Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, July 19, 2021

QUẢNG TRỊ ƠI, ĐẤT SAO ĐẤT LẠ ĐẤT LÙNG - Lê Quang Thái

 

Hình từ: http://galaxylands.com.vn/


QUẢNG TRỊ ƠI, ĐẤT SAO ĐẤT LẠ ĐẤT LÙNG

Lê Quang Thái


Chính sử ghi chép rạch ròi nói rằng: Ô Châu được đổi thành Thuận Châu và Châu Rí là Hóa Châu. Tuy vậy địa danh Ô Châu cũng như Hóa Châu vẫn được dùng để chỉ một vùng đất mới như lời vịnh về bức dư đồ của vua Lê Thánh Tông.


Đồ bản “mười ba xứ” mở coi

Hóa Châu xưa thuộc nước phương ngoài


Viết về lịch sử núi sông, thành trì, phong tục, sản vật, nhân vật của khúc ruột miền Trung, từ đèo Ngang trở vào cho đến tận Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Tác giả Vô Danh Thị đã khập khửng trong việc đặt tên cho đứa con tinh thần của mình. Năm Ất Mão 1555, niên hiệu Cảnh Lịch đời Mạc Phúc Nguyên, Tiến sĩ Dương Văn An đã sửa chữa, hiệu đính và tập thành để đặt cho sách cái tên Ô Châu Cận Lục.


Phong thổ tạo nên tính khí con người. Tiêm bút lông để nghĩ ngợi trầm tư viết lời đề tựa cho sách mới, Dương Văn An đã hạ bút cẩn trọng phê rằng: “Từ khi Đặng Tất nổi tiếng là có tài làm tướng, Dục Tài do chân Khoa bảng xuất hiện thì nhân tài ở phương thổ xứ ta tiến bộ một cách rất mau, có thể ngang hàng với Thượng quốc (là nước Tàu)” (Bùi Lương dịch)


Quảng Trị là đất Ô Châu, câu nói đã trở thành quen thuộc như bài ca:


Quê hương một thưở huy hoàng

Phồn hoa phố Sãi rộn ràng ngựa xe

Bến sông san sát thuyền bè

Bốn phương khách bạn đổ về Ô Châu

Tiếng đàn, tiếng sáo đêm thâu

Điện nam khách nổi trống chầu vang vang


Một thời cảnh của Ô Châu là thế đó, chớ không phải là nơi đồng chua nước mặn, là đất cày lên sỏi đá. Phố Sãi không phải là chợ Sãi mà là tiền thân của chợ Thạch Hãn, mà người dân quen gọi là chợ tỉnh.


Sau nhiểu lần cải cách hành chánh, phân  ranh giới phủ huyện, làng xã đổi tên địa danh vì kỵ húy, nhưng Quảng Trị vẫn còn những phương danh được nhắc nhở như Địa Linh (tức Do Linh), Anh Kiệt (tức Anh Tuấn), Linh Sơn, Tiên Sơn, Vĩnh Định, Bồ Bản, Diên Sanh, Vĩnh Tú, Trường Sanh, Di luân, Cam Lộ, Đạo Đầu, Thi Ông, Diên Khánh, Quảng Điền, Quảng Lượng…


Bên cạnh đó vẫn còn những địa danh rất chi là dân dã, chẳng hạn như La Vang, Khe Mây, Khe Nước Chè, Cồn Tiên, Ba Dốc, cầu Bầu Vịt, Bến Đá Đầu Đông, Đò Xưởng, Đá Nổi, phường sắn, động Ba Màu, Cồn Cờ, Cảnh vật tuy tiêu sơ nhưng gợi nhiều cảm xúc vời vợi về một thời:


Nước Cồn Cờ hòa trong gió mát

Bãi Cồn Cờ nhỏ cát càng xinh


Cồn Cờ ở trước Dinh Cát cạnh con rồng xanh Thạch Hãn. Chính đích thi nơi đây ngày xưa các quan làm lễ hội thề đầu xuân mới với quyết tâm lo cho dân sống no đủ, sống hạnh phúc, tai qua nạn khỏi, giữ trọn đạo thống.


Gặp năm hạn hán mất mùa thì quan chức địa phương, dân làng lo cầu đảo cầu mưa với thần sông núi. Cầu ở đâu? Sách Đại Nam nhất thống chí, tỉnh Quảng Trị cho biết cầu ở trên Trảo Trảo phu nhân ở làng Ái Tử, đền Quê Nương ở động Tam Thanh ở phủ Cam Lộ, đền Cam Lộ ở phường Tân An, đền Thúy Tộc Phu Nhân ở làng Hà Lỗ huyện Hải Lăng.


Riêng có chuyện này mới lạ, chưa tìm ra cách giải thích thỏa đáng được. Đó là ở cùng sách đã dẫn cho biết rằng gặp năm đại hạn, dân làng Trường Sanh, huyện Hải Lăng đến cầu mưa ở cầu Ồ Ồ. Nơi đây có một cái vực sâu, hễ “Dìm con mèo xuống vực thì trời mưa”.


Nếu bảo rằng đó là chuyện huyền hoặc thì sao chính sử đời vua Duy Tân còn ghi rõ là “tục ấy đến nay vẫn còn làm như thế”.


Cả làng Trung Đơn thuộc xã Hải Thành, huyện Hải Lăng có chuyện lạ chính tôi đã nhiều lần chứng kiến. Hễ một khi bất kì ai đó nấu xôi, nấu bánh chưng, bánh tét mà không kiểm soát kỹ để cho một người trong họ Hồ ngó vào thì dẫu cho có nấu hết củi, hết cả đống rơm mà lễ vật vẫn không chín đều. Nếu kịp thời phát hiện thì chỉ có cách là đi tìm một người họ Hồ khác đến dùng đũa “guậy” vào nồi xôi hoặc thùng bánh thì mới chín.


Về mặt ngôn ngữ thì ở Quảng Trị có nhiều từ nghe lạ lạ, làng Thượng Xá gọi đi bừa là “đi nôm”, làng Trung Đơn gọi cơm là “phạn” vì do kỵ húy, làng Phú Hải ở huyện Hải Lăng là cái gốc đào tạo thầy pháp, cho đến nỗi người Quảng Trị gọi thầy phù thủy là thầy Phú Hải. Đặc biệt, dân làng này có tiếng nói chịu ảnh hưởng rơi động của ngôn ngữ Chàm.


Ở chốn làng quê xuất hiện, có thể nói thẳng là “tưởng chừng như quê mùa” nhưng có ngờ đâu lại sản sinh ra những nhân tài. Có học trò nhà nghèo đến nổi chỉ quen ăn khoai, ăn độn mà sao dạ cứ sáng và thông. Lúc còn bạch diện thư sinh, cảnh nhà nghèo đến độ tua xơ mướp như người học trò ấy vẫn nuôi chí học, vì phải lo phụ việc đồng áng, cho nên có  một hôm trò đi học trễ. Thầy quở rồi buộc anh ta phải đối cho được câu thầy xướng mới được vào lớp:


Sáng khoai, trưa khoai, tối cũng khoai


Trò liền nhanh trí bẩm xin thầy cho đối ngay tươi rằng:


Hương đậu, Hội đậu, Đình cũng đậu


Người học trò này chính đích thị sau này là Hoàng Giáp Nguyễn Văn Chương, sau đổi tên là Nguyễn Lập, người làng Vĩnh Huề, huyện Đăng Xương (nay là Triệu Phong), tỉnh Quảng Trị. Ông Đỗ Đình Nguyên khoa giáp thìn, năm Thiệu Thị thứ tư 1844, về sau, ông làm quan đền chức Án Sát tỉnh Hải Dương.


Tôi còn nhớ anh Trần Cảnh Hảo, người phủ Vĩnh Linh, lúc còn niên thiếu sống cảnh khổ cực phải đi bán hương ở chợ rẩy lấy lời cho bố mẹ, lo việc ăn học cho con. Vua Duy Tân có ra câu khá hóc hiểm về chữ nghĩa rằng:


Không vô trong nội nhớ hoài


Ông đối lại:


Ở đình bán hương thơm mãi


Sau này ông theo con đường tân học làm giáo sư trường Sư phạm, được nhà giàu ở tỉnh Quảng Trị gả con gái đẹp cho. Ông có công sưu tập, nghiên cứu, viết sách về luật hỏi ngã trong tiếng Việt.


Là một trí thức uyên bác thế mà ra ứng cử dân biểu năm 1956 bị trượt do “sức ép” phải dồn phiếu cho ông “trưởng giả” đọc văn không trôi và chẳng biết ngắt câu sao cho có nghĩa. Người Quảng Trị những “tiếc” cho ông là đã đem công mà chọi gà. Có thể nói hiếu học là “cái vốn” của dân Quảng Trị. Xưa kia đi học thi đỗ tú tài Hán học thì đã mừng, có thể tổ chức lễ khao vọng bằng cách vật heo để làm lễ tạ ơn trên đãi đằng làng nước. Thế mà oái oăm thay ông Hoàng Hữu Đàn đi thi hương đỗ tú tài thì lại bị các bậc khoa mục tôn trưởng của họ Hoàng làng Bích Khê, tổng Bích La, phủ Triệu Phong hạch tội bằng cách căng nọc đánh cảnh cáo trước sân nhà thờ. Tội gì vậy? Chỉ vì những “học trò thi” thuộc dòng tộc này liên tiếp những ba bốn đời thi hương đều đỗ cử nhân.


Cuối đời ông đi tu và trở thành Thượng tọa, được cử giữ chức Trú Trì chùa Hải Đức – Huế. Cố chờ đợi thầy về nhận chức mà những vắng biệt tăm hơi đến nỗi người Hoa ở Chợ Lớn phải kính phục “xin bái” về tài phóng bút long của thầy. Thầy đã viết nét chữ lớn về một bảng hiệu tên trường học của người Hoa ở chợ Lớn (nay thuộc Sài Gòn) một cách xuất thần.


Đất Ô Châu có ngạch phát sinh các bậc danh tặng: “Quảng Trị - Trung kiên; Thừa Thiên – Dạ Lê”. Chỉ tính riêng họ Nguyễn làng Trung Kiên xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong đã có 5 vị hòa thượng. Riêng Hòa Thượng Thích Nhất Định có tên đời là Nguyễn Nhất Định đã được ghi tiểu sử vắn tắt vào sách Đại Nam nhất thống chí, tỉnh Quảng Trị, vì ngài là bậc cao tăng và rất có hiếu với mẹ già.


Hòa Thượng Nhất Định đã thân hành đi chợ mua cá về phụng dưỡng mẹ già, Đức Hiếu của ngài đến tận cung vua cũng phải nể vì. Làng Ái Tử có ít nhất hai vị Hòa Thượng. Cả hai vị đã giữ chức Tăng Thống, kế tục sau Táng Thống thích Tịnh Khiết mất năm 1973.


Ngoài ra các làng Đạo Đầu, Bích khê, Phương lang, Cu hoan, Ba Khê, Diên kinh… có rất nhiều vị xuất gia đầu phật, có nhiều người đã đỗ đạt cao trong nước và nước ngoài.


Còn về Công giáo thì chẳng mấy thua kém gì. Đất Quảng Trị có đến 3 giám mục: Lê Hữu Từ, Nguyễn Văn Hiền, Tổng giám mục Nguyễn Như Thể. Ngoài ra ngạch đất Ô Châu cũng đã sản sinh ra những linh mục làm sáng đạo đẹp đời. Các vị đều xuất thân từ những làng quê như Thạch Hãn, Trí Bưu, Bố Liễu, Đại Lộc, Như Lý, Văn Quỷ, Đồng Giám, Dương Lệ, Dương Lộc, Di Luân - (Di Loan)…


Sống trên đời ai cũng có lí tưởng cao đẹp, sống theo đạo làm người. Người có đạo chú trọng đến phần hồn. Trên đất thị xã Quảng Trị có chuyện chết rồi mà sống lại, đội mồ mà tìm được đường về nhà giữa đêm khuya lạnh ngắt và thê lương mới lạ đời. Con người ấy chính là ông thợ Lợ, làm nghề thợ guốc bán ở chợ tỉnh tức chợ Thạch Hãn, nhà ông ở tại xóm Tiêu, làng Cổ Thành nay là ngoại vi cách Thành Cổ chừng hơn một trăm cây số theo đường đi.


Năm 1872 tại ba tỉnh Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Bình xảy ra bệnh dịch tả hoành hành ác liệt, khiến cho toàn quyền Đông Dương ra lệnh nghiêm ngặt, cấm hoặc hoãn những buổi hội họp, đình đám. Đại hội La Vang trúng vào năm ấy cũng bị hoãn. Ai chết là phải tức tốc chôn liền, chôn ngay.


Ông thợ Lợ chẳng may bị bệnh nặng rồi chết về đêm, người nhà lo tẩm liệm sơ sài rồi nhờ bà con đốt đuốc đi chôn ở bãi Nhan Biều. Thưở ấy, có một chặng sông Thạch Hãn bị cát bồi cạn ở phía bãi cát trước bờ chùa phía nam. Người ta có thể lội qua, về từ bờ này sang bờ kia. Táng ông Lợ xong, người nhà ra về. Ai ngờ gần 4 giờ sáng ông Lợ sống lại vì lý do hồi hương sinh mạch, bung chiếu, đội mồ đi tìm được đường đi về nhà gọi cửa, khiến cả nhà ai nấy đều thất kinh hồn vía. Thưở ấy, vì người chết quá nhiều, không kịp sắm hòm và cũng không có tiền để mua hòm nữa là đằng khác.


Sinh tử là chuyện tại mệnh số con người. Thọ là điều phước mà ai cũng cầu. Càng giàu, càng ở địa vị cao ai cũng lo sao cho được thọ được sống lâu, giàu bền. Cầu thọ cho mình thì phải chúc thọ cho người. Danh mà được thọ mới là người tuyệt quý. Tháng tư năm Ất Mùi, Minh Mạng thứ 16 (1835) nhà vua ngự ở từ kinh đô ra hành cung trong thành Quảng Trị bằng đường thủy. Từ Huế theo Sông Hương, sông Gia Hội ra Phá Tam Giang rồi theo sông Vĩnh Định đến thủy hành cung ở sông Thạch Hãn.


Vua bảo với các quan hầu rằng:


-“Ngày trước ta đi thuyền đến địa phận xã Ngô Xá, trông thấy một người đàn bà già, sai hỏi tuổi thì người ấy nói rằng 117 tuổi chưa biết có xác thực hay không, nhưng đại phàm người chỗ mạch đất núi sông thanh tú thì phần nhiều thọ, hoặc già cũng có lý đấy.”


Núi sông thanh tú tức là nam thanh nữ tú chẳng khác đất Thừa Thiên trai hiền, gai lịch vậy.


Nhân dịp này nhà vua bèn sai đẩy xe đi xem tường thành mới xây đắp, thấy các kỳ lão thuộc hạt Quảng Trị đang đứng đón để chiêm bái. Các cụ già có người đi chậm không theo kịp, khiến các bậc quan phủ huyện phải cõng các bậc trưởng lão đi.


Vua Minh Mạng có óc hài hước lại có tính hay giỡn như vua cha vậy. Nhà vua liền cười duyên và nói rằng: “Lũ ấy ngày thường làm cha mẹ dân, nay cõng người già đến chiêm bái thì hầu như con của dân rồi!”


Trong bối cảnh lịch sử kỳ thú này, thì có sự trùng phùng của “Dân chi phụ mẫu” với “Phụ mẫu chi dân” mà bình thường hay nhầm lẫn.


Có một nét độc đáo là trong hàng bô lão ấy có 5 người trên trăm tuổi, người thọ nhất là 107 tuổi, được ưu tiên đặc cách thương một đồng kim tiền Phi Long hạng lớn. Người xưa tin rằng, hễ đất có nhiều người thọ là điềm báo trước của sự thịnh vượng sẽ có thánh nhân ra đời.


Việc chọn đất để đóng tỉnh thành là việc mà các chúa Nguyễn và vua Nguyễn rất quan tâm. Phải suy tính, thẩm định theo phong thủy học (mà ngày xưa gọi là khoa địa lý) mới tìm ra và chọn được những cuộc đất như Ái Tử, Thạch Hãn, Tân Sở. Ngày này không những các thế hệ con cháu phải thừa nhận là tiền nhân ta có tầm nhìn chiến lược và lại khớp đúng với tinh thần khoa học. Sau này người Pháp và người Mỹ cũng thừa nhận là đất Ái Tử là cuộc đất xứng đáng để xây đồn lũy, lập phi trường. Tỉnh Quảng Trị có nhiều bãi đáp hoặc phi trường như Ái Tử, Nhan Biều, La Vang, Đông Hà, Tà Cơn…Rốt cuộc vào vào thời hiện đại hóa chẳng còn phi trường nào, âu đó là điều lạ, cần phải suy ngẫm là bởi tại ai?


Theo sách “Minh Mạng Chính yếu” thì năm 1833 nhà vua đã từng có lời bình về cuộc đất được chọn để nâng thành Quảng Trị là thích hợp và thuận tiện như lời tâu của thư Tuấn Vũ Nguyễn Tú. Trước đó, nhà vua đã ra lệnh cho các địa phương cố ra sức đi tìm cuộc đất khác để đóng tỉnh thành nhưng rồi không có cuộc đất nào thay thế được Thạch Hãn cả.


Nhà vua bèn bảo ban rằng: “Địa dĩ nhân nhi thắng” nghĩa là mảnh đất này sản sinh ra người tài giỏi. Chính vì vậy mà tổ tiên ta lập miếu Thành Hoàng, Đàn Xã Tắc, Văn Miếu ở mảnh đất này. Nay có biết các dấu vết đó còn dấu tích gì và nằm ở đâu thì chỉ việc soi đuốc mà đi tìm. Riêng văn Miếu thì mãi đến năm 1980 dời về làng An Đôn nay thuộc xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong.


Vua nhà Trần xây thành Thuận Châu ở làng Võ Thuận nay thuộc xã Triệu Thuận, huyện Triệu Phong. Nơi đây có Chợ Thuận và xưa kia là đất thuộc huyện Hải Lăng. Sau nhiều lần cải cách hành chính phân định ranh giới giữa các huyện, tổng, làng, khiến cho người đời sau tìm hiểu nhọc công, mất sức đến đứt đuôi rắn. Tội nghiệp cho các ngươi làm việc xác minh lý lịch lắm lúc phải than rằng: “Chẳng biết sờ voi hướng nào”.


Thiết nghĩ tại nơi  đền nghĩ Thuận Châu, thành Vĩnh Ninh ở Cam Lộ, Tân Sở, Dinh Cát, Ái Tử… nên có dựng bia để làm dấu tích lịch sử không thì đó vẫn là chuyện lạ của một vùng đất lạ. Các tỉnh bạn được sưu tra, điều tra cơ bản rất chi là công phu để có tri thức mà nói với người ta, nói với thiên hạ.


Quảng Trị là quê ngoại của các vua Nguyễn. Vua Gia Long có Quê ngoại ở làng An Do và Cổ Trai, vua Thiệu Trị, Tương An quận vương có quê ngoại ở phường Gia Bình tổng Bái Ân, huyện Do Linh, gạo de Bái Ân thơm ngon chẳng khác gì gạo de An Cựu. Vua Đồng Khánh có quê ngoại ở làng Đông Dương huyện Hải Lăng. Năm Thiệu Trị thứ hai 1842, Tương An quận vương lần thứ tư ra thăm quê ngoại đã cảm xúc với cảnh sương trắng miền quê ngoại. Ngủ đò ở bến Quảng Trị, nhà thơ đã cảm xúc trước cảnh non nước hữu tình:


Dân toại sinh nhai triêm đức chính

Điền đa cam trạch cận Trường An


Dịch là:


Chính đức thấm nhuần, dân thỏa thích

Đề kinh tế cận, nước trong lành

(Nguyễn Khuê dịch) 

        

Đất sao người vậy, họ Trần Đình làng Hà Trung với 13 đời làm quan lớn từ hàng Thượng thư đến Tể tướng. Khâm sứ pháp ở huế, công sứ Quảng Trị nghe đọc “đít cua” (discurs: điếu văn, diến văn) lúc hạ huyệt thượng thư Trần Đình Phác ở làng sở trị đã phải cầm chắc lưỡi sửng sốt về sự kỳ lạ của một dòng tộc.


Nước Tam Sơn chảy xuống Ba Hà

Bao giờ hết chảy nhà này hết quan. 

                       

Thế gian nói câu trào lộng và thâm thúy “Nhất quận công, nhì tắm sông ”Tắm sông chứ không phải tắm hơi, còn dị bản nào nữa thì tùy theo độc giả nghĩ ngợi về cái sướng trên đời. Đất Quảng Trị vào thời cận đại có hai nhân vật lịch sử được phong tước Quận công. Đó là Quận công Nguyễn Văn Tường, Quận công Nguyễn Hữu Bài. Ông Tường quê ở làng An Cư, ông Bài gốc người Quảng Bình nhưng chọn Cao Xá Vĩnh Linh và Phước Môn – Hải Lăng làm quê hương.


Theo lời nhà báo Henrile Grauclaude viết ở sách NHỮNG THỜI KỲ CỦA NƯỚC VIỆT NAM TRONG LÚC HỒI XUÂN do hai vị quan triều đình dịch ra quốc ngữ thì PHONG THỔ QUẢNG TRỊ HIỀN HẬU. Tháng 11/1932, nhà báo ấy đã tháp tùng phái đoàn do vua Bảo Đại ra thăm tỉnh lỵ Quảng Trị, Đông Hà và Cam Lộ, Sứ thần triều Nguyễn viết rằng phong tục tỉnh kế cận kinh đô, vừa là cựu dinh, chất phác thuần lương, chuộng kiệm ước, ít xa hoa. Duy chỉ có chuyện chưa tốt là có bọn cường hào hay võ đoán việc trong làng xóm nên sinh nhiều sự kiện cáo. Nhưng có điều là người dân Quảng Trị yêu chuộng tinh thần CHÍNH ĐẠI QUANG MINH sống chết vì lẽ phải:


Lên huyện không cử thì về tỉnh

Tỉnh không cử vô dinh

Vào kêu tài chính thẩm minh sự này

(Về chợ phiên Cam Lộ)


Chợ phiên Cam Lộ được đặt nguyên ở vị trí cũ, chớ không bị đời một cách tùy tiện:


Giang sơn thổ võ cũng linh

Bộ tư ra tỉnh chợ, đình xưa.


Càng đọc lại sử sách thời cận đại thì lại càng biết thêm về Quảng Trị có nhiều danh thần, hương trưởng, khoa mục, võ biền đều đủ mặt. Tiến sĩ văn, tiến sĩ võ đều có cả. Thanh liêm như Nguyễn Quận, trung liệt như Phan Văn Thúy, Lê Mậu Của…


Uyên bác đạt đến mức thạc học như Nguyễn Hữu Thận, tài hoa và khéo tay như Nguyễn Tú đã sữa chữa đồng hồ cho phủ Chúa và còn làm được đồng hồ nữa.


Nếu các cơ quan Văn hóa tỉnh Quảng Trị chịu bỏ tiền của, công sức ra để đầu tư một cách chính đáng trong việc sưu tầm lại sử sách về Quảng Trị một cách có hệ thống, có kế hoạch, thì chắc rằng  sẽ thu được những nguồn thu tư liệu mới còn nằm tản mạn đo đây ở khắp cùng đất nước và nước ngoài, nếu không thì sẽ biết gì MỚI HƠN, SÂU HƠN, LẠ HƠN về truyền thống lịch sử, di sản văn hóa mà nói với thiên hạ?


L.Q.T


Nguồn:  Tạp chí Cửa Việt số 10, tháng 07/1995.


READ MORE - QUẢNG TRỊ ƠI, ĐẤT SAO ĐẤT LẠ ĐẤT LÙNG - Lê Quang Thái

LÃNG ĐÃNG NGỌN GIÓ XUÂN VỀ QUA PHỐ - Chùm thơ Nhật Quang

 




Lãng đãng ngọn gió Xuân về qua phố



Lay khẽ sương mai đánh thức vạt nắng hồng

Bầy én chao nghiêng cùng vầng mây trắng



Tóc xoã vai mềm áo lụa thiên thanh

Thềm hoa e ấp…trao hẹn ước mộng lành

Em xoè tay hấng lộc, chồi non vừa thức trong nắng ấm



Lã chã sân trường bâng khuâng vào Hạ



Phím loan vương điệp khúc chia xa

Lơi rơi cánh phượng gió chao vào nỗi nhớ!



Phút bồi hồi…quyến luyến vòng tay

Áng thơ buồn giấu vội trang lưu bút

Thuở áo trắng hồn nhiên bao kỷ niệm chưa vơi.




Gió thầm thì, cuối Thu rồi anh nhỉ?



Em níu vội đoá cúc vàng hương

Cài lên nhánh tóc, đong đưa kỷ niệm…



Thu còn đọng lại gì trong mắt nhớ?

Hương cuối mùa đắm đuối…môi thơm

Nhặt hoài niệm ươm đầy vào ước mộng.




Ta đã nghe Đông buốt vai mềm



Hơi sương về ngang phố

Nhịp chiều buông  trầm tiếng thở trên môi



Lặng lẽ dấu chân âm thầm lối nhỏ

Ngoái nhìn hàng cây run run

Tàn đêm nghe Niệm Khúc Cuối* nhạt nhoà.



                                                  Nhật Quang

                                                 


* ( Nhạc phẩm của Ngô Thuỵ Miên)


READ MORE - LÃNG ĐÃNG NGỌN GIÓ XUÂN VỀ QUA PHỐ - Chùm thơ Nhật Quang

Sunday, July 18, 2021

NGỤ NGÔN AESOP TẬP 3 (tiếp)- Người dịch: Đinh Hoa Lư

BÁC NÔNG PHU VỚI BẦY SẾU

 



Bầy SẾU trông thấy bác NÔNG PHU đang bừa ruộng trên đồng. Chúng đoán là mùa gieo hạt lại đến. Chúng nhẩn nại chờ ngày gieo hạt thì tha hồ chúng nó no bụng. 

Cái ngày chúng mong chờ đã đến. Vừa gieo hạt xong thì bác Nông Dân vội về nhà. Đây là thời cơ chúng hạ cánh xuống cánh đồng mới và tha hồ thưởng thức hạt giống của người. 

Người làm nông kia thừa biết bầy cò đang phá hoại mùa màng nên tìm cách bảo vệ. Lần này theo thói quen bác chỉ đem ra một giàng ná cao su nhưng chẳng có viên đá nào? Bác vừa la lớn vừa trương dây lên hù doạ bầy cò cho chúng sợ thôi. 

Lần đầu bầy cò còn sợ. Nhưng càng về sau chúng quen dần cảnh doạ nạt này. Khi bầy cò không nghe tiếng đạn đá bay vun vút, thế là chúng chẳng con nào sợ hãi.  Mặc cho người la hét chúng cũng chẳng thèm để ý? 

Người Nông Phu giờ phải thay đổi phương kế khác. Bác phải tìm cách cứu lúa mới được. Giờ Bác mang ná với đạn đá THẬT. Thế là vài con sếu coi thường trúng đạn.  Đáng đời đàn sếu, chúng hoảng sợ bay hết không còn con nào léng phéng đến cánh đồng người Nông Phu nữa./.

 

LỜI BÀN:

 

*CHỈ DOẠ XUÔNG KHÔNG BAO GIỜ CÓ KẾT QUẢ VỚI NHỮNG NGƯỜI BƯỚNG BỈNH. 

*MIẾNG NGON NHỚ LÂU ĐÒN ĐAU NHỚ ĐỜI

 

The Farmer & the Cranes

 

Some Cranes saw a farmer plowing a large field. When the work of plowing was done, they patiently watched him sow the seed. It was their feast, they thought. 

So, as soon as the Farmer had finished planting and had gone home, down they flew to the field, and began to eat as fast as they could. 

The Farmer, of course, knew the Cranes and their ways. He had had experience with such birds before. He soon returned to the field with a sling. But he did not bring any stones with him. He expected to scare the Cranes just by swinging the sling in the air, and shouting loudly at them. 

At first the Cranes flew away in great terror. But they soon began to see that none of them ever got hurt. They did not even hear the noise of stones whizzing through the air, and as for words, they would kill nobody. At last they paid no attention whatever to the Farmer. 

The Farmer saw that he would have to take other measures. He wanted to save at least some of his grain. So he loaded his sling with stones and killed several of the Cranes. This had the effect the Farmer wanted, for from that day the Cranes visited his field no more. 

Bluff and threatening words are of little value with rascals. 

Bluff is no proof that hard fists are lacking. 

 

                                                      *** 


 ĐÔI  BẠN QUA RỪNG VÀ CON GẤU

 



Đôi bạn cùng đi chung để vượt qua cánh rừng rậm rạp. Vừa vào rừng thình lình có con gấu to lớn từ một bụi rậm nhảy xổ ra. Một người chỉ lo cho mạng mình nên nhảy vội lên một cành cây cao tránh gấu. 

Người bạn còn lại đã trễ, không biết cách nào chống lại con thú nên buông mình nằm yên bất động trên mặt đất.  Mắt anh nhắm nghiền giả chết. Người này tin giả chết hi vọng Gấu tha mạng do anh nghe người ta kể lại gấu không bao giờ đụng vào xác chết bao giờ? 

Không ngờ đó là sự thật! 

Thật quá may mắn cho anh bạn đang nằm ngay đơ này...Gấu ta chỉ ngửi ngửi vào đầu anh xong nó hình như tin chắc đây chỉ là xác chết nên bỏ đi mất. 

Thấy đã an toàn người bạn trên cây giờ mới  nhảy xuống. Sau khi đứng yên anh ta mới hỏi người bạn vừa thoát nạn: 

-Hình như con Gấu nó nói nhỏ vào tai bạn gì đó phải không ? Nó nói gì vậy? 

Anh bạn kia thủng thẳng trả lời: 

-Con Gấu nói..."ông bạn hoàn toàn thiếu thông minh khi lại đi chung với một gã chỉ biết bỏ bạn chạy vào  phút lâm nguy"?!

 

LỜI BÀN

 

LÚC BẤT HẠNH MỚI BIẾT ĐƯỢC BẠN HIỀN. 

LÚC KHÓ KHĂN MỚI BIẾT AI LÀ BẠN, KHI HOẠN NẠN MỚI BIẾT BẠN LÀ AI. 

QUỐC LOẠN THỨC TRUNG THẦN, GIA BẦN TRI HIẾU TỬ.

 

Two Travelers and The Bear

 

Two Men were traveling in company through a forest, when, all at once, a huge Bear crashed out of the brush near them. 

One of the Men, thinking of his own safety, climbed a tree. 

The other, unable to fight the savage beast alone, threw himself on the ground and lay still, as if he were dead. He had heard that a Bear will not touch a dead body. 

It must have been true, for the Bear snuffed at the Man's head awhile, and then, seeming to be satisfied that he was dead, walked away. 

The Man in the tree climbed down. 

"It looked just as if that Bear whispered in your ear," he said. "What did he tell you?" 

"He said," answered the other, "that it was not at all wise to keep company with a fellow who would desert his friend in a moment of danger." 

Misfortune is the test of true friendship. 

 

                                                       ***

 

 

GàCÁO TINH RANH  

VÀ CÔ  QUẠ ƯA TÂNG BỐC

 

Vào một buổi sáng đẹp trời có gã CÁO đang đưa cái mũi ngửi lùng sục mọi gốc cây tìm mồi ăn. Chợt CÁO ta thấy một cô QUẠ đang đậu trên nhánh cây cao trên đầu. Dỉ nhiên CÁO  đành chịu không thể nào bắt Quạ được nên CÁO định bỏ đi. 

Chợt có một thứ khiến CÁO  ngừng lại ngước lên nhánh cây lần hai. Cô Quạ sao may mắn đến thế? Mỏ QUẠ còn ngậm một miếng Phô Mai hấp dẫn làm sao?! 

-Ta chẳng cần đi xa đâu nữa đây là bữa sáng ngon lành cho ta đây rồi! 

Gã CÁO tinh ranh nghĩ thầm trong đầu,  hắn mon men trở lại dưới gốc cây: 

- Cô Quạ ơi! chào cô, sao cô đẹp đến thế! 

Cô Quạ nghe tiếng chào nghiêng đầu nhìn CÁO một cách ngờ vực? Tuy nghe lời nói ngọt ngào vậy nhưng mỏ Cô vẫn kẹp chặt miếng phô mai chẳng hề đáp lại lời CÁO? 

 CÁO vẫn không nản, hắn vờ nói một mình nhưng cốt cho QUẠ nghe: 

-Nàng quạ quả thật xinh đẹp và quyến rũ làm sao! Bộ lông thì quá mượt mà! Còn đôi cánh- Ôi đôi cánh nàng bóng bẩy, tráng lệ làm sao! Tạo hoá đã sinh ra một nàng chim sao quá tuyệt vời! từ giọng hót đáng yêu cho đến mọi thứ gì của nàng đều hấp dẫn tuyệt vời. Ta ước gì nàng cất lên tiếng hát? Chỉ một lời thôi cũng đủ cho ta tôn sùng nàng lên làm Nữ Hoàng của các loài chim ngay?! 

QUẠ không thể nào chịu nỗi những lời ca tụng mình ngọt hơn đường kia. Cô quên phứt chuyện ngờ vực và quên luôn miếng phô mai đang ngậm. Nàng ta khoái nhất là khi gã CÁO gọi mình là "Nữ Hoàng của những loài CHIM"... 

Vừa há mỏ kêu lên tiếng "QUẠ" khoái trá tự hào thì than ôi! miếng PHÔ MAI rơi ngay xuống cái miệng gã CÁO đang há sẵn đợi chờ?! 

-Cám ơn cô Quạ nhé! 

CÁO ta cám ơn  nghe 'rất ngọt'! 

-Cô chỉ có tiếng khàn khàn thôi cô QUẠ ơi, còn trí thông minh của cô bỏ đâu nhỉ? 

Nói xong CÁO ta bỏ đi mất./.

 

LỜI BÀN:

 

-NHỮNG KẺ CHUYÊN XU NỊNH PHỈNH PHỜ SẼ SỐNG BÁM VÀO NHỮNG AI ƯA NGHE LỜI NÓI TÂNG BỐC CỦA HỌ. 

-MẬT NGỌT CHẾT RUỒI.

 

The Fox & the Crow

 

One bright morning as the Fox was following his sharp nose through the wood in search of a bite to eat, he saw a Crow on the limb of a tree overhead. This was by no means the first Crow the Fox had ever seen. What caught his attention this time and made him stop for a second look, was that the lucky Crow held a bit of cheese in her beak.           

 "No need to search any farther," thought sly Master Fox. "Here is a dainty bite for my breakfast." 

Up he trotted to the foot of the tree in which the Crow was sitting, and looking up admiringly, he cried, "Good-morning, beautiful creature!" 

The Crow, her head cocked on one side, watched the Fox suspiciously. But she kept her beak tightly closed on the cheese and did not return his greeting. 

"What a charming creature she is!" said the Fox. "How her feathers shine! What a beautiful form and what splendid wings! Such a wonderful Bird should have a very lovely voice, since everything else about her is so perfect. Could she sing just one song, I know I should hail her Queen of Birds." 

Listening to these flattering words, the Crow forgot all her suspicion, and also her breakfast. She wanted very much to be called Queen of Birds. So she opened her beak wide to utter her loudest caw, and down fell the cheese straight into the Fox's open mouth. 

"Thank you," said Master Fox sweetly, as he walked off. "Though it is cracked, you have a voice sure enough. But where are your wits?" 

The flatterer lives at the expense of those who will listen to him.


Đã đăng trên
Theo Bóng Thời Gian
Website của tác giả Đinh Hoa Lư.
READ MORE - NGỤ NGÔN AESOP TẬP 3 (tiếp)- Người dịch: Đinh Hoa Lư

Saturday, July 17, 2021

TẠ ƠN NGƯỜI ĐÀ LẠT - Thơ Nguyễn An Bình

 



NGUYỄN AN BÌNH

 

TẠ ƠN NGƯỜI ĐÀ LẠT


Mưa  nói gì cùng em

Khi tôi về phố núi

Nỗi nhớ vừa lên men

Ủ hơi người lần cuối.


Một chút gió mùa đông

Mưa se lòng ướt áo

Trên mái ngói rêu phong

Tiếng chim nào tiếc nuối.


Dâu vườn ai chín đỏ

Phải dấu môi em hồng

Chạm gai lòng ứa máu

Thấm đóa hoa xương rồng.


In bóng nước hồ gương

Còn mùi thơm hoa cỏ

Nhạt nhòa một làn hương

Dấu chân em ngày nọ.


Lòng đi qua bão rớt

Nên sương chiều ướt vai

Thèm chút cà phê ấm

Lại nhớ một bàn tay.


Thời gian không đủ dài

Nên lòng người quá ngắn

Bóng người ngoài chân mây

Loanh quanh hoài chốn vắng.


Tạ ơn em - Đà Lạt

Tìm chi dấu thời gian

Thương loài cây trốn gió

Cuộc tình thuở nào tan?


                                                              N.A.B. 




READ MORE - TẠ ƠN NGƯỜI ĐÀ LẠT - Thơ Nguyễn An Bình

SAO VẪN LẠC ĐỜI NHAU - Trình bày: Cao Huy Thế - Thơ: Trần Quán Niệm - Nhạc: Nguyễn Tâm Hàn

READ MORE - SAO VẪN LẠC ĐỜI NHAU - Trình bày: Cao Huy Thế - Thơ: Trần Quán Niệm - Nhạc: Nguyễn Tâm Hàn

Friday, July 16, 2021

NGỤ NGÔN AESOP TẬP 3 (tiếp) - Người dịch: Đinh Hoa Lư

SÓI CHÚA  VÀ CON  CHÓ  ỐM

 


Sói chúa hay rình mồi kế một ngôi làng thì bắt gặp một con CHÓ. Hôm nay Con mồi của Sói chỉ là một con Chó ốm đến trơ xương. Dù sao cũng đói lắm rồi nên Sói Chúa mới chận con Chó đang tìm đường lùi lại. 

Chó năn nỉ: 

-Thưa ngài Sói, cho con xin thưa với ngài một điều trước khi ăn thịt con. Ăn con thì có ngon gì đâu? Ngài nhìn những cái xương sườn con này? con ốm chỉ có da và xương thôi. 

Chó tiếp: 

Con xin mách với Ngài Sói một điều: Vài bữa nữa chủ con sẽ làm tiệc cưới cho con gái. Đến lúc này con tha hồ ăn những thức thừa trong bữa tiệc và con sẽ mập phình lên cho xem. Khi này ngài hãy tới đánh chén ngon lành. 

Sói Chúa nghe vậy quá bùi tai. Cứ nghĩ đến con chó mập tròn bóng ưởn lên để cho nó xơi  nên để cho con chó ốm đi hẹn ngày trở lại... 

Vài ngày sau Sói Chúa trở lại y như lời Chó hứa. Lần này nó thấy Chó kia trong vườn của chủ nhà. Sói Chúa yêu cầu Chó ra cho nó ăn thịt. 

Chó cười nhạt: 

-Thưa Ngài Sói, con đã sẵn sàng và vui lòng ra cống mạng cho ngài đây. Người đầy tớ trong nhà sẽ mở cửa cho con ra ngay đây? 

Nhưng người "Đầy Tớ" ra mở cửa lần này lại là CON CHÓ Bự. Loài Chó giống BỰ này vốn là khắc tinh dử tợn bao đời đối với Loài Sói. 

Sói Chúa không còn một giây nào nghĩ ngợi nữa, nó phóng cả bốn chân chạy thục mạng về rừng./.

 

LỜI BÀN

 

BẠN CHỚ NÊN TIN VÀO NHỮNG LỜI HỨA HẢO, THÀ MỘT SẺ TRONG TAY CÒN HƠN HAI CON TRONG BỤI

-NHỮNG VIỆC TRONG TAY LAI LÀ NHỮNG VIỆC CHƯA CHẮC CHẮN HOÀN TOÀN

-ĐỪNG BỎ CON SĂN SẮT BẮT CON CÁ RÔ


The Wolf & the Lean Dog 

A Wolf prowling near a village one evening met a Dog. It happened to be a very lean and bony Dog, and Master Wolf would have turned up his nose at such meager fare had he not been more hungry than usual. So he began to edge toward the Dog, while the Dog backed away.                 

"Let me remind your lordship," said the Dog, his       words interrupted now and then as he dodged a snap of the Wolf's teeth, "how unpleasant it would be to eat me now. Look at my ribs. I am nothing but skin and bone. But let me tell you something in private. In a few days my master will give a wedding feast for his only daughter. You can guess how fine and fat I will grow on the scraps from the table. Then is the time to eat me."                                

The Wolf could not help thinking how nice it would be to have a fine fat Dog to eat instead of the scrawny object before him. So he went away pulling in his belt and promising to return.             

Some days later the Wolf came back for the promised feast. He found the Dog in his master's yard, and asked him to come out and be eaten.                      

"Sir," said the Dog, with a grin, "I shall be delighted to have you eat me. I'll be out as soon as the porter opens the door."          

But the "porter" was a huge Dog whom the Wolf knew by painful experience to be very unkind toward wolves. So he decided not to wait and made off as fast as his legs could carry him.

 

Do not depend on the promises of those whose interest it is to deceive you. 

***

 

 HAI BẠN ĐỒNG  HÀNH  VÀ CHIẾC TÚI  RƠI 

 


Có hai người bạn cùng đồng ý với nhau đi chung trên con đường thiên lý. Chợt một trong hai kẻ bắt gặp một cái túi lạ ai đó đánh rơi trên đường. 

Người lượm chiếc túi kia khoái trá: 

-Ta may mắn quá đi thôi! trông này chiếc túi khá nặng. Nặng kiểu này chắc trong đó phải đựng VÀNG là cái chắc? 

Người bạn kia mới lên tiếng: 

-Anh chớ nói TA lượm được mà nên nói: CHÚNG TA lượm được CHÚNG TA MAY MẮN mới đúng chứ? Chúng ta cùng đi chung với nhau thì phải cùng chia nhau hoạn nạn hay may mắn như nhau mới đúng. 

-KHÔNG! KHÔNG! không thể như vậy được!? 

Người được túi tức giận la lên. 

Chợt đằng sau có tiếng người đuổi theo  la vang: 

-Đứng lại đứng lại hai tên trộm kia ? 

Cả hai hốt hoảng nhìn quanh? 

Chợt họ thấy một toán người đằng xa đang chạy lại tay cầm theo gậy gộc?! 

Gã lượm được cái túi giờ này lại đâm ra hoảng hốt xanh cả máu mặt? 

Gã rên rỉ: 

-Ôi chắc CHÚNG TA CHẾT MẤT nếu họ thấy chúng ta có chiếc túi này?! 

Nhưng người bạn không lượm được chiếc túi chỉnh lại ngay: 

-Không không! lúc nảy bạn chống lại hai tiếng CHÚNG TA thì giờ đây bạn nên giữ yên như vậy cứ nói rằng 

-Ôi chắc TA chết mất nếu họ thấy TA có chiếc túi này- mới đúng bạn à./.

 

LỜI BÀN 

*BẠN CHỚ KHOAN  VỘI MONG AI ĐÓ CHIA SỚT NỖI ĐAU KHỔ CHO BẠN TRỪ PHI NGƯỜI ĐÓ LUÔN SẴN SÀNG CHIA SẺ MAY MẮN VỚI BẠN. 

* ĐỒNG CAM  CỘNG  KHỔ.

 

The Travelers & the Purse

Two men were traveling in company along the road when one of them picked up a well-filled purse.                                 

"How lucky I am!" he said. "I have found a purse. Judging by its weight it must be full of gold."      

"Do not say 'I have found a purse,'" said his companion. "Say rather 'we have found a purse' and 'how lucky we are.' Travelers ought to share alike the fortunes or misfortunes of the road."   

"No, no," replied the other angrily. "I found it and I am going to keep it."                  

Just then they heard a shout of "Stop, thief!" and looking around, saw a mob of people armed with clubs coming down the road.   The man who had found the purse fell into a panic.                   

"We are lost if they find the purse on us," he cried.                     

"No, no," replied the other, "You would not say 'we' before, so now stick to your 'I'. Say 'I am lost.'" 

We cannot expect any one to share our misfortunes unless we are willing to share our good fortune also.


READ MORE - NGỤ NGÔN AESOP TẬP 3 (tiếp) - Người dịch: Đinh Hoa Lư

VÍ DỤ NGÀY MAI - Chùm thơ 1-2-3 - Trần Mai Ngân

 



THƠ 1-2-3


**VÍ DỤ NGÀY MAI

Chúng ta không còn nhận ra nhau nữa
Đôi mắt lạnh lùng như chẳng hề quen

Ví dụ ngày mai
Trái tim em nói lời đổi thay
Là khi ấy nhân loại cũng không còn tình yêu nữa…


**GIẤC MƠ

Đêm giông và đốm lửa 
Người đàn bà mải miết chạy tìm…

Những sợi dây vô hình giăng khắp lối 
Khoảng cách rất mong manh nhưng không thể bước qua 
Cánh cổng đóng im - tuyệt vọng!


**THIÊN ĐƯỜNG

Chỉ là những bình minh chim hót
Dòng xe cộ nối đuôi nhau - tiếng còi xe, tiếng càu nhàu

Những tiếng ồn ào của nhịp sống bình an
Đó là hạnh phúc 
Nhưng - đâu rồi…hôm qua…


**BỊ ĐÁNH CẮP

Mất buổi sáng, mất buổi chiều 
Và mất cả những đêm thư thả

Quanh nơi đây mọi thứ đều hối hả 
F0, F1… những tên gọi mới được đặt ra
Từ Corona doạ đe mạng sống!


**KHI TUYỆT VỌNG HÃY HÁT LÊN VÀ NGHĨ VỀ NHAU

Để thấy trái tim mình còn nơi nương náu
Để thấy đời sống vẫn là giọt mật ngọt ngào

Và để thấy rõ 
Anh và em vẫn là một
Dìu nhau qua tuyệt vọng đến bình yên!

Trần Mai Ngân
READ MORE - VÍ DỤ NGÀY MAI - Chùm thơ 1-2-3 - Trần Mai Ngân