Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, September 10, 2025

PHONG CÁCH ĐỘC ĐÁO VÀ KHÁC BIỆT TRONG THƠ VỀ RƯỢU CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN - Nguyễn Toàn Thắng


 

Thơ viết về rượu của Đặng Xuân Xuyến có một vị trí riêng biệt và khá độc đáo trong bối cảnh thơ Việt hiện đại, khác biệt so với cả hai xu hướng chính là "thơ thị trường hóa" và "thơ học thuật hóa". Ông tạo ra một phong cách riêng và khác biệt ở chỗ: không quá trau chuốt về mặt hình thức nhưng lại rất chân thật và đậm chất đời sống với ngôn ngữ thuần dân gian, có chút ngang tàng, đôi khi lại cố tình “tục hóa” để phản kháng sự giả dối hay sáo mòn của văn chương bác học, đặc biệt là trong việc thể hiện nỗi cô đơn và những trải nghiệm cá nhân. Ông không cố gắng tạo ra tượng đài tư tưởng, mà là người "giữ ký ức bằng ngôn ngữ", "ghi lại những chấn động ngắn ngủi của tâm hồn" một cách sắc hoặc mờ, nhưng luôn thật. Ngay cả khi miêu tả cảnh xác thịt, đó là cái "tục của người từng trải", mang ý nghĩa nhấn mạnh phận người chứ không nhằm mục đích gây sốc hay dơ bẩn.

 

So với các nhà thơ đương đại khác, thơ của Đặng Xuân Xuyến có thể được coi là độc đáo khi ông không ngại ngần phơi bày những góc khuất, những điều tiêu cực của cuộc sống và đối diện trực tiếp với những góc khuất, những điều tiêu cực đó, điều mà nhiều nhà thơ đương đại khác thường tìm cách né tránh. Ông không dùng rượu để giải thoát hay tìm kiếm những điều siêu nhiên mà thay vào đó, rượu được ông đặt trong bối cảnh đời thường, gắn liền với những nỗi niềm, trăn trở của cuộc sống hiện thực. Ông sử dụng rượu như một công cụ để đối diện với những khó khăn, thử thách và cả những nỗi buồn, mất mát trong cuộc sống, chứ không phải để trốn tránh hay quên lãng.

 

Đặng Xuân Xuyến thường chọn chủ đề và bối cảnh xoay quanh những quán cóc vỉa hè, những bữa tiệc tàn, những mối quan hệ bạn bè, tình yêu và cả những vấn đề chính trị, xã hội. Rượu trở thành một phần không thể thiếu trong những bối cảnh đó, là chất xúc tác, là phương tiện để nhà thơ giải tỏa, chia sẻ và đối mặt với thực tế. Ông không chủ ý cầu kỳ về hình thức của thơ mà chú trọng vào sự chân thật, phóng khoáng của cảm xúc.

 

Ví dụ, trong khi nhà thơ Nguyễn Du viết: “Khi chén rượu, khi cuộc cờ / Khi xem hoa nở khi chờ trăng lên” (Kiều) ; “Lim dim nhấp chén bên song / Nhìn ra hoa rụng chất chồng trên rêu / Sống mà uống chẳng bao nhiêu / Chết rồi, ai xách rượu theo rưới mồ?” (Đối tửu)..., thể hiện sự thưởng thức rượu trong không gian tao nhã và tri kỷ thì nhà thơ Đặng Xuân Xuyến chọn cách viết: “Rượu tới tầm ngật ngưỡng / Khật khừ ngất ngưởng vào đêm / Hớ hênh hàng xóm xộc xệch ngủ / Giật mình / Gió lạnh luồn đêm” (Tỉnh) ; “Một chai / Một chén / Một tôi thôi / Một đêm gió quẩn chỗ tôi ngồi / Một bàn tay lạnh quờ vai lạnh / Một tiếng thở dài tôi với tôi!” (Một tôi),... thể hiện sự cô đơn, suy tư trong khoảnh khắc cá nhân. Hay như khi nhà thơ Nguyễn Bính viết "Em uống cho say đến não nùng/ Uống say cười vỡ ba gian gác/ Ném cái chung tình xuống đáy sông" để thể hiện sự buông thả, đau khổ trong tình yêu thì nhà thơ Đặng Xuân Xuyến lại có những câu thơ như "Ngấu nghiến nhau chỉ giải nghiền cơn khát" hay "Thịt mày gắp / Tao nhai khó nuốt" để thể hiện sự giằng xé, sự đối diện trực diện với tình yêu, với cuộc đời.

 

So với các nhà thơ trung đại như Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Nguyễn Công Trứ... thường mượn rượu để bày tỏ khí tiết, trách đời hoặc tự trào về thân phận trí thức với giọng điệu kín đáo, sử dụng nhiều ẩn dụ và ngôn ngữ có tiết chế. Ví dụ, trong bài "Rượu ngon không có bạn hiền" của nhà thơ Nguyễn Khuyến, ông dùng hình ảnh “rượu ngon” để nói về sự cô đơn, và “bạn hiền” để chỉ những người tri âm tri kỷ thì ngược lại, nhà thơ Đặng Xuân Xuyến thường viết một cách trực tiếp, không cần ẩn dụ. Ông nói thẳng những điều muốn nói, ví như câu: "Rượu mày mời / Tao uống khó trôi / Thịt mày gắp / Tao nhai khó nuốt" trong bài “Bạn quan” hoặc như câu: “Thì bởi tâm mày trọn Thẳng Ngay / Tao mải loay hoay chọn Nghĩa Tình / Mà đời những rặt trò gian lận / Tao mày nếm đủ những gian truân.” trong bài “Rượu với bạn”.

 

So với thơ về rượu của nhà thơ Bùi Giáng thường mang đậm chất lãng mạn, đưa người đọc vào thế giới của những giấc mơ, những suy tư triết học, với ngôn ngữ đa nghĩa, mang tính tượng trưng cao, tạo ra những hình ảnh thơ phong phú, giàu sức gợi, chứa đựng những triết lý sâu sắc về cuộc đời, về con người: “Ngày nào trùng ngộ bước ra / Trùng sinh sương sớm đầu hoa cuối cùng / Chân trời mặt biển thong dong / Bình minh nắng gió mây hồng vèo bay” (Uống rượu yêu đời),... thì thơ về rượu của nhà thơ Đặng Xuân Xuyến lại mang đậm chất ngẫu hứng đời sống, không hoa mỹ và không né tránh những góc khuất của cuộc sống, đặc biệt là mảng đề tài chốn quan trường: “Ừ, đời thế. Qua cầu thì hại “bạn” / Dấn quan trường sao mày chả chịu “khôn” / Đục kín dòng mày lại cố gượng trong / Chúng nó đập bởi mày không chịu hỏng” (Quan trường). Rượu trong thơ Đặng Xuân Xuyến là "chứng tích cho nỗi đau con người giữa đời thực thô ráp", giống như những câu chuyện trong quán rượu vỉa hè, thể hiện sự chán chường, thất vọng và cả những tiếng cười khẩy vào đời, đó không chỉ là phương tiện giải sầu mà còn là cách để "phơi bày, lột trần, để thở ra" những góc khuất của cuộc sống. Đặng Xuân Xuyến có nét “ngông” tương đồng với Bùi Giáng, nhưng không bị điên. Thơ của ông có sự phá cách, phóng túng, nhưng vẫn giữ được sự tỉnh táo và lý trí nhất định. Tóm lại, thơ về rượu của Đặng Xuân Xuyến và thơ về rượu Bùi Giáng đều khai thác đề tài rượu nhưng cách tiếp cận và phong cách lại rất khác biệt. Đặng Xuân Xuyến dùng rượu như một phương tiện để bộc lộ nỗi đau, sự phơi bày hiện thực đời sống thô ráp, không tô vẽ, trong khi Bùi Giáng sử dụng rượu để đưa người đọc vào thế giới mộng mị, huyền ảo, kết hợp giữa triết lý và cảm xúc cá nhân.

 

So với các nhà thơ đương đại khác thì trong khi nhiều nhà thơ đương đại tìm cách né tránh hoặc tô vẽ cho những trải nghiệm tiêu cực, Đặng Xuân Xuyến lại đối diện trực tiếp với chúng, thể hiện qua những hình ảnh, câu chữ có phần "đắng, chát, khó nuốt" nhưng lại chạm đến nỗi cô đơn phổ quát của con người. Đặng Xuân Xuyến không ngại để lộ những "vết xước, sẹo dài" trong tâm hồn, những góc khuất trong cuộc sống, và điều này tạo nên một sự gần gũi, một sự đồng cảm mạnh mẽ với người đọc.

 

Cụ thể, thơ của Đặng Xuân Xuyến, đặc biệt là chùm "22 bàì thơ về rượu", không hướng đến sự hoàn hảo về mặt ngôn ngữ hay hình ảnh, mà tập trung vào việc thể hiện cảm xúc chân thật, thậm chí có phần gai góc và chua chát của con người khi đối diện với nỗi cô đơn và những khó khăn trong cuộc sống. Điều này khác biệt so với nhiều nhà thơ khác, những người có thể tập trung vào việc trau chuốt ngôn ngữ, tạo ra những hình ảnh đẹp, hoặc những nhà thơ khác lại đi sâu vào lý luận, triết học, đôi khi làm cho thơ trở nên xa rời với đời sống thực tế.

 

Hoặc khi nhiều nhà thơ đương đại khác viết về rượu thường thiên về tâm trạng cá nhân hóa, cô đơn kiểu thị dân, hướng đến vẻ đẹp lãng mạn, sự thanh cao, hoặc sử dụng rượu như một phương tiện để thể hiện tâm trạng, cảm xúc cá nhân, hoặc tìm kiếm sự đồng điệu, tri kỷ với những hình ảnh thơ mộng, bay bổng và tránh xa những điều "tục" hay trần tục thì Đặng Xuân Xuyến lại khai thác rượu trong bối cảnh đời sống ngổn ngang, quán cóc vỉa hè, tiệc tàn, tình dục và những mâu thuẫn trong cuộc sống với một sự đau đáu tập thể, một cái tôi thô ráp, từng va đập với thực tế chính trị và xã hội. Ông ưa dùng lời thuần dân gian, khẩu ngữ, đôi khi ngang tàng, tự trào, đầy khinh bạc như một thái độ "ngông" của người không chịu nổi sự giả dối hay sự sáo mòn của văn chương bác học, không những là tuyên ngôn sống cho một kiểu nhà thơ muốn sống thật với chính mình, quyết “không chiều lòng văn đàn” mà còn là lời tự bạch trần trụi, không hoa mỹ, không ve vuốt, không cần che giấu. Đó là một kiểu thơ về rượu độc nhất vô nhị - thơ rượu của một người từng say và còn nhớ mọi điều trong cơn say đó.

 

Nếu như nhiều nhà thơ đương đại khác viết về rượu thường mang màu sắc siêu thoát, tìm kiếm lẽ sống, hoặc có tính chất giải trí: “Ta uống cạn ly này nghe chếnh choáng / Đêm lạc vào cung Quảng thấy Hằng Nga / Lòng dại ngây sương khói quyện la đà / Nghe phiêu lãng như là miền thu động....” (Tửu sầu - Hồng Dương) ; “Bạn như biết mà không nói hết / Bạn cùng ta chén trước chén sau / Bạn uống cạn thì ta cũng cạn / Tửu lượng ta nào kém ai đâu.” (Mời trăng - Hoàng Trung Thông) ; “Mạch máu căng lên những vệt rắn bò / Đêm vĩ đại chôn vùi trong quán nhỏ / Rừng mang mang gọi từng khúc thu vàng / Rượu câm lặng chở những linh hồn rắn / Có một kẻ say hát lên bằng nọc độc trong mình” (Trong quán rượu rắn - Nguyễn Quang Thiều) ; “Nụ cười ánh mắt bờ môi / Hình bóng em mãi rạng ngời đáy ly / Làm gì uống hết được đây / Đầy vơi ly rượu vẫn đây bóng hình” (Rượu một mình - Hoàng Trọng Lợi) ; “Lộn túi. Xem đây! Hết tiền rồi! / “Tao mua bát chịu, trả sau thôi / Con đường chưa uống xe không chạy.!” / Lại bát đầy ve lại liếm môi!” (Người Mèo uống rượu - Nguyễn Lâm Cẩn) ;  “Thuở xưa gõ chén nghêu ngao / Chưa tan vỡ, chưa khổ đau đoạn tình. / Giờ đây độc ẩm cõi mình / Uống sao cho cạn bóng hình ngày xưa” (Rượu sầu - Phạm Thị Mai Khoa) ; “Mặc đời bao nỗi bi, hoan... / Gặp nhau ta cứ say tràn cung mây! / Khi nào về với cỏ cây / Chỉ xin rưới: một chén đầy... Rượu quê!” (Rượu quê - Mai Văn Hoan)... Thì thơ của Đặng Xuân Xuyến lại tập trung vào việc đối diện với hiện thực phũ phàng, những nỗi thất vọng và sự giả dối của cuộc sống. Đặng Xuân Xuyến không tìm kiếm sự giải thoát hay ánh trăng để ngâm, mà thay vào đó thi nhân ngồi lại, cụng ly với những điều đó, thể hiện sự bất mãn và sự thật trần trụi của cuộc đời. Rượu được Đặng Xuân Xuyến dùng để chịu đựng, để đối mặt với thực tại hơn là để giải thoát khỏi thực tại trần trụi của cuộc sống: “Chả có gì người ngại bon chen / Ta vốn dĩ dạn đêm cùng gối lẻ / Người thì cũng đêm trường nát lệ / Vịn vào nhau mà sưởi ấm nụ cười.” (Chiều ta về) ; “Đợi xuân xuân chửa chịu về / Đợi tình tình lại mải mê xứ người / Nâng lên ly rượu tự mời / Uống đi cho cạn nụ cười nhếch môi?!” (Đợi) ; “Vội vã cuống cuồng quấn chặt nhau / Chẳng vì yêu / Chẳng vì đầu mày cuối mắt / Ngấu nghiến nhau chỉ giải nghiền cơn khát / Trách móc làm gì câu nói đầu môi” (Tình vội) ; “Chén rượu đấy, rót rồi, cứ uống / Nước mắt đan đốt tê dại đêm cuồng / Đắp nụ cười nghẹn đắng lằn môi / Nuốt lấy nhau gán niềm tin tráo đổi” (Rượu đêm nay) ; “Ừ, đời thế. Qua cầu thì hại “bạn” / Dấn quan trường sao mày chả chịu “khôn” / Đục kín dòng mày lại cố gượng trong / Chúng nó đập bởi mày không chịu hỏng” (Quan trường) ; “Rượu tới tầm / Mày ghé tai tao / Nói thật nhỏ / Căng tai mới rõ / Làm người khó / Làm quan càng khó / Chốn quan trường chó vịt giống nhau / Mày than đời chỉ rặt những thau / Quan càng lớn chữ nhân càng nhỏ / Ví miệng quan giống trôn trẻ nhỏ / La liếm quen rồi nào biết bẩn nhơ” (Bạn quan)...

 

Sự khác biệt này giúp nhà thơ Đặng Xuân Xuyến tạo ra một dấu ấn riêng, một phong cách không thể nhầm lẫn trong làng thơ Việt. Ông không cố gắng trở nên bóng bẩy hay hàn lâm, mà tập trung vào việc thể hiện một cách chân thật nhất con người, với đầy đủ những hỉ nộ ái ố, những nỗi cô đơn và những trải nghiệm đời thường nhất.

 


Tác giả Nguyễn Toàn Thắng (bìa trái) cùng Đặng Xuân Xuyến (bìa phải) -


Tóm lại, thơ về rượu của nhà thơ Đặng Xuân Xuyến mang một dấu ấn riêng, khác biệt với nhiều nhà thơ Việt Nam khác, đặc biệt là về giọng điệu và cách tiếp cận chủ đề. Ông không né tránh những khía cạnh đời thường, thậm chí có phần thô ráp của cuộc sống, không tô hồng nỗi đau mà đi thẳng vào nó với một phong cách mạnh mẽ, đôi khi có phần trần trụi và gai góc như một phương tiện để đối diện với hiện thực cay đắng của một nhà thơ đứng ngoài lề các thiết chế chính thống, đặc biệt là trong cách Đặng Xuân Xuyến đưa rượu trở về với đời thường, với những khía cạnh đầy tính hiện sinh của cuộc sống.

 *.

(Bài viết có dùng thông tin tổng hợp từ Chat GPT)

*

Hà Nội, tháng 9 năm 2025 

NGUYỄN TOÀN THẮNG

Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.

Email: nguyentoanthang77@gmail.com

READ MORE - PHONG CÁCH ĐỘC ĐÁO VÀ KHÁC BIỆT TRONG THƠ VỀ RƯỢU CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN - Nguyễn Toàn Thắng

Monday, September 8, 2025

KHI MÔ RẢNH ANH NHỚ VỀ THĂM HUẾ - Thơ - Huỳnh Liễu Ngạn

 


HUỲNH LIỄU NGẠN

KHI MÔ RẢNH

ANH NHỚ VỀ THĂM HUẾ

 

khi mô rảnh anh nhớ về thăm huế

kẻo huế chờ cây khế ngọt rụng bông

bữa trước em có ngồi bên lu nước

con lăng quăng quẩy nhẹ chút tang bồng

 

bên bờ giếng thấy mùa thu chải tóc

từng chùm xanh lơ lửng giữa không trung

em với tay bẻ vài ba nhánh gãy

vai em gầy mưa giọt ướt sau lưng

 

khi mô rảnh anh nhớ về thăm mẹ

mẹ chết rồi nhưng mẹ vẫn chờ mong

con mèo mun còn ngồi bên chái bếp

ngó mông lung từng đọt nắng xoay vòng

 

anh đi mãi mà trăng thì chưa rụng

biết khi mô ăn lại đọi canh bầu

tô cá kến kho nước màu ớt bột

lùa chén cơm húp cặn cả nỗi sầu

 

khi mô rảnh anh nhớ về thăm huế

thăm con đò mục rã ở ven sông

con nước lợ đã cạn dòng qua bến

có ai chờ ai đợi nữa mà trông

 

ừ thì rảnh anh sẽ về thăm huế

dù huế chừ đã khác với ngày xưa

đi không vững em dìu anh đi nhé

vịn vai cầu thương lại những cơn mưa.

 

20.8.2025 

HUỲNH LIỄU NGẠN

 

Ảnh: Lê Huy Hoàng Hải

Từ nguồn: Kết nối Huế thương

READ MORE - KHI MÔ RẢNH ANH NHỚ VỀ THĂM HUẾ - Thơ - Huỳnh Liễu Ngạn

Sunday, September 7, 2025

CHÙM THƠ THÁNG 9 CỦA ÁI NHÂN



     ÁI NHÂN
     Tên thật: Bùi Cao Thế
     Hội viên hội VHNT Hưng Yên
     Hội viên hội NVHN
     SỐ 84- ngõ 27 Long Biên 1 – Phường Bồ Đề - HN
     
 

XANH MƠ
 
Thu vàng cúc nở hoa vàng
Giọt trăng luênh loáng hân hoan mắt cười
Xốn xang thao thiết lòng người
Miệng hoa roi rói khoe mười ánh trăng
 
Dịu dàng thơ hóa tay măng
Vuốt ve lên trắng da căng má hường
Cây mơ mọc giữa vô thường
Ngát xanh mơ ước thiên đường ái ân
 
Kiếp người đâu chỉ phù vân
Yêu thương nhau nhé vẫn gẫn dẫu xa
Rộng dài trời đất bao la
Trái tim nhân ái nở hoa dâng đời

 
THU MẮT NÂU
 
Lang thang tìm mùa thu
gặp mắt nâu thăm thẳm
heo may xanh
thiên thanh mê đắm
 
Nắng đong đưa
mặt ao cá quẫy
nỗi buồn cong
lá đánh võng lưng mùa
 
Lững lờ dòng sông
chập chờn sóng lúa
mướt mát trăng thanh
mênh mông gió hát
 
Em lỡ thì xuân
đắng cay chua chat
thu vợi vời…
trong khao khát mắt nâu.

 
BỘI MÙA
Kính tặng các thầy cô giáo vùng cao
 
Sáng bừng trong mắt trẻ thơ
Hân hoan chân sáo, giấc mơ dịu dàng
Bên hiên ngơ ngác bướm vàng
Lắng nghe cô giảng, chang chang nắng hè
 
Chân trần vượt suối, băng khe
Mưa nguồn bất chợt lũ về mênh mông
Sớm nào giá rét mùa đông
Vượt đèo hun hút gió mông mênh lùa
 
Sư gieo cội phúc trên chùa
Cô gieo con chữ bội mùa tương lai.
 
 
NẮNG LÊN
 
bão dông ùn ùn ập tới
cánh cò chới với trong mưa
lúa đồng chín chưa kịp gặt
nước đâu đến ngập nóc nhà
 
mưa ròng chan chan nước mắt
hoang tàn xơ xác thê lương
Miền trung lũ chồng lên lũ
mênh mông nước cả ngập đường
 
mái trường liêu xiêu trong gió
bản làng tan tác xót xa
thương bé trò nghèo bán trú
ngập trường, sách ướt, đường xa
 
mai rồi nắng lên ấm áp
chung tay dân nước dựng nhà
sửa sang trường mình vững chãi
điểm mười đỏ thắm như hoa

 
ẤM ÁP TÌNH NGƯỜI
 
Dông bão, mưa rừng, lũ réo
Cuồn cuộn, cầu trôi, trường sập
Bản làng tan tác
Quặn lòng đau thắt ruột gan…
 
Bão chồng bão, mưa chan chan
Cây cối ngổn ngang, núi rừng trở dạ
Cửa nhà chìm trong đất đá
Ngầu ngầu lũ ống… thê lương!
 
Gà đậu nóc nhà há miệp hớp sương
Nước cả ruộng nương mất trắng
Đàn bà dắt con ngược lên dốc nắng
Đàn ông chèo chống, dìu đỡ người già
 
Mưa bão đi qua hoang tàn đổ nát
Bộ đội, công an bới tìm người thất lạc
Cây cối xác xơ ngơ ngác
Trần trụi cành trơ những dấu móc hỏi trời
 
Đồng bào ta ơi! một đời lam lũ
Mưa bão đi qua lại trắng tay rồi
Dân, Đảng đồng tâm người người chung sức
Bầu bí thương nhau truyền thống ngàn đời
 
Nhà mới khang trang ấm áp tình người
Bếp lửa bập bùng, vòng xòe hạnh phúc
Trong trẻo tiếng khèn, hội mùa nô nức
Trường mới xây rồi… thẳng lối đến tương lai
 
ÁI NHÂN

READ MORE - CHÙM THƠ THÁNG 9 CỦA ÁI NHÂN

GIỌT TRẦM VU LAN, NGÓ VỀ QUÊ MẸ, KHÚC RU TÌNH MẸ - Thơ Tịnh Bình

 


GIỌT TRẦM VU LAN...
 
Mẹ yêu con... Lẽ tất nhiên vẫn thế
Bởi ngàn đời nước mắt cứ chảy xuôi
Tình rộng lớn chẳng bao giờ đong đếm
Nghĩa mẹ công cha như núi ngất trời

Con khôn lớn trong vòng tay ấm áp
Nên vóc nên hình từ huyết mẹ tinh cha
Bao sương gió mẹ gánh gồng tất cả
Con vào đời nâng đôi cánh bao la

Nhưng năm tháng cứ trôi về phía trước
Mẹ già rồi... Bạc trắng mái đầu cha
Con kiêu hãnh tự cho mình tài giỏi
Những bước chân xa mãi một mái nhà

Cha già rồi... Mẹ sao mà lẩm cẩm
Thật là phiền con ngao ngán thở than
Nuôi cha mẹ con đếm đong ngày tháng
Công biển trời bao lai láng đành quên
 
Mẹ già rồi... Đâu "dám trách" con ơi!
Cha lặng lẽ thu mình vào một góc
Chữ hiếu là chi? Con chưa được học
Tháng Bảy giọt trầm... Bật khóc đóa Vu Lan...
 
 
NGÓ VỀ QUÊ MẸ
 
Ngó trời mây lướt thênh thang
Nắng rơi khuất lối cũ càng ngày xưa
Bâng quơ một thoáng hương đưa
Ngỡ mùi tóc mẹ những trưa gội đầu

Tiếng gà thầm vọng về đâu
Lâm thâm mưa rớt giọt ngâu đầy thềm
Trăng mờ nào tỏ lòng đêm
Dầu hao bấc cạn êm đềm lời ru

Sao trời hớp giọt sương thu
Mẹ ngồi đan áo vọng phu rét về
Hoa trăng trắng nở triền đê
Cành tre chim hẹn lời thề nỉ non

Cái cò cái vạc lòng son
Gừng cay muối mặn vẹn tròn trước sau
Giọt sầu giọt tủi lặn vào
Chắt chiu bùi ngọt nhường trao về người
 
Bao đời nước mắt chảy xuôi
Đời con chỉ một mặt trời mẹ thôi
Xuân qua xuân lại bồi hồi
Sợ cơn gió rụng mồ côi nắng vàng

Ngó về quê mẹ xốn xang
Nhà xưa cảnh cũ lòng càng buồn hơn
Chín chiều quặn thắt từng cơn
Bếp vờn bồ hóng
Khói hờn quạnh hiu...
 
 
KHÚC RU TÌNH MẸ
 
Sông đi... đi đến phương nào?
Rộng vòng tay biển ôm nhau vào lòng
Mưa trời gieo giữa hư không
Bao giờ về lại thong dong mây nguồn
 
Cánh đồng hờ hững khói buông
Gục đầu bông lúa thầm ươm mùa vàng
Đồng dao thơ bé vương mang
Cái cò cái vạc ao làng đục trong

Cánh đồng và một dòng sông
Khúc ru tình mẹ nghẹn lòng quê hương
Chân trời góc bể về thương
Dây bầu dây bí thiên đường tuổi thơ...
 
                                        Tịnh Bình

READ MORE - GIỌT TRẦM VU LAN, NGÓ VỀ QUÊ MẸ, KHÚC RU TÌNH MẸ - Thơ Tịnh Bình

CHÍN VỘI – Thơ Lê Kim Thượng


   


Chín Vội
1.
 
Gặp nhau ngày ấy Em – Anh
Tình yêu sét đánh mà thành dài lâu
Tình yêu chín vội, đậm sâu
Nồng nàn mình đã với nhau giao hòa…
Gom màu nắng đẹp hoàng hoa
Ướp hương trinh nữ rải tà áo bông
Em giờ mắt biếc môi hồng
Lời yêu thỏ thẻ tình nồng trong thơ
Em giờ ươm mộng dệt mơ
Tóc bay theo gió ngẩn ngơ đôi bờ
Chờ nhau chin đợi, mười chờ
Thầm thì em nói: “Em giờ của anh
Tình mình riêng chỉ có mình
Tim em ngự trị bóng hình anh thôi…”
Nhớ thương, thương nhớ khôn nguôi
Ông Tơ, Bà Nguyệt buộc đôi chúng mình...
 
2.
 
Phút giây lắng đọng lòng mình
Bồi hồi thương nhớ bóng hình người mơ
Nhớ em, nhớ đến thẫn thờ
Lòng buồn anh viết bài thơ muộn màng
Còn đây hai chữ “Hợp – Tan”
Sắt son dang dở, đá vàng dở dang
Cuộc tình lắm nỗi ngỡ ngàng
Trời đang nắng gắt, vội vàng đổ mưa
Còn đâu ngày ấy…  Ngày xưa…
Cái thương, cái nhớ nắng mưa tiêu điều
Đường tình em rẽ ngược chiều
Cho anh phải nhớ, phải yêu trọn đời
Mùa về hoa Phượng đầy trời
Hương thầm nhắc nhở một thời bên em
Tìm em như thể tìm chim…
Em đi biệt xứ biết tìm phương nao…
 
                    Nha Trang, tháng 09. 2025
                            Lê Kim Thượng

READ MORE - CHÍN VỘI – Thơ Lê Kim Thượng

Friday, September 5, 2025

Video: Đài Truyền hình HTV7 giới thiệu triển lãm tranh của Họa sĩ Đoàn Quỳnh Như


 
Dấu ấn cá nhân, chất thơ và sáng tạo của hoạ sĩ Đoàn Quỳnh Như

(Tổng hợp các cảm nhận từ các báo chính thức của Việt Nam sau khi dự triển lãm "Khiêu vũ tới trập trùng" tại TP. HCM từ ngày 2 đến 10 tháng 8.)

 

Chất liệu & kỹ thuật

Theo giới thiệu ở triển lãm "Thiên Vũ", Đoàn Quỳnh Như thường sử dụng chất liệu acrylic và hỗn hợp sơn trên bố, tạo nên kết cấu phong phú, giàu lớp lang thị giác.

Trong loạt tranh "Khiêu vũ tới trập trùng", tác giả chủ yếu dùng màu nước theo cách “không giống ai” – linh hoạt, hưng phấn và đầy cảm xúc.

Kiến trúc bố cục tranh không tuân theo các quy tắc hiện thực, mà hướng về trừu tượng – thể hiện cảm xúc và tưởng tượng cá nhân không phụ thuộc ngoại vật.

 

Hình ảnh, màu sắc và bố cục

Hình ảnh trong tranh gợi tới phong cảnh mơ màng, cảnh quan thiên nhiên được phân mảng bằng ánh sáng và màu sắc tinh tế: có lúc dịu dàng, lúc sôi nổi, phù hợp với tình trạng tâm hồn thi sĩ – mềm mại nhưng vẫn bừng lên sức sống.

Màu sắc được canh chỉnh để phát huy tính thi ca, từ dịu êm cho tới rực rỡ, tạo nên độ sâu cảm xúc mạnh mẽ.

Bố cục mở, không giới hạn, cho phép người xem tự do lạc vào từng lớp mảng màu, từng gợi ý hình ảnh như trong một vũ điệu ma mị không ngừng.

 

Đề tài, sức sáng tạo và trí tưởng tượng

Xuất phát từ giới hạn của ngôn từ, họa sĩ chọn hội họa như một hình thức vượt thoát, để tái kết nối với thiên nhiên, không gian và chính bản thể của mình.

Triển lãm là kết quả của một tâm hồn vừa dằng xé, vừa mơ mộng; các tác phẩm – như tiêu đề – diễn ra trong sự lặp lại ngẫu nhiên, trùng điệu giữa các lớp hình ảnh và cảm xúc.

Họa phẩm như “Mắt nhân gian” gợi lên cảm giác huyền bí của vũ trụ, nơi chiều sâu và ánh sáng giao thoa trong một cái nhìn linh thiêng.

 

Ý nghĩa & ẩn dụ

Các tranh mang tính ẩn dụ của sự phục hồi nội tâm – từ một trái tim chao đảo đến một thể dạng hội họa như tìm lại sự cân bằng, thăng bằng giữa đời sống nội tâm và thế giới bên ngoài.

Thiên nhiên trong tranh không chỉ là cảnh vật mà là năng lượng, là vũ điệu – một bản trường ca động, nơi “mọi hiện tượng đều đang múa theo một nhịp điệu hài hòa”.

Tác phẩm là sự hội nhập giữa cái tôi nữ tính, cảm xúc thơ ca, và cái nguyên sơ của thiên nhiên – như một bản tụng ca trực giác mà thiên nhiên và tâm hồn tác giả không tách rời.

Triển lãm của Đoàn Quỳnh Như chính là hành trình thi ca chuyển hoá thành màu sắc, là không gian trữ tình và tưởng tượng thoát khỏi ngôn từ. Những tranh của cô không chỉ là cảnh thuỷ mặc hay trừu tượng, mà là biểu đạt tinh tế của tâm hồn qua màu và hình, qua từng “vũ điệu” của màu sắc và bố cục. Mỗi tranh như một lời tự sự đầy mộng mơ – giải thoát, hồi sinh, đồng điệu.

NKP

READ MORE - Video: Đài Truyền hình HTV7 giới thiệu triển lãm tranh của Họa sĩ Đoàn Quỳnh Như

HÌNH ẢNH NGƯỞI MẸ HUẾ (nhân Lễ Vu Lan) - Ngô Lễ



Bấm chuột vào hình để phóng to.






 




READ MORE - HÌNH ẢNH NGƯỞI MẸ HUẾ (nhân Lễ Vu Lan) - Ngô Lễ

HUẾ XƯA MỘT THUỞ - Thơ Trần Hữu Thuần

Trở lại Bao Vinh. Ảnh Ngô Lễ


Huế Xưa Một Thuở

Thơ Trần Hữu Thuần

 

Gió Văn Thánh đưa đò xuôi Vĩ Dạ,

Giọng Nam Bằng da diết vọng hoàng cung,

Khói trầm hương Thiên Mụ, tiếng chuông rung,

Thông Long Thọ rung rinh mừng khách lạ.

 

Áo dài Huế, tím trời bay tha thướt,

Nhãn Kim Long, ngọt lịm môi đồng trinh,

Nón Bài Thơ Tây Hồ rợp thần kinh,

Bưởi Thanh Trà Thủy Biều, xanh mươn mướt.

 

Chiều nào xưa, Bến Văn Lâu sầu thảm,

Ai ngồi câu, khóc nước mất nhà tan.1

Lầu Thương Bạc, hồn lẩn quất vua quan,2

Sóng Hương Giang chơi vơi lòng thương cảm.

 

Núi Ngự Bình, mõ Từ Đàm thúc giục,

Dốc Nam Giao, chuông Diệu Đế khơi tâm,

Bến Ngự mãi chờ thuyền ngự giá lâm,

Sông An Cựu vẫn mưa trong, nắng đục.3

 

Đại Nội, Hoàng Cung, xôn xao nhung lụa,

Mỹ nữ, cung phi, lướt thướt gấm hoa,

Hoàng tử, công nương, ngày cũ đã qua,

Hồn cũ rêu phong, Huế xưa một thuở.

 

Dáng ai đi, cầu Trường Tiền in bóng,

Nón nghiêng vành che khuất mặt trái xoan,

Chừng như ai đang mỉm cười, thấp thoáng,

Ai chờ trông, ai ngóng đợi, ai mong?

 

Huế của tôi, Huế thuở xưa ngày ấy,

Huế ngại ngùng, e ấp, Huế lâng lâng,

Huế Quốc Học nhìn Đồng Khánh bâng khuâng,

Huế tuổi mộng, tuổi mơ.

     Buồn ngây ngất.

 

(Grand Rapids, Michigan 04 th. 9, 2025)

 

(1)               “Chiều chiều trước bến Văn Lâu,

Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm” (Ưng Bình Thúc Giạ Thị)

(2)               Lầu Thương Bạc, nơi trước đây Nhà Nguyễn dùng tiếp các phái bộ thực dân Pháp.

(3)               “Núi Ngự Bình trước tròn sau méo, Sông An Cựu nắng đục, mưa trong.” (Ca dao)

 

 

 

 

 

 

 

                                   

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

READ MORE - HUẾ XƯA MỘT THUỞ - Thơ Trần Hữu Thuần

Ca khúc QUẢNG TRỊ MÌNH THƯƠNG ƠI - Sáng tác: Trương Hằng Nga - Biểu diễn: Minh Thi

 


READ MORE - Ca khúc QUẢNG TRỊ MÌNH THƯƠNG ƠI - Sáng tác: Trương Hằng Nga - Biểu diễn: Minh Thi

Tuesday, September 2, 2025

NHỚ MẸ - Thơ - Đặng Xuân Xuyến

 


NHỚ MẸ

.

Lòng quặn thắt

Nhớ những chiều nắng tắt

Kẽo kẹt gánh rau mẹ vội về nhà

Dáng mẹ xiêu xiêu run rẩy chiều tà

.

Cha ở phương xa

Chúng con còn bé dại

Gánh nặng gia đình trĩu nặng đôi vai

Sương buốt sớm mai

Nắng táp trưa hè nhễ nhại 

Mẹ gửi đồng xa tiếng cười

Mẹ mong đơm mùa trĩu hạt

Nhọc nhằn nhuộm lời mẹ hát

.

Ngửa mặt nhìn trời tay con nắm chặt

Nước mắt ngược vào tim mặn chát

Con muốn hỏi trời cao

Con muốn cào đất rộng

Đâu là lẽ công bằng

Mẹ một đời nhân hậu thẳng ngay

Sao lắm cơ cực đắng cay

Lặng thầm qua đời mẹ

Tan nát lòng con trẻ

.

Con về thăm mẹ

Thơ thẩn vào ra hương khói nghẹn ngào.

*.

Làng Đá, 02 tháng 07.2017

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

baothang_xuanxuyen@yahoo.com.vn

 

READ MORE - NHỚ MẸ - Thơ - Đặng Xuân Xuyến