Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, June 1, 2019

MÙA ĐI QUA BẾN XƯA - Chùm thơ Lê Thanh Hùng

Tranh của Đức Long

Mùa đi qua bến xưa
Chầm chậm đi, chầm chậm bước qua
Bỏ lại sau lưng, chiều tím biếc
Treo đắm đuối, lời này giã biệt
Bóng nắng nghiêng, nắng quái thật thà ...
                    *
Qua bãi bờ xanh mướt, mượt mà
Líu ríu, dập dềnh con nước lớn
Trớn gió xoay chìm, trôi gờn gợn
Bờ sông, làng cũ, giấc mơ xa
                    *
Mê mãi chiều, trong mắt của nhau
Sao không gọi bóng ngày trở lại
Để khập khễnh, theo dòng đi mãi
Tiếc nuối gì, day trở lòng đau ...
                    *
Bao nhiêu năm ắp lẫm xuân thì
Đâu bến đợi, hẹn lần hẹn lữa
Cuộc sống khép dần điều chọn lựa
Gió bấc về, chầm chậm mùa đi
                    *
Anh bước dần qua ngõ chiều trong
Chuyện năm cũ, đâu còn bức bối
Trống hoác bến xưa, cơn gió thổi
Rớt mùa xuân nào đó, mênh mông ...
Lê Thanh Hùng


Tình cờ ta lại gặp nhau
Khói sương mùa cũ, dường phai nhạt
Chiều biếc xanh trong mắt của nhau
Quên đâu mất, tháng ngày hao nát
Còn nguyên đây, nỗi nhớ cồn cào
                     *
Tháng tám, trời giăng mù kín bãi
Biển đục ngầu, oằn nặng phù sa
Nắng cuối ngày đùn qua đẩy lại
Tiếc nuối chiều tê dại lần qua
                     *
Gió cuốn sóng đổ bờ vun vỡ
Ráng tàn chiều, đỏ dựng chân mây
Dẫu đã biết đời không duyên nợ
Vẫn thầm mong có buổi chiều nay
                     *
Hoa, trúc trắc bay theo chiều gió
Mỏng manh treo, từng cánh rơi rơi
Trăng ký ức, như còn đâu đó
Tóc mai nghiêng sợi ngắn rối bời
                      *
Nắng tắt, chiều dần tàn bổi hổi
Mắt như cười, cay đắng trượt xa
Thong thả bước, nỗi niềm thốc xối
Lắng tuổi đời, thanh thản vượt qua ...
Lê Thanh Hùng


Mắt đêm
Anh vẫn biết
Trước đèn
Em ngồi viết
Sương khói mờ xa
Khát vọng lần qua
Cũng bởi tại
Đã yêu người
Thê thiết
Để câu thơ buồn
Gãy giọng
U a
Lê Thanh Hùng

   Bắc Bình, Bình Thuận

READ MORE - MÙA ĐI QUA BẾN XƯA - Chùm thơ Lê Thanh Hùng

ĐÀ LẠT MƯA CHIỀU DIỄM XƯA - Thơ Trần Thoại Nguyên

Tác giả Trần Thoại Nguyên


ĐÀ LẠT MƯA CHIỀU DIỄM XƯA 

Ôi mưa nắng và cây đời kỳ diệu 
Tôi đại khờ tôi tóc trắng yêu Em!
(ĐÀ LẠT TÔI - TTN tặng Phạm Công Thiện ngày ấy và Đỗ Tư Nghĩa bây giờ)


Nhìn em đứng ngoài hiên mưa
Dáng liễu gầy buồn diễm xưa
Đà Lạt mưa phùn phố núi 
Yêu Em biết mấy cho vừa!

Thuở ấy tóc xanh sầu mộng 
Hồn anh trong trắng yêu Em
Giọt mưa lung linh hình bóng 
Dáng Em khép nếp...tóc huyền...

Vàng Son ... Khung trời Đại Học 
Mưa bay trong nắng hoa lay
Hồn anh tựa mưa len tóc 
Giọt thương giọt nhớ bàn tay...

Chiều nay! Mưa chiều diễm xưa 
Nhìn em đứng ngoài hiên mưa 
Anh giờ mùa thu tóc trắng 
Yêu em cho đến bao giờ!

Anh yêu Em như rừng thông 
Vòng tay ôm mưa vào lòng 
Tình yêu anh như thác lũ 
Như cỏ hoa hương thơm nồng. 

Ôi! Yêu Em cả một đời 
Cầm bằng như giọt mưa rơi
Em ơi! Đà Lạt phố núi 
Yêu Em cho đến muôn đời!

TRẦN THOẠI NGUYÊN


READ MORE - ĐÀ LẠT MƯA CHIỀU DIỄM XƯA - Thơ Trần Thoại Nguyên

Friday, May 31, 2019

QUÊ NGOẠI - Đào Dân


             Tác giả Đào Dân



QUÊ NGOẠI

Ông ngoại mất khi tôi chưa đầy năm tuổi sau một trận càn của Tây, vậy là căn nhà của ông ở làng Tài Lương tỉnh Quảng Trị gần như không còn ai. Các cậu Bí, Khôn, Du, đã lần lượt thoát ly ra vùng kháng chiến sau khi cậu Giải bị Việt Minh bắt đi mất tích. Các dì khác và mẹ tôi đã đi lấy chồng, chỉ còn dì Phồn út thì cũng phải “thoát ly” lên Tỉnh để tránh bom rơi đạn lạc và sống nương nhờ ở nhà ông Thị, người em út cuả ông ngoại đã về hưu sau mấy chục năm làm việc cho chính phủ Nam Triều.

Hai căn nhà rường bề thế trong đó xen lẩn giữa hàng đống thóc lúa rơm rạ cùng kẻ ăn người ở đầy nhà là những tủ đựng đầy sách báo Hán và Việt ngữ như Kiều, Chinh Phụ, Cung Oán hay Lục Vân Tiên cùng với những tạp chí nổi tiếng thời bấy giờ như Nam Phong, Đông Dương hay Phong Hóa...
Khi những tiếng hò khoan, tiếng tắc rì và tiếng nói chuyện râm ran của đám thợ cày thợ cấy chấm dứt thì tiếng ngâm thơ của ông ngoại và các cậu vang lên làm cho mấy chị em gái trong nhà (trong đó có mẹ tôi) dù không đi học mà ai cũng thuộc lòng nhiều đoạn, nhiều bài đến nổi nhập tâm nên sau này khi tôi học lớp Đệ Ngũ, nhân một dịp dì Nghè từ làng An Lưu lên thăm và ở lại nhà chơi, dì nghe tôi đang tụng mấy bài học thuộc lòng của cuốn Chinh Phụ Ngâm, dì đã nhờ tôi chép lại toàn bộ cuốn ấy vào một tập vở học trò rồi dì mang về nhà đọc hàng ngày, như một quyển sách gối đầu giường để cảm thông, chia sẽ, thương xót cho thân phận người chinh phụ có chồng đi chinh chiến miền xa.

Còn mẹ tôi thì suốt ngày đọc thơ Kiều, lại còn vô tư đổi vài chữ trong các câu thơ của cụ Nguyễn Du chỉ vì kiêng tên của một ông hay bà tổ tiên nào đó. Như chữ “tình tình” trong câu “Nên câu tuyệt diệu ngụ trong tình tình” mẹ tôi đổi thành chữ "tiềng tiềng" mà hồi nhỏ tôi vẫn thắc mắc không hiểu ý nghĩa của nó rồi bắt mẹ giải thích cho được. Và cũng nhờ những bài thơ trong trí nhớ mà mẹ không những đã động viên được các anh chị tôi siêng năng giã gạo bằng vồ vào những đêm trăng sáng mà còn lôi cuốn được chị Miêng con mụ Cửu bên xóm đến phụ giúp, để chỉ được nghe mẹ đọc và giải thích chuyện tình Lục Vân Tiên với Kiều Nguyệt Nga để rồi cùng với hai bà chị tôi khóc cười theo cuộc thăng trầm của đời nàng.

Tuy nhiên những khung cảnh vừa rộn ràng bừa bộn vừa thơ mộng lãng mạn của một gia đình hạnh phúc với nhà cửa, con cái, của cải, với sách báo và tiếng ngâm thơ ấy nơi nhà ông ngoại, ông Tú Dự , chỉ còn là một chuyện cổ tích hấp dẫn để mẹ kể cho lũ chúng tôi nghe mỗi khi bà rảnh rổi, nhất là vào những ngày đông tháng giá, không có việc làm, ngoài trời lại mưa rả rích, mẹ con ngồi bó gối bên đống lửa hồng ăn bắp rang thay cơm, để chúng tôi có dịp mơ về một thời vàng son xưa cũ với bao tiếc nuối cho một quá khứ đã đi xa.

Tất cả cái quá khứ huyền thoại ấy, trong tôi chỉ còn lưu lại hình ảnh của hàng cây cao xanh rì bên bờ An Võ mà lũ nhóc hai ba tuổi chúng tôi mỗi chiều thường ra đứng trước ngõ nhìn sang bên đó, để hưởng được sự sảng khoái từ làn gió nồm mát rượi đang lồng lộng thổi sang. Dường như hàng cây cao như rừng ấy có một nét huyền hoặc nào đó mà khi thấy một vài anh nông dân đen đủi gánh khoai lúa gì đó từ ngoài đồng đi ngang qua là lũ nhóc tụi tôi lại đồng loạt la vang: ma, ma, ma, rồi rùng rùng bỏ chạy vô nhà.

Thế, quê ngoại trong tuổi thơ tôi chỉ còn lại độc mỗi chừng ấy.

Khi tôi lớn lên một chút, bao hình ảnh của một thời hoàng kim chỉ còn lại hai cái nền nhà nằm trơ trọi giữa một khu vườn um tùm cỏ dại mà bao quanh là những cây tre già cằn cỗi. Trên nền nhà chính được mấy chị em gái của mẹ cùng với mợ Trang, vợ cậu Khôn, dựng lên một căn lều tranh nhỏ xíu làm nơi hương khói. Cái nền nhà còn lại được mọi người đồng ý cho anh Trương, một người bà con xa trong họ dựng lên đó một căn nhà tranh để ở và để chăm sóc vườn tược. Nhìn chung khu vườn trông có vẽ nhếch nhác và thiếu sinh khí, cằn cỗi và bệnh hoạn. Vậy mà nó vẫn là nơi thu hút chúng tôi, những đứa cháu ngoại, cùng với mẹ, các dì dượng, hàng năm hai ba lần tụ hội về gặp nhau vào những ngày giỗ tết để rồi khám phá ra cái giang sơn của một gia tộc của 6 anh em ông ngoại với những ông Nghè, ông Thị, ông Thầy, ông Giáo, ông Tú...nay chỉ còn loanh quanh bên nhà mụ Giáo cô độc với một mình dì Chiết , và sau lưng là nhà mợ Phán, rồi cậu Úy và cậu Khả, mà mổi lần đi thăm lại phải chui qua hàng tre đầy gai nhọn, và nhảy qua một cái mương rãnh thoát nước nhỏ hẹp.

Thường mẹ con tôi về ngoại theo con đường quốc lộ 1 ra tỉnh rồi xuôi về cầu Ba Bến. Để đến nơi, đôi chân trần của mẹ và của thằng bé chỉ trên dưới 10 tuổi đã phải trải qua khoảng hơn 10 cây số. Nhưng có lúc, nhất là vào mùa hè nắng cháy, để rút ngắn đoạn đường, mẹ đã dẫn tôi len lỏi qua những đám ruộng cày ải trắng xóa của làng Đại Nại, Long Hưng để qua Đập Đá rồi về nhà Bác Thiệu cạnh bờ sông Vĩnh Định.
Bác chỉ là người bà con sui gia ở làng Trâm Lý, thế mà mẹ cũng ghé vào thăm một chút, nói vài câu chuyện trong lúc chờ chuyến đò ngang qua sông. Nhưng con đường nào với tôi cũng là xa vạn dặm mà tôi thường phải chạy lúp xúp theo đôi chân thoăn thoắt của mẹ. Trước khi về Tài Lương, thường chúng tôi ghé vào nhà dì Bộ Hồng ở làng Đạo Đầu, người chị cả mà dượng Bộ với tư cách là một anh cả thay mặt cả gia đình, hướng dẫn các em vợ trong việc cúng kiếng hay chăm lo nhà cữa và mồ mả cho hai ông bà ngoại. Từ đó, cùng với dì Sô, dì Phồn và mợ Trang gồng gánh đồ cúng đem về nhà mụ Giáo để gặp dì Nghè từ làng An Lưu sang. Mọi sinh hoạt đều diễn ra tại đây, nấu nướng, ăn uống, chuyện trò, ngay cả đi thăm viếng cũng xuất phát từ đây với sự trợ giúp của dì Chiết và những người còn lại trong giòng tộc. Căn lều nhỏ thờ cúng ông bà ngoại chỉ nhộn nhịp trong chừng nửa giờ, vào lúc giữa trưa, với đàn con cháu, bà con nội ngoại tập trung làm lễ trước bàn thờ, lạy lục, khấn vái, với hương đèn nghi ngút, với giấy tờ vàng mã được đốt lên để rồi sau đó, mọi người đem những gì còn lại trở về nhà dì Chiết. Để lại căn lều nhỏ bé cho sự hoang vắng và buồn tẻ. Dường như mọi người đã quên, bỏ hết cái quá khứ vàng son ấy sau lưng, và sống với những gì mình còn lại của ngày vui anh chị em hội ngộ.

Sau này, khi đã lớn khôn, giữa lúc chiến tranh đang diễn ra khắp nơi, có lần tôi một mình đạp xe về thăm lại nơi căn lều ấy, thắp nén hương cho ông bà ngoại. Cả ngôi làng vắng lặng, căn lều cũng vắng lặng âm u. Nhìn làn khói hương bay tản mác vào không gian mơ huyền ấy, tôi như cảm được nỗi u hoài của một thời đã qua, dường như còn phảng phất đâu đây. Ra đứng nơi đầu ngõ, nơi ngày xưa tôi cùng đám nhóc tì đã đứng, nhìn qua bên kia. Hàng cây An Võ vẫn xanh rì ở trước mặt, và tôi ngạc nhiên sao hồi đó thấy như từ cỏi xa xôi nào. Không còn vẻ huyền bí ma quái nào cả mà chỉ còn là sự trơ trụi, xơ xác và những con ma đen đủi thì chỉ là hình dáng của những nông dân đang vật lộn với cuộc sống.

Bây giờ ngồi đây, bên bàn phím này, nơi xứ Mỹ xa xôi này, vào lúc im lặng nhất của ban đêm, 4 giờ sáng, tâm trí tôi hoàn toàn đi vào cõi xa xăm mộng ảo, đi vào miền quá khứ lung linh. Hồi tưởng lại căn lều tranh nhỏ bé nằm cô độc chơ vơ trên cái nền gạch loang lổ, giữa những vồng sắn mà anh Trương đã trồng lên, èo uột. Tôi như linh cảm được đâu đây phảng phất quanh tôi linh hồn của những người đã khuất, bên nội, bên ngoại, anh em, bạn bè... Những người chết trận, những người chết bệnh, những người chết già. Họ đã đi rất xa, nhưng họ cũng đang lẩn quất đâu đây. Phải chăng, con người ở đâu, linh hồn ở đó, như một ràng buộc từ tình máu mủ và cả tình yêu thương? Và phải chăng điều này giải thích cho sự việc mảnh đất từ bao đời đang hưng vượng bổng trở nên cằn cỗi từ khi ông bà ngoại mất đi mà các cậu thì đi biền biệt không về? Và cũng giải thích cho sự gắn bó tình cảm của tuổi trẻ tôi với các anh chị em bạn dì như Phú, Hoàng, Thược, chị Lài, chị Lựu, anh Chiến... dù họ ở các nơi xa như làng Thạch Hãn, hay ở tận Phú Bài Thừa Thiên xa lắc hơn là chính nơi làng Tài Lương quê ngoại?

                                                                         Đào Dân

READ MORE - QUÊ NGOẠI - Đào Dân

CHỊ ĐỐ EM - Thơ Ngọc Châu



Ngọc Châu

CHỊ ĐỐ EM
Ngày 1/6 tặng các cháu (và mẹ các cháu) một bài thơ viết cho thiếu nhi:

Chị học lớp sáu rồi
Còn em mới lớp hai
Nên chị thường khoe tài
Đố chấp hai ăn một

- Đố em kiến to nhất
Thì là con kiến gì ?
- Dễ quá, là kiến Chúa.
- Sai nhé!- Chị hì hì

- To nhất là kiến Voi
Chứ con kiến gió chúa
Bé như con muỗi còi
A ha, cậu thua tớ!

- Chỉ phịa! - Em hấm hứ -
Làm gì có kiến Voi?
Voi mà lai với kiến
Phải thành con kiến Vòi!?

- Thôi đuợc rồi, đuợc rồi
Câu này hoà cũng được.
Thế con gì dưới nước
Mà lại đẻ trên bờ?

- A ha, con cá rô
Khi trời mưa bong bóng
Cu cậu lách lên bờ
Đúng là nó đẻ trứng!

- Thôi, tôi xin cô "Hoắng"
Chỉ ba ba với rùa
Mới giấu trứng trên bờ.
Rô nó đi trẩy Hội!

- Cóc phải!- Em cãi cối-
Rô trảy hội bao giờ?
Mẹ chộp đuợc vô khối
Nấu canh cải, rõ dơ!

- Dưng mà chẳng bao giờ
Rô đẻ trên đất cả!
Thôi, đố thế này nhá
Hải Phòng có Trạng không?

- Trạng? Trạng thì ông.. ông..
A ha, ông Trạng Lợn
Bà vẫn hay kể chuyện
Đúng quá rồi phải không?

-"Hoắng" chỉ nói lung tung
Trạng Lợn là chuyện kể
Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm
Mới lừng danh bốn bể.

Thôi, giờ đố mẹo nhé
Phải nghĩ cho thật sâu
Đoán bừa rồi chí choé
Chị chẳng chơi nữa đâu.

Kết quả là bao nhiêu
Nếu chia đôi số 8?
- Dễ như lợn ăn cám
Bốn chứ còn bao nhiêu?

- Này, nếu kết quả nhiều
"Hoắng" phải rửa bát nhé!
Chia đôi sẽ có thể
Bằng ba hay bằng không

Chớ lè lưỡi, nhe răng!
Nhìn xem, thật rõ ràng
Hai số không tròn trịa
Khi chia theo chiều ngang

Nếu cắt theo chiều dọc
Sẽ được hai số ba..
Thua nhá, ha ha ha!
Rửa bát, cấm không khóc!

- Ứ, em còn phải học
Chị ranh như chíp hoi
A, chiều nay bố hứa
Dẫn đi xem lũ voi...

- Chỉ xoay vòi! - Chị mắng-
Trốn việc, chơi suốt ngày
Voi mà chơi với "Hoắng"
Cũng là con "Voi Xoày"!

Ngọc Châu

READ MORE - CHỊ ĐỐ EM - Thơ Ngọc Châu

CHƯA ĐẶT TÊN CHO MỘT CUỘC TÌNH - Thơ Chế Cẩm Đình




Chế Cẩm Đình

CHƯA ĐẶT TÊN CHO MỘT CUỘC TÌNH

chúng ta hai phía địa cầu
hai phía lòng
hai số phận, đuổi bắt nhau
...
Đại An xóm nhỏ trên đồi ấy
Tôi đã từng yêu lắm một người
Duyên mọn nên tình chưa cập bến
Hai vì sao lạc tận hai trời
Tinh tú vòm cao muôn lấp lánh
Facebook vươn tới nửa địa cầu
Trời ạ, thì ra em vẫn nhớ
Nguyên sơ tình ấy, mộng ban đầu
Tâm sự đôi điều em bật khóc
Gợi về kỷ niệm buổi xa xôi
Tình chết, thôi thì tình đã chết
Mười năm tang rủ dạo phân bôi
"Cũng bởi ngày xưa tôi chẳng nói
Với em đi tận phía chân trời"
Em gầy mộng thẳm bên kia biển
Tôi tháng ngày trôi lạc bước đời
Đêm nay sầu ngự muôn trầm tưởng
Rảo bước đường xa tận não nùng
Thoảng chút chạnh lòng trong cõi mộng
Mà thôi. Em đã phận chồng con!
Đôi lời thơ cuối xin từ biệt
Một nét giai nhân vẽ ngang đời
Cứ như mười mấy năm không gặp
Bởi tôi đã chết tự lâu rồi!
Thôi đừng nhắn nữa hay gặp nữa
Yên phận trời Nam tôi với tôi
Là hoa là ngọc là mây nước
Cầm bằng hẹn lại kiếp sau thôi!

CCĐ

READ MORE - CHƯA ĐẶT TÊN CHO MỘT CUỘC TÌNH - Thơ Chế Cẩm Đình

CHƠI VƠI - Thơ Nguyễn Hồng Linh

Tác giả Nguyễn Hồng Linh

CHƠI VƠI
Nguyễn Hồng Linh


Anh về ngang lối cũ
Đường đã phủ rêu phong
Nghe đâu đây tiếng thu
Dệt ai dáng phiêu bồng

Em hong tình trong góc
Đêm tối sợ tình đau
Sợ đêm thâu lệ khóc
Hành hạ vết thương nhau

Anh... nợ em cuộc tình
Nợ những tháng ngày xanh
Nợ em một bóng hình
Nợ cuộc đời mong manh

Em thu về chơi vơi
Khoác áo lụa sương mù
Anh gọi gió biển khơi
Gọi một đời lãng du

Em mở lối địa đàng
Gửi anh tình thiên thu
Anh gom góp nắng vàng
Gửi mộng khúc tình ru.

Stuttgart, 25.05.2018

NHL
 honglinh8861@yahoo.de
READ MORE - CHƠI VƠI - Thơ Nguyễn Hồng Linh

HOA SA MẠC - Chùm ảnh của Chu Vương Miện và thơ của Trần Vấn Lệ


Hoa tu sa mac khong hoang da
vi da thanh roi Hoa Thao Nguyen!
cat bui coi nhu la qua khu
tuong lai ruc ro moi con tim!

Trần Vấn Lệ







READ MORE - HOA SA MẠC - Chùm ảnh của Chu Vương Miện và thơ của Trần Vấn Lệ

Thursday, May 30, 2019

KÍ ỨC TRƯỜNG SƠN TÂY - Bút ký - Lê Thị Tâm


KÍ ỨC TRƯỜNG SƠN TÂY
Lê Thị Tâm
Kí

Sau bao năm dài lo toan với cuộc sống đời thường, vậy mà đã hơn ba mươi lăm năm trôi qua kể từ khi xuất ngũ.  Hôm nay trời mưa, những cơn mưa kéo dài dầm dề không ngớt làm cho tôi nhớ lại những cơn mưa trên đất bạn Lào. Mưa ở Lào cũng dầm dề suốt ngày mới tạnh. Những năm quân ngũ trên đất bạn Lào là những năm tháng để lại nhiều kỉ niệm đẹp của một thời được mang trên mình áo xanh màu lính và là những tháng ngày lăn lộn để xây dựng con  đường chín trở thành con đường nối liền tình hữu nghị Việt – Lào.
Tuổi 19, sau những ngày trên ghế nhà trường, tôi đã tình nguyện viết đơn nhập ngũ quân đội. Trong thời gian này, đất nước ta đang bước vào năm tháng thăng trầm với những khó khăn kinh tế, rồi giặc ngoại xâm đang đánh chiếm phía Bắc của Tổ quốc. Đến tháng 4 năm 1980, tôi mới được đứng vào hàng ngũ quân đội, trở thành cô tân binh mặc trên mình chiếc áo màu xanh mà tôi hằng mong ước. Sau 3 tháng huấn luyện đầy vất vả, dưới cái nắng “chang chang” trên đất lửa Quảng Bình, đơn vị tôi được điều động sang đất bạn Lào, hoàn thành tiếp  những con đường mà các anh cha ta đã mở.
Xe đưa chúng tôi vượt qua bao đồi núi, đường vòng vèo khi lên đỉnh cao, khi chạy  xuống khe suối làm cho ai nấy nôn nao. Sau một ngày đêm xe cũng đưa chúng tôi đến đơn vị nhận quân, đó là sư đoàn 384, đóng quân trên đất bạn lào.  Rồi chúng tôi bịn rịn chia tay nhau, mỗi đứa được phân công về từng đơn vị khác nhau. Tôi được biên chế về C11 trực thuộc trung đoàn 509. Lúc bấy giờ đơn vị nằm sâu trong núi vì đơn vị tôi thuộc Đại đội khai thác đá để phục vụ các đơn vị đổ cầu, đổ mặt đường. Tuy vất vả nhưng tôi cũng thấy rất tự hào vì chúng tôi là lính Binh đoàn Trường Sơn, nối nhịp cầu cho đôi bờ thương nhớ.
Tôi ở đơn vị C11 được mấy tháng thì đơn vị cử đi học chuyên môn ở trung đoàn bộ.  Sau khi kết thúc khóa học, tôi được phân về công tác tại tiểu đoàn bộ Tiểu đoàn 38 thuộc trung đoàn 509. Công việc của tôi là làm nhân viên thống kê, nắm bắt tình hình thi công của các đơn vị, tổng hợp rồi báo cáo cho trung đoàn.
Đơn vị chúng tôi đóng quân bên dòng sông Sê Pôn, quanh năm nước chảy hiền hòa trong xanh. Chỉ mỗi khi cơn mưa về nước đục ngầu đất đá, nhưng chỉ hơn ngày sau nước lại trong vắt như chưa có gì xảy ra. Ở D bộ, chỉ có hai chị em là nữ, còn lại toàn là các anh con trai. Tôi được các anh làm cho một chiếc cầu tre nhỏ khuất sau lùm cây le  để chúng tôi tắm giặt cho tiện. Sợ sệt và buồn cười, mỗi lần đi tắm phải đi cả hai đứa, phần vì sợ “ma”, phần thì bị các anh con trai trêu chọc. Nào là, không biết bơi để anh các anh theo dạy cho, nào là tắm xong về ngày không thì bị “ma bản” nó bắt đi mất, các anh tìm không thấy…. Những lúc như thế tôi vừa thấy xấu hổ, nhưng cũng thấy vui vui vì đó là các anh ấy đùa thôi.
Rồi tết đến, hoa ban nở trắng rừng lòng nao nao nhớ mẹ, chắc mẹ đang cắm cúi với mấy sào ruộng khoán để kịp lo tết, nhớ mấy đứa em xúng xính áo hoa, nhớ nồi bánh chưng to đùng bố nấu ăn đến rằm mới hết.  Tết ở đơn vị cũng có đầy đủ bánh chưng, thịt lợn…nhưng một số anh em về tết, còn lại chỉ vài chục người nên không khí cũng có phần trầm lắng hơn. Các anh thì bày ra nhiều trò để chơi như đánh bài quẹt nhọ nồi, đá bóng…chỉ có hai chị em nữ thôi nên cũng buồn. Đôi lúc cũng xin các anh cho đánh bài. Các anh đánh bài toàn ăn gian nên hai chị em tôi bị quẹt nhọ nồi đầy mặt như mọc râu vậy. Giờ nghĩ lại thấy hay hay.
Mùa mưa, chúng tôi thay nhau đi hái rau tàu bay, đào măng le về làm thực phẩm. Ở đơn vị thực phẩm mùa mưa khan hiếm vì vận chuyển bên nước ta sang Lào đường đi khó khăn.  Le ở đây mọc thành rừng, đi mõi chân không hết. Măng ở đây nhiều lắm, sau một đêm mưa nhú lên như cắm chông. Chỉ sợ muối và vắt cắn. Muỗi thì không sao, chúng tôi mặc áo dài tay, mặt che kín là được. Còn vắt, eo ôi sợ lắm. Có lần bị vắt cắn vào chân chảy máu, sợ quá không dám bắt, nhờ mấy anh bắt hộ. Có anh bắt xong còn khen, chân “cẳng” lính cầu đường gì mà trắng thế! Ngượng ơi là ngượng! Bấy  giờ tôi mới sang tuổi 20 đang bồng bột trẻ con nên cứ hay xấu hổ, bẽn lẽn, làm việc gì cũng e ngại, được thể, các anh cứ trêu nhiều hơn. Vui nhất là những đêm sinh hoạt đơn vị. Những lời ca tiếng hát của các anh ngân vang trong đêm dội vào vách núi nghe như có người nhại lại. Rồi những câu chuyện tếu được các anh thêu dệt kể râm ran. Những câu trêu đùa vui vẻ xua tan không khí thanh vắng nơi núi rừng. Đêm về, ở núi rừng yên tĩnh, bóng đêm tràn ngập không có ánh điện, ánh đèn như bên nước mình, thĩnh thoảng có tiếng cú mèo ăn đêm kêu lên thảng thốt nghe hãi hùng. Những lúc như thế hai chị em chúng tôi phải sang nằm chung giường, đêm không ngủ kể cho nhau nghe chuyện quê nhà. Quê tôi ở Hoằng Hóa, Thanh Hóa có đồng ruộng phì nhiêu, màu mở. Tôi ước sau này về sẽ trở thành cô nông dân đảm đang trên cánh đồng năm tấn, làm thật nhiều thóc kẻo quê tôi mấy năm mất mùa đói kém. Thự, bạn cùng phòng quê ở Thiệu Hóa, nó bảo tôi; “Sao mày không ước đi làm kỉ sư, bác sĩ cho cao sang luôn”. Còn nó, nó bảo chẳng cần gì cả, chỉ cần lấy tấm chồng về đấm lưng cho nó kẻo nó có cái tật đau lưng. Rồi hai đứa ôm nhau cười rúc rích, cho giấc ngủ được sâu hơn.
Tôi làm nhân viên thống kê, mọi con số báo cáo của các đại đội được tổng hợp thông qua anh Trưởng bộ phận tham mưu duyệt rồi báo cáo cho Trung đoàn về các thông số vật liệu, nhân công, máy móc sử dụng trong ngày. Có đợt, do bản đốt rẫy, dây thông tin bị cháy mất liên lạc, phải đi bộ hàng chục cây số lên trung đoàn bộ để báo cáo. Con đường lên Trung đoàn bộ gập ghềnh. Đường đang mùa thi công nên đất bụi mù mịt. Nhìn các anh em đồng đội tay cuốc, tay xẻng, mồ hôi nhuễ nhoại mà thương. Tuy là lính gián tiếp, nhưng những đợt cao điểm mùa thi công chúng tôi cũng được điều động ra công trường. Dù sao là nữ nên các anh nhường cho công việc nhẹ nhất là xúc cát. Có hôm thử vác mấy hòn đá để xây móng cầu, nặng quá thả bịch, hòn đá lăn vào chân chảy máu, đau mất mấy ngày, bị các anh mắng cho. “Yếu mà còn đòi ra nắng”.
Giờ ngẫm lại, thấy cuộc đời lính thật vất vả, thiếu thốn trăm bề. Các anh con trai còn đỡ chứ phụ nữ chúng tôi thật phức tạp về sinh hoạt, biết bao thứ cần ước ao, cần thiết cho người phụ nữ mà ở đây không thể đáp ứng được. Nhưng bù lại, trong lòng mỗi người lính chúng tôi luôn tự hào vì đã đem tuổi thanh xuân của mình hiến dâng cho con đường Trường Sơn một thời huyền thoại. Là cô gái năm xưa đi mở đường đã có một tình yêu Trường Sơn mãnh liệt. Và càng thấy tự hào hơn về những thế hệ cha anh đi mở đường Trường Sơn trong chiến tranh mới hào hùng biết bao.
Tháng 3 năm 1984, đơn vị chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ, bàn giao tuyến đường cho nước bạn Lào. Chúng tôi lại bồi hồi, lưu luyến chia tay, người thì chuyển đi đơn vị khác, người xuất ngũ và tôi cũng xuất ngũ về với quê hương, nơi có mẹ đang ngày đêm mong ngóng đứa con mấy năm biền biệt xa nhà.
Sau khi rời quân ngũ, chúng tôi lại trở về cuộc sống đời thường. Người thì thi vào các trường Đại học trở thành kĩ sư, bác sĩ, người làm công nhân…còn tôi, tôi trở về miền quê yêu dấu, về với ruộng đồng như đã hằng mong ước. Cuộc sống quê nhà lăn lộn đồng áng vất vả càng làm cho tôi thấu hiểu Trường Sơn là nơi đã tôi luyện mình thành con người vững vàng trong cuộc sống, trong lao động. Trường Sơn đã để lại cho tôi dấu yêu trong cuộc đời, để lại tình cảm đồng chí, động đội thiêng liêng nhất .  Cảm ơn tất cả các anh đã giúp đỡ và dìu dắt tôi trong cuộc sống để giờ đây thêm trưởng thành. Hình ảnh những người đồng chí, đồng đội năm xưa, hình ảnh những tuyến đường Trường Sơn Tây mãi mãi in đậm trong kí ức của tôi - người lính Trường Sơn,/.

Lê Thị Tâm
Hội viên Hội CCB, thôn 2 Trịnh Nga, xã Hoằng Trinh, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.



READ MORE - KÍ ỨC TRƯỜNG SƠN TÂY - Bút ký - Lê Thị Tâm

GIỌT SẦU - Thơ Nguyễn Hồng Linh



GIỌT SẦU
Nguyễn Hồng Linh


Em nhặt từ bóng tối
Những mảnh vỡ quả tim
Đã từ lâu im lìm
Như chìm vào quên lãng

Tình mê cuồng năm tháng
Riêng một mình đa mang
Bước tình đau muộn màng
Nghe bàng hoàng giọt đắng

Lang thang đêm phố vắng
Phố buồn mưa giăng giăng
Giọt nào rơi thầm lặng
Rơi đắng trái tim côi

Chút tình đã phai phôi
Như trăng trôi ngõ tối
Đời hai ngả chia đôi
Tiếng ân tình đêm trôi

Em nhặt từ xa xôi
Lời kinh buồn sám hối
Giọt sầu nào khôn nguôi
Giọt sầu nào khôn nguôi...

Stuttgart, 24.05.2019
NHL
READ MORE - GIỌT SẦU - Thơ Nguyễn Hồng Linh

GIAI ĐIỆU TRỐNG - MÁI - Thơ Tăng Tấn Tài




GIAI ĐIỆU TRỐNG - MÁI 

Điệu dân ca, tiếng gọi ngầm
Vút cao tiếng hót, giọng trầm chùng tơ .

Tháp rêu, xiêm nữ ơ -hờ!
Lời ru điệu múa giấc mơ thiên thần.

Vồng thơm ngực nở bóng trần ...
Ngước lên chót đỉnh vũ vần bão giông!

Tuyệt trần, ánh mắt nhìn không
Nhân gian cũng chết trời trồng cõi hoang ...

Ngàn năm rực cháy, tường loang
Một giây chằm chặp ánh vàng tắm trăng ...

Tăng Tấn Tài 
25.5.2019
READ MORE - GIAI ĐIỆU TRỐNG - MÁI - Thơ Tăng Tấn Tài