh.
(22) Giọng Miền Trung:
Bước vào Thanh Nghệ Tĩnh, giọng bắc gần như đột nhiên chỉ còn âm hưởng. Người vủng này nói nghe mai mái vẫn còn âm điệu của giọng bắc, nhưng giọng nói nặng hơn nhiều và đã xuất hiện một âm điệu khắc hẵn âm điệu Miền Bắc, và nhiều từ Miền Bắc không có. Cách riêng hai tỉnh Nghệ an và Hà tĩnh, giọng nặng cho đến nổi nhiều người không quen nghe, không thể hiểu được, kể cả người thuộc vùng Bình Trị Thiên với giọng mà người khác cho là nặng. Đến Quảng bình, âm hưởng giọng bắc hoàn toàn biến mất. Giọng nói nhẹ lên nhiều so với giọng Nghệ Tĩnh, nhưng vẫn còn nặng nếu chỉ so sánh giữa ba tỉnh Bình Trị Thiên. Giọng Bình Trị Thiên nhẹ hẵn đi khi đến Thừa thiên, cao bỗng và dịu dàng theo một cách riêng.
Đặc điểm của giọng Thanh Nghệ Tĩnh Bình Trị là vẫn còn phân biệt phụ âm cuối [C] và [T], [N] và [NG], nhưng thêm vào đó còn phân biệt được [CH] và [TR], [S] và [X] mà giọng bắc lẫn lộn. Ngược lại, người vùng này hoàn toàn không phân biệt phụ âm đầu [D], [GI] và [NH]; họ chỉ nói toàn phụ âm [GI] mà thôi. Họ nói dà, già, và nhà đều thành một âm già. Vùng Thừa thiên phân biệt được [CH] và [TR], [S] và [X], nhưng phụ âm cuối [C] và [T] đều nói thành [C], [N] và [NG] đều thành [NG], ví dụ cắc và cắt  đều nói cắc, man (di) và mang (vác) đều thành mang. Phụ âm đầu [D], [GI] và [NH] đều nói là [GI]. Người Thừa Thiên còn phát âm [OI] thành [OAI], ví dụ nói (năng) thành noái (năng).
Bước qua Đèo Hải vân, giọng tiếng Việt chúng ta đột nhiên khác hẵn bắt đầu từ Quảng nam. Nếu giọng từ Thanh hóa đến Thừa thiên có vẻ bình bình thì giọng từ Quảng nam trở vào cho đến Miền Nam lại bắt đầu lên xuống như giọng bắc. Bắt đầu từ Quảng nam, giọng nói giữ lại việc phân biệt và không phân biệt các phụ âm như giọng Thừa thiên, ngoại trừ [OI] thành [OAI]. [D] và [GI]  đều như là [GI], ví như dây và giây đều phát âm là giây, nhưng vùng  này đã phân biệt phụ âm đầu [GI] và [NH] như già và nhà.
Vùng Nam Ngãi Bình Phú lại có các cách phát âm khác nhau. Nam Ngãi không nói là kéo (dây) mà nói rị, không nói hộc (bàn, tủ) mà nói thọa, không nói (ghế) đẩu mà nói là (ghế) giuông. Nam Ngãi phát âm [AM] nghe như [OAM], ví dụ, làm nghe như loàm; [Ă] nghe như [E], ví dụ năng nghe như neng, cắc hay cắt đều nghe như kéc; [AO] nghe như [ÔU], ví dụ gạo nghe như gộu vv. 
Bình Phú không nói người ta (nói rằng) mà nói nẩu (nói rềng). Âm [ĂN] hay [EN] nghe như [ÊNG] với một chút giọng mũi, ví dụ ăn nghe như êng; đèn hay đằng đều nghe như đềng với chút âm giọng mũi.
Một đặc điểm chung của khu vực Nam Ngãi Bình Phú này là sự xuất hiện của việc ghép một đại từ + ấy thành chính đại từ đó với dấu hỏi bất luận nguyên thủy với dấu gì, ví dụ anh ấy thành ảnh, cậu ấy thành cẩu, mợ ấy thành mở vv, ngoại trừ hai từ bác ấy, chú ấy có lẽ vì không thuận miệng. Đặc điểm khác là cách phát âm phụ âm đầu [V] thành [GI], ví dụ vuông thành giuông, đi vô thành đi giô, mà từ Miền Bắc vào đến Thừa thiên không có.
Giọng Miền Trung  không còn phân biệt dấu hỏi dấu ngã nữa. Cả hai dấu này đều được phát âm nửa vời, không hỏi không ngã, có lúc trầm xuống gần với dấu nặng.
(23) Giọng Miền Nam:
Miền Nam kéo dài chất giọng của giọng từ Quảng nam đổ vào nhưng không giữ lại cách cách phát âm địa phương. Giọng nam mềm mại hơn giọng của phần đất phía nam Miền Trung này. Người Miền Nam không phân biệt phụ âm cuối [C] và [T] nói thành [C], [N] và [NG] nói thành [NG]. Phụ âm đầu [D] và [GI] đều nói là [GI]. Giọng Miền Nam lại giống giọng Miền Bắc trong việc không phân biệt [CH] và [TR] nói thành [CH], [S] và [X] nói thành [X]. Đặc điểm là miền này nói các phụ âm cuối dài như [ICH], [INH] thay cho phụ âm ngằn [IT] và [IN], ví dụ, con vịch thay vì con vịt, dây nịch thay vì dây nịt, niềm tinh thay vì niềm tin. Âm đầu [R] thường phát âm là [GI], ví dụ, đi ra nói là đi gia; có vùng thành [G], ví dụ cá rô thành cá gô. Nhiều vùng không nói được âm đầu [H] mà biến thành gần như [GU], ví dụ Huế thành Guế.
Có một số từ Miền Nam dùng với nghĩa khác của hai miền kia. Ví dụ, mần ở Miền Trung có nghĩa là làm, nhưng chỉ có nghĩa là làm việc ở Miền Nam. Ví dụ, khi chúng ta nghe nói, “Sao còn chưa đi mần?” thì có nghĩa là “Sao vẫn còn chưa đi làm công việc của mình.  “Ổng mần ăn lớn lắm” có mhĩa là “Ông ấy làm ăn lớn lắm.” Giọng nam cũng kết hợp đại từ + ấy thành chính đại từ ấy với dấu hỏi cùng một qui luật như vùng Nam Ngãi Bình Phú. Giọng Miền Nam không phân biệt hỏi ngã cũng như giọng Miền Trung.
3.       Đặt vấn đề:
Tôi xin đặt mấy vấn đề sau phần trình bày nhàm chán bên trên:
Thứ nhất, vẫn có tin tưởng rằng người Miền Trung và Miền Nam nói chung đều là con cháu của tổ tiên di cư từ Miền Bắc vào, khởi đầu từ biến cố Nguyễn Hoàng (Mậu Ngọ—1558 đời vua Lê Anh Tông) và các đợt di cư vì các biến cố khác sau đó. Theo Việt Nam Sử Lược[9] của Trần Trọng Kim, đất nước ta thời nhà Trần chỉ mới đến hết Nghệ an, tiếp giáp với Chiêm thành về hướng nam (sđd. bản đồ tr. 127). Chúa Nguyễn Hoàng khi vào Ái tử chỉ cai quản phần đất Thuận hóa, cho đến năm Canh Ngọ 1570 mới được Chúa Trịnh giao thêm đất Quảng nam tiếp giáp Chiêm Thành. Năm Tân Hợi 1611, Nguyễn Hoàng đánh chiếm Chiêm Thành lập Phú yên. Các Chúa Nguyễn kế tiếp đánh chiếm hết đất Chiêm Thành vào năm Đinh Sửu 1697. Quan niệm người Bình Trị Thiên là con cháu mà tổ tiên đã di cư theo Nguyễn Hoàng được nhiều người mặc nhiên công nhận, như Trần Văn Mầu trong bài Giọng Huế—Giọng Quảng trị viết, “tổ tiên chúng tôi cùng Chúa Nguyễn Hoàng vào Nam lên bờ cũng tại vùng Ái tử Quảng trị hiện nay!”
Đi theo Nguyễn Hoàng chắc chắn là người Miền Bắc và nói giọng bắc. Nếu cả một vùng bao la, mọi người đều đã từ Miền Bắc di cư vào thì điều gì đã làm cho họ biến đổi giọng nói cách khác thường như vậy khi vượt qua Hoành sơn nhất đái tức là Đèo Ngang thuộc Quảng bình? Vùng đất thuộc Chúa Nguyễn lúc bấy giờ chưa có người Việt ở hay chỉ có một số ít?
Tôi cho rằng không; vùng này đã có người Việt ở từ trước mà còn là đông hơn số người từ Miền Bắc di cư vào. Quan sát hiện tượng người Miền Bắc di cư vào Nam năm 1954, chúng ta có thế nhận xét: (1) Nơi nào số đông người Miền Bắc qui tụ vào một nơi như Hố nai, Gia kiệm, họ vẫn nói giọng bắc rõ rệt đến mấy đời sau vẫn còn; (2) Nếu chỉ một số rất ít, ví dụ một gia đình, vây quanh bởi số đông người nói giọng nam thì có thay đổi trong giọng nói, ngay từ đời thứ nhất đã lai giọng. Một hai đời sau, con cháu họ hoàn toàn không nói giọng bắc nữa. Một làng chài lưới ở đảo Tri thủy, Phan rang, phía bắc quê hương cố Thổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, vốn từ Quảng bình “chạy giặc Văn thân” vào, vẫn nói giọng Quảng bình của họ mà không lai giọng Phan rang vì toàn làng đều nói một giọng. Thế nhưng, lớp trẻ khi tôi được may mắn tiếp xúc vào những năm 1960 đã bắt đầu lai giọng Phan rang vì họ đã bắt đầu tiếp xúc ra ngoài (đi học, đi làm vv).
Từ nhận xét thô thiển đó, ta có thể suy ra vùng từ Thanh hóa đổ vào cho hết phần đất thuộc Chúa Nguyễn, nước ta đã có người Việt ở đó, mà là đa số. Đa số này có giọng nói riêng biệt và từ vựng riêng biệt ngoài số tiếng Việt chung (Trong số từ vựng riêng biệt đó, có các từ mà tôi tạm gọi là tiếng Quảng trị chứ không phải vay mượn từ ai khác nếu không nói là đã cho người khác vay mượn). Và do đó không phải tất cả con cháu Bình Trị Thiên đều có tổ tiên đã theo Chúa Nguyễn Hoàng di cư vào. Vậy, những người Việt nguyên thủy ở vùng này, họ là ai? Và họ liên hệ thế nào với người nói giọng bắc để cùng có chung một tiếng Việt nhưng với giọng nói khác?
Thứ hai, điều gì đã làm cho người Việt nguyên thủy từ Thanh hóa đổ vào nói tiếng Việt với giọng khác với giọng bắc, và khác nhau rõ rệt giữa các khu vực thuộc vùng này với nhau? Như nhận xét thô thiển về giọng bắc ở mục (21) bên trên cho thấy: Miền Bắc với giọng bắc dù có khác biệt đôi chút vẫn giữ âm hưởng giọng bắc. Miền Trung trái lại, sự khác biệt giữa các khu vực quá rõ rệt đến nổi có thể chia thành các nhóm khác nhau gần như bước nhảy vọt không có chuyển tiếp.
Thứ ba, giọng Miền Nam có phải là pha trộn giữa giọng bắc và giọng trung từ Quảng nam đổ vào không? Người Miền Nam hiện nay cho tất cả những ai không nói giọng nam đều là người “Guế” (người Huế). Cách phát âm của giọng nam cơ bản giống giọng Quảng nam đổ vào. Điều gì đã hình thành giọng nói đó?
4.       Kết:
Các câu hỏi mà tôi nêu ra trên được ông cha chúng ta đi trước trả lời cách đơn giản là giọng nói khác đi là do thổ nhưỡng. Nói cách khác, cha ông chúng ta trả lời người Miền Bắc khi đến Thanh hóa sở dĩ nói giọng Thanh hóa là vì họ uống nước tại đất Thanh hóa; người nơi khác đến Quảng nam nói giọng Quảng nam vì đã uống nước đất Quảng nam! Đến bây giờ thì câu trả lời như vậy không thể nào trả lời được nữa. Người Việt di cư đến California đâu có nói giọng California mà vẫn nói giọng của gia đình và nhất là giọng của đa số người Việt sinh sống tại vùng họ đang cư ngụ.
Tôi cho rằng biến chuyển giọng nói của tiếng Việt chúng ta còn có thể được dùng cách sâu xa để giải thích nguồn gốc của dân tộc Việt Nam. Chúng ta từ đâu mà đến hay vốn đã có ở đó. Như ngay từ đầu tôi đã thú nhận sự dốt nát của tôi về khoa học này, tôi xin thú nhận lại sự dốt nát của tôi ở đây. Bài này chẳng qua cũng chỉ là lời quê góp nhặt dông dài. Có điều tôi không biết liệu có mua vui được cho ai giây phút nào hay không, chứ không dám nói như thi hào Tiên Điền cũng được một vài trống canh vì phận tôi không dám tham lam như thế.




[1] Xin xem www.dunglac.org/index.php?m=home&v=detail&ia=2032 hay www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=10168&rb=06

[2] Xin xem www.dunglac.org/index.php?m=home&v=detail&ia=3157

[3] Xin xem www.dunglac.org/index.php?m=home&v=detail&ia=5743

[4] Bình Nguyên Lộc, NXB Xuân Thu, Los Alamitos: California, không thấy năm in, tr. 332, từ Lá cây.

[5] Xin xem thêm bài Đặc ngữ Công giáo của Nguyễn Long Thao trên dunglac.org. Tôi thiên về từ Crux Latin vì cách ký âm các từ như episcopus  thành vít vồ và vì tiếng Latin thời đó là ngôn ngữ chính thức của Giáo hội Công giáo. (www.dunglac.org/index.php?m=module&v=detailarticle&id=5532)

[6] ĐNQATV, Imprimerie Ray, Curiol & Cie: Saigon, 1895 (Vol. I); Nhà in Văn Hữu, Gia Định, 1974 (bộ II).

[7] Đà bị: Rất tiếc tôi không nhớ cách viết, và lúc còn trẻ tôi chưa biết cách đọc theo giọng Quan thoại nên không biết được âm có thể có của từ này.
[8] Cuốn này và các tự điển ngày trước ví như Phép giảng tám ngày của Alexandre de Rhodes, tôi đã thất lạc qua thời ly loạn. Nếu quí vị nào có, và vui lòng, tôi xin được một bản photocopy để đánh máy lại post lên dunglac.org chẳng hạn để lưu giữ. Hoặc nếu có nguồn nào đã post, xin vui lòng mách bảo. Xin đa tạ.
[9] VNSL: NXB Đà nẵng, 2003, tr. 317-323

BÀI LIÊN QUAN: 

TIẾNG QUẢNG TRỊ
READ MORE - TRẦN HỮU THUẦN - GIỌNG NÓI TIẾNG VIỆT NAM TỪ BẮC VÔ NAM