Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, February 25, 2011

PHAN LUẬN - KÝ ỨC VỀ CHA



Đầu tiên, cha là một nông dân

Đôi bàn tay chai lỳ thô ráp

Dáng liêu xiêu sau đường cày thẳng tắp

Tôi theo sau nhặt con dế con giun

Roi tre giơ cao nhưng ít lần đánh vào lưng bò

Với con chưa một lần la mắng

Hình như đường cày lật nghiêng và mồ hôi thắm mặn

Cho ta nhận ra mình


Cha là thợ may thủ công lão luyện

Đều đều mũi chỉ đường kim

Ấn tượng nhất là mỗi lần rách áo

Miếng vá đắp lên lấp loáng mùa màng

Cha mặc áo vá tự may, đi guốc mộc tự đóng

Chiếc gối săng khuyết võng mảnh trăng gầy

Việc họ việc làng đêm ngày nghiên bút

Dâng sớ thành hoàng ngút ngát hương bay

Nét chữ thẳng đưa lên sổ xuống

Học lõm nhì nhằng mấy chữ Trung-Nhân

Cán bộ về làng sau kháng chiến

Chào thầy! hai bóng xế ngó trân trân


Chiến tranh nhiều thứ không còn

Bảy lần dời nhà

Hai lần tù ở

Gia tài cha là cuốn gia phả

Đựng trong ống tre ngà chưa một lần tổn thương

Tuổi xế chiều cha thầm nguyện ước

Thanh thản ra đi ngỡ con cháu bớt nhọc nhằn

Có bao giờ cha kêu đau kêu khổ

Tháng bảy về con ray rứt ăn năn.

P.L

READ MORE - PHAN LUẬN - KÝ ỨC VỀ CHA

Thursday, February 24, 2011

CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM – LINH ĐÀN sưu tầm

Làng Mai Xá


Rú Cấm Hà Trung xeng ngát ngát
Đôộng cát Nhĩ Thượng trắng phau phau
Cơm keng một dịa mắm tràu
Đố ai cưới được o Giàu ôông Sang
Bán mua mấy rổ khoai lang
Chạy từ chợ Bạn - chạy sang chợ Cầu
Mạ ơi ! Quan Phó đòi hầu
Mau may áo mới, xức dzầu* cho thơm
Đứa thì cấy dzũi, cấy nơm
Đứa thì trèng sáo vô đơm Chợ Nò
Trèo lên côi núi U Bò
Ngó về Cẩm Phổ mấy o kén chồng
O Chút, O Thí đã xong
Lại thêm O Éc mà long nao nao
Lội lên lội xuống Xóm Rào
O nào cũng chảu, ả nào cũng hay
Cấy mồm cho chí cấy tay
Đi cuốc đi cày nỏ sợ chi ai
Đêm đêm mấy chú choai choai
Chuyện chi rình rập ngồi hoài sau nương
Có chú lộn cổ xuống mương
Có chú nằm rường thiên hạ tới coi
Kể từ ngày sáo chẹp (dẹp) mẹng oi
Đi chưa đến nơi chợ đã sèm méng ngon
Béng ướt cho chí béng đòn
Lại hàng béng đúc ăn ngon ả hè
Ăn rồi ngồi thở è è
Chộ hàng mít chín cũng đè mua thêm
Tưởng mà dư rứa là êm
Về dà eng hắn cũng đêm đêm tính lần
Mạ mi đừng nói lần hân
Chơ cua rạm mấy một giần ba mươi
Mạ mi nói thiệt, nói cười
Cua rạm rẻ thể nớ, e thôi mần nghề
Cua miềng cua trớng cua dzèm
Mỗi con hai rượi ai sèm nấy mua
Năm ni sắn mắt gạo thua
Người ta lo lấy bựa, chơ ai lo chi cua với càng
Cua rạm mỗi trự mỗi tràng
Chơ eng mi tưởng dư ở dà cục vàng lưu ly.

Tác giả Nguyễn Đình Kiện 1897 - 1989, quê Lan Đình, Gio Linh

READ MORE - CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM – LINH ĐÀN sưu tầm

Wednesday, February 23, 2011

MẠNH CƯỜNG - ĐỘC ĐÁO NHẠC CỤ "SÁO KHUI" CỦA NGƯỜI VÂN KIỀU


Nghệ nhân Pă Khăm đang thổi điệu Xa Nớt trong ngày cưới con trai.

Sáo Khui là một loại nhạc cụ trong bộ nhạc khí thổi của người dân tộc Vân Kiều. Chiếc sáo này đã tồn tại và gắn bó bao đời nay trong tập quán sinh hoạt của người dân tộc Vân Kiều - huyện Đakrông và huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị. Sáo Khui được sử dụng rất nhiều trong các lễ hội như: Ra Pựt, Tức A Bôn, đám cưới…
Trầm lắng… Sáo Khui!
Tiếng Sáo Khui và điệu Xa Nớt là nét văn hóa đặc trưng nhất của người Vân Kiều. Từ khi có mặt trên đời, Sáo Khui đã rất "kén" người dùng. Nó chỉ dành cho các bậc trung niên sử dụng và đặc biệt là chỉ dành riêng cho đàn ông.
Khác với các loại sáo khác thường dùng cho các đôi nam nữ bày tỏ tình yêu, hò hẹn trao tình… Sáo Khui thổi lên để kể lại một câu chuyện nào đó. Âm thanh trầm lắng của tiếng sáo làm cho người nghe khi có cảm giác buồn man mác, khi lại thấy vui vui.
Với điệu Xa Nớt, thông thường người thổi Sáo Khui chia làm hai nhóm; hai người thổi sáo là hai người đứng đầu của tốp diễn mỗi khi người bên này thổi lên thì những người ngồi xung quanh cùng hò theo, sau đó lại đổi qua người bên kia thổi (như hò đối đáp). Tiếng sáo cất lên làm réo rắt lòng người, làm cỏ cây, núi rừng phải động lòng thức tỉnh.
Trong lễ Ra Pựt, với điệu Xa Nớt là khi con cháu được nghe kể lại những truyền thống của ông bà tổ tiên dòng họ mình, qua đây giúp con cháu hiểu được truyền thống của gia đình mình, đồng thời nói rõ tình cảm gắn bó máu thịt giữa anh chị em trong dòng họ nội-ngoại (còn gọi Khơi Cù Za).
Còn với đám cưới, Sáo Khui khi cất lên cùng điệu Xa Nớt lại để gia đình hai bên dặn dò con cái của mình. Đó là phải yêu thương đùm bọc, bảo ban nhau trong cuộc sống, ăn ở với nhau đến đầu bạc răng long… chính vì những lẽ đó mà đối với người Vân Kiều tiếng Sáo Khui rất thiêng liêng và hệ trọng.


Trong các gia đình dòng họ có xảy ra xích mích, khi tiếng sáo này cất lên cùng với những điệu Xa Nớt của những bậc cao niên trong làng, bản thì coi như mọi mâu thuẫn đó được tháo gỡ, giải hoà.
Thêm một nét độc đáo nữa của Sáo Khui đó là khi người thổi sáo tìm được cho mình những bạn Xa Nớt tốt (hò đối đáp tốt) thì họ có thể ngồi lại chơi với nhau, hát đáp mấy ngày liền không chán. Ngày trước hầu hết đàn ông người Vân Kiều đều thổi được Sáo Khui.
Không chỉ sử dụng lúc đông người hay trong các lễ hội, ngày nay Sáo Khui còn trở thành người bạn trong những lúc mưa gió không lên rẫy của các vị trung niên. Tuy nhiên, theo thời gian, số người biết sử dụng loại sáo này đang ít dần và đó cũng nỗi lo của những vị già làng, của những nghệ nhân còn sót lại…
Những nhạc cụ nghệ nhân Pă Khăm kỳ công sưu tầm, cất giữ.
Sáo Khui - nét văn hóa cần được gìn giữ và phát triển
Để được nghe, được thấy và đặc biệt là để hiểu rõ hơn về ý nghĩa của Sáo Khui, chúng tôi đã tìm gặp nghệ nhân Pă Khăm ở thôn Kalu huyện Đakrông - một trong số ít người còn biết làm và sử dụng loại nhạc cụ này. Thật ngạc nhiên giữa chốn núi rừng bạt ngàn, trên vách của nhà sàn, Pă Khăm nâng niu cất giữ không chỉ Sáo Khui, mà còn có nguyên cả một bộ cồng chiêng, trống, đàn nguyệt, tỳ bà, khèn, nhị…
Pă Khăm cho biết: Để có được một chiếc Sáo Khui như ý mất rất nhiều công đoạn. Sáo Khui được làm từ nứa Lồ Ô lấy tận trong rừng sâu. Công đoạn tìm và chặt nứa rất quan trọng. Đầu tiên phải lùng tìm cho được những cây nứa già có ống dài, thân lại không quá dày để âm thanh phát ra được hay. Thứ hai, khi nhắm thấy cây có thể dùng để làm sáo thì phải đợi chọn ngày, thường là ngày trăng sáng (15 - 16) trong tháng để chặt cây. Thứ ba, trước khi chặt những người này phải hò một bài - với quan niệm là hò như vậy khi làm ra sáo sẽ có âm thanh hay hơn…
Khi chặt nứa về, người ta gọt và đem phơi trên bếp lửa 1 đến 2 tháng, khi đã thật khô mới làm những công đoạn tiếp theo. Sau khi phơi khô trên dàn bếp, người ta dùng dùi sắt nung đỏ để khoét lỗ, đây cũng là một trong những thao tác khó vì nó cũng góp phần tạo nên âm thanh chuẩn.
Ban sơ, Sáo Khui chỉ dành riêng cho các bậc trung niên sử dụng bởi lẽ đến mùa lúa chín các bậc này phải lên rẫy để trông; ngồi buồn nhiều khi mưa rả rích không biết làm gì họ đã tìm những ống nứa khoét lỗ thổi cho vui. Càng về sau họ phát hiện thấy âm thanh phát ra hay lại vang xa, đỡ buồn, người ở bên rẫy bên này có thể thổi tâm sự cho người ở bên rẫy bên kia và ngược lại… vì thế họ chuyện trò với nhau bằng tiếng sáo. Cũng từ đó Sáo Khui ra đời và trở nên phổ biến, nó tồn tại với đời sống sinh hoạt văn hoá của người dân tộc Vân Kiều.
Có thể nói rằng loại nhạc cụ này đã trở thành nét văn hoá đặc trưng của người Vân Kiều. Tuy nhiên trên thực tế ngày nay đã không còn nhiều người biết sử dụng loại nhạc cụ này. Nghệ nhân Pă Khăm tâm sự: "Hiện nay, người biết làm và sử dụng hay nhạc cụ này ở thôn bản chỉ độ vài người nữa mà thôi. Sợ mai này những người như tui không còn thì cũng mất đi nét văn hóa của dân tộc mình nên tui đã tập hợp thành một đội văn nghệ 20 người...”.
Quả thật theo thời gian giá trị văn hoá đang ngày một bị ảnh hưởng bởi các hình thức bảo tồn. Lớp già sẽ ra đi liệu những nét văn hóa đó có còn?... Thiết nghĩ đã đến lúc các cơ quan chức năng cần có những chính sách hỗ trợ hợp lý, kịp thời để bảo tồn các loại nhạc cụ như Sáo Khui, đồng thời xây dựng một đội ngũ kế cận để truyền lại tránh mai một dần nét đẹp văn hóa của người Vân Kiều…!
Mạnh Cường (CAND)
READ MORE - MẠNH CƯỜNG - ĐỘC ĐÁO NHẠC CỤ "SÁO KHUI" CỦA NGƯỜI VÂN KIỀU

Tuesday, February 22, 2011

TRƯƠNG QUANG HIỆP - BẢN KLU NỔI CỒNG CHIÊNG ĐÓN KHÁCH DU LỊCH

Một góc yên bình ở điểm du lịch cộng đồng bản Klu.
Tiếng cồng chiêng, tiếng hát, tiếng cười… rộn vang bản KLu dẫu các lễ hội lớn đã qua khá lâu. Cuộc sống người dân tộc Vân Kiều nơi đây sang trang, từ ngày bản làng trở thành điểm du lịch cộng đồng.
Thiên - địa - nhân tụ hội
Thiên nhiên ưu ái ban cho bản KLu, xã Đakrông, huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị món quà vô giá. Mảnh đất hội tụ nhiều cảnh đẹp của Khu di tích - danh thắng Đakrông: Dãy núi KLu sừng sững ẩn hiện giữa mây trời, dòng sông Đakrông đậm chất sử thi, chiếc cầu treo duyên dáng... Tất cả như “những nét vẽ xuất thần” điểm tô bức tranh bản làng người Vân Kiều. Ít ai biết tên bản KLu vốn được khoanh tròn trên bản đồ khảo cổ học thế giới. Suối nước nóng KLu mải miết chảy bao đời gắn với di tích khảo cổ quan trọng. Giáo sư Trần Quốc Vượng từng đến vùng đất này và phát hiện di chỉ thuộc thời đại đồ đá cũ. Trên nền đất tiên tổ ấy, các thế hệ dân bản KLu sống quần tụ. Trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, họ đồng cam, cộng khổ đánh đuổi quân xâm lăng ra khỏi đất quê hương.
Bề dày lịch sử góp phần tôn thêm nét đẹp văn hoá của người Vân Kiều. Các nghề truyền thống như: Dệt thổ cẩm, đan lát, chế tác nhạc cụ, nấu rượu cần... gắn bó với người dân như cơm ăn, nước uống. Lễ hội cồng chiêng, mừng lúa mới... mang nét độc đáo hiếm thấy. Thế nên, dân bản KLu luôn ý thức gìn giữ “nét nhà”. Trẻ em lớn lên sớm được các thế hệ ông bà, cha mẹ truyền dạy bài học văn hóa: Từ điệu múa, lời hát... đến nghề truyền thống, cách chế tác nhạc cụ.
Cửa hội nhập mở, nguy cơ văn hoá dân tộc bị mai một là thách thức lớn. Đứng trước chướng ngại ấy, các cấp chính quyền tỉnh Quảng Trị cùng nhân dân bắt tay vào cuộc. Sở Văn hoá - Thể thao - Du lịch và Ban quản lí các khu du lịch Quảng Trị đã triển khai nhiều dự án lớn nhỏ như: Chương trình mục tiêu quốc gia về bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc, dự án ADB đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và nâng cao năng lực người dân... Phạm vi và tầm ảnh hưởng của những dự án này vươn đến nhiều bản làng của người Vân Kiều - Pakô, trong đó có bản KLu. Đây là lí do giải thích vì sao: Đời sống dân bản KLu được cải thiện, nhưng các bề dày văn hoá dân tộc vẫn không mai một.
Hàng năm, có khoảng 30.000 khách du lịch qua lại trên tuyến quốc lộ 9. Tuy nhiên, số du khách dừng chân tại huyện miền núi Đakrông lại khá khiêm tốn. Tại sao không chọn một bản làng trên tuyến quốc lộ 9 làm điểm dừng chân mới lạ? Tại sao không để du lịch và bảo tồn văn hoá truyền thống đi song song? Ý tưởng về Điểm du lịch cộng đồng nhanh chóng ra đời từ các câu hỏi ấy.
Những viên gạch đầu tiên
Được sự tài trợ của Chương trình phát triển nông thôn tỉnh Quảng Trị và UBND huyện Đakrông, phòng Văn hóa - Thông tin huyện phối hợp với UBND xã Đakrông chọn bản KLu làm điểm du lịch cộng đồng. Ông Hồ Dũng Sỹ, Trưởng phòng Văn hóa- Thông tin huyện Đắc Rông cho biết: “Chúng tôi hy vọng dự án này giúp đồng bào dân tộc Vân Kiều cải thiện cuộc sống. Đặc biệt, một khi điểm du lịch cộng đồng ra đời, nét đẹp văn hoá nơi đây sẽ được bảo tồn và phát triển”.
Những viên gạch đầu tiên để xây dựng nền móng điểm du lịch cộng đồng bản KLu nhanh chóng được “cân đặt”. Dựa trên tiềm năng sẵn có, các dự án nhân rộng, phát huy nghề truyền thống, nâng cao ý thức người làm du lịch... nhanh chóng đi đến khâu triển khai. Một số nghệ nhân tên tuổi như: Nghệ nhân Hồ Văn Hồi (dệt thổ cẩm), nghệ nhân Mai Hoa Sen (chế tác và sử dụng nhạc cụ truyền thống), nghệ nhân Hồ Văn Hùng (nấu rượu cần)... được mời về, góp sức giúp bản KLu mau chóng trở thành điểm du lịch cộng đồng.
Cuối năm 2008, Chương trình phát triển nông thôn tỉnh Quảng Trị mở lớp đào tạo nghề dệt thổ cẩm tại bản KLu. Lớp học thu hút nhiều phụ nữ vốn say mê với đường tơ, sợi chỉ. Chị Hồ Thị Đơn (46 tuổi) tâm sự: “Nghề dệt thổ cẩm gắn bó với dân bản mình từ lâu lắm rồi. Nhưng, trước giờ, chị em chỉ biết dệt khăn, áo, váy thôi. Nhờ đi học thế này, mình mới biết cách làm túi thổ cẩm, ví, hộp... Mình vui lắm”. Tham gia lớp học, chị em không chỉ tiếp thu nhiều kinh nghiệm mới, mà còn được hỗ trợ khung cửi, con quay, chỉ dệt... Đến giờ, các sản phẩm thổ cẩm của dân bản KLu đã đến tay nhiều du khách thập phương.


Phụ nữ Vân Kiều bên tấm thổ cẩm.

Hoạt động nhân rộng các nghề truyền thống khác cũng phát triển rầm rộ chẳng kém. Bản KLu giờ có thêm 5 thanh niên trẻ tuổi biết chế tác và sử dụng nhạc cụ truyền thống như: Tù và, khèn bè, sáo tirel... Thành công ấy phần nào nhờ tâm huyết của nghệ nhân Mai Hoa Sen (thôn Ke Hẹp, xã Đakrông, huyện Đakrông). Chất men của ché rượu cần cũng hứa hẹn quyến luyến nhiều du khách. Nghệ nhân Hồ Văn Hùng (thôn Xa Vi, xã Hướng Hiệp, huyện Đakrông) đã dốc lòng, truyền bí quyết nấu rượu cho 5 hộ gia đình... Đặc biệt, đội văn nghệ bản KLu hình thành, tập trung những thanh niên yêu điệu múa, lời hát của người Vân Kiều. Từ khi Đội thành lập, tiếng hát, tiếng đàn lại rộn rã khắp bản.
Để giải đáp bài toán kinh nghiệm làm du lịch, Chương trình phát triển nông thôn tỉnh Quảng Trị tạo điều kiện để một số người dân trực tiếp tham quan điểm du lịch cộng đồng bản Lác (tỉnh Hoà Bình). Sau chuyến đi, ý thức “mỗi người là một hướng dẫn viên du lịch” trong suy nghĩ dân bản KLu càng thể hiện rõ.
Bản KLu chờ khách
Du khách ngược xuôi trên tuyến quốc lộ 9 từ nay có thể dừng chân ở Điểm du lịch cộng đồng bản KLu. Giữa chốn núi rừng hùng vĩ, bạn có thể ngắm nhìn thiên nhiên hoang sơ, thăm các địa danh lịch sử, hoà mình vào dòng nước nóng suối KLu. Một không gian thuần dân tộc đã mở ra, đón chào khách thập phương. Du khách đến đây sẽ được ngủ nhà sàn, thưởng thức các điệu múa, lời hát của người Vân Kiều, đắm say với men rượu cần, nếm thử các món ăn truyền thống... Không những thế, nghệ nhân bản KLu sẽ nhiệt tình giới thiệu với khách du lịch về nghề dệt thổ cẩm, đan lát, làm nhạc cụ... Khi rời điểm du lịch cộng đồng bản KLu, những sản phẩm văn hoá truyền thống của người Vân Kiều có lẽ khó có thể thiếu trong hành lí của du khách. Đặc biệt, sự hồn hậu, gần gũi... của dân bản KLu hứa hẹn để lại dấu ấn khó quên. Với tư cách là “chủ nhà thân thiện”, người dân tộc Vân Kiều nơi đây luôn mở rộng cửa đón chào khách quý. Chị Hồ Thị Bút bộc bạch: “Mỗi người khách đến bản KLu sẽ là bạn của mình, gia đình mình và cả dân bản mình nữa”.

Trương Quang Hiệp
Nguồn: http://baobienphong2.jcapt.com
READ MORE - TRƯƠNG QUANG HIỆP - BẢN KLU NỔI CỒNG CHIÊNG ĐÓN KHÁCH DU LỊCH

OÁT-SA NỚT: LÀN ĐIỆU DÂN CA ĐỘC ĐÁO CỦA ĐỒNG BÀO VÂN KIỀU, QUẢNG TRỊ


(Không rõ tác giả)

Oát-sa nớt là một lối hát ví von, có giai điệu và cung bậc rõ ràng để bày tỏ tình cảm, tâm sự lỗi lầm, chia sẻ niềm vui, khát vọng chinh phục thiên nhiên giữa những người trong cộng đồng dân tộc với nhau. Oát-sa nớt có từ lâu đời, đến bây giờ các già làng, trưởng bản chỉ biết rằng, đồng bào dân tộc phía nam Ðường 9 gọi là Oát, còn phía bắc Ðường 9 gọi là sa nớt.

Nhiều bài hát oát-sa nớt được thể hiện không có lời mà tùy thuộc vào lễ hội, điều kiện hoàn cảnh đặt ra mà hai bên (chỉ những người hát qua hát lại) ứng khẩu thành lời đối đáp với nhau. Bởi vậy, không phải ai cũng hát hay được mà chỉ có những người am hiểu, có tài ứng xử, nhanh nhạy mới có thể hát oát-sa nớt hay, có ý nghĩa và có sức thuyết phục.

Oát-sa nớt thể hiện trong các ngày hội lớn của đồng bào dân tộc Vân Kiều như: Tết cổ truyền, mừng lúa mới, lễ đâm trâu, cưới hỏi... Hòa cùng với các làn điệu oát-sa nớt còn có âm thanh của các nhạc cụ như: sáo khui, cập a chung, kèn ca lui... biến đổi theo tâm trạng của người hát. Trước khi hát oát-sa nớt tại các lễ hội, người hát phải xin gia đình, trưởng tộc, trưởng bản, già làng nếu được những người đứng đầu cho phép mới hát. Lời "bạt" cũng phải thể hiện bằng lối hát có cung bậc, âm điệu rõ ràng. Còn hát oát-sa nớt trong các cuộc vui như gặp gỡ, thăm viếng là để bày tỏ tình cảm, chia sẻ niềm vui, nỗi nhớ nhung... với bạn bè, người thân, láng giềng. Trong những hoàn cảnh như thế nhạc cụ đơn giản hơn, chỉ cần một người hát và một người biết thổi kèn ca lui (kèn ca lui dài khoảng 0,8 mét, làm bằng tre lồ ô, có 6 lỗ, âm điệu như tiếng sáo tre).

Trong các lễ hội, sau phần cúng bái trang nghiêm, con cháu các dòng họ, bản làng được sum họp vui vầy, ăn uống thỏa thích và được múa hát oát-sa nớt. Trước hết, già làng nói về ý nghĩa của ngày hội để tạo thêm sinh khí, sức mạnh, sự cuốn hút với mọi người. Ðược sự cho phép, người hát trước sẽ xướng một câu thổ lộ niềm vui trong ngày lễ hội. Những người hát tiếp theo vừa lắng nghe lời, âm điệu câu hát vừa chuẩn bị hát đối đáp biểu hiện sự đồng tình, niềm vui để tạo được không khí ngày hội cho nhộn nhịp, sôi động hẳn lên. Những ngày lễ hội trong năm là dịp để người Vân Kiều hát oát-sa nớt với nhau, vui vẻ, sum vầy sau những tháng ngày nhọc nhằn lên nương, xuống rẫy toan lo cái ăn, cái mặc và là dịp để tự hào về lễ hội truyền thống đặc sắc của dân tộc mình.

Oát-sa nớt là lối hát thể hiện sự thông minh, tài ứng xử nhanh nhạy của con người trong việc mượn cảnh vật, sự việc để nói lên tình cảm con người, khát vọng yêu thương, chinh phục thiên nhiên trong cuộc sống thường ngày của người dân tộc Vân Kiều. Nét đặc sắc có tính dân tộc của làn điệu oát-sa nớt là góp phần giải quyết những bất hòa giữa con người trong cộng đồng dân tộc, ca ngợi tình đoàn kết, chung lưng đấu cật xây dựng cuộc sống ấm no, bản làng giàu đẹp. Bởi thế, oát-sa nớt sống mãi trong lòng người dân tộc Vân Kiều.

Nguồn: website Nhân dân
Hình từ trang Sài Gòn Tiếp Thị Online
READ MORE - OÁT-SA NỚT: LÀN ĐIỆU DÂN CA ĐỘC ĐÁO CỦA ĐỒNG BÀO VÂN KIỀU, QUẢNG TRỊ

TÀ OÁI : LÀN ĐIỆU DÂN CA ĐỘC ĐÁO CỦA NGƯỜI VÂN KIỀU, QUẢNG TRỊ


(Không rõ tác giả)

Mỗi độ Xuân về, Tết đến, các chàng trai, cô gái Vân Kiều theo nhau vào rừng "đi sim" hay đến các nhà "xu" để tâm sự chuyện trò, thổ lộ tình cảm. Lối sinh hoạt ban đầu của "đi sim" mang tính tập thể (trò chuyện, vui chơi, ca hát tập thể), đến khi "phải lòng nhau", họ tự động tách thành từng đôi riêng lẻ và hát đối đáp với nhau.

Dưới trời khuya và trăng sao, những bài hát giao duyên về tình yêu dịu dàng cất lên. Lối hát này, đồng bào dân tộc Vân Kiều gọi là Tà Oái - một làn điệu dân ca độc đáo mà các chàng trai, cô gái thường dùng để thổ lộ tình cảm, tình yêu...

Tà Oái là một lối hát ví von, có giai điệu, cung bậc rõ ràng. Những ai có năng khiếu sáng tạo nghệ thuật, có đầu óc liên tưởng thì có thể vừa hát hay, vừa sáng tác những bài hát có nội dung hay, có sức hấp dẫn, thể hiện được nỗi niềm, ước muốn của mình với bạn tình. Ðáp lại lời ca như một lời nhắn gửi, tìm kiếm đó, người con trai hoặc con gái sẽ thổ lộ tâm trạng, nỗi lòng của mình một cách tình tứ, ý nhị và sâu sắc.

Em ước mơ đến anh
Không biết rồi mơ ước có thành không?
Hoặc:
Em ở chòi bên này thao thức đợi anh
Muốn thổi kèn aman nhưng lại thiếu một người
Kèn aman không thổi một mình
Em biết thương ai bây giờ ngoài anh.

Tình yêu và những lời hẹn ước, thủy chung thông qua lời ca Tà Oái được không gian thanh vắng của núi rừng chắp cánh bay xa, dìu dắt hai tâm hồn "đồng điệu" tìm đến với nhau. Càng về khuya, đôi uyên ương càng xích lại gần nhau, giọng ca càng trở nên quấn quýt, gắn bó lạ thường, âm điệu càng thổn thức, sâu lắng hơn:

Thương em đến nỗi sầu
Nhớ em đến nỗi ốm
Ước gì gan mật trở về nhau mãi mãi

Câu hát Tà Oái chính là thông điệp của tình yêu mà những chàng trai, cô gái Vân Kiều gửi gắm cho nhau, giúp họ vượt qua các trở lực ngăn cản, hoàn cảnh éo le để đến với nhau nên vợ, nên chồng. Những lúc đó, lời ca của họ cất lên có âm điệu buồn bã như một tiếng thở dài, than thở cho tình yêu trắc trở và số phận của đôi lứa. Không ít những đôi trai gái với khát vọng yêu đương nhờ lời ca Tà Oái đã làm xiêu lòng bố mẹ để rồi họ bỏ qua những mâu thuẫn, mối bất hòa giữa hai dòng họ, bản làng mà tạo điều kiện cho đôi trai gái đó đến với nhau. Nhiều lời hát Tà Oái có sức sống mãnh liệt, vượt qua thời gian, không gian, đi vào kho tàng văn hóa dân gian, sống mãi đến tận hôm nay.

Các chàng trai và cô gái Vân Kiều khi hát trong các lần "đi sim" thường sử dụng nhiều nhạc cụ kèm theo. Có thể họ dùng sáo khui với âm điệu vi vu trầm bổng, réo rắt; dùng đàn ta lư thánh thót, dùng khèn bè với âm thanh rộn ràng, lôi cuốn và các nhạc khí khác như: aman, achung tính tông (đàn một dây), cập achung (đàn ba dây)... thích hợp cho lối nói bóng gió, giàu hình ảnh và được ưa chuộng trong các lần "đi sim". Các chàng trai và cô gái Vân Kiều nhận biết thông điệp về tình yêu qua các nhạc cụ này rất nhạy và giỏi.

Ngày nay, cứ mỗi độ Xuân về, Tết đến, sau mùa thu hoạch nương rẫy là các chàng trai, cô gái Vân Kiều thể hiện nét đẹp văn hóa độc đáo của mình để khơi dậy bản sắc văn hóa dân tộc, trong đó hát Tà Oái được tổ chức thường xuyên và có nhiều tiết mục hay được chọn lựa tham dự tại Liên hoan nghệ thuật quần chúng của địa phương và khu vực được mọi người hâm mộ đón chào nhiệt liệt. Với sự tinh tế, độc đáo, tin rằng làn điệu Tà Oái của người Vân Kiều sẽ được lưu truyền mãi mãi.

Nguồn: website báo Nhân dân
READ MORE - TÀ OÁI : LÀN ĐIỆU DÂN CA ĐỘC ĐÁO CỦA NGƯỜI VÂN KIỀU, QUẢNG TRỊ

TIẾNG QUẢNG TRỊ - VÕ ĐÌNH HƯƠNG sưu tầm




BÀI CÙNG CHỦ ĐỀ


TIẾNG QUẢNG TRỊ

NGỮ ÂM TIẾNG VIỆT

TỰ TÔN TIẾNG NÓI DÂN TỘC

CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM

Ngủ dậy bựa mai xuống chợ bến đò mua chín cấy tréc.
Đêm về bắc lên lò:
Cấy kho ceng ngò, cấy kho ceng cải, nấu nải chuối xeng,
Nấu ceng dưa giá, kho cá, kho gà, kho cà, kho thù đủ, nấu cổ khoai tây.
Tai em nghe eng thi hỏng trường này.
Bâng khuâng bụng dạ bỏ quên chín cái tréc này eng ơi!

V.Đ.H
READ MORE - TIẾNG QUẢNG TRỊ - VÕ ĐÌNH HƯƠNG sưu tầm

Monday, February 21, 2011

VÕ VĂN LUYẾN - ĐÊM ÁI TỬ NGHE HÁT RU CON



"Ai nuôi con trống gà vàng
Nửa đêm dậy gáy cho nàng thổi cơm"
(Ca dao)

À ơ...mẹ hát ru con
Trăng qua song cửa, ngọn nồm thoảng đưa
À ơ...cái nhớ còn lưa
Cái thương còn mặn, cái chờ còn mong
À ơ...cái bóng ru buồn
Ai ăn ở bạc cho hồn ai đau
À ơ...cánh vạc về đâu
Khói sương chưa dễ phai màu thời gian
À ơ...sợi nắng ở tim
Đến bao giờ lại chỉ kim khâu cùng?!
À ơ..."con trống gà vàng"
Cớ sao lại gáy vội vàng làm chi
Lời ru đọng giữa đêm khuya
Trăng thì mờ tỏ như chia nỗi niềm...

VÕ VĂN LUYẾN


READ MORE - VÕ VĂN LUYẾN - ĐÊM ÁI TỬ NGHE HÁT RU CON

ĐIỆU TRỐNG QUÂN CỔ LÀNG ĐIẾU NGAO


(Không rõ tác gỉả)
Làng Điếu Ngao (phường 2, thị xã Đông Hà, Quảng Trị) xưa nay nổi tiếng với đội kèn trống khắp trong và ngoài tỉnh. Nhưng ít ai biết rằng ở đó có một điệu trống quân cổ hiện chỉ có 6 người chơi được.
Mở đầu bằng giá 1, giá 3, giá 7, điệu trống quân là tiếng trống tập hợp quân sĩ chuẩn bị ra trận, là lời hiệu triệu các vị tướng lĩnh và binh sĩ cùng xuất trận, là lời mời gọi các vị thần về tế lễ non sông cùng con cháu. Điệu trống giòn giã, vang từng tiếng rõ ràng, dứt khoát, là tiếng gọi hối thúc những con tim yêu nước lên đường.
Sau đó là khúc quân đại, quân tiểu thúc quân ra trận với khí thế ngút trời. Bài trống quân trở nên giục giã, dồn dập hơn bao giờ hết. Âm hưởng như sóng dội gió gào. Và kết thúc điệu trống quân là khúc mở cờ. Đây là lời báo công chiến thắng. Điệu trống chuyển sang tưng bừng, diễn tả niềm vui thắng trận. Song song với tiếng trống giòn giã là tiếng kèn thổi điệu thái bình - niềm mong ước của người dân muôn đời: được sống trong cảnh thái bình thịnh trị, không có cảnh binh đao.
Tuy nhiên, hiếm hoi lắm bạn mới có cơ hội để nghe được điệu trống quân cổ này. Điệu trống chỉ phục vụ trong các lễ lớn của làng. Dáng người cao gầy, khuôn mặt rắn rỏi và tràn đầy thân thiện, bác Trần Dàn bắt đầu câu chuyện về trống quân: "Tương truyền rằng điệu trống quân cổ ra đời trong chiến trận từ thời Nguyễn. Điệu trống là tiếng xua quân, thúc quân ra trận, cổ vũ quân sĩ chiến đấu mang thắng lợi về cho đất nước". Tuy nhiên, cũng có một số nguồn tài liệu cho rằng điệu trống quân này bắt nguồn từ âm nhạc cung đình Huế.
Dàn trống quân có từ 4 trống trở lên, số trống phải là số chẵn và các trống phải đều nhau. Biểu diễn kèm với trống quân là 2 kèn thổi điệu thái bình. Nguyên tắc cơ bản của điệu trống là các trống phải đánh cùng một roi, phải đi cùng một nhịp với nhau. "Chỏi (sai, lệch) một roi là một sự nguy hiểm, mạo phạm với thần linh. Sai một người là ảnh hưởng đến cả đội trống. Do vậy đòi hỏi người đánh trống phải hết sức tập trung", bác Dàn nói. Người đánh trống cũng phải có cái tâm trong sáng, có khí chất, tinh thần vững vàng. Khi đánh, tâm phải nhập với trống làm một, không tách rời. Quan trọng hơn cả là người đánh bạt (sập xõa) điều khiển đội trống. Đây phải là người có kinh nghiệm, biết chơi các loại nhạc cụ có trong dàn trống. Trang phục cho người đánh trống cũng được thiết kế riêng, thể hiện sự hùng dũng, oai phong.
Bác Dàn năm nay 63 tuổi, bắt đầu học trống quân từ năm 16 tuổi với người cậu ruột. Một thời gian khá dài để bác thấm hết tinh túy của điệu trống này. Trước khi học trống quân, người học phải trải qua các nhạc cụ khác một cách nhuần nhuyễn. Qua quá trình đó, người thầy sẽ nhận thấy và chọn ra người học trò có tài và tâm để truyền dạy. Người học được lựa chọn chủ yếu từ con cháu trong nhà, một số rất ít khác là học trò từ nơi khác đến. Gia đình có truyền thống 6 đời đánh trống quân nên ngay từ nhỏ bác Dàn đã được lựa chọn để học đánh trống. Dù đi theo cậu trong các lễ tang ma, hiếu hỉ từ năm 16 tuổi nhưng mãi đến gần 10 năm sau bác Dàn mới được học trống.
Đến tuổi tri thiên mệnh, bác Dàn lại trở thành người đào tạo trống quân cho các thế hệ sau. Đến nay, bác có tất cả 15 học trò, nhưng số được đào tạo trống quân rất ít. Trong số 6 người con trai của mình, bác tự hào khi có đến 3 người con theo nghiệp cha. Vậy nên, bác rất tự tin khi nói "không sợ điệu trống thất truyền".
Hiện tại làng Điếu Ngao có 6 người có thể chơi được điệu trống quân này. Phần lớn đều là những người lớn tuổi. Chỉ có 2 anh Trần Xuân Thảo và Nguyễn Văn Sang là tầm 35 tuổi. Đội trống quân của làng Điếu Ngao đã đi biểu diễn ở rất nhiều nơi trong cả nước.
Theo dulichvn.org và camnangdulich.com
READ MORE - ĐIỆU TRỐNG QUÂN CỔ LÀNG ĐIẾU NGAO

VĨNH PHÚC - TỔNG LƯỢC VÀ NHẬN XÉT KHẢO CỨU VỀ DÂN CA BÌNH-TRỊ-THIÊN NỬA SAU THẾ KỶ XX

Sơ lược về tác giả:
Họ tên: Bùi Ngọc Phúc
Bút danh: Vĩnh Phúc
Thạc sĩ âm nhạc
Chuyên ngành: Sáng tác - lí luận âm nhạc. Học viện Âm nhạc Huế
Hội viên Hội Nhạc sĩ Việt Nam
Phó Chủ tịch Hội Âm nhạc Thừa Thiên Huế, Trưởng ban Biên tập Tạp chí Âm nhạc Huế.

Qua hơn 30 bài nghiên cứu, giới thiệu về dân ca Việt Nam sưu tập theo tiêu chí Hát, Hò dân gian, chúng tôi đã tuyển chọn ra được 20 bài phù hợp với mục đích của khảo cứu để tổng lược và nhận xét. Ở đây chúng tôi không làm công việc “tóm tắt nội dung” của các bài chuyên khảo để tổng kết mà chỉ nêu dẫn, nhận xét những vấn đề như quan điểm, thái độ của tác giả bài viết đối với dân ca, những phát kiến, phương pháp nghiên cứu, tiếp cận trong điều kiện hoàn cảnh lịch sử nửa sau thế kỷ XX... theo quan điểm riêng của mình.
Bình - Trị - Thiên là tên ghép của 3 tỉnh: Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế nhưng cũng như Nghệ An, Hà Tĩnh (gọi ghép là Nghệ - Tĩnh), không hẳn chỉ vì trong quá khứ, do điều kiện lịch sử, địa lý đã nhiều lần là một đơn vị hành chính; mà sự gắn kết này, nổi trội lên là do tính chất tương đồng về văn hóa. Bởi vậy mà đôi lúc người ta thường gọi cả khu vực ba tỉnh Bình -Trị -Thiên là Xứ Huế. Tính chất đồng văn được biểu hiện rõ nhất trong hệ thống dân ca - nhạc cổ của xứ này. Đặc biệt là Quảng Trị và Thừa Thiên, được xem như chỉ là một. Nhìn chung, dân ca Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên trên cơ bản là đồng nhất. Với những đặc điểm về điều kiện, hoàn cảnh địa lý, lịch sử, cùng các yếu tố phong tục tập quán, ngữ âm giọng nói...đã tạo ra trong ngôn ngữ âm nhạc cổ truyền khu vực này nét độc đáo, đặc trưng, khu biệt khác hẳn với phong cách dân ca từ Đèo Ngang trở ra và từ Hải Vân trở vào.
Giai đoạn trước năm 1975, bài viết mang tính chất bình luận, nghiên cứu về dân ca Bình - Trị - Thiên thật quá ít ỏi. Những bài được đăng tải trên các tạp chí, tập san sớm hơn cả có lẽ là của nhạc sĩ Nguyễn Viêm, Phạm Duy, Lê Văn Hảo...nhưng cũng mới chỉ là những bài viết sơ lược về một thể loại, hoặc một số thể loại dân ca của vùng đất này.
Hò là một trong số thể loại dân ca tiêu biểu Bình-Trị-Thiên được các tác giả nghiên cứu khá nhiều.
Trong bài "Dân ca Việt Nam" [1] đăng trên Nguyệt san Văn Hữu năm 1960 của Phạm Duy, sau khi đề cập sơ bộ về sự san định dân ca, thì phần chủ yếu là giới thiệu những điệu hò Trị-Thiên như Hò ru con, Hò hụi, Hò ô, Hò mái nhì, mái xấp v.v...Tác giả bài viết đã đưa ra một số nhận xét bước đầu về các loại Hò đáng lưu ý, chẳng hạn: "Hò mái xấp và Hò mái nhì đã quy định rõ ràng là người Hò Con phải Xô hai lần Lớp Mái. (Chữ "xấp" nghĩa là "xấp đôi, xấp hai" ; chữ "nhì" cũng nghĩa là "hai" ; "hò mái xấp" và "hò mái nhì" nghĩa là "hai lần lớp mái"); và: "Hò Đưa Linh đã đóng vai trò trung gian giữa hai loại dân ca và lễ ca của miền Trung...phần hơi Nam thì còn lưu luyến hương vị Hò, phần hơi Bắc thì đã bị ảnh hưởng Nhạc Cúng, Nhạc Lễ, Nhạc Lên Đồng, mang đủ hai tính cách âm dương của nhạc miền Trung... Có những vấn đề lại đầy tính khẳng định, chủ quan: Nét nhạc xây dựng trên âm giai lơ lớ của người Chàm đem từ Nam Dương vào miền Trung.
Những điệu Hò giới thiệu trong bài viết được tác giả gọi là Những điệu hò miền Trung, thực chất chỉ là các điệu hò Trị - Thiên và mặc dù có một vài nhận xét về âm nhạc: "Với nét nhạc lượn quanh 4 nốt: rè sol do ré (nốt la chênh chỉ phớt qua) và với nhịp điệu theo nhịp thơ, HÒ THAI lững lơ, đợi chờ” nhưng chủ yếu vẫn là "bình giảng" các lời hò như cách thức trong "văn học bình dân" mà thôi. Phần đầu bài viết, tác giả Phạm Duy có đặt vấn đề việc san định dân ca, nhưng lại tỏ ra lúng túng khi phân loại, sắp đặt các điệu hò miền Trung trong bài viết của mình. Ông lại càng sai lầm hơn khi xếp thể loại Lý vào hệ thống Hò, và còn khẳng định lại trong phần kết luận: "HÒ MIỀN TRUNG với những bài RU, HÁT LÝ, NGÂM, HÒ NỆN, HÒ Ô, HÒ MÁI XẤP, HÒ MÁI NHÌ, HÒ GIÃ GẠO, HÒ THAI, HÒ ĐƯA LINH...một thời qua đã cắm rễ vào đời sống thực của người dân”.
Lê Văn Hảo là một tác giả có bài nghiên cứu ở hầu hết các thể loại dân ca tiêu biểu của Việt Nam. Cố nhiên, là trên góc độ dân tộc văn hóa học, nhưng đối với những thời kỳ mà đội ngũ nghiên cứu âm nhạc quá ít ỏi, thưa thớt, thì những khảo cứu của ông cũng đã tỏ ra xứng đáng để lấp đầy những chổ thiếu hụt trong lĩnh vực nghiên cứu âm nhạc cổ truyền. Với thể loại Hò Bình - Trị - Thiên, từ năm 1963 ông đã đề cập đến trong bài "Vài nét về Hò - dân ca miền Trung và miền Nam”, năm 1978 lại có "Góp phần tìm hiểu Hò Binh-Trị-Thiên” và năm 1979 là "Hò Bình-Trị-Thiên” [2]. Có thể nói đây là một khảo cứu đầy đủ về hệ thống hò Bình-Trị-Thiên không những về mặt sinh hoạt, môi trường diễn xướng...mà bước đầu đã có sự phân loại, hệ thống hóa các nhóm Hò tương quan như hệ thống Hò hụi, Hò khoan, Hò đưa linh, mái nhì... cũng như những dẫn chứng, thí dụ bằng nốt nhạc. Tuy vậy, khảo cứu cả một hệ thống Hò vốn rất phong phú của khu vực Bình-Trị-Thiên bằng một bài báo, thì không thể tránh được tình trạng “tổng quan”, phiến diện; sử dụng, nhắc lại các nhận xét, kết quả nghiên cứu của người khác nhưng không dẫn giải, đào sâu thêm mà chỉ đưa vào nghiên cứu của mình như thành phần "đại biểu danh dự” để trấn an độc giả về mặt âm nhạc học. Điều này không chỉ riêng ở tác giả Lê Văn Hảo, mà còn thấy ở nhiều tác giả khác. Bài "Chung quanh một số phát hiện khảo cổ - Dân tộc học và Nghệ thuật học lớn: Từ đàn đá Khánh Sơn đến Hò mái nhì, mái đẩy Bình-Trị-Thiên” [3] của ông lại tỏ ra là một bài viết nghiên cứu âm nhạc khi so sánh thang âm của bộ đàn đá Khánh Sơn, thang âm bộ đàn đá Ndut Lieng Krak với thang âm Hò mái nhì, mái đẩy, khơi sâu thêm vấn đề mà Gs Trần Văn Khê đề xuất trong luận án tiến sĩ của mình: thang âm pelog (Indonesia) gần gũi với thang âm Hò mái nhì, mái đẩy.
Tiến sĩ Tôn Thất Bình, cũng là người có nhiều nghiên cứu về thể loại này, như: "Hò đối đáp nam nữ ở Bình Trị Thiên”, "Thử tìm hiểu nguồn gốc làn điệu Hò mái nhì” [2] và "Tìm hiểu Hò Bình Trị Thiên” [4]. Mặc dù đây là những khảo cứu văn hóa dân gian nhưng đã viện dẫn đến nhiều nhận xét của các nhà âm nhạc học như Trần Văn Khê về thang âm Hò mái nhì, mái đẩy, Phạm Duy về thang âm "hơi nam giọng ai" có nguồn gốc Chàm trong hầu hết các điệu Hò Bình-Trị-Thiên. Về cách gọi tên các điệu Hò, Tôn Thất Bình không nhất trí với Lê Văn Hảo gọi "mái nhì" là mái chèo sau, mái chèo thứ hai, mà thống nhất với ý kiến của các nhà âm nhạc học giải thích: mái là lớp mái. Hò mái nhì là loại hò phải xô hai lần lớp mái. Ông cũng không đồng nhất quan điểm với một số người dùng danh xưng "Hò Huế" để chỉ các làn điệu hò có mặt tại Huế. Bởi vì nó không phải là sản phẩm của giới quý tộc và trí thức ở Huế như Ca Huế, mà là sản phẩm chung của Trị Thiên, nên phải gọi là Hò Trị-Thiên. Điều này là chính xác, nhưng nếu quan niệm không gian văn hóa của Xứ Huế là bao gồm cả Trị-Thiên, thì danh xưng Hò Huế chưa hẵn là không đúng.
Hò mái nhì là loại hò sông nước, trong quá trình phát triển, do không gian diễn xướng, do sắc thái của từng địa phương cụ thể mà làn điệu hò có những nét riêng. Tuy vậy, Hò mái nhì không chỉ là hò sông nước mà đã hình thành hệ thống Hò cạn: hò trong khi quay tơ dệt vải, khi cày ruộng trên đồng...Trường hợp điệu hò mái nhì ở Hải Thanh (Quảng Trị) đã rất phổ biến trong kháng chiến chống Pháp là loại Hò mái nhì trên cạn; chức năng thực hành và nội dung chủ yếu là kêu gọi ngụy quân về với Cách mạng, về với nhân dân nên cũng gọi là Hò địch vận. Làn điệu do đó cũng phát triển hơn cho phù hợp với chức năng thực hành mới...Nhưng không thể xem đấy là một thể loại dân ca mới: Hò Hải Thanh [5] như cách gọi của nhạc sĩ Nguyễn Viêm. Cùng trường hợp là một loại hò gọi là Hò đập bắp Thượng Xá (Quảng Trị) do Tôn Thất Bình và Nguyễn Hồng Trân giới thiệu [6]. Có thể đó là một loại hò mới, nhưng cũng có thể là một biến điệu của Hò mái nhì trên cạn rất phổ biến ở Quảng Trị. Do tính chất của một bài nghiên cứu văn hóa dân gian, các tác giả ít chú trọng về âm nhạc của làn điệu hò, nên không thể biết gì thêm về loại hò này.
Theo Dương Bích Hà trong Nét đặc sắc trong các làn điệu dân ca Huế [7] thì thể loại đặc sắc nhất trong dân ca Bình-Trị-Thiên là Hò và Lý; trong hệ thống Hò Trị-Thiên thì tiêu biểu nhất là Hò mái nhì. Bởi trước hết, tính chất giai điệu của nó đã gợi lên được không gian thiên nhiên đặc hữu của Huế, của Núi Ngự Sông Hương và bóng dáng những con đò lững lờ xuôi dòng về với đầm phá mênh mông. Giai điệu Hò mái nhì trầm bổng mượt mà, với nhịp điệu dàn trải, chậm rãi khoan thai nhưng phóng khoáng vút lên lan tỏa giữa mênh mang sóng nước, rồi buông lơi bằng những bước phản hồi êm ái, như chùng xuống chìm vào tâm tư, tự sự. Mặc dù không phân tích cụ thể về âm nhạc nhưng tác giả đã nhận xét "cấu trúc âm nhạc của Hò mái nhì hoàn chỉnh trên bố cục của thể thơ song thất lục bát, mà 2 câu bảy như một vế dẫn gợi mở để vào vế chính là câu sáu tám mang nội dung chính của hò, nơi ký thác tâm sự, ân tình".
Một điệu hò cạn nổi tiếng và phổ biến ở Trị-Thiên là Hò giã gạo. Cũng theo Dương Bích hà [7], tuy gắn bó công việc lao động tập thể nhưng không chỉ đơn thuần là để giã gạo mà còn là nơi trai thanh gái lịch tìm hiểu, trao duyên và cũng đã từng quyến rũ cả giới văn nhân quý tộc Huế tham gia. Loại hò này đã có nhiều bài nghiên cứu, nhưng chỉ trên lĩnh vực văn học dân gian, còn nghiên cứu về âm nhạc thì hầu như chưa được quan tâm.
Bài viết Hò khoan Lệ Thủy - Dân ca Quảng Bình [8] của tác giả Thân Văn mang tính chất một chuyên khảo âm nhạc học về tổ hợp hò khoan sáu mái của vùng sông nước Lệ Thủy. Bài viết chỉ dài hơn 5 trang nhưng ngồn ngộn những vấn đề được chứa đựng trong 3 phần với gần 20 tiểu mục. Tác giả cho rằng Hò khoan Lệ Thủy bắt nguồn từ một loại Hò nhân nghĩa, một loại hò của nghĩa binh Lê Lợi có trên vùng đất này vào thế kỷ XV nhưng sự hình thành lối hò khoan thì gắn với sự ra đời của con sông Kiến Giang. Nhận xét về âm nhạc, tác giả cho rằng, cấu trúc âm nhạc Hò khoan dựa trên các điệu thức 5 âm bắc bộ, có ảnh hưởng tương đối về chất liệu đối với các làn điệu Hò và Ví, Giặm dân ca Thanh-Nghệ-Tỉnh, đặc biệt trong 3 mái hò cạn. Nhóm 3 mái Hò cạn (mái chè, mái nện, mái xắp) thuần túy lối hát nói (Récitativ); cấu trúc hình thức chung nhất là thể một đoạn gồm 2 câu, mỗi câu chứa 2 vế... Nhóm 3 mái Hò nước (mái ruổi, mái nhì, mái ba) điển hình là lối hát chuyện (Ballade); cấu trúc hình thức phức tạp hơn, nhất là trong hò mái nhì v.v... Nói chung, bài viết đã đặt ra được nhiều vấn đề, thậm chí vượt qua khuôn hạn của một bài báo 5 trang. Dù rằng, do dung lượng của tờ tạp chí, không thể đăng thêm các thí dụ, dẫn chứng bằng nốt nhạc, nhưng không vì thế mà giảm đi tính chất của một khảo cứu âm nhạc học, điều mà chỉ có được ở những bài viết nghiên cứu trên các tạp chí, từ 1990 trở về sau. Tuy nhiên, trong bài viết này của tác giả Thân Văn, với gần 20 tiểu mục đã gây ra sự dồn nén thông tin, nên ít có vấn đề được giải quyết một cách trọn vẹn. Có thể vì thế mà khi nhận xét ngôn ngữ âm nhạc trong Hò khoan Lệ Thủy, cảm giác rằng tác giả đã phân lập nó với môi trường văn hóa chung của khu vực Bình-Trị-Thiên - nơi mà phong tục và văn hóa, nghệ thuật tương đồng đến mức khó phân định. Bởi vậy không thể và không chỉ là dựa trên các loại điệu thức 5 âm Bắc Bộ và gần hơn với Hò, Ví, Giặm Thanh-Nghệ-Tĩnh mà không mang một nét chung nào với hệ thống Hò Trị -Thiên. Đúng hơn, như thường gọi là Hò Bình-Trị-Thiên. Ngoài ra, tác giả đã thật không cần thiết khi quy chiếu một số loại, thể âm nhạc châu Âu vào tính chất của một số lớp hò như récitativ, ballade; thể một đoạn 2 câu, 4 vế v.v...
Lý là một thể loại đặc sắc trong dân ca Bình-Trị-Thiên, chính xác hơn là Trị-Thiên. Nếu Hò là loại thể dân ca gắn bó với môi trường lao động, mang đậm yếu tố dân gian, thì Lý, trong âm nhạc cổ truyền "Xứ Huế", là một gạch nối giữa hai thành phần cổ truyền dân gian và cổ truyền chuyên nghiệp. Trong những năm 70, một số bài viết của một số tác giả có đề cập đến thể loại Lý Trị-Thiên, nhưng cũng chỉ nêu dẫn một cách chung chung trong tổng thể danh mục các thể loại dân ca Bình-Trị-Thiên, thông qua một số nghệ nhân, nghệ sĩ Trị-Thiên tập kết ra miền Bắc. Tuy vậy, cũng đã có những nhận xét về âm nhạc của một vài điệu Lý tiêu biểu: Điệu lý Hoài nam " dùng thủ pháp mô phỏng, không có những bước nhảy rộng trong giai điệu"; điệu lý Năm canh "có tốc độ chậm, dàn trải, với những bước nhảy lớn ở âm khu trầm, nghe càng rõ tính chất cô đơn, hiu quạnh...Các điệu lý phần nhiều được cấu trúc theo thể nhạc đơn giản - thể nhạc một đoạn - hợp với khổ thơ lục bát” trong bài nghiên cứu Dân ca Bình Trị Thiên [9] của Nguyễn Viêm. Phải từ những năm 80, thể Lý Trị-Thiên mới được xem xét một cách độc lập trong vài chuyên khảo đăng trên các tập san, tạp chí Văn hóa - nghệ thuật. Các tác giả đã xác định vị trí của Lý trong nền nhạc cổ truyền Trị-Thiên. Đặc biệt, bài Một làn điệu đặc sắc trong kho tàng dân ca Bình-Trị-Thiên [10], Lê Văn Hảo đã nêu lên giá trị nghệ thuật của một điệu lý Hoài xuân mà ông gọi là lý con sáo Huế 1 trong hệ thống 4 điệu lý con sáo Huế và vùng phụ cận Huế. Đồng thời, ông đã dè dặt khơi gợi về nguồn gốc, về một điệu lý con sáo cổ xưa khi so sánh các điệu lý con sáo có mặt trên ba miền đất nước. Nhưng rồi không rõ căn cứ vào đâu ông lại đột ngột, mạnh dạn, chủ quan cho cho là "Lý hoài xuân sẽ ảnh hưởng đến lý con sáo Bắc, lý con sáo Quảng và lý con sáo Nam. Mô típ "ơi người ơi" sẽ được chuyển thành "ơ mần răng", "ư làm răng" hay thành "ơi nàng ơ" trong lý con sáo Quan họ, lý con sáo Quảng, lý con sáo Gò Công”... Hoặc là, "Lý giang nam (lý con sáo Huế 3) sẽ ảnh hưởng đến lý con sáo Bắc, lý con sáo Thanh, lý con sáo Quảng và nhất là lý con sáo Nam. Bài lý con sáo Nam nổi tiếng (lý con sáo Nam 1), mà nhạc điệu gần gũi với những bài bản thuộc điệu nam hơi oán trong đờn tài tử, ca vọng cổ, hát cải lương có lẽ đã bắt nguồn từ lý giang nam". Tác giả thiếu phần dẫn chứng, căn cứ, cho nên khi nêu vấn đề thường sa vào cảm tính. Chẳng hạn việc ông xếp Lý hoài xuân là điệu Lý con sáo 1, trong số 4 điệu Lý con sáo Huế, và được xem như là điệu Lý con sáo chính thức mà không một lời dẫn giải, đã khiến nhạc sĩ Minh Phương bác bỏ một cách hợp lý trong bài Trở lại bài dân ca Lý Hoài Xuân [11]. Qua phân tích, so sánh những yếu tố âm nhạc của các điệu Lý con sáo cả 3 miền, nhạc sĩ Minh Phương không cho rằng điệu lý hoài xuân là Lý con sáo Huế như Lê Văn Hảo đã nêu. Bởi vì về âm nhạc, nó không có họ hàng gần gũi gì với hệ thống các điệu lý con sáo chung. Ông chỉ thừa nhận Lý giang nam mới thực sự là điệu lý con sáo Huế. Không hẳn nhận xét này đã hoàn toàn đúng. Nét nhạc kết rất đặc trưng của lý hoài xuân đều có mặt trong hầu hết các điệu lý con sáo nhiều địa phương khác, kể cả trong điệu lý giang nam của Trị-Thiên mà nhiều người đã từng dẫn chứng. [3] Nguyễn Hữu Ba trong tập Dân ca Việt Nam, không gọi là lý hoài xuân mà đã gọi hẳn là lý con sáo Huế. [4]
Phải đến năm 1997 thể loại này mới được nghiên cứu một cách chuyên sâu hơn trong bài Kết cấu thể thức âm nhạc trong Lý Huế [12] và Nét đặc sắc trong các làn điệu dân ca Huế [13] của Dương Bích Hà. Tác giả đã giới thiệu một số cấu trúc độc đáo của một số điệu lý tiêu biểu ở Huế qua 4 phương thức sáng tạo làn điệu trong truyền thống dân gian. Tuy vậy, khi dẫn giải cũng lại sa vào khuôn thước của thể thức âm nhạc châu Âu, như: " cấu trúc một đoạn 2 vế không nhắc lại; thể biến tấu, chủ đề và các biến khúc" v.v...Như thế, tác giả đã dẫm lại dấu chân của những người đi trước. Nói cho cùng thì việc làm này chẳng khác gì công việc tìm kiếm những điểm tương đồng giữa dân ca nhạc cổ Việt Nam và âm nhạc cổ điển phương Tây, mà chủ đích của bài nghiên cứu này không phải là thế ! Một điều nữa đáng cảnh báo đối với kiểu nghiên cứu "bói ra ma, quét nhà ra rác" này là, trong khi nhận xét, đề cao về yếu tố chuyên nghiệp trong thể tài dân gian như Lý, tác giả bài viết đã vô hình trung gán cho những nghệ sĩ dân gian nào đó như là những nhạc sĩ có kiến thức uyên bác về nhạc học phương Tây, cái lý thuyết âm nhạc mà người Việt Nam ở thành thị cũng chỉ mới biết đến đầu thế kỷ XX.
Phát triển vấn đề dân gian và bác học trong thể Lý Huế mà Dương Bích Hà nêu ra, tác giả Vĩnh Phúc đã tiếp tục làm rõ 2 đặc tố này một cách hệ thống hơn qua bài nghiên cứu Yếu tố dân gian và bác học trong thể Lý Huế [14]. Thông qua các phương tiện biểu hiện đặc trưng của mỗi một đặc tố, bài viết đã xác minh và thừa nhận những đặc trưng của yếu tố bác học thâm nhập vào thể loại dân gian này: " theo phân tích của một số nhà nghiên cứu âm nhạc, chúng (Lý Huế), đã được chuyên nghiệp, bác học hóa đi rất nhiều. Bởi trong quá trình phát triển, Lý đã được trau chuốt bằng các thủ pháp nhà nghề của giới cầm ca xứ Huê, bản thân thể loại này đã bao gồm cả 2 yếu tố: dân gian và bác học". Tuy nhiên, cái bác học này cũng là cái bác học chung chung. Không thể rằng, nhặt ra được một vài thủ pháp nào đó trong cấu trúc giai điệu, bố cục thể thức giống hoặc na ná công thức nhạc lý châu Âu cổ điển, thì đều quy vào yếu tố bác học. Các giá trị nghệ thuật của bản thân từng thể loại dân ca mà nhà nghiên cứu nêu ra do đó, cũng có thể méo mó, hiểu khác đi, thậm chí có tác dụng ngược lại. Bởi vậy, thang giá trị (hoặc tiêu chuẩn, tiêu chí) chuyên nghiệp - bác học trong truyền thống âm nhạc dân tộc nên được xác định, nhất là trong những nghiên cứu liên quan đến giá trị nghệ thuật của dân ca nhạc cổ.
Luận từ sử sách để suy ra, để giải mã những ngọn nguồn đã hình thành nên bản sắc trong âm nhạc dân gian Xứ Huế. Bài nghiên cứu Âm nhạc dân gian Xứ Huế, đặc điểm lịch sử trong quá trình hình thành [15], Dương Bích Hà đã phần nào giải thích được sự biến thái phát triển đột biến của các thể loại dân ca có lề lối thủ tục, có môi trường diễn xướng đặc hữu của miền Bắc cội nguồn trên vùng đất châu Ô, châu Rí xưa. Đó là các thể loại, các lối hát đặc trưng chỉ phát triển nhiều nhất là từ Trị-Thiên trở vào, như thể Lý và các lối hát, hò tín ngưỡng của cư dân vùng duyên hải: hát Bả trạo, hò Đưa linh v.v...
Nhạc sĩ Lê Quang Nghệ trong Đi tìm điệu Trống quân Quảng Trị [16], đã cho biết ở đây có điệu Trống Quân nhưng hoàn toàn khác với hát Trống quân phổ biến ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Trống Quân Quảng Trị là một tiết mục nghệ thuật dân gian mang hình thức biểu diễn sân khấu. Sở dĩ gọi Trống quân vì là tiết mục hòa tấu trống - kèn mà dàn trống đóng vai trò chi phối toàn bộ tiết mục. Nội dung chủ yếu ca ngợi chiến công và lòng yêu nước của quân sĩ được thể hiện trong các tiết đoạn có tiêu đề cụ thể như Quân đại, Quân tiểu, Mở cờ v.v...Tuy nhiên tác giả cho rằng “cũng như nhiều bản nhạc cổ thuộc loại hòa tấu khác, trống quân bắt đầu từ một bài dân ca có lời...Điệu hát trống quân gồm 8 câu, hai đoạn, cấu trúc chặt chẽ như một bài ca hoàn chỉnh. Giai điệu mang âm hưởng của điệu Đăng đàn cung”... thì không hẳn là vậy. Bởi những lời ca có nội dung mới như tác giả đã dẫn: " này này này quyết chí công nông binh” là do việc đặt lời mới theo điệu nhạc được coi là Trống Quân đó. Hơn nữa, bài Trống quân này có âm hưởng của điệu nhạc Đăng đàn cung, là một bản nhạc lễ cung đình, là bài bản thuộc hệ thống Đại nhạc mà vào hậu kỳ triều Nguyễn có lúc đã phổ lời vào để làm thành Quốc thiều với lời ca như sau:
Dân Hồng Lạc mình đây đã bốn ngàn năm
Gây non nước từ trước lâu dài
Ngọn cờ Hoa Lư ngời rạng
Đinh, Lê rồi lại Lý, Trần, Lê
Rày Nam Bắc rộng bước sơn hà
. . . . . . .. . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Vậy nó khó có thể có nguồn gốc từ một bài dân ca như tác giả khẳng định. Vả lại, hình thức Trống quân Quảng Trị là hòa tấu trống - kèn (cổ xúy), chẳng dân gian chút nào. Nếu có, hẳn là đã dân gian hóa vốn âm nhạc cung đình; hoặc như một nghi vấn đang được đặt ra: Phải chăng Quảng Trị, mà cụ thể là làng Điếu Ngao, là nơi lưu giữ một bộ phận quan trọng của Nhạc Lễ cung đình triều Nguyễn ?[5]
Trong tất cả các bài viết về Hát ru thì bài Nghệ thuật điệu ru con Quảng Trị của nhạc sĩ Lê Quang Nghệ là bài độc nhất mang tính nghiên cứu âm nhạc [17]. Mặc dù gọi là ru con Quảng Trị nhưng tác giả cũng thừa nhận là của cả Bình-Trị-Thiên, nơi có cùng một sắc thái ngôn ngữ. "Trong lối nói bình thường, các từ có âm trắc mang các dấu thường gieo vào âm vực trầm; từ có âm bằng, mang dấu huyền ở âm vực trung; từ có âm bằng không mang dấu thường được đặt ở âm vực cao. Đó là đặc điểm của cách phát âm đã trực tiếp ảnh hưởng đến các thể loại dân ca trong vùng". Tác giả nhận xét: "điệu ru con Quảng Trị có quan hệ chặt chẽ với các điệu hò. Lời nào có thể hò được là đưa vào ru con được". Tuy nhiên, đề cập đến vấn đề thang âm thì tác giả đã tỏ ra hạn chế khi cho Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ là tên của 5 gam dân tộc, và kết luận : "cấu trúc giai điệu ru con Quảng Trị được thành lập trên gam 5 âm: Son Chủy". Về kết cấu thể thức, tác giả bài nghiên cứu nhận xét: " Nếu là thơ lục bát (2 câu) thì âm nhạc cũng gồm 2 câu hình thành một đoạn đơn kết ở âm chủ Son. Nếu là thơ song thất lục bát, cuối câu hai thường kết lững ở nốt Đô, để chuyển sang 2 câu lục bát sau một cách nguyên vẹn, kết trọn câu thứ tư ở âm chủ, hình thành một đoạn kép hoàn chỉnh". Là một bài nghiên cứu trong những năm sau 1975, lại là nghiên cứu về dân ca của một vùng được xem là nổi trội lên bởi màu sắc đặc trưng, mang đậm sắc thái địa phương như khu vực Trị-Thiên, mà xem xét hoàn toàn dựa trên chuẩn mực của Trung Hoa và phương Tây, hẳn là ít tìm được sự "đồng cảm" trong giới nghiên cứu. Bởi hệ quả của nó sẽ là sự quy đồng các sắc thái đặc trưng trong âm nhạc cổ truyền của các vùng, miền trên toàn quốc; thậm chí còn làm phát sinh thêm những "tương đồng giả" giữa các truyền thống âm nhạc khác nhau.
Các bài khảo cứu dân ca dân nhạc các dân tộc thiểu số Bình - Trị - Thiên trong giai đoạn này khá hiếm hoi. Chúng tôi chỉ nhặt ra được 3 bài để đưa vào tổng lược.
Với công việc của người sưu tầm văn hóa dân gian, Trần Hoàng đã có một cái nhìn tổng quan về sinh hoạt âm nhạc dân gian của hai tộc người Cơ Tu và Tà Ôi trong bài: Đôi nét về ca múa nhạc dân gian của người Cơ Tu và người Tà Ôi ở Thừa Thiên - Huế [18]. Mặc dù không xuất phát từ ý định phân loại nhạc cụ theo tiêu chí âm nhạc dân tộc học nhưng tác giả cũng đã sắp xếp một cách tương đối khi giới thiệu các chủng loại nhạc cụ theo các bộ: gõ, dây, hơi. Tiếc rằng trong mục giới thiệu các loại dân ca, tác giả không mô tả, dù là ít ỏi tính chất âm nhạc của các làn điệu mà chỉ nêu tên và tính chất qua nội dung lời ca.
Cũng viết về dân tộc Tà Ôi ở Thừa Thiên - Huế nhưng Dương Bích Hà với Âm nhạc trong lễ Cầu mùa của người Tà Ôi [19] và Vĩnh Phúc với Vài nét về sinh hoạt âm nhạc trong trình thức đám cưới của người Tà Ôi [20] lại xem xét mô tả âm nhạc của tộc người này thông qua những sinh hoạt lễ nghi, tập tục cụ thể trong đời sống của người Tà Ôi. Mặc dù chỉ khảo sát âm nhạc như một bộ phận xuất hiện trong các lễ thức của một lễ Cầu mùa nhưng tác giả bài viết vẫn có những nhận xét tổng thể bước đầu về tính chất và đặc điểm trong âm nhạc của người Tà Ôi, như: “…Giai điệu tuy mộc mạc, đơn sơ thường hạn chế trong một âm vực hẹp, nhưng nhờ luyến láy, nhấn nhá tạo nên được phong cách đặc biệt. Âm hưởng thiên về sắc thái mềm, tối của điệu thứ nhưng không có sự ổn định về độ cao trong thang âm nên nghe lơ lớ...Về hòa tấu, ưa sử dụng loại nhịp chẵn có trọng âm rõ ràng, ít biến hóa, chỉ thỉnh thoảng có đảo phách”. Vĩnh Phúc có nêu lên một số hình thức diễn xướng và nhạc cụ xuất hiện trong trình thức của một đám cưới nhưng tiếc rằng chưa mô tả nhiều về âm nhạc trong các bài bản được diễn tấu, diễn xướng đó, mà nặng về trình thức và phong tục, tập tục đám cưới của người Tà Ôi.
Do điều kiện, hoàn cảnh của nước ta trong giai đoạn này, nhất là từ những năm 50 đến 70, đội ngũ nghiên cứu lý luận âm nhạc đang từ không có đến có với số lượng chỉ như đếm đầu ngón tay. Các bài viết về dân ca Việt Nam nói chung, dân ca Bình-Trị-Thiên nói riêng đa phần do các tác giả là nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, dân tộc học sưu tầm nghiên cứu. Dù sâu sắc về lịch sử, tổ chức xã hội, đời sống vật chất và phong tục, tín ngưỡng, tôn giáo...nhưng lại thiếu yếu tố âm nhạc học. Tuy vậy, các khảo cứu trên lĩnh vực này đã góp phần không nhỏ cho lĩnh vực nghiên cứu âm nhạc học (và sau này là dân tộc nhạc học). Đó là tạo tiền đề, cơ sở, tư liệu và kể cả cảm hứng, hứng thú cho các nghiên cứu âm nhạc học về sau; cũng như, trong điều kiện nghiên cứu liên ngành ở nước ta chưa có sự tổ chức đồng bộ nên những tư liệu về văn hóa học, dân tộc học đã bổ sung rất hữu ích cho các khảo cứu về âm nhạc.
Trong lĩnh vực nghiên cứu âm nhạc học, ngoài một số nghiên cứu có giá trị nhưng khá hiếm hoi, còn lại phần nhiều là các bài viết nặng về sưu tầm, giới thiệu mang tính chất điểm mặt một số thể loại, hoặc như một báo cáo tư liệu điền dã nên yếu tố nghiên cứu tỏ ra khá bị mờ nhạt (ngoại lệ trường hợp một số bài nghiên cứu sau đó đã được tác giả hoàn thiện lại và in thành sách).
Mặc dù còn những tồn tại về phương hướng, phương pháp trong một số bài nhưng nhìn chung những khảo cứu dân ca khu vực Bình-Trị-Thiên trong thời kỳ này đã để lại một hệ thống, một kho tàng tư liệu quý giá các thể loại, giới thiệu cho công chúng biết được giá trị nghệ thuật truyền thống của dân tộc, điều mà trước 1945 chưa biết đến và chưa làm được bao giờ. Điều quan trọng trong khoa học âm nhạc là đã giải quyết được một số vấn đề về dị bản, cải biên, ký âm, bảo tồn, phát triển… Chính những điều này đã tạo cơ sở, phương hướng mang ý nghĩa “mở lối, dẫn đường” cho các nhà nghiên cứu âm nhạc thế hệ kế tiếp của thế kỷ XXI.
DANH MỤC TÀI LIỆU
[1] Phạm Duy. Dân ca Việt Nam.
Nguyệt san Văn Hữu. Số 3/1960.
[2] Lê Văn Hảo. Hò Bình Trị Thiên.
T/c Âm nhạc số 2,3,4/1979.
[3] Nguyễn Viêm. Về một bài dân ca mới: Hò Hải Thanh.
T/c Âm nhạc số 1/1979.
[4] Lê Văn Hảo. Chung quanh một số phát hiện khảo cổ đến Hò mái nhì, mái đẩy Bình Trị Thiên.
T/c Dân tộc học số 4/1980.
[5] Tôn Thất Bình. Tìm hiểu Hò Bình Trị Thiên.
T/c sông Hương số 27/1987.
[6] Tôn Thất Bình, Nguyễn Hồng Trân. Hò Đập bắp Thượng Xá.
Văn hóa dân gian số 1/1993.
[7] Thân Văn. Hò khoan Lệ Thủy - Dân ca Quảng Bình.
T/c NCNT số 12/1999.
[8] Lê Văn Hảo. Một làn điệu đặc sắc trong kho tàng dân ca BTT.
Tập san Văn hóa BTT số Xuân Canh Thìn 1980.
[9] Minh Phương. Trở lại bài dân ca Lý Hoài Xuân.
Tập san Văn hóa BTT số 8/1980.
[10] Dương Bích Hà. Kết cấu thể thức âm nhạc trong Lý Huế.
T/c NCNT số 8/1997.
[11] Vĩnh Phúc. Yếu tố dân gian và bác học trong thể Lý Huế.
T/c NCNT số 6/1999.
[12] Lê Quang Nghệ. Đi tìm điệu Trống quân Quảng Trị.
T/c NCNT số 9/1995.
[13] Lê Quang Nghệ. Nghệ thuật Ru con Quảng Trị.
(trích trong “Âm nhạc - Tác giả, Tác phẩm”. Tập II)
[14] Nguyễn viêm. Dân ca Bình Trị Thiên.
T/c Âm nhạc số 1/1978.
[15] Dương Bích Hà. Nét đặc sắc trong các làn điệu dân ca Huế.
Tập san Văn hóa Thừa Thiên Huế số Xuân Mậu Dần 1998.
[16] Dương Bích Hà. Âm nhạc dân gian xứ Huế, đặc điểm lịch sử trong quá trình hình thành.
T/c NCNT số 3/1999.
[17] Nguyễn Viêm. Từ những làn điệu dân ca đồng bằng Bắc Bộ, Trị - Thiên và Liên khu 5.
T/c NCNT số 7/1974.
[18] Trần Hoàng. Đôi nét về ca múa nhạc dân gian của người Cơ-tu, và người Tà Ôi ở Thừa Thiên Huế.
Văn hóa dân gian số 4/1994.
[19] Dương Bích Hà. Âm nhạc trong lễ cầu mùa của người Tà Ôi.
T/c VHNT số 8/2000.
[20] Vĩnh Phúc. Sinh họat âm nhạc trong trình thức đám cưới của người Tà Ôi.
Văn hóa dân gian Thừa Thiên Huế số 12/2000.
[1] Dân ca trong khảo luận này xin hiểu chỉ là Hát, Hò dân gian. Chúng tôi không tập hợp các khảo cứu về âm nhạc tín ngưỡng dân gian (Hầu văn, Sắc bùa, hát Bả trạo..) và dòng âm nhạc dân gian chuyên nghiệp (Ca Huế, Xẩm Huế…)
[2] Tạp chí Sông Hương số 6/1984; T/c Dân tộc học số 2/1986
[3] Xem thêm tài liệu số [20]
[4] Dân ca Việt Nam .Tập 1,2, Bộ Quốc Gia Giáo Dục, Saigon, 1961
[5] Xem thêm Âm nhạc cổ truyền Quảng Trị. Viện Âm nhạc - Hội VHNT Quảng Trị, 1996

Nguồn:  http://vietsciences.free.fr và http://vietsciences.org 


READ MORE - VĨNH PHÚC - TỔNG LƯỢC VÀ NHẬN XÉT KHẢO CỨU VỀ DÂN CA BÌNH-TRỊ-THIÊN NỬA SAU THẾ KỶ XX

Sunday, February 20, 2011

TÔN THẤT BÌNH - HÒ ĐỐI ĐÁP NAM NỮ BÌNH TRỊ THIÊN


Đêm đã xuống và trăng rằm bắt đầu ló dạng. Sân đình đã đông nghẹt người. Dưới ánh sáng của cây đèn măng-xông treo trên mái hiên đình, một cái ghế dài và hai cây gậy đã để sẵn. Đó là sân khấu của đêm hò giã gạo và hò mái nhì thường diễn ra ở vùng quê Quảng Trị vào những thập niên '50, '60, thời còn thanh bình.




Sinh hoạt hò đối đáp nam nữ ở Bình Trị Thiên được thể hiện trong lao động tập thể, trong các hình thức giải trí vui chơi, và ngay trong các ngày hội lễ, mặc dù tính chất trang nghiêm, nhưng không vì thế mà hò đối đáp không được sử dụng.
Hò giã gạo là trở loại hò thích hợp nhất cho lối hò đối đáp nam nữ. Với nhịp điệu, tiết tấu dồn dập, rộn ràng, hò giã gạo rất thích hợp với lao động tập thể, đồng thời cũng rất hấp dẫn lôi cuốn những người trong và ngoài cối hò say theo câu hát.
Tính chất đối đáp nam nữ đã thể hiện ngay trong bước đầu của tiến trình cuộc hò giã gạo. Bắt đầu cuộc hò là lối hò chào:
Túi (1) trời không biết bạn là ai.
Cho tui chào chung một tiếng rạng mai tới tìm.
Hoặc:
Chào chung chào chạ chào bậy chào bạ, chào cả và cươi (2)
Chào người ngang vế bằng vai
Có ai ân tình đạo hạnh lắng tai nghe chào
Sau lời chào hỏi, người gia nhập cuộc hò được mời cầm giã gạo. Lối hò mời được xướng lên để khởi đầu một cuộc hò:
Thiếu tay tui phải cầm chày
Khuyên cùng với bạn dở hay đừng cười.
Sau hò chào, hò mời (gọi là hò vào cuộc) là hò gần, để làm quen, gồm các câu trao đổi thăm hỏi nhau. Khi nhịp chày đã đều đặn, phần trung tâm cuộc hò đối đáp nam nữ mới thực sự khai diễn. Hò đâm bắt, hò đối, hò đố, hò ân tình liên tiếp nhau làm không khí cuộc hò giã gạo thêm rộn ràng. Để kết thúc cho cuộc hò này, các câu hò xa cách (hay từ tạ) đã để lại bao lưu luyến trong tâm tư những người trong cuộc.
Trong sinh hoạt hò giã gạo, hễ ai đã cầm chày là gia nhập vào thành phần cuộc hò. Mỗi cối hò gồm 4 người, cả nam lẫn nữ, cuộc hò có thể kéo dài từ tối đến sáng.
Trong cối hò đối đáp, hò đố mà không trả được thì phải buông chày ra về. Trường hợp này xảy ra không hiếm khi người cùng cối hò muốn chọc ghẹo nhau, hoặc không vừa ý, nên ra câu hắc búa để thử tài hoặc khỏi hò với nhau.
Hệ thống hò khoan Lệ Thủy ở Quảng Bình cũng theo một tiến trình tương tự như tiến trình của hò giã gạo. Mở đầu cuộc hò là hò mái chè sau đó là hò mái nện, hò mái ba, hò mái nhì, hò mái duỗi và hò mái xắp. Hò khoan Lệ Thủy có mặt khắp nơi trong sinh hoạt của nhân dân do nó có nhiều làn điệu phù hợp với tính chất công việc lao động: Đẵn củi, xay lúa, lùa trâu, cất nhà, đưa đò, dệt vải v.v… Đó thật là một hệ thống hò phổ biến, tiêu biểu cho lối hò đối đáp nam nữ ở Bình Trị Thiên.
Hò mái nhì ở Huế là một loại hò vừa có thể dùng để hò đơn lẻ, lại vừa dùng trong khi đối đáp. Là một điệu hò trên sông nước, hò mái nhì vừa có chức năng phụ lực cho lao động, lại vừa đủ yếu tố để thể hiện tâm tình. Điệu hò man mác, trầm buồn, ngân nga và sâu lắng, êm đềm như mặt nước sông Hương. Âm điệu hò mái nhì có khả năng khơi động đến nơi cùng thẳm nhất của tâm hồn người: Đó là một điệu hò đầy tính trữ tình, rất phù hợp với sự thổ lộ tâm tình của những người sống trên sông nước.
Hò mái nhì bắt đầu bằng lời một người ướm hỏi một người. Nếu được đáp ứng, cuộc hò có thể kéo dài tùy theo quãng dài con sông và tùy theo tình cảm những người trong cuộc. Bắt đầu bằng lời chào hỏi, kéo dài bằng những lời trao đổi tâm tình và kết thúc bằng những câu hò hẹn. Hò mái nhì ở Huế có đầy đủ yếu tố để nam nữ đối đáp thổ lộ tâm tình.
Hò mái nhì Triệu Hải lại được dùng khi quay sợi dệt vải. Tiến trình một cuộc hò mái nhì ở Triệu Hải như hò giã gạo.
Tuy có nguồn gốc là các điệu hò trong lao động, hò giã gạo và hò mái nhì đã được đưa vào các cuộc vui chơi giải trí do lòng ham thích mến mộ của nhân dân. Sân nhà của các cụ Ưng Bình Thúc Giạ Thị, Thảo Am Nguyễn Khoa Vy ở Huế đã biến thành nơi tụ hội của các tay hò nổi tiếng ở Bình Trị Thiên vào những đêm trăng sáng. Các cối hò đựng trấu thay gạo, các tay hò chỉ cầm chày giã để lấy nhịp, tạo hứng khởi cho các câu hò đối đáp. Chủ nhân lại là “thầy gà” (3) cho cả hai phe đối đáp. Trong cuộc vui này, sự đóng góp của các nho sĩ đã là một nhân tố tích cực để phong phú hóa kho tàng văn học dân gian ở Bình Trị Thiên.
Do sự ham thích hò hát của nhân dân ngày càng mạnh mẽ, các hình thức sinh hoạt hò do chính quyền tổ chức cũng làm biến đổi phần nào tính chất đối đáp nam nữ. Đây là lối tranh tài đối đáp để ăn giải, các câu hò được sự tiếp tay sáng tạo của các nho sĩ nên nội dung không khỏi chịu ảnh hưởng của văn học bác học.
Mở đầu loại hò này là lời thách hò, mời đối thủ, tiếp đến là các tay hò đối đáp các điển cũ, tích xưa, hoặc các hiện tượng đang xảy ra trong xã hội đương thời. Kết thúc cuộc hò là câu kết của ban tổ chức. Ta hãy nghe lời mở đầu cuộc hò của lối hò giã gạo được tổ chức tại hội chợ Huế năm 1939.
Gái: Đêm hăm lăm tháng hai năm Mão
Quanh trường giã gạo giữa chốn ba quân
Bạn mày râu ai giỏi quốc văn
Về đây tranh giải với bạn thoa quần thử chơi
Trai: Gái Tây Thi chẳng ai bì bên nước Việt
Gái Văn Khương lại ở bên nước Tề
Nực cười cô gái nhà quê
Đến đây có dám trổ nghề văn chương
Trong các cuộc vui văn nghệ quần chúng, lối hò mái nhì, hò giã gạo cũng được nhân dân rất hâm mộ. Ngày nay có nhiều địa phương tổ chức các cuộc hò, mời các tay hò nổi tiếng hò đối đáp với nhau.
Hình thức hò đối đáp nam nữ cũng có mặt trong ngày “hội cầu mùa” tại làng Hà (xã Bảo Ninh - Bình Trị Thiên) trong ngày hội, dân làng Hà tổ chức “Hò khoan chèo cạn” và múa bông. Nội dung chủ yếu của các câu “hò khoan chèo cạn” là ca ngợi công đức của cá ông voi, nhưng xen kẽ có nhiều câu đề cập đến quê hương đất nước, phô diễn tâm tư tình cảm của người dân. Đoàn hát múa “hò khoan chèo cạn” toàn là nữ, xinh đẹp, chưa chồng xếp thành hai hàng đối nhau. Hai người hò cái, một nam một nữ (không kể đã có vợ hay chồng) cầm cặp sênh giữ nhịp, điều khiển. Tính chất trữ tình trong hát hội “hò khoan chèo cạn” được thể hiện qua câu hò đối đáp nhau giữa hai người hò cái nam và hò cái nữ, liên tục cho đến khi kết thúc buổi trình diễn.
“Mở hội hò khoan cho đẹp lòng eng ả (4)
Cho vui làng vui xã vui cả bạn hiền!”
Trong cuộc hò này, tính chất thế tục đã lẫn vào tính chất nghi lễ, tuy không lấn át hẳn nhưng đó cũng là một hiện tượng phản ảnh được yêu cầu ham thích văn nghệ của nhân dân, muốn lấy văn nghệ làm môi trường cho sự phát triển tâm tình, dù trong không khí của một buổi lễ trang trọng.
Cũng như trên mọi vùng đất nước, ý nghĩa nội dung hò đối đáp nam nữ ở Bình Trị Thiên là tính chất trữ tình. Tình cảm được đề cập đến không chỉ đơn thuần là tình yêu nam nữ mà còn mở rộng sang tình yêu gia đình, quê hương, đất nước, dân tộc. Trong các cuộc vui văn nghệ quần chúng, đề tài kháng chiến là một trong những đề tài làm sôi động không khí cuộc hò.
Qua hò đố và hò đối trong hò đối đáp, tri thức tự nhiên và xã hội của nhân dân Bình Trị Thiên được thể hiện rất phong phú. Ta có thể bắt gặp ở các câu giải kiến thức tổng quát của nhân dân về văn học, sử học, địa lý, nông nghiệp, khoa học tự nhiên…
Với nội dung phong phú, có thể nói hò đối đáp nam nữ là môi trường cho kiến thức tổng quát của nhân dân có dịp trao đổi, phát triển.
Tri thức ngôn ngữ cũng thể hiện thật phong phú trong hò đối đáp ở Bình Trị Thiên. Ta có thể thấy trong các câu đố, câu đối và giải, một số hiện tượng của ngôn ngữ đã được sử dụng.
* Hiện tượng cùng âm, khác nghĩa:
Nữ: Em hỏi anh trong trăm thứ dầu
Có dầu chi là dầu không thắp
Trong ngàn thứ bắp, bắp chi là bắp không rang
Trong vạn thứ than, than chi là than không quạt
Trong triệu thứ bạc, bạc chi là bạc không tiêu
Trai nam nhi anh đối được dải lụa điều em trao.
Nam: Trong trăm thứ dầu, có mưa gió dãi dầu là dầu không thắp
Trong ngàn thứ bắp, có lắp bắp mồm miệng là bắp không rang
Trong vạn thứ than, có than thở thở than là than không quạt
Trong triệu thứ bạc, có bạc tình bạc nghĩa là bạc không tiêu
Trai nam nhi anh đối được. Hỏi dải lụa điều em có chưa?
* Hiện tượng cùng nghĩa, khác âm:
Nữ: Em lên lưng voi em hỏi cái đường vạn tượng
Tay em lại dắt dê hỏi chốn lan dương
Đố anh mà đối đặng em cho soi gương vàng.
Nam: Dây bí ngô trèo trên cây trụ tàu
Cờ thượng mã phất sau đuôi ngựa
Anh đối đặng rồi lật ngửa gương ra.
Trong các câu đối đáp trên các từ cùng nghĩa khác âm được sử dụng là voi-tượng; dê-dương; ngô-tàu; mã-ngựa.
* Hiện tượng từ đối nghĩa:
Nữ: Quan Thừa Thiên thì mang áo địa
Lính đông Hải đội nón dầu sơn.
Trai nam nhi đối đặng, thiếp xin
Kết nghĩa tấn tần ngàn năm.
Nam: Gái nước Nam buôn hàng thuốc Bắc
Trai Đông sàng cảm động miền Tây
Anh đã đối đặng, em rày tính sao.
Hai câu hò trên đối nghĩa ở các từ: Thiên - địa; Hải - sơn; Nam - Bắc; Đông - Tây.
Ngoài ra còn có các hiện tượng từ trái nghĩa, nói lái, lối sử dụng lối chơi chữ Hán Việt và thuần Việt. Sử dụng các hiện tượng của ngôn ngữ trong hò đối đáp, nhân dân Bình Trị Thiên đã chứng tỏ trình độ văn hoá của mình. Phải là người có trình độ văn hoá, lại nhanh trí mới có thể đáp ngay được các câu đố hắc búa trên. Trong trường hợp này, các “thầy gà” giữ một nhiệm vụ khá quan trọng. Nếu không được mách bảo, người trong cuộc khó có thể ứng đối kịp thời. Phải buông chày ra về khi cuộc vui đang lúc hào hứng là một điều hổ thẹn khôn nguôi, cho nên hò đối đáp nam nữ buộc người trong cuộc phải thông minh nhanh nhẹn, hoạt bát mới đủ sức chống đỡ trước mọi tình huống khó khăn.
Qua hò đối đáp nam nữ ở Bình Trị Thiên, ta có thể thấy được tâm hồn cùng trình độ tư duy, văn hoá của những con người sống trên mảnh đất kiên cường, nghèo khó nhưng đầy tính chất thơ của miền Trung, đó là những con người rất chân tình, trọng đạo nghĩa. Giai đoạn hò ân tình, trong tiến trình cuộc hò giã gạo đã để lại biết bao câu đầy tình nghĩa thiết tha:
Rồi mùa toóc rạ rơm khô
Bậu về quê bậu, biết nơi mô kiếm tìm
Hoặc:
Ra về để áo lại đây
Đêm khuya em đắp kẻo ngọn gió tây lạnh lùng
Cần phải hiểu rằng, tuy hò đối đáp nam nữ là nhịp cầu thuận lợi cho sự giao duyên, cho tâm tình dễ dàng khai mở nhưng trường hợp các người đến hò vì nhu cầu văn nghệ đơn thuần cũng không ít. Biết bao người đã có gia đình mà vẫn còn say mê hò đối đáp nam nữ. Các cặp từ mình - ta, qua - bậu, anh - em, lê- lựu, chàng - thiếp, rồng - mây, loan - phụng v.v… có trong hò đối đáp tuy chỉ lứa đôi, nhưng nhiều khi chỉ là giả định. Đó là một hình thức đóng kịch nhất thời để thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ. Tan cuộc, ai về nhà nấy, không còn vướng bận ở tâm tư như ý nghĩa câu hò chào:
Tới nơi đây ai có chồng dặn chồng đừng sợ
Ai có vợ dặn vợ chớ ghen
Vô đây hò hát để gá nghĩa làm quen
Rạng ngày mai ai mô về nấy chớ thả lòng ghen bạn cười.
Với ý nghĩa ấy, những người tham dự cuộc hò đối đáp nam nữ mặc sức bông lơn, trêu ghẹo nhau nhưng không vì vậy mà không giữ gìn ngôn ngữ, ý tứ. Do ảnh hưởng của nền văn hoá lâu đời chốn kinh đô, nhân dân Bình Trị Thiên vốn ưa sử dụng từ ngữ bóng bẩy ví von hơn là nói thẳng dù trong ý đồ trêu cợt. Để trả lời câu hỏi của phe con gái thôn Bao La chuyên đan thúng mủng:
Liệu mà đát đặng thì đan
Chứ đừng có gầy ra mà bỏ đó thế gian chê cười
Chàng trai Bình Trị Thiên đã dùng những tiếng nhà nghề rất hóm hỉnh mà ngắn gọn:
Anh đây đan cũng giỏi mà đát cũng tài
Lận thì nhún trên nhún xuống, nứt thì chui ngoài chui vô
Khác với chàng trai Quảng Nam xằng xớm, bộc trực đến thô sơ sỗ sàng:
Bớ các cô ơi, tui đây không phải trai hư
Tui đan đặng, tui đát được tui lận chừ cho cô coi
Lận rồi tui chặn lột hẳn hoi
Ở trên tui rấn xuống ở ngoài tui đè vô
Nói ra sợ mất lòng cô
Ngó trong cái mủng chỗ mô tui cũng dùi
Tuy người Bình Trị Thiên có giữ gìn ý tứ trong ngôn ngữ, lễ phép nhưng không quá chú trọng đến nghi thức kiểu cách như ở Hà Bắc. Trong hát Quan họ Hà Bắc, tiến trình nghi thức rất phức tạp: “Phía chủ nhà tổ chức phải sửa soạn bữa “cơm quan họ”, phía khách, trước khi đến nơi quy định, phải vào hát lễ Phật. Ban đầu Quan họ bạn đến cổng phải cất tiếng hát mừng bạn. Quan họ chủ đứng giữa sân hát “đón nhời” chúc lại làng bạn và chào bạn. Quan họ chủ giở nón, ô cho Quan họ bạn, đón bạn vào ngồi một giường (nếu là bố trí ngồi hai giường hát đối đáp) Quan họ chủ hát mời bạn xơi trầu, uống nước. Quan họ bạn hát đáp và cảm ơn bạn. Hầu như mọi hành động mọi tình tiết đều lấy câu hát làm đầu”(5). Lời hát thì thật duyên dáng, kiểu cách:
Nhất quế, nhì lan
Nhất xinh, nhất lịch khôn ngoan trăm bề
Người ngoan ai chẳng nâng niu
Hoa thơm ai chả chắt chiu trên cành
Là thú hữu tình
Vì huê nên phải lánh mình tìm huê,
Cho trọn một bề…
Dấu ấn của nền văn hoá cổ truyền còn in sâu đậm trong con người Hà Bắc tạo nên một phong cách riêng biệt mà những qui cách, lề lối, ngôn ngữ trong hát Quan họ đã phần nào thể hiện được. Con người Bình Trị Thiên tuy mộc mạc trong cách phô diễn tình cảm, nhưng nét thắm thiết trữ tình vẫn rất đậm đà, như âm điệu và ý nghĩa câu hò từ tạ trong hò đối đáp giao duyên:
Trăng đã lên cao, trời sao vằng vặc
Mỗi tiếng hò réo rắt lòng anh
Nhắn chừng đêm đã sang canh
Ta dừng chày giã gạo kẻo sương đọng trên cành quá khuya.
T.T.B
(6/4-84)
----------
1. Túi: tối, tiếng địa phương.
2. Cươi: sân, tiếng địa phương.
3. Là người chỉ dẫn, bày vẽ các câu hò đối đáp.
4. Anh, chị - tiếng địa phương.
5. Đặng Văn Lung và tác giả khác. Quan họ nguồn gốc và quá trình phát triển. NXB Khoa học xã hội. Hà Nội 1978 trang 36.
READ MORE - TÔN THẤT BÌNH - HÒ ĐỐI ĐÁP NAM NỮ BÌNH TRỊ THIÊN