Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, September 8, 2023

“MẮT NHẠT NHOÀ MƯA QUA ...” - Phạm Cảnh Thượng

Nhà thơ Phạm Văn Bình


 “MẮT NHẠT NHOÀ MƯA QUA ...” 

Phạm Cảnh Thượng

Cảm nhận về "Chuyện tình buồn", 

thơ Phạm Văn Bình, Phạm Duy phổ nhạc

 

Có những con người, chỉ một đôi lần thoáng qua thôi, là làm ta nhớ mãi. Có những thân phận nổi trôi, bọt bèo, lặng lẽ nhưng trần gian khó thể nào quên. Có những khoảnh khắc một lần là mãi mãi. Tôi đang nói về thi sĩ Phạm Văn Bình. Ông là một người con của đất Đông Hà-Quảng Trị, đã từ giả cõi đời ở tuổi 79 tại miền Nam California vào tuần trước (chiều  22 tháng 7, 2018) trong niềm thương tiếc của đông đảo bà con hải ngoại và mọi người yêu mến ông.

 

Cơn mưa chiều tháng 7. Ở cái xứ miền Nam này ít khi mưa dai, hiếm khi dầm dề rả rích. Nhưng chiều nay, một thoáng mưa qua đã đủ làm lòng người se sắt:

 

“Năm năm rồi không gặp.

Từ khi em lấy chồng.

Anh dặm trường mê mải.

Đời chia như nhánh sông”

 

Đó là những câu mở đầu trong bài thơ “Chuyện tình buồn” của Phạm Văn Bình. Bài thơ vốn đã nổi tiếng thời đó, không lâu sau lại được Phạm Duy phổ nhạc. Bài hát quá hay, nên bài thơ càng được chắp cánh.

 

Gần 50 năm trôi qua, ca khúc vượt thời gian này đã làm lay động biết bao con tim của bao thế hệ. Dù ít dù nhiều, không phân biệt chính trị bên này hay bên kia, ai đã từng yêu (mà có ai không yêu?), đều có thể tìm thấy một chút bóng dáng mình trong đó.

 

Phạm Văn Bình tài hoa từ thuở nhỏ. Nhà nghèo, sống nhờ nhuận bút từ những trang báo mà ông cộng tác. Ông từng dạy học ở trường Bán công Đông Hà. Vừa qua tuổi 20 đã là cộng sự Dạ Lan trong chương trình “Mẹ Việt Nam” tại Đông Hà cùng với thi sĩ Nhất Tuấn. Ông đi lính Thuỷ quân lục chiến, nhưng lại có tài văn bút và tâm hồn nghệ sĩ, nên sau đó chuyển sang làm Đại uý phòng tâm lý chiến.

 

Theo lời kể của một người bạn cùng thời chơi thân với ông, hồi đó ở Đông Hà có cô Lê Thị Tuý nổi tiếng xinh đẹp. Ông đem lòng yêu thương. Nhưng do nhiều vấn đề nên sau đó cô Tuý lên xe hoa với một Sĩ quan không quân chế độ cũ, là bạn của ông.

 

Một buổi chiều cuối thu, ông trở lại đất Đông Hà. Cảnh cũ còn đó mà người xưa theo chồng đã 5 năm. Ông bồi hồi theo dòng suy tưởng:

 

“Phong thư tình ngây dại.

Những vai mềm, môi ngoan.

Những hẹn hò cuống quýt.

Trên lối xưa thiên đàng”

 

Chợt lòng quặn thắt và cảm thấy nhói đau nơi trái tim người lính trẻ. Lời ông tự sự:

 

“Ngày nhà em pháo nổ.

Anh cuộn mình trong chăn.

Như con sâu làm tổ.

Trong trái vải cô đơn”

 

Nổi đau chất chứa, dồn nén đến đỉnh điểm, nó tự nhiên buộc người ta phải thốt lên thành lời. Không phải là với người yêu, với mọi người nữa, mà là với chính mình:

 

“Ngày nhà em pháo nổ.

Tâm hồn anh rướm máu.

Ôi nhát chém hư vô.

Ôi nhát chém hư vô.

 

Để ý một chút, chúng ta thấy câu “ngày nhà em pháo nổ” và câu “ôi nhát chém hư vô”  được nhắc đi nhắc lại 2 lần, càng làm ta thấm thía và đồng cảm với hoàn cảnh éo le, nghiệt ngã và nỗi đau cô đơn của tác giả. Thế mới biết, đâu cần chi phải là những nỗi đau “lớn lao, đại sự”, mà có khi chỉ là một nỗi đau nhỏ nhoi, riêng lẻ, nếu đồng điệu, thấu cảm và được thốt lên bởi vẻ đẹp nghệ thuật của ngôn từ, và đặc biệt là sự chân thành nơi trái tim, thì sẽ có sức lay động và trường tồn với thời gian.

 

Trở lại với mối tình si của tác giả, đọc cả bài thơ gồm 42 câu, chúng ta thấy mặc dù là một bài thơ tình, nhưng tuyệt nhiên thấy tác giả rất ít nhắc về những kỷ niệm. Có chăng chỉ thấp thoáng rất mờ ảo về một “đường xưa, lối về”, một “sân giáo đường”, một “gác chuông” nơi “xóm đạo”, làm nền tảng bối cảnh cho một cuộc tình dang dở, bi thương:

 

“Năm năm rồi ly biệt.

Đường xưa chưa lối về.

Trong đìu hiu gió cuốn.

Nằm chơ vơ gác chuông”

 

Chúng ta hãy tiếp tục lắng nghe tác giả trãi lòng:

 

“Năm năm rồi cách biệt.

Cỏ hoang sân giáo đường.

Chúa buồn trên thánh giá.

Mắt nhạt nhoà mưa qua”

 

Thiết nghĩ cũng cần nói thêm sự khéo léo, tài hoa của nhạc sĩ Phạm Duy khi phổ nhạc bài thơ này (và tên bài thơ cũng là tên bài hát). “Chuyện tình buồn” có cả thảy 42 câu, được chia thành 8 khổ không đều nhau, có khổ 4 câu, khổ 6 câu và có khổ 8 câu. Nhưng khi phổ nhạc, Phạm Duy sắp xếp thành 40 câu chia đều 5 khổ, mỗi khổ 8 câu bằng nhau. Trong bài hát, phần lớn là nguyên bản bài thơ, còn có một số câu phỏng tác, nhưng đều rất sát và theo đúng tinh thần của bài thơ một cách tài tình làm chúng ta có cảm giác như Phạm Văn Bình và Phạm Duy đang lồng ghép tâm thế mình vào nhau để cùng tạo nên một tuyệt phẩm. Hai đoạn Chorus (điệp khúc) được đặt xen kẽ vào giữa 3 đoạn Verse, đều bắt đầu bằng câu: “5 năm rồi không gặp - 5 năm rồi đi biệ t- 5 năm rồi không gặp” đúng theo nguyên bản bài thơ. Sự lặp đi lặp lại ấy như xoáy sâu thêm nỗi khắc khoải của tác giả và cả mỗi chúng ta khi đọc bài thơ hay nghe bài hát.

 

Khi tôi viết những dòng này cũng là lúc bên tai tôi tiếng hát Vũ Khanh từ dĩa CD nhấn nhá đầy tâm trạng:

 

 “Ngồi bâng khuâng nhớ biển.

Bên bãi đời quạnh hiu.

Anh mang hồn thủy thủ.

Cùng năm tháng phiêu du”

 

Các hợp âm La thứ- Fa trưởng- Mi 7- Son 7, rồi trở về gam chủ La thứ của đoạn điệp khúc:

 

“Anh một đời rong ruổi.

Em tay bế tay bồng.

Chiều hắt hiu xóm đạo.

Hồi chuông giáo đường vang”

 

Nó không lấn át âm hưởng của hợp âm trưởng chủ đạo, bao trùm toàn bài hát: Đô trưởng- Mi thứ- La thứ-Sol trưởng- trở về Đô trưởng. Nhờ vậy mà cảm giác nghe dù buồn, có thể buồn rất sâu, có thể chỉ buồn man mác, tuỳ theo cảm nhận khác nhau ở mỗi người, nhưng có lẽ đều cảm thấy nhẹ nhàng, trong sáng chứ không thê lương và ủy mị.

 

Với bài “Chuyện tình buồn”, tôi từng nghe qua 5-7 ca sĩ hát. Nhưng hay nhất và lột tả được hết cái hồn của bài hát nhất, có lẽ là giọng hát của ca sĩ hải ngoại Vũ Khanh:

 

“Năm năm rồi không gặp.

Từ khi em lấy chồng.

Bao kỹ niệm chôn kín.

Dường như đã lãng quên”

 

Tác giả đã nuốt nỗi đau vào trong cho riêng mình. Nhường chỗ cho niềm cảm thông và một tình thương sâu sắc dành cho người tình xưa. Bởi vài ba năm sau cái “ngày nhà em pháo nổ”, thì người chồng Sĩ quan không quân của cô Lê Thị Tuý qua đời, để lại người vợ trẻ với 2 đứa con thơ, “em tay bế tay bồng”.

 

Bốn câu cuối bài thơ không còn đơn thuần chỉ là tình yêu đôi lứa, mà trào dâng một tình thương đầy nhân văn, đủ làm bâng khuâng, ray rứt lòng người:

 

“Năm năm rồi trở lại.

Một màu tang ngút trời.

Thương người em năm cũ.

Thương goá phụ bên song”

 

Hình ảnh người em “góa phụ” bên song cửa không chỉ làm nao lòng tác giả, mà còn gợi lên trong mỗi chúng ta nỗi xót xa nhân thế. Đọc lại, thấy hai chữ “5 năm” trong nguyên bản bài thơ được Phạm Văn Bình nhắc đi nhắc lại tới 4 lần. Phạm Duy còn thêm một lần nữa là 5 lần, càng xoáy sâu vào nỗi da diết khôn nguôi.

 

Công tâm mà nói, bài thơ hay. Phải nói là rất hay. Thể thơ 5 chữ rất độc đáo, nhưng hẳn nhiên chưa thể gọi là tuyệt tác. Ấy mà khi được nhạc sĩ sáng tác và phổ nhạc thuộc hàng hay nhất Việt Nam là nhạc sĩ Phạm Duy, thì bài thơ được chắp cánh, được nâng lên một tầm vóc mới. Thơ-Ca đã giao hoà một cách đồng điệu đến mức lạ kỳ, tạo nên một “CHUYỆN TÌNH BUỒN” quá đẹp. Xứng đáng để người đời trong dĩ vãng, hiện tại và có lẽ cả mai sau mãi chiêm ngưỡng, nhớ về.

 

Phạm Văn Bình, ông như kẽ lữ khách lặng lẽ đi qua cõi đời, để lại dăm ba bài thơ đầy thân phận. Có hề chi, đâu cần phải nhiều. Chỉ duy nhất một “Chuyện tình buồn” thôi cũng đủ. Để mọi người ngưỡng mộ, thương mến và chẳng thể nào quên được ông, thổn thức cùng ông.


 Tôi cũng là một người con của đất Quảng Trị, sinh sau ông 26 năm, thuộc hàng con cháu, nhưng tôi xin thưa với ông rằng: Ông ơi, sau bao dâu bể thăng trầm, gian truân của cuộc đời, giờ thì ông đã có thể mĩm cười, yên tâm nhắm mắt ngủ giấc nghìn thu. Nơi quê hương Quảng Trị, rồi đây sẽ có nhiều cơn mưa Ngâu mát mẻ vổ về giấc ngủ của ông. Phạm Duy đã ra đi từ hơn 5 năm trước. Nay ông cũng theo về, để nối tiếp Thơ -Ca giao hoà nên những cung bậc mới đầy mê ly nơi tiên cảnh.

“Năm năm rồi không gặp”, với Phạm Duy và Phạm Văn Bình, giờ là ngàn năm ly biệt ... Tôi viết những dòng này như một nén hương lòng, kính cẩn nghiêng mình tri ân và tiễn đưa ông. Chiều nơi đây với chút mưa tháng 7, sao tôi nghe lòng mình thấm lạnh. Thêm một lần tôi ngồi nghe lại “Chuyện tình buồn”, chợt thấy cay cay nơi sống mũi, và “mắt nhạt nhoà mưa qua” ...

 

Kim Long - BRVT, chiều tối 30/7/2018.

PHẠM CẢNH THƯỢNG 

READ MORE - “MẮT NHẠT NHOÀ MƯA QUA ...” - Phạm Cảnh Thượng

Tuesday, September 5, 2023

BẮT ĐẦU VÀ KẾT THÚC Ở ĐÂU – Thơ Trần Mai Ngân


   


BẮT ĐẦU VÀ KẾT THÚC Ở ĐÂU
 
Mùa Thu bắt đầu và kết thúc ở đâu
Em không nhìn thấy cũng không hay biết
Em nhặt chiếc lá vàng luyến tiếc
Đi tìm anh và nói đây là bằng chứng!
 
Tháng Chín bắt đầu và ra đi như thế nào
Em mơ hồ chợt tỉnh chợt mê
Ôm tình yêu cũ trên đôi tay gầy guộc
Đi tìm anh - hỏi có còn không…
 
Bình minh bắt đầu từ con sông
Có nụ cười của chúng mình còn in trên tấm ảnh
Em nâng niu, anh vô tình
Em biết - nhưng lặng thinh…
 
Hoàng hôn tắt, ráng chiều cũng vội
Em không níu kéo làm gì
Tơ duyên mỏng nhẹ như áng mây bay đi
Phải rồi - thời gian là cơn mộng…
 
Em và anh bắt đầu từ đâu
Dấu chân sâu bên chiếc cầu dĩ vãng
Nhưng nước sông cứ trôi mãi
Không quay về - ta kết thúc rồi sao?
 
                             Trần Mai Ngân


READ MORE - BẮT ĐẦU VÀ KẾT THÚC Ở ĐÂU – Thơ Trần Mai Ngân

XUÂN HẠ THU ĐÔNG, MỘT, XUÂN QUÊ, VẬT VỜ, CÁ NƯỚC – Thơ Chu Vương Miện

 
   

 
XUÂN HẠ THU ĐÔNG
 
mai vàng mai trắng mọc trên đất
mọc lưng đôì và mọc cuối non
mai trắng tưởng lầm là mơ trắng
ở nam nhưng gốc vốn động đình
mai vàng mai trắng ngủ trong thơ
thơ đường tàu truyền mãi tận giờ?
có xuân có mai tươi thắm mãi
thiếp lan đình nét chữ hư chu
mai vàng mai trắng ngơi thơ việt
bát cơm phiếu mẫu của mai đình
ân nghĩa xưa nay tìm mỏi mắt
người về huyệt lạnh gửi mắt xanh
thời cở còn có nhị độ mai
ta cũng còn mai mai tứ thời
đông xuân thu hạ hoa trĩu lá
tiến lục huyền theo liêu trai?

 
MỘT
 
1 bông cau nở 1 bông hoa tàn
1 bầy ong đến 1 buổi chiều tan?
bóng câu qua ngõ đâu vắng tiếng đàn
ta ngồi trên nước nước chảy hò khoan
giòng trong giòng đục bèo dạt mênh mông
lơ thơ lau lách thuyền đậu trên vàm
điệu hò lạc vận dạ cổ hoài lang
em còn ở lại anh đã lên đàng
1 bông hoa muộn 1 buổi chiều hoang
 
 
XUÂN QUÊ
 
quê miềng có giải sông sâu
quê ta cũng vậy? không cầu bắc qua
xuân gần rôì lại xuân xa
tình neo 1 chỗ giống hoa móng rồng?
thà rằng chả có chả không
mà nay héo cả tấm lòng vì nhau
đành rằng 1 giải sông sâu
bơi qua cũng đặng bắc cầu mà chi?
thương nhau mấy thủa mấy thì
đông qua xuân đến luá mì lúa chiêm
ngô khoai xanh ngát nương vườn
trà tươi đồi rộng mấy miền thiết tha?
dươí kia tím đậm hoa cà
trên này sim chín chờ ta vơí mình
ngó sông sâu? ngó sao đành?
không cầu thôi cũng đứng khoanh tay buồn
xuân này xuân nữa bao xuân?
 
 
VẬT VỜ
 
đêm qua thơ thẩn bờ ao
đứng chán một lúc thụt vào trong sân
nhìn lên quay quắt vừng trăng
nửa kia ai chặt ai quăng xuống hè
gió mùa bám mãi lùm tre
ngả nghiêng ngả ngớn mưa sa mái nhà
hôm nay ngủ quá đêm qua
cũng trăng một nửa cũng ta bóng dài
trăng lên con nhện theo rồi
bỏ ta dang dở đầu hồi đầu cây
mặt ao sen sung bầy hầy
nhìn con cá lặn nhìn mây mây chuồn
nhìn trời sót lại sao hôm
nhòm theo như thể cánh chim giang hồ
song ngân một giải nông sờ
người ngô kẻ bắp mập mờ thiên nhiên
tương phùng nghiệp chướng tiền oan
vu lan tháng 7 tro tiền mã bay?
 
 
XUÂN ĐÃ SANG
 
một con chuồn chuồn hai con chuồn chuồn
hoa đào hoa mận nở ngoài hiên?
em ạ nhẹ tay cho anh thở
nạ dòng còn đôi tiếng chim quyên?
chuồn chuồn vớ vẩn một, hai con
thiên thu chưa kịp nở dưới đầm?
hoa sen hoa súng còn thiu ngủ
hái giùm chút nắng buổi xuân sang?

 
CÁ NƯỚC
 
chim bay trên trời cá bơi dươí nước?
kiếp người kẻ xuôi người ngược
kẻ nam ngươì bắc? kẻ làm quan
làm dân kẻ ăn cướp làm giặc?
kẻ buôn dân tộc? người yêu tổ quốc?
có người ăn bắp nướng bắp rang
có người ăn bắp luộc?
đi bao nhiêu năm dừng đây
nghe bài lời chim việt?
về đây khi gió mùa thơm ngát
văn thì cao nhạc thì tuyệt?
mà cuộc đời chết ngắt?
nhà ổ chột? chả có gì ngoài
“nhà tôi bên chiếc cầu soi nước?”
ta bây giờ cũng già
nhìnn hoài không nhìn ra tổ quốc?
đôi khi muốn có 1quê hương
1 mảnh vườn đôi ba cây thược dược
kiếp nào? hay 1 mơi ta chết?
thôi gió muà chim giang hồ
tung cánh trắng?
 
chuvươngmiện

READ MORE - XUÂN HẠ THU ĐÔNG, MỘT, XUÂN QUÊ, VẬT VỜ, CÁ NƯỚC – Thơ Chu Vương Miện

THỬ ĐOÁN ĐỌC VĂN BIA BẰNG HÁN VĂN TÌM THẤY Ở TỈNH LỴ QUẢNG TRỊ - Hoàng Đằng




Tôi thấy trên trang facebook của Nguyễn Duy Ái có thông tin:

“Những năm làm nghề xây dựng trên địa bàn thị xã Quảng Trị, tôi lại cơ duyên được gặp khá nhiều ngôi mộ của liệt sĩ, tử sĩ, quan lại, nhân dân quá cố... Trong đó có ngôi mộ của Ngài Hàn Lâm Viện Thị độc, bia dựng năm 1935.
Tôi đã gửi thư về địa phương, qua nhiều kênh, ở Quảng Nam đã có thư xác nhận là Tổ Tiên của họ, nhưng sau đó thấy không liên hệ tiếp.
Các Liệt Sĩ thì phối hợp với Chính Quyền Địa Phương đưa lên Nghĩa Trang thị xã Quảng Trị.
Có hai tử sĩ thì người nhà đã xác nhận đưa về quê.
Hằng năm, trước mùa Vu Lan, ngày 10/7, gia đình tôi lên viếng mộ, vệ sinh và tổ chức hiệp kỵ cho các vong linh.
Phật dạy: Chúng sanh là cha mẹ của nhau, nên hữu duyên nầy chắc là những người yêu thương trong quá khứ.
Nhân mùa Vu Lan, chúng tôi luôn khấn nguyện cầu mong các vong linh sớm tái sanh về Miền Tịnh Quốc”.
 
Dưới những dòng thông tin, có ảnh tấm bia mộ “Ngài Hàn Lâm Viện Thị Độc” và ảnh chụp phần phiên âm của ai đó (có lẽ do ông Nguyễn Duy Ái cây nhờ) từ chữ Hán ra âm Hán Việt viết bằng chữ Quốc Ngữ, xin gọi là bản phiên âm văn bia 1.
 
I- BẢN PHIÊN ÂM VĂN BIA 1

 
“CỐ PHU NGHỆ AN TỈNH NGHI LỘC HUYỆN VẠN TANG XÃ HÀN LÂM VIỆN THỊ ĐỘC

SUNG ĐIỀN KHÂM KHOA HOÀNH NHI TƯ HOÀNG SANH PHỦ QUÂN CHI MỘ
 
CHÁNH PHỐI THẤT PHẨM NHU NHÂM QUẢNG NAM TỈNH PHÚ BÌNH XÃ HƯƠNG XUÂN BÁI CHI

KHẢI ĐỊNH ẤT HỢI NIÊN NHUẬN TỨ NGUYỆT NHỊ THẬP LỤC NHẬT (1935).
 
Phần phiên âm tối nghĩa vì (1) người viết phiên âm nghe người đọc âm Hán Việt các chữ Hán không rõ nên viết sai nhiều chữ và (2) bản văn bia bằng chữ Hán khắc không rõ, lại lâu ngày bị lu mờ, phải vừa đọc vừa đoán.
 
II- BẢN PHIÊN ÂM VÀ DỊCH NGHĨA VĂN BIA 2

Trên facebook, BS. Nguyễn Văn Nguyên đã đọc và phiên âm lại, kèm phần dịch nghĩa:
 
“ĐẠI NAM CỐ PHU NGHỆ AN TỈNH, NGHI LỘC HUYỆN, VẠN TRANG XÃ, HÀN LÂM VIỆN KIỂM THẢO.

NGUYÊN QUẢNG NAM TỈNH TẤN THI HOÀNG TRÚC NHỊ TỰ HÀN SINH, PHỦ QUÂN CHI MỘ.
 
CHÁNH PHỐI THẤT PHẨM LỤC NHÂN QUẢNG NAM TỈNH, PHÚ BÌNH XÃ, PHAN THỊ XUÂN BÁI CHÍ

KHẢI ĐỊNH ẤT SỬU NIÊN, NHUẬN TỨ NGUYỆT, NHỊ THẬP LỤC NHẬT
 
Tạm dịch như sau:
 
“Đại Nam (tên nước ta), chồng quá vãng, tỉnh Nghệ An, huyện Nghi Lộc, xã Vạn Trang, là Hàn Lâm Viện Kiểm Thảo
Nguyên quán Quảng Nam, Tấn Thi Hoàng Trúc Nhị, tự là Hàn Sinh, là mộ của phủ quân. 

Chánh thất phẩm Lục Nhân, tỉnh Quảng Nam, xã Phú Bình tên Phan Thị Xuân bái ghi.
Năm Ất Sửu triều vua Khải Định, tháng tư nhuận, ngày hai mươi sáu.”
 
BS. Nguyễn Văn Nguyên đã tìm thấy một số điều xét ra không hợp lý trong bản phiên âm trước:
 
1/ Thiếu chữ trên bia.
2/ Chức Kiểm Thảo Quan của Hàn Lâm Viện triều Nguyễn ngang hàng Thất phẩm. Thị Độc ngang hàng tứ phẩm.
3/ Người dưới mộ tên là Hoàng Trúc Nhị, Tấn Thi là làm bài được tấu cho vua phong hàm, không phải thi cử (hay còn gọi là ngự chế). Ông có tên tự là Hàn Sinh.
4/ Năm Ất Sửu 1925 là năm nhuận, Ất Hợi 1935 không nhuận.
5/ Vua Khải Định băng hà 1925. Niên hiệu Khải Định phải là khi vua còn tại vị. Năm 1935 là vua Bảo Đại.”
Phần phiên âm và dịch nghĩa của BS. Nguyễn Văn Nguyên tương đối đã soi rõ nhiều thông tin trong văn bia; tuy nhiên, chưa phải là tất cả.
 
III- BẢN PHIÊN ÂM VÀ DỊCH NGHĨA VĂN BIA 3
 
Vì vậy, tôi muốn góp chuyện.
Qua cô bạn đồng môn, đồng khóa của tôi – Võ Hồng Phi - ở Viện Hán Học Huế ngày xưa, tôi nhờ ông Đỗ Chiêu Đức, người mà đọc trên mạng tôi biết có trình độ Hán Văn cao, đọc giùm.

Và đây là ý kiến của ông Đỗ Chiêu Đức:
“Bia đá từ năm Ất Mão 乙卯 (1915) đời vua Khải Định, hơn một trăm năm rồi, chỗ bị mẻ sứt. lại được tô bù bằng xi-măng, nên ... Em (từ ông Đức xưng với cô bạn đồng môn đồng khóa của tôi ở Viện Hán Học Huế 1960 – 1965) đọc tới đâu thì tính tới đó thôi nghen !
Em sẽ đọc từ TRÊN xuống DƯỚI và từ hàng phía TAY PHẢI trước, rồi sang các hàng TAY TRÁI. Tất cả gồm có 4 hàng như dưới đây:
 
1. 大南故夫,乂安省,宜祿縣,萬莊社,翰林院檢討。
Đại Nam cố phu, Nghệ An Tỉnh, Nghi Lộc huyện, Vạn Trang xã, Hàn Lâm Viện Kiểm Thảo.
Tạm dịch:
Chồng cũ (đã chết), ở tỉnh Nghệ An, huyện Nghi Lộc, Xã Vạn Trang, (chức vụ) là Kiễm Thảo của Viện Hàn Lâm.
 
2. x  x  廣南省,邏譯,黃行二字,語生,府君之墓。
x  x  Quảng Nam tỉnh, La dịch, Huỳnh Hành nhị tự, Ngữ Sinh, Phủ Quân chi mộ.
 
Tạm dịch:

Tỉnh Quảng Nam, LA DỊCH không hiểu là nghĩa gì, Hai chữ Huỳnh Hành,                    
NGỮ SINH không hiểu nghĩa, mộ của Người tên Phủ Quân

3. 正記六品录人,廣南省,富平社,潘氏春輝誌。
Chính ký Lục phẩm lục nhân, Quảng Nam tỉnh, Phú Bình xã, Phan Thị Xuân Huy chí.

Tạm dịch:

Người ghi lại chính là người có hàm Lục Phẩm, ở tỉnh Quảng nam, Xã Phú Bình,
Phan Thị Xuân Huy lập mộ chí.
 
4. 啟定, 乙卯年, 閏四月, 二十六日。
Khải Định, Ất Mão niên, Nhuận Tứ Nguyệt, Nhị thập lục nhật.

Tạm dịch:
Đời vua Khải Định, năm Ất Mão (1915), ngày 26, Tháng Tư nhuần.

Em chỉ đọc được có vậy thôi. Mong Chị thông cảm!
                                                        Nay kính,
                                                    Thầy Đồ Dõm
                                                   Đỗ Chiêu Đức”
 
Tôi xin cảm ơn ông Đỗ Chiêu Đức đã chịu khó, bỏ thì giờ giúp tôi.

 V- BẢN PHIÊN ÂM VÀ DỊCH NGHĨA VĂN BIA 4

Vậy là đã có 3 vị phiên âm văn bia. Giờ, việc tìm hiểu ý của văn bia trên xin được xem như một buổi hội luận.
Sau khi đọc ý kiến của các vị thức giả, tôi cũng muốn tự phiên âm và dịch nghĩa – lẽ dĩ nhiên, vừa nhận dạng mặt chữ vừa đoán vì chữ không còn rõ ràng.

Và đây là bản phiên âm của tôi:
 
ĐẠI NAM CỐ PHU NGHỆ AN TỈNH NGHI LỘC HUYỆN VẠN TRANG XÃ HÀN LÂM VIỆN KIỂM THẢO

NGUYÊN QUẢNG NAM TỈNH THÔNG DỊCH HOÀNG TRÚC NHỊ TỰ NGỮ SINH PHỦ QUÂN CHI MỘ
 
CHÁNH PHỐI THẤT PHẨM NHU NHÂN (xem chú thích 1 ở dưới) QUẢNG NAM TỈNH PHÚ BÌNH XÃ PHAN THỊ XUÂN BÁI CHÍ

KHẢI ĐỊNH ẤT SỬU NIÊN NHUẬN TỨ NGUYỆT NHỊ THẬP LỤC NHẬT

Dịch nghĩa:

Mộ của chồng đã mất tên HOÀNG TRÚC NHỊ (xem chú thích 2 ở dưới) tự NGỮ SINH (người học về ngôn ngữ), chức Hàn Lâm Viện Kiểm Thảo, người xã Vạn Trang, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, nước Đại Nam (tên nước Việt Nam kể từ triều Minh Mạng), nguyên làm thông dịch ở tỉnh Quảng Nam.
 
Bà Phan thị Xuân, người xã Phú Bình tỉnh Quảng Nam, vợ chính của quan Thất Phẩm lạy ghi.
Ngày 26/Tư nhuận/năm Ất Sửu (xem chú thích 3 ở dưới) đời vua Khải Định (16/6/1925)
 
V- TẠI SAO CÓ NGÔI MỘ NÀY Ở TỈNH LỴ QUẢNG TRỊ

Ông Nguyễn Duy Ái kể trường hợp phát hiện ngôi mộ có tấm bia:

 “… Khi em thi công trường Thanh niên Dân Tộc (hiện nay, trước mặt trường Trung Học Phổ Thông thị xã, trước đây là trường Nguyễn Hoàng) thì gặp 3 cái, tức là khu vực sau bến xe Nguyễn Hoàng ngày xưa đó anh. Rồi tất cả em quy về nghĩa địa thị xã Quảng Trị, khu vực em đặt mộ nhìn ra hồ Tích Tường”.

Mộ ngài Hàn Lâm Viện Kiểm Thảo tìm thấy ở tỉnh lỵ Quảng Trị, nhưng trong văn bia không có thông tin Ngài giữ chức vụ gì trong chính quyền tỉnh Quảng Trị mà chỉ nói Ngài nguyên làm thông dịch ở tỉnh Quảng Nam.

Tôi đoán khi học hành xong, còn rất trẻ, từ quê tỉnh Nghệ An, Ngài được bổ nhiệm vào làm việc tại tỉnh Quảng Nam.
Ở tỉnh Quảng Nam, Ngài lấy vợ là bà Phan thị Xuân người xã Phú Bình huyện Quế Sơn.
Hai vợ chồng đem nhau từ Quảng Nam về thăm quê Nghệ An. Trên đường, đến Quảng Trị, có thể Ngài bị tai nạn gì đó hay bệnh đau đột ngột và qua đời. Đường sá xa xôi, bà Phan thị Xuân phải chôn chồng, lập mộ, dựng bia ở tỉnh lỵ Quảng Trị.

Nguyễn Duy Ái nói là đã thông báo vô Quảng Nam, có người nhận là thân nhân của Ngài, nhưng sau đó, họ cắt liên lạc.
Như thế, người nhận thân nhân ấy không phải thuộc trực hệ của Ngài, nói rõ ra không phải con cháu của Ngài; biết đâu Ngài và bà Phan thị Xuân chưa có con!
 
V- THÔNG ĐIỆP NHẮN GỞI
 
Qua đọc mấy chục chữ Hán trên văn bia, mỗi người đọc, đoán mỗi khác.
Việc đọc và hiểu Hán Văn không phải dễ.
Chuyện chồng của Trưng Trắc có tên Thi Sách hay Thi hiện nay đang rối; THI SÁCH THÊ TRƯNG TRẮC, xưa hiểu: Vợ Thi Sách là Trưng Trắc, nay có nhà sử học hiểu: Thi lấy vợ là Trưng Trắc.

Chuyện tờ di chúc chỉ mấy chục chữ mà ý hiểu 2 cách khác nhau hoàn toàn:
DƯ THẤT THẬP TUẾ SINH ĐẮC NHẤT NAM TỬ NHI PHI NGÔ TỬ DÃ KỲ GIA TÀI GIAO DỮ TẾ NGOẠI NHÂN BẤT ĐẮC XÂM TRANH

Người viết di chúc muốn quan xử việc sau này hiểu là:

Ta bảy mươi tuổi sinh được một con trai mà PHI là con của ta; gia tài của ta giao cho nó; rể là người ngoài không được vào giành; chàng rể của người viết di chúc thì hiểu: Ta bảy mươi tuổi, sinh được một con trai nhưng không phải con ta; gia tài của ta giao cho rể; người ngoài không được vào giành.
 
Ấy là chưa nói đến chữ trên bia, trên trụ các công trình thờ tự, chữ bị sứt mẻ, khắc sai do trình độ của người khắc, trong các tài liệu qua thời gian chữ phai mờ hay bị ẩm ướt, mối mọt rỉa ráy, bào mòn …
 
Tôi thấy hiện nay trong cộng đồng không còn mấy người biết chữ Hán, hiểu Hán Văn rành rẽ nữa.
Vì vậy, những tài liệu gì bằng Hán Văn mà tiền nhân để lại thì xem như chuyện đã rồi, còn hiện tại và tương lai, có gì thì nên viết bằng chữ Quốc Ngữ.
Ấy là thông điệp tôi muốn nhắn gởi qua bài viết này.
 
                               01/9/2023 (17/Bảy/Quý Mão)
                                            Hoàng Đằng
* 
PHẦN CHÚ THÍCH:
 
(1) Thụy hàm dành cho các phu nhân
Năm Minh Mạng 7 (1826), vua Minh Mạng ban lệnh chuẩn định việc phong ân sung thụy hàm cho phu nhân (nếu chỉ một vợ) hoặc các phu nhân (nếu nhiều vợ) của các quan viên. Thụy hàm này không phân biệt trật chánh tòng hoặc ban văn võ, được chuẩn định như sau:

Vợ quan Nhất phẩm: Phu nhân (夫人);
Vợ quan Nhị phẩm: Phu nhân (夫人), sau đổi Đoan nhân (端人)
Vợ quan Tam phẩm: Thục nhân (淑人);
Vợ quan Tứ phẩm: Cung nhân (恭人);
Vợ quan Ngũ phẩm: Nghi nhân (宜人);
Vợ quan Lục phẩm: An nhân (安人);
VỢ QUAN THẤT PHẨM: AN NHÂN (安人), sau đổi NHU NHÂN (柔人)
Vợ quan Bát phẩm: Nhụ nhân (孺人), sau đổi Cẩn nhân (謹人)
Vợ quan Cửu phẩm: Nhụ nhân (孺人)
                                              
(Thông tin do Bảo Lâm cung cấp)

 (2) Ngoài tên Hoàng Trúc Nhị do BS. Nguyễn Văn Nguyên đoán dịch, Ngài trong văn bia cũng có thể là tên Hoàng Trúc hay Hoàng Hành vì chữ TRÚC 竹  và chữ HÀNH  行  gần giống nhau và cụm từ HOÀNG TRÚC NHỊ TỰ NGỮ SINH có thể hiểu là Hoàng Trúc có 2 chữ  tự 2 là Ngữ Sinh.
(3) Phải là năm Ất Sửu – 1925 vì năm này có tháng Tư nhuận (theo LỊCH THẾ KỶ XX, nhà xuất bản Văn Hóa) và là năm cuối niên hiệu Khải Định (1916 – 1925).

READ MORE - THỬ ĐOÁN ĐỌC VĂN BIA BẰNG HÁN VĂN TÌM THẤY Ở TỈNH LỴ QUẢNG TRỊ - Hoàng Đằng

Monday, September 4, 2023

NGỤ NGÔN Ê-ĐỐP (167-170) - Ngọc Châu phỏng dịch sang song thất lục bát


 

167. The Gnat and the Bull


A Gnat settled on the horn of a Bull and sat there a long time. Just as he was about to fly off, he made a buzzing noise, and of the Bull if he would like him to go. The Bull replied, "I did not know you had come, and I shall not miss you when you go away."

Some men are of more consequence in their own eyes than in the eyes of their neighbors.


167. Muỗi mắt và Bò mộng


Trên sừng bò có con Muỗi mắt

Đậu lâu rồi, lặng ngắt, vênh vang

Trước khi bay đi, cậu chàng

vo ve rối rít hỏi han anh Bò


“Anh có muốn tự do thoải mái

Ta sẽ bay sang bãi bên kia…”

Bò khẽ đụng tai để nghe

“Lúc ngươi đến ta chẳng hề biết chi


cũng vậy thôi, lúc ngươi đi…”

Mới hay lắm kẻ tự suy rằng mình

to kềnh càng như ngôi đình

Dưới mắt hàng xóm – cái đinh ghim cùn!



168. The Jackdaw and the Fox

A half-famished seated himself on a fig tree, which had produced some fruit entirely out of season, and waited in the hope that the figs would ripen. A Fox seeing him sitting so long and learning the reason of his doing so, said to him, "You are indeed, sir, sadly deceiving yourself; you are indulging hope strong enough to you, but which will never reward you with enjoyment."

168. Quạ xám và con Cáo


Quạ xám kia bụng không, đói rã

Đậu chờ trên cành vả cuối mùa

Còn mấy quả xanh lưa thưa

Tin rằng chắc chỉ sớm trưa được xài


Cáo thấy quạ ngồi hoài một chỗ

Mới hỏi han biết rõ sự tình

Cười rằng “ngài tự lừa mình

Nuông chiều hi vọng linh tinh hão huyền


Chắp tay kính ngài ngồi thiền

Đến khi quả chín rồi xem thế nào.”


169. The Eagle and the Fox

An Eagle and a Fox formed an intimate friendship and decided to live near each other. The Eagle built her nest in the branches of a tall tree, while the Fox crept into the underwood and there produced her young.

Not long after they had agreed upon this plan, the Eagle, being in want of provision for her young ones, swooped down while the Fox was out, seized upon one of the little cubs, and feasted herself and her brood

The Fox on her return, discovered what had happened, but was less grieved for the death of her young than for her inability to avenge them.

A just retribution, however, quickly fell upon the Eagle. While hovering near an altar, on which some villagers were sacrificing a goat, she suddenly seized a piece of the flesh, and carried it, along with a burning cinder, to her nest. A strong breeze soon fanned the spark into a flame, and the eaglets, as yet unfledged and helpless, were roasted in their nest and dropped down dead at the bottom of the tree. There, in the sight of the Eagle, the Fox gobbled them up.

169. Cáo với Đại bàng


Đại Bàng thành bạn thân với Cáo

Thích gần nhau đàm đạo chuyện trò

Nên chim chọn cành cây to

là nơi làm tổ. Cáo mò gốc cây


cũng tìm được chỗ hay làm ổ

và sinh ra mấy chú cáo con.

Bạn bè một tuần chưa tròn

Thì Đại bàng gặp phải hôm đói mồi.


Không có gì để nuôi lũ nhỏ

Thấy Cáo đang chạy đó chạy đây

Đại bàng lao xuống cắp ngay

Một con cáo nhỏ lên bày tiệc trưa


Lúc về ổ Cáo thừa hiểu chuyện

Rất đau lòng thương tiếc đứa con

Nhưng mà còn uất ức hơn

Vì không có cách trả hờn “bạn thân”


Nhưng quả báo luôn gần kẻ ác

Khi Đại bàng kiếm chác thịt dê

Nơi am thờ hiến tế về

đùi dê đang đốt máu mê than vùi


Gió bừng lên lửa ngời âm ỉ

Đốt cháy luôn tổ quí Đại bàng

Chim non vừa mới ra ràng

Thành chim quay rơi cạnh hang Cáo già


Không thủ ác Cáo ta cứ chén

Kệ phía trên chứng kiến Đại bàng

Mới hay thân hữu, họ hàng

Hại nhau thì họa tìm đàng đến nhanh.


170. The Stag At the Pool

A Stag overpowered by heat came to a spring to drink. Seeing his own shadow reflected in the water, he greatly admired the size and variety of his horns, but felt angry with himself for having such slender and weak feet.

While he was thus contemplating himself, a Lion appeared at the pool and crouched to spring upon him. The Stag immediately took to flight, and exerting his utmost speed, as long as the plain was smooth and open kept himself easily at a safe distance from the Lion. But entering a wood he became entangled by his horns, and the Lion quickly came up to him and caught him. When too late, he thus reproached himself: "Woe is me! How I have deceived myself! These feet which would have saved me I despised, and I gloried in these antlers which have proved my destruction."

What is most truly valuable is often underrated.

170.
Chú hươu bên bờ hồ


Chàng Huơu lúc ngày hè nóng nực

Ra suối tu ừng ực nước trong

Rồi ngắm bóng in dưới dòng

Rất tự hào bộ sừng cong, gạc nhiều.


Nhưng cục tức đến theo ngay đó

Với bốn chân bé nhỏ, mảnh mai

Trong khi đang tự chê bai

Chợt thấy Sư tử một hai định vồ


Phốc một cái Hươu phô bước nhảy

Nỗ lực cao phóng chạy vèo vèo

Cỏ mềm, trảng rộng chân đèo

Sư tử tụt lại khó theo được cùng


Khi vào đến khu rừng rậm rạp

Gạc với sừng ngoắc chạm cành cây

Hươu ta lúng túng, loay hoay

Sư liền nhảy đến vồ ngay cậu chàng


Thật đã quá muộn màng lúc đó

Hươu thở than “khốn khổ thân tôi

Gạc sừng đã khiến mình toi

Chân gày cứu mạng lại coi thường hoài!”


Chuyện này nên nhớ hỡi ai

Chân giá trị nằm bên ngoài đẹp xinh.


READ MORE - NGỤ NGÔN Ê-ĐỐP (167-170) - Ngọc Châu phỏng dịch sang song thất lục bát