Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, July 18, 2025

CẦU NHI MÀU MỠ RUỘNG VƯỜN / XUÂN QUÊ HƯƠNG - Thơ Nguyễn Văn Doà

 

Nhà thơ Nguyễn Văn Doà

CẦU NHI MÀU MỠ RUỘNG VƯỜN

 

Cầu Nhi đất rộng quê hương

Nam Hải Lăng đỏ, ruộng vườn xanh tươi.

Sông Ô Lâu chảy êm trôi,

Ba bề ôm ấp, đất trời thêm xinh.

 

Phù sa bồi đắp đất mình,

Ruộng đồng tươi tốt, bóng hình quê hương.

Lúa vàng bạt ngát trên nương,

Khoai lang, nưa sắn thơm hương ngọt lành.

 

Ớt cay đỏ thắm trên cành,

Đậu mè mơn mởn tươi xanh vườn nhà.

Hạ Đồng nước phủ bao la,

Cá tôm đầy bến, dân ta ấm lòng.

 

Thượng Nguyên đồi núi mênh mông,

Rừng sâu lam chặt chồng bốn phương.

Xóm Hoa trải rộng bờ mương,

Trâu bò chan thả ven đường thong dong.

 

Bao người khai khẩn non sông

Lập làng dựng xóm, bến cống tháng ngày.

Nhớ ơn Tiến tổ cao dày,

Dân làng no ấm đẹp thay quê nhà!

 


XUÂN QUÊ HƯƠNG

 

Xuân về rộn rã bao ngày

Trời xanh mây trắng tràn đầy sắc hoa

Ô Lâu nước chảy hiền hòa

Lững lờ soi bóng mặn mà quê hương.

 

Mênh mang bãi sạn, ruộng nương

Cánh cò chao liệng vẫn vương nắng chiều

Làng Cầu Nhi, đẹp mỹ miều

Nhân dân no ấm, tình yêu vươn dài.

 

Tôn vinh bậc chí nhân tài

Bùi Dục Tài đó, sáng ngời sử xanh

Nghĩa trung một dạ, thanh danh

Giúp dân, giúp nước lòng thành sắc son.

 

Trần Hoàn tiếng hát véo von

Âm thanh lan tỏa nước non nghĩa tình

Xuân về rộn rã thanh bình

Người người đón Tết, thắm tình tương lai.

 

Cầu xây nối những bờ vui

Bắc ngang duyên dáng sáng ngời niềm tin

Quê hương rộn rã thanh bình

Xuân về nắng ấm, ân tình bao la...


 Nguyễn Văn Doà

nguyenvandoa51@gmail.com

READ MORE - CẦU NHI MÀU MỠ RUỘNG VƯỜN / XUÂN QUÊ HƯƠNG - Thơ Nguyễn Văn Doà

NHẮM RƯỢU VỚI CƯỠNG XUÂN - THƠ ĐẶNG XUÂN XUYẾN - Nguyễn Thanh Lâm

 NHẮM RƯỢU VỚI CƯỠNG XUÂN

- THƠ ĐẶNG XUÂN XUYẾN

*

Tôi có thói quen mỗi lần đọc thơ, khi gặp một câu hay, ý lạ thường tự thưởng cho mình một ly rượu - thắp lửa ở lòng mình, thả hồn lang thang trên ngọn nguồn, bến bờ say của câu chữ. Và hôm nay đọc tập: Cưỡng Xuân của Đặng Xuân Xuyến, không cưỡng nổi lòng mình, không thể hoãn cái sự sướng, tôi nhắm rượu với thơ.


Tác giả NGUYỄN THANH LÂM

Sao lại Cưỡng Xuân? Người ta thường nói đón xuân, khao khát mùa xuân về, có người rẽ lá vàng chặn lối xuân đi và chặn nẻo xuân về; có thể yêu xuân và thù hận mùa xuân, nhưng Cưỡng Xuân thì chưa có ai dám “liều” như nhà thơ Đặng Xuân Xuyến.

Mùa xuân như thiếu nữ huyền bí trong vẻ non tơ mà nhà thơ dám cưỡng xuân sao? Không thể! Nhưng nhan đề tập thơ là “Cưỡng Xuân” rất lạ, gợi trí tưởng tượng, hoang mang, mời gọi tìm hiểu. Ôi “Cưỡng Xuân”! Mới nghĩ đến thôi đã thấy lạ và không khỏi giật mình.

Và tôi như kẻ vụng trộm lắng nghe tiếng nói thì thầm của đôi trai gái:

Em gạ một đêm chồng vợ

Cho mùi da thịt thơm hương

và tiếng chàng trai:

Ừ thì, một đêm thôi nhé

Mai đừng, nữa gạ một đêm.

Gạ thôi, rủ yêu thôi, có cưỡng gì đâu! Nhưng tình yêu đến với tình yêu, thực sự như lửa gặp lửa sẽ hòa đồng cùng cháy sáng. Không mặc cả, không gạ gẫm, chàng trai không những bằng lòng một đêm mà còn “lo xa”: 

Mùa này ẩm trời dài lắm

Da đây thịt đấy đến mòn.

(Ẩm trời)

Thì ra là vậy. Sự lo lắng của chàng trai đã vén màn bí mật của “Cưỡng Xuân”. Là sự lạ trong tình yêu mà cũng rất đời thường. Cái sự lạ trong đời thường không khoác áo đạo đức, mà lại rất hồn nhiên: 

Rỉ rắc mưa

Rét ngọt trở mùa

Em vê tròn ném tôi vào cơn lốc... 

(…)

Vít cổ xuống

 Cong người

Em rướn… 

 Em…

(Khát)

Cưỡng xuân ở đây là sự cưỡng của cơn say “Ném tôi vào cơn lốc” và sự run rẩy của bàn tay, bản năng không lý trí: “Vít cổ xuống/ Cong người/ Em rướn...” theo bản năng yêu... và tiếng “Em” cuối cùng như tiếng thở gấp, đưa tình lên đỉnh… cõi bồng lai.

Tôi tự hỏi, tình yêu điên cuồng mê dại như thế có phải là “Cưỡng” không? Muốn đem lý thuyết phân tâm của F.Rớt để trả lời mà không thể, mọi lý thuyết đều “mất điện” trong tình yêu.

Hãy nghe trong giấc “Mơ Đêm” - “Cuống cuồng vòng tay ghì hơi ấm” - Chỉ ngôn ngữ của thơ mới “ghì hơi ấm”, chỉ “khi tỉnh rượu/ lúc tàn canh” nhà thơ mới tự thương mình, giật mình xót xa cho mình: 

Giật mình

Ánh mắt nửa đêm

hun hút đại ngàn gió hú...

 Thèm trận cuồng lũ

Dào dào trùm ải chờ mưa

Khát...

Khát là sự đòi hỏi của thể chất, khi khát cần uống, khi đói thèm ăn, nhưng cái khát trong tình yêu dày vò ở tâm, ở tim, linh thiêng và gần với thánh thần hơn. Cái khát thể hiện bằng thơ: “Trăng vàng lả lướt bến sông/ Đắm hồn tôi với mênh mông gió trời” (Mơ). Khát trong cả giấc mơ là cái khát không bờ, không bến. Và khi đã khát thì ở đâu cũng khát. Cái khát của tình yêu không có nhà, không nơi ẩn náu mà ở đâu cũng thành quê hương.

Một chiều lạ “Sợ đêm về/ quẩn gió/ xáo xác khuya…/ Te tẻ chiều/ nhớn nhác/ nhón chân qua”. Chỉ cái khát của tình yêu - của thơ mới nhận ra vị “te tẻ chiều”, nếm được tiếng “xáo xác khuya”, thức ngộ bao chiều mà chiều vẫn lạ.

Tôi đọc bài “Khát” (Lời đề tặng V. yêu). Không biết V. yêu có phải là vợ yêu không mà sao giống tình vợ chồng đến vậy. Ở đây không có sự “Cưỡng Xuân” mà rất tự nguyện: 

Nào nằm xuống

Vùi ngực anh

Dán chặt…

(…)

Dòng nham thạch cuộn từng cơn nóng hổi

Thế. Thế. Thế

Căng người

Em hứng đợi...

(…)

Thỏa thuê từng cơn khát

Em. Em ơi… đêm sắp qua rồi....

Tình cảm vợ chồng ngoài cái say, cái yêu thuần khiết, còn có cái say, cái yêu nghĩa vụ. Nhưng ở đây hoàn toàn thăng hoa “Căng người/ hứng đợi”, và sự giục giã “Em. Em ơi... đêm sắp qua rồi” thì không thể yêu nghĩa vụ chút nào, mà cao hơn cơn khát yêu của vợ chồng. Nhưng nhà thơ đã tự tố cáo mình, trong thơ không thể dối được. Vợ chồng thì có đêm nay và nhiều đêm nữa, việc gì phải vội, phải sợ không còn nữa mà phải hổn hển “Em. Em ơi… đêm sắp qua rồi.”.

Vâng. Cơn khát này cao hơn, đằm hơn cơn khát vợ chồng nên không phải vợ chồng mới có chất say - Chất khát của tình yêu!

Lại một bài “Đêm” nữa tặng V. yêu. Cơn khát nóng ran làm “Đêm bức bối”, màn đêm như bị căng ra và nén lại: “Em đè ta nghiến ngấu/ Đêm chuyển màu”. 

Đêm chuyển màu gì vậy? Họa sỹ thực thụ có thể biết 180 màu đen, nhưng màu đêm của tình yêu chỉ tình yêu mới biết, màu của “Đêm lõa lồ/ rần rật/ đốt thịt da.”.

Ôi! Tình yêu đã truyền vào đêm sức sống, truyền một ngôn ngữ linh thiêng - thần bí mà rất đời.

Khát, yêu, nhớ là mạch đập liên hoàn trong trái tim yêu, cứ tưởng nhớ là phải xa xôi, cách mặt nhưng nhớ của Đặng Xuân Xuyến như hiện thực trông thấy rõ ràng, như cuốn phim đời: 

Đêm tỉnh giấc

Khát mắt cười chiều qua lăn trên chiếu

Căng người

run rẩy cuộc yêu... 

(…)

Gió trườn qua khe cửa. 

Đã yêu, ai chẳng nhớ, nhưng nhớ rất chi tiết “Gió trườn qua khe cửa” - gió như một chứng nhân có lẽ chỉ nhà thơ mới có. “Gió trườn qua khe cửa” là ngọn gió có linh hồn, ngọn gió vàng xoa dịu và mát lành cõi phàm tục của tình yêu.

Sếch-xpia bảo: Tình yêu như người cung thủ bịt mắt mình, phóng mũi tên tình yêu đi đến đâu không cần biết mà vẫn trúng đích.

Trong cái mê, có cái ngộ, cái biết, và phải trải qua bến mê mới thấy bờ giác. Đặng Xuân Xuyến đã ngồi thiền dưới gốc cây bồ đề tình có biết bao năm để ngộ chăng? Cứ tính từ ngày vợ chồng Xuyến chia tay, hay cộng cả trước và sau thời gian ấy mới đắc đạo tình hay đốn ngộ. Đốn ngộ là đột biến, đắc đạo là sự tiêm ngộ. Theo tôi thì Đặng Xuân Xuyến trải qua bao đổ vỡ, hẫng hụt, khổ đau mà đắc ngộ.

Hãy nghe về sự ngộ, sự biết của anh: 

Ừ biết

Em rồi chẳng đợi

Mà lòng chẳng nỡ buông lơi

Ừ biết

Chỉ lời giả dối

Mà tin, tin đến cạn lời.

Biết em không thật mà lòng vẫn tin là sao? Hãy lấy lòng khát yêu để trả lời cho câu hỏi này. Hãy lấy sự “Cưỡng Xuân” - Gượng yêu làm chìa khóa mở ra tâm hồn nhà thơ.

Nhà thơ vẫn khát thèm yêu nên dù biết rằng “em chẳng đợi”, chẳng yêu mình mà vẫn gượng yêu, gượng tin, thậm chí còn mong nàng nói dối là yêu mình còn hơn phải nghe những lời phũ phàng nói thẳng - không yêu. Ta nhận ra nhân cách đẹp của nhà thơ chính ở sự phi lý này.

“Thôi thì sắm vai người dại/ Ngô nghê với tháng năm dài”. Trải qua những khổ đau, những cơn khát, cưỡng xuân, Đặng Xuân Xuyến chấp nhận “Dại Yêu”, chấp nhận “Niềm vui dẫu chỉ nửa vời/ Có sao đâu/ Vẫn cứ ngời ngợi hương/ Chỉ tôi/ Chín nhớ/ Mười thương/ Đủ rồi”.

Đọc những dòng thơ, như nghe tiếng nước mắt chảy ngược vào tâm, giọt nước mắt long lanh ánh sáng thức ngộ - Thức ngộ sau chén say, mê đắng của tình yêu: 

Ta gạ em cạn chén

Thế là em cạn ta...

Nửa đời trai trinh bạch

Em nhuộm ta ngả màu.

(Em)

Màu của tình yêu là màu gì vậy? Là 7 sắc cầu vồng sau chiều mưa chăng? Không! Màu tình yêu là muôn màu, màu của hạnh phúc và khổ đau, không họa sĩ nào vẽ nổi, nó biến ảo trong không gian, thời gian, trong tâm thức của mỗi người.

Với Đặng Xuân Xuyến là màu say đắm và màu “Chán Yêu” hòa quyện, là màu “Bồng bềnh người ơi/ Mây tím lưng trời” chìm vào “nụ cười bạc phếch/ Xộc xệch tình.../ Lếch thếch tiếng yêu.”

Tôi tìm thấy ở Đặng Xuân Xuyến màu của “Đêm trở mình nhiều hơn/ Tóc dầy thêm sợi bạc”. Và đặc biệt ở Đặng Xuân Xuyến là màu của tình yêu máu thịt dành cho cậu con trai - cái màu máu thiêng liêng của tình cha con đã giải thiêng mọi màu sắc của tình yêu lứa đôi. “Lặng nhìn con nằm ngủ/ Ngổn ngang nỗi tơ vò”.

Sau màu yêu ngày tươi đẹp đã qua, con chim thi ca vẫn cất cao giọng hót nhưng không còn là bản tình ca réo rắt mà là giọng to nhỏ thì thầm: 

Mình già rồi anh nhỉ

Thời gian thế mà nhanh

Mới vài chuyện loanh quanh

Tóc đã pha màu bạc...

Giọng thoảng nghe khang khác

Mình già rồi mà anh.

Không ai khuất phục được thời gian, không ai ở mãi trên đời, yêu đương... mê ngộ một thời rồi đi. Và Đặng Xuân Xuyến cũng nằm trong quy luật của thời gian như mỗi chúng ta. Chính vì hiểu quy luật của thời gian mà anh đã “Cưỡng Xuân”, anh “Cưỡng Xuân” và xuân cũng cưỡng anh.

Nhà thơ “Lánh Yêu” mà vẫn bị yêu: “Sao chẳng nói yêu từ sớm/ Khi anh đương còn trẻ trai/ Bây chừ lừ đừ, lọm khọm/ Nào ai dám mộng với ai.”. Nhà thơ trách cô gái trẻ chậm nói lời yêu nhưng trong lòng tự biết tuổi của mình, sức đã “chồn chân mỏi gối”, lòng thèm yêu lắm nhưng “Chỉ e nhỡ đường ân ái/ Khiến em đứt ruột chiều tà.”

Tôi cam đoan rằng: Tuổi của Đặng Xuân Xuyến mới 52 còn tràn đầy sinh lực, chưa “chồn chân mỏi gối” tí nào, anh như con chim bị trúng thương tình ái, đổ vỡ duyên vợ chồng nên sợ “cành cây cong” như chiếc cung thôi. Và chất quê Hưng Yên ở trong máu còn thắm chưa phai, chưa nhiễm chất thị thành, nên thèm yêu mà vẫn lo xa.

Lo xa nên nhà thơ mới tỏ tình với ngôn ngữ dân dã chân thành: “Em có cần anh không/ Nếu cần hãy cùng anh chung sống”. Chữ “cần” mộc mạc mà rất thơ mang nặng tâm tình. Tình yêu cần tình yêu như con người cần không khí để sống. Thiếu sự “cần” ấy - thiếu không khí - có ai sống được bao giờ. Bài thơ “Chung”, tôi đã bình rồi, không bình lại nhưng vẫn bị sự mộc mạc của câu thơ “Em có cần anh không” níu kéo. Tôi đành nhắp thêm chén rượu nữa cho hồn say với sự “cần” yêu.

Thơ của Đặng Xuân Xuyến chưa đến bực tài hoa, mà là thơ của nỗi lòng, tình yêu và sự đớn đau trong tình yêu nâng hồn anh thành cánh chim bay đến phía sau của chân trời tình yêu và trở về với hồn quê - Đất nhãn Hưng Yên:

Về đi em! Về ngắm trăng buông

Câu mái đẩy lèn sâu ký ức 

Dựa vai anh ngắm đời rất thực

Cổ tích trầu cau đã hết nhựa rồi..

Nếu có tài họa sĩ, tôi sẽ vẽ bức tranh đồng quê, có đôi trai gái ngồi ngắm trăng buông. Cô gái tựa vào vai chàng trai, ngắm trăng trời và nghe trăng ở lòng thổn thức. Nhưng vẽ “Cổ tích trầu cau đã hết nhựa rồi” thì thật khó. Chỉ có thơ, hồn thơ quê của Đặng Xuân Xuyến mới vẽ được. Tôi nhắm câu thơ này cho rượu thêm hương.

Rượu và thơ dẫn tôi đi, tôi lang thang trong sự “Cưỡng Xuân” của Đặng Xuân Xuyến. Mỗi bài thơ như cưỡng tôi yêu, và tôi bằng lòng với sự cưỡng yêu ấy.

Tôi bị cưỡng vào những khao khát và những giấc mơ, mà từ những khát khao và những giấc mơ ấy tôi lại được trôi dạt tới bờ bến của dại khờ. Ôi! Sự dại khờ trong tình yêu như một cõi tiên. Trên đảo bồng lai của dại khờ tôi gặp tôi, gặp những khát khao chân thực của tình người. Tình yêu cần sự dại khờ hơn khôn ngoan.

Có phải yêu thật lòng quá thành dại khờ nên Đặng Xuân Xuyến đã “Cưỡng Xuân”. Tôi nghe thẳm xa trong hồn tiếng của trời, tiếng của mùa xuân thì thầm trong hoa lá: “Tôi bằng lòng… bằng lòng.”. Thì ra mùa xuân cũng khát yêu và thèm sự “Cưỡng” như con người. Lâu lắm, xa lắm, trên thế gian chưa có ai, chỉ có Đặng Xuân Xuyến “Cưỡng Xuân”. 

Vì “Cưỡng Xuân” - Tập thơ đầu tay của Đặng Xuân Xuyến, tôi tự rót rượu thưởng cho mình.

*

Hà Nội, 08 tháng 6-2017

NGUYỄN THANH LÂM

Địa chỉ: Số 4 ngõ 179, phố Minh Khai, 

quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

Email: thanhlam.tho@gmail.com

 

READ MORE - NHẮM RƯỢU VỚI CƯỠNG XUÂN - THƠ ĐẶNG XUÂN XUYẾN - Nguyễn Thanh Lâm

PHƯỢNG - Truyện ngắn Lê Minh Hiền - (Tiếp theo kỳ 2)

 




Phượng

Truyện ngắn Lê Minh Hiền 


    Như những cây si Nguyên cuồng mê vun trồng đã chết non khi chúng chưa kịp bén rễ trước và sau mối tình đầu đời mưa bóng mây tạnh vội với Phượng, Nguyên và Phượng đã chưa kịp trao nhau một nụ hôn đầu đời. Có phải chăng đó là một trong vài chất liệu mang đến những cơn chiêm bao Nguyên gặp lại Phượng... Đến năm 1997, Nguyên sinh sống tại Nam California được 5 năm, chàng nhập quốc tịch Mỹ. Sau một ca đêm như ngày qua ngày, lại thêm một đêm trằn trọc, và một cơn chiêm bao gặp lại Phượng về sáng, sáng sớm Nguyên xuôi xe ra Bolsa(6), phố Little Saigon(7) đặt vé bay về Việt Nam quyết định việc lập gia đình, để mong gấp lại những tiếc nuối vô thức, sang trang mới cho đời chàng. Lúc đó Nguyên vừa đúng 40 tuổi chẵn, 5 năm rồi kể từ khi rời Việt Nam, chàng không nghe tin tức gì về Phượng, nhưng chàng biết chắc nàng đã yên bề gia thất. Như Kinh Kha, Nguyên quyết chí một đi không trở lại nếu phải xách xe không trở lại Cali, chàng xin nghỉ việc 1 tháng. Nhưng rồi Nguyên mất 2 tháng ở lại Việt Nam mới lo toan xong mọi việc. Vậy là trừ nửa tháng nghỉ phép hàng năm, thời gian nghỉ còn lại Nguyên xin nghỉ không ăn lương. 

.

   Vào buổi trưa, hôm sau ngày đám cưới, Chị Sáu Thau mới từ huyện lỵ vào gặp Nguyên, vì chị nhận thư báo tin của chàng ngay buổi chiều của ngày đám cưới, nên đành vào Qui Nhơn trễ. Chị Sáu Thau là bà chị có duyên chứng nhân cuộc tình đầu của Nguyên. Nguyên hay hẹn hò Phượng tại nhà chị, vì không xa phố huyện. Chị cho biết, tính ra ngay sau khi Nguyên qua định cư tại Mỹ thì Phượng lấy chồng. Nguyên không ngạc nhiên, chỉ nghe lòng mình một thoáng gợn sóng lao xao khi nghe chị cho biết đó chính là Thuận, thằng bạn thân của chàng, làm cùng đội chiếu bóng với Phượng, nhà nó ở ngay đầu chợ huyện lỵ. Chính nó đã dàn xếp cho Nguyên và Phượng gặp nhau lần đầu ở quán nước. Và cũng chính nó, dạo Nguyên chuyển về thành phố, ở ngoài đó chúng nó đã bóp còi qua mặt chàng. Nguyên đã biết chuyện chúng nó, chẳng bao lâu sau lần Phượng vào thành phố gặp chàng lần cuối cùng. Đưa chị Sáu Thau về, trước khi chia tay, Nguyên dúi cho chị chút ít tiền, chị vẫn còn nghèo như thuở nào và hẹn qua hôm sau chàng sẽ mượn xe Honda chở vợ ra huyện lỵ chơi, thật ra chính là để tìm gặp lại Phượng sau hơn 5 năm. Và dặn chị nhắn Phượng ra nhà chị trước chờ Nguyên ra. Sáng hôm sau, vừa rời nhà vài cây số trời đổ mưa tầm tả, coi bộ không xong, Nguyên vội chở vợ trở về giữa hai cơn mưa. Trở về lại California, qua điện thoại, chị Sáu Thau có nói, như đã hẹn Phượng có xuống nhà chị để chờ Nguyên ra. Phượng có dẫn theo hai thằng nhóc lên năm lên bảy gì đó. Dẫu sao, qua việc Phượng mau mắn xuống nhà chị Sáu Thau chờ Nguyên từ Qui Nhơn ra đã dường như chứng tỏ trong Phượng, Nguyên vẫn có một vị trí không tệ lắm thuở vào đời của nàng. Không biết có bao giờ Phượng mang Nguyên vào trong những giấc chiêm bao của nàng khi đêm sắp tàn canh như chàng không. Như Phượng vẫn hoài tìm vào trong những giấc chiêm bao của Nguyên khởi sự kể từ khi nàng ra đi rời khỏi cuộc đời chàng cho đến nay, dẫu lúc nhặt những lúc chàng còn độc thân, hay lúc thưa trong quảng đường đủ dài đời sống vợ chồng của chàng, và cả trong thời gian ngắn chưa kịp cho một mùa thu trở lại, một đoạn tình cuối lọc lừa, buồn như một cơn mưa mây nơi hoang mạc hồn chàng.

. 

   Phượng tên đầy đủ là Trần Thị Phượng. Cái tên thật buồn, tuy ngắn gọn, trơn tru sao nghe thật khốn khổ, như báo hiệu đời nàng sẽ chẳng vui gì. Người ta hay nói cái tên nó vận vào người. Phượng tuổi con cọp... con gái mà tuổi con cọp thì dữ dằn, có số sát phu, cha mẹ không muốn chọn dâu có tuổi Dần. Nếu vượt qua được thì cuộc đời cũng chẳng ra sao. Nguyên chưa bao giờ quan niệm theo vậy. Nguyên chỉ thấy tính Phượng ít nói, có khi nào hờn giận lắm thì nàng giơ nắm đấm dứ dứ trước mặt Nguyên, chứ chẳng thèm hơn thua gì lắm lời. Ngược lại tính cách của Phượng càng thu hút Nguyên biết bao và chàng yêu nàng thật nhiều. Phượng nhã nhặn nhưng không thân mật với đám con gái bên phòng văn hóa huyện mà đội chiếu bóng của nàng cũng trực thuộc. Nàng sống cô độc, dường như có mặc cảm về thân phận gia đình. Nguyên không lý giải nổi tại sao bao nhiêu năm đã trôi qua, đủ cho một con người lớn khôn rồi trưởng thành, Phượng vẫn tìm về gặp chàng trong những cơn mơ về sáng trong khi lòng chàng, sau bao cô gái đẹp đi qua đời chàng, Phượng đã không còn là một hình ảnh giai nhân tuyệt vời như thuở ban sơ đời chàng. Nguyên bồi hồi nghĩ, hay là Phượng đã qua đời trong một hoàn cảnh khốn cùng, buồn như cái tên của nàng. Có một lần Phượng dẫn Nguyên về nhà nàng, sau một cái tết chàng từ Qui Nhơn, quê chàng, trở ra làm việc, như để giới thiệu chàng với gia đình nàng. Một mái tranh nhỏ nghèo nàn giữa bốn bề đồng không mông quạnh. Và một bà mẹ với 2 đứa em. Trong nhà trống trơn. Nghe nói ba Phượng là một người lính miền nam đã tử trận trước 1975...


Stanton, California July 16th, 2025 (1:15 chiều đầy nắng vàng sóng sánh)

(6) Bolsa, nơi có con đường Bolsa chạy ngang, Nam California

(7) Phố Nhỏ Sài gòn, 


READ MORE - PHƯỢNG - Truyện ngắn Lê Minh Hiền - (Tiếp theo kỳ 2)

Chùm thơ Vũ Hùng: CHỐN CŨ / QUÀ QUÝ / TÍM HOA RAU MÁC BÊN THỀM

 

Nhà thơ Vũ Hùng

CHỐN CŨ

 

Tôi về thăm lại Nghĩa Phương

Còn đâu lối cũ, con đường ngày xưa.

Con đường một thuở nắng mưa,

Con đường một thuở đón đưa mặn nồng

Vẫn còn Sông Vệ xanh trong

Mà người xưa đã sang sông lâu rồi.

Bao lần tôi tự hỏi tôi,

Cớ sao chẳng chịu quên người xưa đi?

Đắng lòng ngày ấy mùa thi

Trầu cau không quyện... còn gì nữa đâu

Người đi ngoảnh lại giọt sầu

Còn tôi chết lặng bên cầu Vệ Giang....

Nghĩa Phương về lại mênh mang,

Phượng hồng rực rỡ, râm ran ve sầu

Người xưa chẳng biết về đâu,

Còn tôi thơ thẩn tình đầu khó nguôi!

Vũ Hùng

 


QUÀ QUÝ

Cảm ơn quà quý phong lan,

Sáng nay hoa nở ngỡ ngàng góc sân.

Ngắm hoa lòng mãi bâng khuâng 

Đời vui hội ngộ mấy lần nữa đây?

Người về trăng gió trời Tây

Nẫu về Xứ Nẫu nước mây ngậm ngùi!

Vũ Hùng

 


TÍM HOA RAU MÁC BÊN THỀM


Tìm đâu một vé tuổi thơ,

Cho tui về lại bến bờ ngày xưa?

Bắt cua, mò ốc...nắng mưa

Lằn roi mẹ đánh chẳng chừa, lấm lem,

Tím hoa rau mác bên thềm,

Bóng câu lướt nhẹ qua rèm, chiều rơi!

Vũ Hùng

 

READ MORE - Chùm thơ Vũ Hùng: CHỐN CŨ / QUÀ QUÝ / TÍM HOA RAU MÁC BÊN THỀM

TÌNH NGƯỜI CA SỸ - Thơ Jos. Nhật Quang

Ảnh minh hoạ: Ca sĩ Thu Thảo

 

TÌNH NGƯỜI CA SỸ

 

Em cất giọng hát lên

trong veo như giọt sương long lanh trên phiến lá

như tiếng chim thánh thót gọi ban mai

em đâu chỉ hát bằng lời – mà hát bằng cả trái tim

bằng cả những nhịp đời trăn trở….

Trên sân khấu

em lung linh như vì sao

tỏa sáng giữa muồn ánh đèn rực rỡ

nhưng anh biết

phía sau em còn bao điều dang dở

bao lần nước mắt rơi trong đêm

Bài tình ca em hát

ru đời - ru những phận người cô quạnh

ru mẹ quê mong con giữa phố xa

ru anh – một gã yêu đàn ca

một lời tỏ tình… chưa hề dám ngỏ

Mỗi bài ca em hát

là một nốt trầm dịu dàng trong ký ức…

là sợi tơ ngân vang kéo anh về một thời trẻ trai

là giấc mộng chưa phai - anh ôm ấp đêm dài

Tình người ca sỹ

là nỗi đau biết mỉm cười

là trái tim luôn rung động trước lời yêu

là bản tình ca mênh mang gửi trong gió chiều

mà vẫn mong…có ai đó chạm thấu?

Jos. Nhật Quang

READ MORE - TÌNH NGƯỜI CA SỸ - Thơ Jos. Nhật Quang

Trần Kiêm Đoàn đọc và giới thiệu tập truyện HẠT U MINH, tác giả TRẦN KIÊM TRINH TIÊN



Xem tập truyện Hạt U Minh, người đọc hình dung nhân gian đâu đó mang tràng hạt u minh – u u, minh minh; mù mù mịt mịt, sáng lòa sáng tỏa – như một chuỗi duyên duyên nghiệp nghiệp tương tác trùng trùng trong dòng đời nghiệt ngã và cô đơn nhưng cũng lắm nẻo đi về thanh thỏa và giải thoát tùy bước đi và hướng tới mà người thiện tâm, quý chữ thường gọi là… tu.

 

Tác giả là Trần Kiêm Trinh Tiên, một khuê nữ xứ Huế thuộc thế hệ Chiến tranh Việt Nam. Biểu tượng khuê nữ trong văn chương nhà Huế hơi khác với khái niệm đời thường. Đó là chỉ dấu hình ảnh “dễ thương dễ sợ” trong văn phong đượm chất thơ, trong suy tư không vướng mùi tục lụy và khổ đau hay hạnh phúc đều chỉ là phương tiện của hoàn cảnh cùng số phận trước mắt trong nẻo về miên viễn.

 

Tập truyện Hạt U Minh của Trần Kiêm Trinh Tiên, gồm tám truyện ngắn với các nhan đề đầy chất thơ và gợi cảm, như: Hạt U Minh, Nguyệt Cầm, Chim Vạc Con ở Badghis, Dáng Xưa, Đoản Khúc Melaleuca, Chiều Rơi Trên Cây Ginkgo, Bản Giao Hưởng Câm và Trong Khu Vườn Chim Hót, là một tác phẩm văn học vừa nhẹ nhàng như một khúc thiền ca, vừa âm ỉ đầy ám ảnh theo như cảm nhận của nhà văn Trần Thùy Mai: “Nhẹ nhàng mà day dứt khôn cùng.”

 

Ngay từ nhan đề Hạt U Minh được chọn cho cả tập sách, tác phẩm đã gợi lên hình ảnh một “hạt giống tâm linh” được gieo vào vùng thâm sâu của tâm thức và vô thức – nơi u minh, tối sáng, sinh diệt, khởi điểm và kết thúc – của chuỗi duyên sinh từ không trước đến không sau. Mỗi truyện ngắn như một mảnh gương tâm linh soi rọi kiếp người trong bóng râm của thời gian và lịch sử; vừa rất riêng tư, vừa mang tính biểu tượng đại chúng. Hạt u minh trong tương quan giải thoát và hệ lụy nhân sinh vượt trên tầm tôn giáo và giới hạn tư tưởng. Như tin mừng trong kinh Thánh “ngày mai để cho ngày mai lo” (Matthew 6) hay chánh niệm (mindfulness) của hành giả an nhiên tự tại trong dòng u minh tồn tục lưu truyền tự trong thể tánh không sinh, không diệt của nó.

 

Tác phẩm Hạt U Minh là một cánh diều căng gió với không gian riêng của nó; một không gian điên đảo mà bình lặng đầy ắp biến cố giữa thuở chiến tranh, ngày hòa bình, buổi giao thời, bước thoát ly, thái độ khước từ, nhập cuộc, khổ hạnh, đóng đinh và hệ lụy lâu dài hay tức thời của nó ở bất cứ vùng trời nào khi mà con người vừa là một sản phẩm mà cũng vừa là động cơ tái tạo của hoàn cảnh.

 

Thế giới trong tác phẩm Hạt U Minh là những mảnh đời hiện thực và chuỗi biến hiện – thánh thiện, bác ái, từ bi, nhỏ nhen, độc ác, âm mưu vừa phản kháng vừa hội nhập – mang đậm tính người vừa gian manh bất ổn như tên chúa đảng hải tặc; vừa thiện lành như vị thiền sư có mặt nhan nhản từ Huế tới muôn phương. Tác giả đã hồi tưởng hay xây dựng nhân vật của tác phẩm với tầm nhìn từ những góc khuất tâm lý, trải nghiệm và hoàn cảnh xuất thân thấm đẫm nếp văn hóa nhạc và hoa nhiều hơn là hận thù và vũ khí.

 

Triết lý Phật giáo bàng bạc như những dấu ấn vô hình thâm xuyên các truyện không theo lối thuyết giảng, mà thẩm thấu qua từng chi tiết đời thường: là tiếng chuông u minh chùa Thiên Mụ vọng về lẫn trong tiếng rền xa của đại bác từ Trường Sơn;  ánh mắt của người thiếu phụ nhìn quanh cảnh đời sinh diệt như thể nhìn vào tâm mình (Nguyệt Cầm), là cánh chim cô đơn bị bỏ rơi vì nhân tính buông tay cho thú tính dẫn đường (Chim Vạc Con ở Badghis), hay là khúc mặc niệm không lời vang lên giữa khu vườn tâm thức im ắng (Bản Giao Hưởng Câm).

 

Cái Sắc và cái Không giữa dòng sống trống không mà thăm thẳm qua tâm “Niệm Tâm Kinh Bát Nhã mà lòng tôi như cơn gió thổi qua thảo nguyên, trống không, thăm thẳm” và vô sắc giới nhân sinh “Cho đến một hôm, tờ ly thư đến với tôi như chén đắng. Cuối cùng tôi đã uống chén ấy với nỗi buồn của Chúa Giêsu ở vườn cây dầu.”

 

Những nhân vật trong truyện, phần lớn đều là những “người đi qua cõi tạm” lặng lẽ gánh những hệ lụy và day dứt nhân sinh – nhưng không tuyệt vọng, mà trong họ luôn có một phần tỉnh thức, một tâm lý chịu đựng “hòa nhi bất đồng” âm thầm đầy suy tưởng trước quyết định dấn thân hay cũng đành buông tay – giữa dòng đời và thân phận, chịu đựng và ước mơ.

 

Dù bối cảnh của tác phẩm trải rộng từ Huế đến toàn cảnh quê hương Việt Nam và thế giới, chất Huế vẫn hiện diện không chỉ trong giọng văn dịu dàng, tinh tế mà còn trong những lối mô tả phong cảnh, phong thái sống và chiều sâu nội tâm nhân vật. Người đọc bắt gặp một không gian trầm lặng như chiều tà trên sông Hương – nơi ký ức và hiện tại giao nhau, nơi vẻ đẹp trở thành điều thiêng liêng để gìn giữ, không phải bằng tay mà bằng tâm.

 

Nét độc đáo của tập truyện là sự hòa quyện nhuần nhị giữa hư và thực, giữa hiện sinh và siêu hình. Người đọc cảm thấy như mình đang bước vào một thế giới nửa mơ, nửa tỉnh; nơi mỗi câu chuyện là một pháp thoại lặng lẽ  [DT1] – kiến tánh – không nói cho ai và cũng chẳng ai nói cho mình. . Mỗi nhân vật là một “hạt giống tâm linh” đang trên hành trình tự giải thoát khỏi những ràng buộc của vô minh, như chiếc lá cuối cùng còn rung nhẹ trong gió, trước khi lìa cành trong sự chấp nhận thanh thản.

 

Không vọng động, không kịch tính, nhưng mỗi truyện trong Hạt U Minh đều để lại một dư vang – một “đoản khúc day dứt” như tiếng chuông ngân dài trong tĩnh lặng, khiến người đọc không thể không suy ngẫm về chính mình, về cuộc đời, và về những điều tưởng như nhỏ bé nhất nhưng lại mang ý nghĩa lớn nhất trong hành trình tỉnh thức. Hạt U Minh không chỉ là tập truyện mà còn là một nghi lễ đọc, một không gian thiền hành bằng ngôn ngữ, một khu vườn để ta dừng lại, lắng nghe tiếng chim hót trong lòng mình của một văn hóa Huế đã từng đau thương mà vẫn gìn giữ được vẻ đẹp nội tâm.

 

Cầm tác phẩm Hạt U Minh của Trần Kiêm Trinh Tiên chưa tới 150 trang trên tay tôi có niềm vui của lão 80 là muốn đọc văn hay mà đọc ít bởi mắt mờ tay mỏi; rồi bỗng mỉm cười một mình nhớ lại hiện tượng dài ngắn trong văn chương:


Tác giả viết một tác phẩm dài nhất là Marcel Proust – À la recherche du temps perdu (Đi tìm thời gian đã mất) hơn 4.000 trang với 1.2 triệu từ cùng nổi tiếng như tác giả viết tác phẩm cực ngắn mà nổi tiếng là Ernest Hemingway – Câu chuyện 6 từ: “For sale: baby shoes, never worn.” (Bán: giày trẻ em, chưa từng dùng.) Tác phẩm thuộc thể loại Flash Fiction (truyện cực ngắn) mang ý nghĩa đã gợi một bi kịch sâu xa chỉ qua dăm ba từ là điển hình cho ví dụ về nghệ thuật “hàm súc” trong văn chương.


Mới đó mà đã 50 năm đi qua. Huế có cái thước đo thời gian “mới đó” rất bình dân mà triết lý chi lạ! Một hạt u minh đã mịt mù ký ức huống chi là tràng hạt u minh; nhưng cái mất được tái hiện qua cái còn thầm lặng. Chúc mừng Trần Kiêm Trinh Tiên với một tác phẩm đẹp khi con người phải đối diện với những hoàn cảnh gió bụi nghiệt ngã để nương thuyền từ hóa giải khổ đau và hạnh phúc với chính mình.

 

Đặc biệt, tác phẩm phản ánh nét tài hoa tự nhiên với văn phong mang dáng vẻ nghệ sĩ rất “Trần Kiêm Liễu Hạ” của liễu xanh Hương Cần, sông Bồ uốn khúc đẹp như tiếng hát Hà Thanh, giọng văn tài hoa mà u ẩn của Kiêm Minh, triết văn đầy biểu tượng của Kiêm Đạt, tiếng thơ lãng tử của Kiêm Thêm…

 

Khép lại những dòng viết về Hạt U Minh mà cứ ngỡ như đang viết mảnh tâm tình với Huế. “Ôn Đoàn” tặng các nhân vật trong tác phẩm của Trinh Tiên mấy câu thơ đã thành “quá khứ hiện tiền”:

 

Khi ở Huế thấy Huế buồn chi lạ,

Xa Huế rồi thấy Huế quá mênh mông.

Trong nỗi nhớ một cũng là tất cả;

Khi thương yêu tất cả sẽ vô cùng.

 

 Sacramento, mùa July 4th 2025

Trần Kiêm Đoàn

trankiemdoan@gmail.com

 

READ MORE - Trần Kiêm Đoàn đọc và giới thiệu tập truyện HẠT U MINH, tác giả TRẦN KIÊM TRINH TIÊN

NGƯỜI CHIẾN SĨ NĂM XƯA - Thơ Đàm Ngọc Năm

 

Cựu chiến binh Đinh Thị Lý

Đàm Ngọc Năm

NGƯỜI CHIẾN SĨ NĂM XƯA 


Chào em, cô gái thuở đôi mươi 
Thời đạn bom rời trường ra tiền tuyến 
Thống nhất Non sông luôn là ước nguyện 
Dù ra đi chẳng nghĩ đến ngày về.

Chỉ biết rằng khi Tổ quốc lâm nguy 
Từ mái tranh nghèo, lũy tre, giếng nước 
Ý chí trong tim: Việt Nam là một!
Quyết lên đường để giải phóng quê hương.

Bao tháng năm chịu đựng đạn bom 
Đánh giặc xong trở về xây tổ ấm 
Đất nước thanh bình, trời như mở rộng 
Thỏa sức bay, sải cánh vươn xa…

Đã là lính, đâu quản ngại phong ba
Luôn vượt khó, chẳng thể gì ngăn nổi 
Góp sức mình cho quê hương đổi mới 
Chính em người khơi dậy những niềm tin.
                                                   
Năm 2025
READ MORE - NGƯỜI CHIẾN SĨ NĂM XƯA - Thơ Đàm Ngọc Năm