Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, April 1, 2019

NGƯỜI ĐÀN ÔNG ĐỒNG TÍNH - Đặng Xuân Xuyến





NGƯỜI ĐÀN ÔNG ĐỒNG TÍNH

(Trích trong ĐIỀM YẾU CỦA NGƯỜI ĐÀN ÔNG MẠNH MẼ
của Đặng Xuân Xuyến ; Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin ; 2006)

Từ lúc cất tiếng khóc chào đời, những bé trai đã được bố mẹ và gia đình rèn rũa, dạy bảo theo khuôn mẫu văn hóa truyền thống: Cương cường, dũng mãnh, lạnh lùng và quyết đoán. Có nghĩa, là đàn ông thì không được “bám váy” mẹ, không được “yếu đuối”, không được khuất phục trước bất kỳ khó khăn, trở ngại nào. Văn hóa truyền thống không chấp nhận quan điểm của các nhà tâm lý học hiện đại, như Elisabeth Badinter chẳng hạn, thừa nhận: “Giới tính nữ là giới tính cơ bản. Người nam được hình thành bằng sự đấu tranh với tính nữ nguyên thủy ngay từ khi còn trong bào thai. Vì giới tính nữ là giới tính cơ bản nên trong người đàn ông vừa có tính nam vừa có tính nữ. Muốn phát triển thành người đàn ông là một cuộc đấu tranh không ngừng ở mọi lúc.”. Trong những tác phẩm của mình, (đúng hơn là những công trình nghiên cứu khoa học) bà đã đưa ra những phác thảo về khuôn mẫu người đàn ông trong thế kỷ XXI đối lập khá nhiều với những gì mà văn hóa truyền thống đã khắc họa.

Trong lời giới thiệu tác phẩm NHÂN DẠNG NAM của Giáo sư Elisabeth Badiner, dịch giả Nguyễn Xuân Khánh viết: “Xã hội hiện đại dựa trên cơ sở bình đẳng nam và nữ, nó nhất thiết dẫn tới chỗ tạo ra sự giống nhau giữa hai giới. Mục đích công bằng chính trị ấy xuất sinh từ quyền con người. Chính từ sự bình đẳng ấy, trên thực tiễn ta nhận thấy bản chất con người gồm cả tính nam và tính nữ. Người đàn bà đã xâm nhập vào mọi lĩnh vực trước kia chỉ dành cho người nam, họ trở nên lưỡng tính và giống người nam. Đảo lại người nam cũng lưỡng tính như vậy.”. Có lẽ vì thế mà không ít quý ông rất sợ phải sống với chính con người giới tính thật của mình. Họ sợ những phút giây mềm yếu trong con người: Sợ tính nữ nguyên thủy biến họ thành người yếu đuối, đồng tính, nhu nhược, hèn kém trong bất kỳ thời điểm nào. Mà điều đó, gia đình, xã hội và chính bản thân người đàn ông, bằng lý trí không cho phép được sảy ra.

Nghiên cứu về người đồng tính, các nhà tâm lý kết luận: Đời sống tình cảm của người đồng tính nam thường chịu ảnh hưởng sâu sắc từ người mẹ và mang nhiều tính nữ. Còn người đồng tính nữ thường chịu ảnh hưởng sâu sắc từ người bố và mang nhiều tính nam. Đây chính là điểm cơ bản đầu tiên của người đàn ông đồng tính.

Chúng ta đều biết, sự hình thành và phát triển tính nam của người đàn ông không chỉ chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ văn hóa truyền thống với những chuẩn tắc khắc nghiệt mà còn chịu sự chi phối sâu sắc của huyền thoại tình mẫu tử. Sự đối đầu giữa khuôn mẫu người đàn ông truyền thống với huyền thoại tình mẫu tử, trong nhiều trường hợp đã làm méo mó, biến dạng tâm sinh lý và giới tính của người đàn ông khi trưởng thành. Thuyết bản năng mẫu tử, hay còn gọi huyền thoại tình mẫu tử, đã “hợp thức hóa việc loại trừ người cha”, “tăng cường sự cộng sinh giữa mẹ và con trai”, làm cho tính nữ nguyên sơ trong bé trai bị kéo dài, dẫn tới sự phát triển lệch lạc về tâm sinh lý và giới tính, cản trở và triệt tiêu tính nam của người đàn ông đang hình thành trong đứa trẻ. Chính vì vậy mà người Anh, một thời gian khá dài đã phản đối gay gắt sự “độc nhất” của người mẹ trong việc chăm sóc và nuôi dưỡng bé trai. Elisabeth Badinter, giảng viên triết học trường Polytenchnique (Pháp) nhấn mạnh: Lý thuyết bản năng mẫu tử đã gây tha hóa và tội lỗi đối với phụ nữ và tỏ ra tàn hại đối với trẻ nhỏ, đặc biệt đối với trẻ em trai. Qua nghiên cứu nhiều công trình khoa học và các tác phẩm văn học (trên 3.000 tác phẩm văn học và thân thế các danh nhân nổi tiếng), bà đưa ra kết luận: Trong số những người đàn ông đồng tính, rất nhiều người sống gần gũi với mẹ và chịu ảnh hưởng sâu sắc từ người mẹ. Bà khuyến cáo: Hãy để bé trai thường xuyên gần gũi và chịu ảnh hưởng từ người bố, sẽ giúp bé trai thuận lợi cho việc phát triển tâm sinh lý người đàn ông của đứa trẻ.

Trong các công trình nghiên cứu về tính nam của người đàn ông, Giáo sư Elisabeth Badinter đều cảnh báo sự thái quá trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng bé trai của các bà mẹ sẽ ảnh hưởng xấu đến sự hình thành và phát triển tính cách người đàn ông của bé trai sau này. Tất nhiên, sự “độc chiếm yêu thương” bé trai của các bà mẹ - như chúng tôi đã trình bày trong mục NGƯỜI ĐÀN ÔNG TRẺ CON - không thể hoán đổi bé trai từ người dị tính sang là người đồng tính mà chỉ là một trong những căn nguyên “mở đường” cho sự phát triển từ khuynh hướng tình dục đồng tính sang hành động đồng tính ở các bé trai. Đây là điều mà các bà mẹ cần lưu tâm khi chăm sóc và nuôi dưỡng bé trai yêu quý của mình.

Kensey, bác sỹ người Mỹ, qua những cuộc điều tra xã hội học cho rằng: Cứ 3 người đàn ông Mỹ thì ít nhất 1 người đã từng có “trải nghiệm” quan hệ luyến ái đồng giới. Còn người Anh thì “rất nhiều” người là dân đồng tính.

Luận điểm của Kensey khá gần với kết luận của Giáo sư Elisabeth Badinter về lý do tại sao người Anh lên án thuyết bản năng mẫu tử, nhưng tỷ lệ người đồng tính và quan điểm khuyến khích “phát triển đồng tính” mà bác sỹ Kensey đưa ra thì không thể chấp nhận. Tuy nhiên, kết quả Kensey đưa ra đáng để chúng ta suy ngẫm về hiện tượng những chú “gà cồ” không thể cất tiếng gáy đang có xu hướng gia tăng trong xã hội hiện đại.

Theo thống kê của các nhà khoa học thì trên thế giới thì tỷ lệ người đồng tính chiếm khoảng 3 - 5 % dân số nhưng số liệu đó chưa hẳn đã chính xác. Kết quả phát hiện điều tra uy quyền của Mỹ lại cho con số hoàn toàn khác về đồng tính nam: 35% thuần khiết yêu người khác giới, 55% đã trải nghiệm đồng tính luyến ái, số còn lại hoặc là đồng tính luyến ái hoàn toàn hoặc là lưỡng tính luyến ái. (Tâm sinh lý nam nữ; trang 296; Ma Xlao Lian; Nhà xuất bản Hà Nội; 2004; Thùy Liên dịch). Còn giới nữ thì sao? Kết quả điều tra của Kinxi và Hăngri cho biết: “- Có khoảng 12% phụ nữ thực sự đồng tính luyến ái hoặc tỏ rõ mong muốn được đồng tính luyến ái.” (Tâm sinh nữ phụ nữ; trang 488; Vương Quốc Vượng; Nhà xuất bản Hải Phòng; 2003; Hà Kim Sinh dịch.).
Gần đây, các nhà khoa học về tâm lý và tình dục trên thế giới đã công bố kết quả điều tra (độ tuổi từ 15 tuổi trở lên) ở thành phố San Francisco (Hoa Kỳ) thì người đồng tính nam ở đây có tỷ lệ cao nhất thế giới, khoảng 20% dân số (nam giới) của thành phố. (Theo báo Thanh Niên số 100 (3761), ra ngày 10/04/2006 và báo Công an thành phố Hồ Chí Minh số 1422, ra ngày 11/04/2006). Như vậy, tỷ lệ người đồng tính (nam) đang gia tăng ở mức báo động.

Các nhà tâm lý tình dục học nhấn mạnh: Điểm chung của người đồng tính là sự “mặc cảm tội lỗi”, tâm lý hoảng loạn, dễ bị tổn thương. Do “không giống ai” trong việc lựa chọn “đối tượng tình dục” và tình yêu của họ không được xã hội chấp nhận nên người đồng tính luôn sống trong tâm trạng mặc cảm, sợ sệt. Với người dị tính (tình yêu thuần khiết với người khác giới), sự thể hiện tình cảm của mình với “đối tượng” thường công khai, được xã hội chấp nhận (trong một chừng mực, hoàn cảnh nhất định), còn người đồng tính thì ngược lại: Âm thầm, lén lút vì sự kỳ thị của xã hội. Đây chính là lý do làm người đồng tính dễ bị tổn thương, luôn sống trong tâm trạng hoảng loạn và “mặc cảm tội lỗi”.

Một điểm chung nữa thường thấy ở người đồng tính là: Không ai dám “tự thú” mình là người đồng tính, trừ phi họ là người đồng tính ở cấp độ “nặng” không thể giấu được, hoặc họ dũng cảm công bố khuynh hướng tình dục của mình để được sống thanh thản, thoải mái hơn. Ngay cả những người đồng tính với nhau, nhất là những người thuộc diện đồng tính kín, còn gọi là đồng tính “ẩn”, dù “đọc” ra “chất” của nhau cũng khó khăn trong việc họ thừa nhận mình là người đồng tính. Văn hóa truyền thống, nhất là nền văn hóa Á Đông đã gây áp lực rất lớn, buộc người đồng tính ở mọi cấp độ phải giấu đi giới tính thực của mình, để đáp ứng những “chuẩn mực” của xã hội: Xây dựng gia đình, sinh con đẻ cái...
Văn hóa truyền thống, cộng với sức ép của cuộc sống cũng gây áp lực rất lớn tới những người thân của người đồng tính. Khi được hỏi về giới tính của bố, mẹ, con, em, chồng, vợ, bạn hữu... dù biết rõ người thân của mình thuộc diện “lửng lơ 8 vía” thì họ vẫn dứt khoát phủ nhận, cố chứng minh cho bằng được sự rõ ràng về giới tính của người thân, để “bảo vệ danh dự” cho người thân của mình.

Trong cuộc sống, có những người bỗng dưng thay đổi đối tượng tình dục, từ dị tính sang đồng tính với lời bao biện do tiếp xúc nhiều với người đồng tính vì công việc, vì stress hoặc vì bất hạnh trong cuộc sống vợ chồng nên đã “vô tình chuyển hệ”... Họ đưa ra những lý lẽ, rằng đã từng yêu rất nhiều người khác giới, rằng đã xây dựng gia đình từ khi còn rất trẻ, thậm chí đã hai, ba lần xây dựng gia đình và “chuyện ấy” luôn được bạn đời “tấm tắc” không chê vào đâu được... Tóm lại họ không thừa nhận mình là người đồng tính mà đổ lỗi cho hoàn cảnh. Họ không biết hoặc có thể họ biết nhưng cố tình phủ nhận những “xung năng tình dục đồng giới” tồn tại trong cơ thể họ đang ở dạng tiềm ẩn nên việc thừa nhận sự mập mờ về giới tính của họ (bấy lâu) là điều không tưởng. Thực chất, nếu là người có giới tính rõ ràng thì họ không thể “bị” người khác lôi kéo vào các mối tình đồng giới, trừ phi vì mục đích kinh tế, vụ lợi.

Cũng có người “bị” đồng tính nhưng không biết mình là đồng tính, bởi họ vừa lớn lên là xây dựng gia đình, rồi sinh con đẻ cái, có cuộc sống “bình thường” như bao gia đình dị tính, có khác chăng là trong con người họ luôn có cảm giác bị bức bối, hụt hẫng và thiếu thiếu... một “thứ gì đó” rất quan trọng nhưng cũng rất mơ hồ về lĩnh vực tình cảm, nên cuộc sống gia đình của họ không được suôn sẻ. Giáo sư Elisabeth Badinter giải thích: “Thông thường những người đàn ông này cưới vợ hoàn toàn thực tâm, không biết những xung năng đồng tính luyến ái của mình. Cưới vợ và có con dưới mắt họ là một giấy chứng nhận về sự bình thường. Phần lớn họ chỉ nhận ra sự đồng tính luyến ái của mình khi đã cưới vợ và làm bố. Sự có ý thức đến dần dần, đau đớn và tạo mặc cảm tội lỗi một cách khủng khiếp (Nhân dạng nam, trang 352). Báo cáo điều tra của ông Frader Green cho chúng ta biết rõ hơn về người đồng tính: “Trong số người đồng tính, có 20% thuộc dạng tinh thần, chưa từng có quan hệ tình dục (có nghĩa chỉ “yêu thích” người cùng giới trong suy nghĩ, tình cảm), có 35% thỉnh thoảng có quan hệ tình dục đồng giới và 15% thường xuyên có quan hệ tình dục đồng giới (...) Những khúc mắc tâm lý giới tính của những “người vợ”là đàn ông và những “người chồng” là đàn bà càng nghiêm trọng hơn. Họ thường rơi vào thế làm chủ trong dạng “đồng tính luyến ái.” (Tâm sinh lý nam nữ, Ma Xlao Lian; trang 200). Với nhóm người này, khi gặp “đối tượng đặc biệt” trong hoàn cảnh cũng “đặc biệt” sẽ lao vào cuộc tình đồng giới rất mãnh liệt. Ngôn ngữ dân gian gọi họ là kẻ “đa hệ”, còn thuật ngữ của các nhà tâm sinh lý tình dục học gọi họ là người “lưỡng tính luyến ái”, có nghĩa họ là người có nhu cầu quan hệ sinh lý với cả 2 giới.

Điểm chung nữa thường thấy ở người đồng tính là sợ sự đồng tính. Không ít người cho rằng sở dĩ bị đồng tính là do những người đồng tính thích như vậy. Thực ra, người đồng tính không thích như vậy và họ không có quyền lựa chọn khuynh hướng tính dục. Với người dị tính, chuyện đồng tính chỉ thực sự “ghê sợ” khi có sự “tiếp xúc thân mật” hoặc “thể hiện tình cảm” từ đối tượng cùng giới nhưng với người đồng tính, sự “ghê tởm” đó luôn thường trực trong suy nghĩ, hành động.
Mặc dù ghê sợ sự đồng tính nhưng người đồng tính không thể “triệt tiêu” được ham muốn quan hệ sinh lý với người đồng giới. Họ lập hàng rào ngăn cản “tình yêu đồng giới” nảy nở nhưng chính họ lại tự động phá bỏ vì ý chí không thắng được tình cảm. Bằng lý trí, họ lẩn tránh những gì liên quan tới chuyện đồng tính, thậm chí trốn chạy người họ say đắm nhưng những xung năng tình dục đồng tính thúc giục, đến chừng mực nào đó khiến họ bị khuất phục, gục ngã thật thảm hại. Đó chính là mâu thuẫn, là nỗi đau không thể vượt qua của người đồng tính. Và đây cũng là điểm chung nữa của người đồng tính.

Trong cuộc sống, có người biết rõ mình có khuynh hướng tình dục đồng tính, hoặc mơ hồ thấy những “bất ổn” về nhu cầu tình cảm và sinh lý đang tồn tại trong con người, nên “cố gắng” hoàn thiện tố chất đàn ông của mình theo chuẩn mực của văn hóa truyền thống nhưng lại quay sang miệt thị, tấn công những người đồng tính khác. Trong mọi hoàn cảnh, mọi tình huống, khi có cơ hội, họ sẽ lôi người đồng tính hoặc chuyện của người đồng tính ra để gây cười, để khẳng định mình “rõ ràng” về giới tính. Tại sao họ làm vậy? Giáo sư Elisabeth Badinter giải thích: “Thực ra, sự sợ đồng tính liên quan tới nỗi sợ thầm kín của những ham muốn đồng tính luyến ái của chính riêng bản thân họ (...). Nỗi sợ đồng tính luyến ái vạch trần ra điều mà nó tìm cách che đậy”. (Nhân dạng nam, trang 240). Giáo sư Elisabeth Badinter cũng khẳng định: Những người đàn ông thực thụ thường không có thái độ ác cảm khi giao tiếp với người đồng tính vì họ tự tin vào tố chất đàn ông của họ, không sợ tính nam của mình bị đe dọa. (Bà cũng không quên chua rằng, người có tư tưởng “bài người đồng tính” mạnh mẽ thường là người thuộc dạng “dân trí thấp”, chỉ số thông minh không cao.). Tuy nhiên, theo thiển ý của người viết, “bản năng tự vệ” trong con người họ - người đàn ông dị tính - vẫn có những biểu hiện để tạo ra “khoảng cách” nhất định khi tiếp xúc với người đồng tính.

Nguyên nhân dẫn đến đồng tính từng được các nhà khoa học cho rằng do gen, hooc môn hoặc nhiễm sắc thể trong cơ thể bị xáo trộn, biến đổi. Nhưng qua các thực nghiệm khoa học, các cuộc điều tra và thăm dò dư luận thì lời khẳng định đó bị sụp đổ.

Khi giải phẫu kiểm tra gen của người đồng tính, người ta thấy nhiễm sắc thể không thay đổi mà chỉ có sự biến đổi rất nhỏ về gen. Còn hooc môn chỉ có sự thay đổi về ngưỡng cảm thụ nội tiết tố tình dục vào tuổi dậy thì. Đấy chưa phải là căn nguyên cho hành động đồng tính phát triển.

Đi xa hơn, các nhà tâm sinh lý tình dục đã tiến hành các cuộc khảo sát, điều tra xã hội học về đồng tính luyến ái. Người ta thấy có những gia đình, qua mấy thế hệ không có ai là người đồng tính nhưng bỗng dưng xuất hiện một chú “gà cồ” lạ hoắc không chịu cất tiếng gáy. Người ta cũng thấy có gia đình hoặc vợ hoặc chồng là người đồng tính nhưng con cái của họ sinh ra giới tính lại rất rõ ràng.

Qua các cuộc thử nghiệm tự nguyện, người ta tiêm hooc môn nam cho người đồng tính nam, hooc môn nữ cho người đồng tính nữ thì kết quả trái với mong muốn: Họ (người đồng tính) không thay đổi khuynh hướng tính dục, trái lại càng kích thích sự “thèm khát gần gũi” với người đồng giới nhiều hơn, mạnh hơn. (theo Elisabeth Badinter).  Điều đó khẳng định gen, hooc môn không phải là nguyên nhân gây ra đồng tính luyến ái ở con người. Điều đó cũng khẳng định: Đồng tính luyến ái không mang tính di truyền.

Vậy nguyên nhân nào dẫn tới chuyện người đàn ông yêu người đàn ông, người đàn bà yêu người đàn bà? Câu trả lời vẫn lửng lơ, bỏ ngỏ vì cho đến tận giờ này các nhà khoa học vẫn chưa tìm ra câu trả lời thống nhất. Chúng ta tạm bằng lòng với cách giải thích của bác sỹ Kensey, người Mỹ, mặc dù cách giải thích của ông vẫn còn khá chung chung: Có sự biến đổi nhỏ nào đó ở bán cầu đại não đã ảnh hưởng tới thiên hướng tình dục. Ông cho rằng, đa số nhân loại có khuynh hướng tình dục đồng tính nhưng để thành người có hành động đồng tính, tức người đồng tính, phụ thuộc vào hai yếu tố: Khuynh hướng tình dục đồng tính nặng hay nhẹ và tác động của môi trường gia đình, xã hội tới cá thể đó như thế nào. Quan điểm của ông khá gần với quan điểm của  Peopper Schwartz và Dominic Cappello trong tác phẩm MƯỜI CUỘC NÓI CHUYỆN (Nguyễn Thị Hương Giang dịch - Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, 2006): “Trên thực tế, có một số lượng lớn đàn ông và đàn bà phát hiện ra rằng mình bị những người đồng giới thu hút, họ có thể là bạn bè hoặc là những người quen chứ không phải là người khác giới. Họ chẳng bao giờ hé miệng cho bạn bè hay ngay cả cho bản thân họ biết đâu.” (trang 235). Như vậy, khuynh hướng đồng tính mặc dù ở con số khá cao nhưng may thay, nhờ có văn hóa truyền thống, với những chuẩn tắc khắt khe về giới tính và đạo đức mà hành động đồng tính không trở nên phổ biến.

Đồng tính luyến ái tồn tại từ xa xưa và có ở mọi tầng lớp trong xã hội, nhưng người ta thường thấy tỷ lệ người đồng tính cao ở giới nghệ sỹ, kinh doanh, chính trị... Thực ra, tỷ lệ người đồng tính ở các giới như nhau, nhưng nhóm người trên do họ là những người hoặc thành đạt, hoặc là người của công chúng nên đời tư của họ dễ bị để ý, “khai thác”, chính vì thế mà mọi người mới ngộ nhận về nhóm người này có tỷ lệ đồng tính cao hơn các nhóm khác.

Câu chuyện về nam ca sỹ Quang Dũng chúng tôi trích dẫn dưới đây không ám chỉ anh là người đồng tính mà chỉ lưu ý điều: Người thành đạt, nhất là khi lại là người của công chúng, thường “được” dư luận “quan tâm thái quá” đến cuộc sống riêng tư, mà sự “quan tâm” ấy, đôi khi vô tình đã hủy hoại tương lai của một con người:
Ca sỹ Quang Dũng nổi tiếng nhờ hát nhạc Trịnh đã làm dư luận “rối tung rối mù” về lối sống “lạ hoắc” của mình. Người ta không chỉ “chửi” anh là “chảnh bà cố nội”, là “bon chen”, là “tàn nhẫn” mà còn xì xèo, bàn tán về khuynh hướng tình dục của anh rất “lập dị”, “khác người”.... Không ít chuyện “đồn thổi” ác ý làm Quang Dũng mất niềm tin vào cuộc sống và luôn trong tâm trạng chán nản. Khi được hỏi: “- Gần đây có lời đồn anh liên quan đến một vụ scandal về giới tính với một cậu bé ở Hải Phòng không phải là chuyện tiếu lâm chứ? Tất nhiên anh có thể không nhận!”. Quang Dũng thốt lên cay đắng: “- Sao cuộc sống lại nặng nề đến vậy? Có lúc tôi không biết giải quyết mọi việc thế nào, tôi đều tự hỏi mình đó có phải là sự trả giá khi tôi theo nghiệp ca hát hay không nữa? Trong thời gian đấy bạn bè thân họ cũng hiểu sai về tôi, đồng nghiệp thì nhìn tôi với ánh mắt ngồ ngộ, tôi chẳng biết phải giải thích với họ thế nào, đành im lặng! (Nghĩa Lương - Người đẹp Việt Nam số 158 ngày 15/10/2005). Là người của công chúng nên “lời đồn” ác ý ấy dù đúng hay sai cũng làm cho hình ảnh của Quang Dũng bị hoen mờ.

Trong tác phẩm MỘT THẾ GIỚI KHÔNG CÓ ĐÀN BÀ, nhà văn Bùi Anh Tấn miêu tả khá thành công tâm lý nhân vật Nguyễn Thành Trung khi phát hiện mình là người đồng tính. Là một sĩ quan trẻ, đẹp trai, tài giỏi, được nhiều người yêu mến, lại sinh trưởng trong một gia đình gia giáo nên anh rất ghê tởm những “gã pê đê bệnh hoạn”, luôn tìm cơ hội để mạt sát, thẳng tay đánh đập những “gã pê đê bệnh hoạn” không thương tiếc. Tại sao Nguyễn Thành Trung làm vậy khi trong anh có “thứ tình cảm khác lạ” đó từ thủa học trò? Nguyễn Thành Trung làm vậy để trốn chạy con người thực của mình, để khẳng định mình là thằng đàn ông đích thực. Nguyễn Thành Trung sẽ làm được điều đó nếu không có buổi tối định mệnh ở quán cafe của những “gã pê đê bệnh hoạn”: Khuôn mặt đẹp trai, ga lăng nhưng đậm đặc chất đàn ông và giọng nói du dương, trầm bổng của Hoàng “hoàng tử” đã làm anh chao đảo... Sau những dằn vặt, những “đấu tranh tư tưởng”, anh đã tự tìm đến với Hoàng “hoàng tử” và lao vào cuộc tình đồng giới với tất cả sự khao khát bị dồn nén lâu ngày. Những giằng xé, những đấu tranh tư tưởng của Nguyễn Thành Trung được Bùi Anh Tấn mổ xẻ, phân tích và dẫn giải khá sâu sắc, và có lẽ với những kiến giải của mình, nhà văn (đồng tính) Bùi Anh Tấn đã giúp đọc giả nhìn nhận vấn đề đồng tính luyến ái bằng ánh nhìn nhân văn và con người hơn.

Công bằng mà nói, người đồng tính là những người chịu nhiều thua thiệt, đau khổ trong cuộc sống. Trong con mắt mọi người, dù người đồng tính có tài giỏi, tử tế đến đâu, có ích cho gia đình và xã hội thế nào thì họ vẫn cứ là “kẻ biến thái”, “lập dị”, bị tránh xa vì “kinh tởm”. Một ông tổng thống, một nhà bác học hoặc một nhà thơ, một nhạc sỹ thiên tài... nếu đã “bị” là người đồng tính thì dù có vắt kiệt tài năng, trí tuệ để cống hiến cho nhân loại vẫn cứ phải đương đầu với sự ghẻ lạnh, “khinh rẻ” của người đời. Một kẻ giết người, một tên ăn trộm, một gã lừa đảo... nhiều khi lại được “xã hội” “tôn trọng” hơn nhiều những người đồng tính. Đấy chính là sự nghịch lý, là bất công của xã hội dành cho người đồng tính mà người đồng tính khó đủ sức để vượt qua.

Thực ra người đồng tính không bao giờ muốn họ là người như vậy. Họ rất đau khổ vì sự “chẳng giống ai” của mình. Họ cố gắng chống lại sự trớ trêu của tạo hóa nhưng họ càng cố thì hình như họ càng bất lực. Sự kỳ thị của gia đình, xã hội không giúp họ sửa đổi được sự “sai lệch” về khuynh hướng tình dục (dù ít dù nhiều), mà còn làm cho họ có thái độ bất cần đời, “hăng hái” hơn trong việc thể hiện bản thân và lôi kéo những người đồng cảnh.

Khi được hỏi: Nếu phát hiện ra người thân của mình là người đồng tính bạn sẽ làm gì? Đa số trả lời sẽ khuyên giải để người thân có đời sống tình dục bình thường. Nếu khuyên giải không được sẽ “cưỡng chế” bằng nhiều hình thức, miễn sao người thân của mình thoát khỏi sự “căn bệnh nhơ nhuốc” đó.

Các nhà khoa học khuyến cáo: Muốn người thân của mình điều chỉnh được sự sai lệch về đối tượng tình dục, trước hết phải bình tĩnh, tìm hiểu xem người thân của mình “bị” đồng tính ở mức độ nào để có biện pháp cụ thể. Dù người thân “bị” đồng tính “nhẹ” hay “nặng” thì đều phải mềm mỏng, tâm lý và thật sự kiên trì. Không nên biểu hiện sự lo lắng, đau khổ cho người thân của mình biết. Tuyệt đối không làm tổn thương tới lòng tự trọng của họ, ví như: Nói cho người khác biết, sỉ nhục, đánh đập,... càng làm cho họ có những phản ứng tiêu cực: Công khai khuynh hướng tình dục của mình, bỏ nhà ra đi, tìm đến với cái chết...

Khi thực hiện đề tài này, chúng tôi hỏi những người đồng tính 3 câu hỏi:

1. Gia đình phản ứng thế nào khi biết bạn là người đồng tính?
2. Sự lo lắng của người thân ảnh hưởng thế nào tới khuynh hướng tình dục của bạn?
3. Tỷ lệ người đồng tính từ bỏ được quan hệ đồng tính là bao nhiêu sau khi được sự “quan tâm” của gia đình?

Chúng tôi hy vọng những câu trả lời của họ sẽ giúp ích cho bạn trong việc “khuyên giải” người thân của mình, nếu chẳng may người thân là người đồng tính, có tác dụng tích cực hơn.
Với câu hỏi 1: 10 % trả lời người thân của họ không có phản ứng gì. 20% trả lời người thân của họ đau khổ nhưng khuyên họ phải từ bỏ “căn bệnh đua đòi” vì danh dự bản thân và gia đình. 70% trả lời người thân của họ rất bực tức, kinh tởm khi biết họ là người đồng tính nên đã cấm đoán, miệt thị, đánh đập họ... bắt họ phải “từ bỏ bệnh xấu hổ” nếu không sẽ “từ mặt”, đuổi ra khỏi nhà.
Với câu hỏi 2: 80% trả lời cảm thấy xấu hổ, “nhục nhã”, quyết tâm “thay đổi” khuynh hướng tình dục của mình nhưng rất tiếc không làm được. 10% không trả lời. 10% còn lại thì lao vào các mối quan hệ đồng tính công khai hơn, mạnh mẽ hơn.
Với câu hỏi 3: 15% trả lời không biết vì chưa gặp những trường hợp như thế. 35% trả lời đã gặp nhưng số lượng không nhiều nên không thể biết được tỷ lệ là bao nhiêu. 50% còn lại thì không tin người đồng tính sẽ quay sang quan hệ dị tính được vì họ đã từng gặp những người quyết tâm từ bỏ tình dục đồng tính nhưng thời gian gian quay lại quan hệ đồng tính cũng không lâu.
Chúng ta thừa nhận, xã hội hiện đại tuy có thay đổi đôi chút khi nhìn nhận về vấn đề đồng tính nhưng thái độ “kinh tởm” sự đồng tính có lẽ sẽ bất biến theo thời gian. Người đồng tính vẫn cứ mãi là số đơn lẻ “lạc loài” trong sự kỳ thị của số đông nhân loại. Xét về mặt tích cực, sự “sợ hãi và kinh tởm” chuyện đồng tính có giá trị rất lớn trong việc củng cố và bảo vệ tính nam của người đàn ông, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển theo chiều hướng tích cực.
Ngoại trừ những người đồng tính sống sa đọa, bất cần đời; ngoại trừ những kẻ lợi dụng chuyện đồng tính làm băng hoại văn hóa truyền thống và nền tảng đạo đức thì những người đồng tính đều cần nhận được sự cảm thông từ gia đình, xã hội bằng thái độ khách quan, độ lượng. Sự kỳ thị của xã hội với người đồng tính không giúp họ “thay đổi” được khuynh hướng tính dục, trái lại càng làm cho họ bất mãn, mặc cảm và nảy sinh tư tưởng “nổi loạn”, dẫn đến những hệ lụy đau lòng.
Bất luận người đồng tính là ai? Mức độ đồng tính như thế nào? Thì người đồng tính đương nhiên phải chấp nhận: Chừng nào xã hội hiện đại chưa thật sự nghiêm túc tiến hành nhân dạng người đàn ông thì chừng đó, người đồng tính nam nói riêng, người đồng tính nói chung còn bị coi là “quái vật”, “lập dị”, “cản trở” sự phát triển của loài người. Đấy là thách thức lớn mà người đồng tính khó có thể vượt qua.
Hỡi chàng trai của thế kỷ XXI!
Nếu chẳng may chàng là người đồng tính, xin đừng bi quan, chán nản. Hãy tâm niệm nằm lòng: “Muốn phát triển thành người đàn ông là một cuộc đấu tranh không ngừng ở mọi lúc”. Hãy quyết tâm sửa chữa những “trục trặc” do tạo hóa gây ra để “ngạo nghễ” khẳng định tố chất đàn ông đích thực của mình. Nếu mọi cố gắng vẫn vô vọng thì lúc bấy giờ hãy nhìn thẳng vào sự thật con người mình mà điều chỉnh lối sống sao cho phù hợp, tốt cho mình nhất.

Cuộc sống chỉ tốt đẹp, hữu ích và đáng yêu hơn khi ta sống lành mạnh, lạc quan và trân trọng giá trị của cuộc đời.

                                                      ĐẶNG XUÂN XUYẾN

READ MORE - NGƯỜI ĐÀN ÔNG ĐỒNG TÍNH - Đặng Xuân Xuyến

TRẦU CAU - Thơ Lê Kim Thượng


 
       Nhà thơ Lê Kim Thượng


TRẦU CAU

Tôi tìm về với... ngày xưa
Câu thơ Lục Bát, ru đưa tình sầu             
Tôi về trầu héo, khô cau
Em đi tàn “Mộng ban đầu…” ngây thơ...

***
Tôi về, bến mộng bờ mơ
Neo con đò nhỏ, đợi chờ người thương
Tôi về, đốt một nén hương
Buồn theo sợi khói, vấn vương ngọt ngào
Tôi về, theo gió xôn xao
Thơ tình năm cũ, bay vào cô liêu
Tôi về, tìm lại vườn yêu
Hoa Soan tím rụng... một chiều sang ngang
Tôi về, tìm một cung đàn
Ru em giấc ngủ mơ màng, thâu đêm
Tôi về, gối cánh tay êm
Câu Hò, Điệu Lý… ngọt mềm, thần tiên…

***
Tôi về, tìm chút ưu phiền
Chiều tan bóng xế, sầu nghiêng qua đời
Tôi về, ngắm Lá Thu rơi
Chợt nghe đau xót, một thời yêu thương
Tôi về, tìm lại dư hươn
Gió Heo May thổi mùa thương, tiêu điều
Tôi về, đọc lại thơ yêu
Nghe dư âm vọng sóng triều rưng rưn
Tôi về, nhớ biển thương rừn
Nhớ câu “Muối mặn… Cay gừng…” em ơi…

        ***           
Bây giờ… đôi đứa đôi nơi…
Quanh tôi hoa trắng... rụng rơi bốn mùa…

                  Nha Trang, tháng 04. 2019
                           LÊ KIM THƯỢNG

“...” Ca dao

READ MORE - TRẦU CAU - Thơ Lê Kim Thượng

Sunday, March 31, 2019

THÁNG TƯ, BẰNG LĂNG... - Thơ Trần Mai Ngân




THÁNG TƯ - BẰNG LĂNG...

Cứ lần lựa mãi... tháng Tư cũng đến
Không ồn ào mà nhẹ khẽ ru êm
Như thánh đường chiều vọng tiếng chuông ngân
Từng cung bậc rất ân cần tha thiết...

Cứ lần lựa mãi... Bằng Lăng tím biếc
Đầy hương hoa cho mùa hẹn tháng Tư
Cứ đến, cứ đi... đôi khi biền biệt
Bỗng trở về cùng hương sắc ngày xưa.

Cứ lần lựa... cứ lặng im như vậy
Tháng Tư nào và bài hát cho nhau
Cung phiếm chùng lòng rất xuyến xao
Bằng Lăng có chênh chao thương với nhớ...

Tháng Tư ơi ! Tháng Tư ơi ! lại nhớ
Mới vừa về như lại sắp ra đi...
Mới vừa về như lại sắp ra đi...
Tháng Tư ơi ! Tháng Tư ơi ! lại nhớ !

                                Trần Mai Ngân

READ MORE - THÁNG TƯ, BẰNG LĂNG... - Thơ Trần Mai Ngân

Saturday, March 30, 2019

MỘNG THỰC NÀO RIÊNG Ở CHỐN NẦY - Thơ Mặc Phương Tử




MỘNG THỰC
NÀO RIÊNG Ở CHỐN NẦY


Nghiêng nghiêng con dốc
Nghiêng màu nắng
Trời thắt lưng mây bạc núi đồi.
Điểm sắc hoa ngàn thơm lối nhỏ
Sương chiều man mác, bóng chiều trôi.


Người đến ôm lòng giữa xứ mơ
Mắt cài sao mộng khói sương mờ.
Ta nghe lời gió ru muôn bến,
Và cả trong chiều, cả ý thơ.


Sương lạnh
Chiều lên
Mộng hảo cầu
Ai nghe trong ấy vạn niềm đau !
Ai nghe trong ấy, từ muôn thuở
Ý niệm thời gian loạn dáng màu.

Viễn khách
Đời còn dong ruỗi bước
Ta, người lữ thứ mộng về xuôi
Có ai gởi chút tình muôn dặm
Cho hồn cát bụi trở về ngôi.


Có ai trút nỗi niềm dâu bể
Xuống tận đời khuya hết não nề.!
Trăng ở phương nầy nghiêng phố núi
Hương màu loan nhạt sắc trời quê.


Người đến đây
Ta cũng đến đây
Mắt người tuôn mộng cánh thu say
Còn ta đi giữa đời muôn lối
Mộng-Thực
Nào riêng ở chốn nầy.!

                                               Đà Lạt, một mùa thu 2012.

                                                MẶC PHƯƠNG TỬ

READ MORE - MỘNG THỰC NÀO RIÊNG Ở CHỐN NẦY - Thơ Mặc Phương Tử

TÌM EM - Thơ Phạm Hòa Việt


Tác giả Phạm Hòa Việt


TÌM EM

Hà Nội  giao thoa rét cuối mùa
Mưa rào ướt lạnh mái chèo khua
Chiều đông ròng rã ru ngày cuối
Ru cả tình qua ngọn gió lùa

Đi tìm em chẳng thấy em đâu
Phòng the rèm thả nhuốm sắc màu
Cửa xuân chưa mờ hoa đào nở
Lắng đọng thời gian trong thâm sâu...

Đi tìm em suốt cả canh thâu
Mà nghe nhung nhớ thuở ban đầu 
Đèn khuya vẫn thắp lòng im tiếng
Im cả tình thơ với bể dâu...

Thôi thế ngày mai giấc mơ hoa
Chăn đơn sười ấm bóng quê nhà
Em tìm kỷ niệm qua ngày tháng
Anh giữ tình ta trong thiết tha...


PHẠM HÒA VIỆT
READ MORE - TÌM EM - Thơ Phạm Hòa Việt

ĐÂY TRANG SỬ PHẬT - Thơ Hạnh Phương

Tác giả Hạnh Phương


ĐÂY TRANG SỬ PHẬT


Dưới gốc cây vô ưu
Đản sanh thân thanh tịnh
Ngọt tiếng chim thư cưu
Trời, người cùng ca vịnh.

Sanh thân diệu pháp thân
Vì chúng sanh thị hiện
Hữu tình đồng hiền thiện
Khai, thị, ngộ, nhập… thần .

Nửa khuya vượt cấm thành
Ngôi Đông Cung bỏ ngỏ
Ni Liên vượt qua bờ
Mái tóc xanh gởi gió …

Quyết tìm đường học đạo
Chưa gặp thầy uyên áo
Kiên quyết lặn rừng sâu
Lánh cõi trần huyên náo.

Thân que củi  héo khô
Bữa ăn vài hạt gạo
Sáu năm dài lơ láo
Chưa thấy ngọt cam lồ .

Trở gót ra bờ sông
Ngâm mình dòng nước mát
Nhận bát sữa, ấm lòng
Tâm thanh trong khoáng hoạt.

Bước tới cội Bồ đề
Trải cát tường thiền tọa
Phát đại nguyện kiên thề
Quyết tìm ra đạo cả .

Suốt bảy thất tham thiền
Lũ ma ám … dẹp yên
Ánh tâm quang rạng rỡ
Quả Đạo chứng trang nghiêm…

Trở lại Vườn Nai xưa
Tìm bạn hiền thuở nọ
Chuyển pháp luân soi tỏ
Mở nẻo vào chân như .

Bốn chín năm trải gót
Khắp vạn nẻo đường quê
Diệu pháp âm mật rót
Khắp đại địa sơn khê .

Ba trăm hội đàm kinh
Cứu phàm ngu thoát khổ
Bao thánh hiền đốn ngộ
Ánh đạo vàng xương minh .
Ba Ngôi Báu quang vinh
Đệ tử tròn bốn chúng
Bỏ thân bốn đại chủng
Về bảo sở viên minh.

Giữa khuya rừng Sa La
Phật thuyết kinh Di Giáo
Giới là Thầy chỉ Đạo
Từ đây đến muôn xa.

Phật thị hiện niết bàn
Lưu ngọc châu xá lợi
Lợi lạc khắp nhân gian
Phước ngàn trùng vời vợi.

HẠNH PHƯƠNG
Phật lịch 2562

READ MORE - ĐÂY TRANG SỬ PHẬT - Thơ Hạnh Phương

TÔI BÁN VÉ SỐ - Kha Tiệm Ly

Tác giả Kha Tiệm Ly


Tôi Bán Vé Số
 Kha Tiệm Ly

Nghề ít vốn, hoặc không cần vốn

Trước khi làm nghề bán vé số dạo thì tôi đã có thâm niên hơn năm mươi năm… mua vé số. Với thời gian đáng nể như vậy nên tôi thừa kinh nghiệm để biết giai cấp nào thích, giai cấp nào không thích mua vé số, và rành rọt thành phần nào bán vé số “chạy” nhứt, cũng như bán chỗ nào, mời lúc nào cho có hiệu quả nhất!

Trước tiên phải nói là những ai mua vé số thì ít nhiều người đó cũng có chút máu ăn thua! Mua vé số là mua hy vọng, hy vọng được đổi đời nên với hạng người mua gánh bán bưng, xe ôm… họ mới thường mua, nhưng chỉ “cầu may” một vài vé, vì tiền đâu mà mua nhiều! Hạng “khá khá” như chủ quán cà phê vỉa hè thì bốn năm vé. Xộp nhất là với hạng dư giả, đó là những tài xế, chủ sạp vải, chủ vựa, dân cá độ, dân cho vay, và những người có “tiền chùa”, tạm hiểu là tiền mà do mánh mung hay gì gì đó mà có mà không tốn mồ hôi, thì vài chục vé, có khi cả cọc là chuyện thường! Bài bản là như vậy, nhưng cũng còn tùy thuộc vào “máu”… vé số của mọi người!

Thành phần bán “chạy” đầu tiên phải kể là học sinh, trẻ em; kế đó là người già cả, bệnh hoạn – càng già, bệnh càng nặng càng tốt - hai hạng người nầy mỗi ngày trung bình được trên trăm vé, người già có thể bán được nhiều hơn nữa, ngặt “đi không nổi” vì mỏi gối mỏi lưng; tiếp theo là người đui mù, tật nguyền - càng thê thảm càng hay - hạng nầy ngày hai, ba trăm vé là thường; cuối cùng, hạng bán chạy nhứt vẫn là các cô gái trẻ đẹp, nhưng phải có cái miệng dẻo một chút, biết “chiều” khách một chút, biết “nói chơi” một chút, hạng nầy ngày nào bán ba trăm vé kể như ngày đó bị tổ trác! Còn với nam thanh niên, người sồn sồn mà khỏe mạnh mà đi bán vé số thì coi như đã chọn lầm nghề!

Thu nhập bằng nghề bán vé số đáng kể lắm. Tùy theo trả tiền trước hay trả sau cho thầu (đại lý), hoặc “mua đứt bán đoạn” hay trả lại vé ế vào giờ nào mà tiền lời từ một ngàn đến một ngàn hai một vé. Còn như nếu nếu nhận vé “xấu”, thì lời được một ngàn rưỡi / vé. Đổ đồng với người già và trẻ em, thì thu nhập cũng hơn ba triệu một tháng, tương đương lương của những người phụ việc ở các quán ăn, của người bán hàng rong… mà lại “phẻ” hơn nhiều; còn với người tật nguyền, với các cô gái thì mỗi tháng cũng chín, mười triệu đồng! Với lương công chức thuần túy (giáo viên, nhân viên bưu chính, nhân viên ngân hàng, công an viên, bác sĩ,…) vẫn ngoài tầm tay với!

Bán vé số có thu nhập “cao” thì nhiều lắm cũng tầm như nói trên, bù lại họ đi cũng rã bánh chè (và không ít khi bị bị khách khinh khi ra mặt)! Có người nói bán vé số thu nhập trăm triệu đồng / tháng thì không biết họ căn cứ vào đâu.

Được xếp vào trong tuýp bán chạy nhưng không phải vì thế mà không cần học hỏi thêm: Nếu mời không đúng nơi đúng lúc thì cũng như không.

Trước hết là nơi bán.

Trừ những người tật nguyền quá thê thảm như đi đứng, nói năng khó khăn, đui mù, còn bất cứ ai bán vé số dạo cũng phải.chịu khó… đi dạo, và có lời mời khách; nhưng nếu khách hàng lắc đầu hoặc xua tay thì phải đi ngay, không nên nhèo nhẹo mà làm khách bực mình. Khách đang trộn một tô phở, hay ngay giao lộ đèn xanh đèn đỏ (mà đèn đỏ sắp “cháy”), lại chìa xấp vé số trước mặt mà được mua thì chỉ khi chắc chắn vé đó chiều vô độc đắc!

Điểm tiêu thụ vé số nhiều nhất là các quán cà phê, và khu vực chợ, tại đây có nhiều tay như ghiền, họ nói, ngày nào không mua là “như thiếu thiếu cái gì đó”, kế đó là các chùa chiền vào những ngày lễ lớn, họ “mua để làm phước” (!) cũng như để chứng minh cho trời phật thấy cái “hạnh lành” của họ! Những ngày nầy tuýp già cả, tật nguyền thắng lớn! Quán nhậu cũng là nơi bán vé số lý tưởng, vì ai có chút rượu vào thì họ cũng hào phóng hơn. Với những cô gái xinh xinh, ăn mặc sạch sẽ một chút, má môi đỏ đỏ một chút, biết nói đẩy đưa một chút, và nhất là phải biết nhấm rượu một chút khi khách mời “uống với anh đi em!”, thì các quán nhậu nhẹt là nơi đắc địa.

Trong bệnh viện vào các giờ thăm nuôi, các thân nhân người bịnh (nuôi bịnh), dù bạc tiền dè sẻn, họ cũng ráng mua vài tờ để cầu mong thần tài chiếu cố hầu đỡ lo lắng tiền phòng, tiền ăn uống, thuốc men!

Như nói trên, người bán vé số dạo nếu chịu khó... dạo thì mỗi tháng cũng kiếm được gần bốn triệu đồng, tiện tặn thì cũng đủ muôi vợ nuôi con qua ngày ; với thành phần được khách "ưu đãi" đã kể thì bảy tám chín mười triệu như chơi. Cho nên ta không ngạc nhiên khi thấy các cô gái áo quần thời trang , phấn son thơm phức, đi xe tay ga đến điểm cần bán, thắng cái "kịt" rồi yểu điệu bước xuống với cọc vé số trên tay!

Một điểm bán vé số hết xẩy nữa là chỗ đám ma! Nhưng không phải cứ nhắm mắt bước vô chìa xấp vé số thì cũng như không! Mà phải nhìn lên bảng cáo phó coi người chết thọ bao nhiêu tuổi. Thí dụ bảy mươi, thì nếu trong cọc vé số của mình không có số 70 đuôi, thì hãy tức tốc chạy u về nhà thầu lấy cho được số nầy! Thì chắc như đếm: vài chục tờ bán trong tích tắc! Và nếu ngày đó mà số đề ra con 70 thì kể như nhà thầu sập tiệm!

Tôi biết được một gia đình gồm một mẹ ba con từ Trung vào mà đứa nhỏ nhứt chưa tới tuổi đến trường. Ban đầu không nhà, phải ngủ vỉa hè; dần dần mướn được nhà trọ, và sau 4 năm bán vé số, họ đã làm chủ được căn nhà trong hẻm khá khang trang.

Có người nhờ bán vé số mà nuôi con ăn học thành tài.

Quanh tờ vé số

Biết thế, nhưng có người "đói chết bỏ chớ không bán vé số”. Tại sao vậy? - Chẳng qua là sĩ diện hão mà thôi! Họ coi bán vé số là một nghề mạt hạng của xã hội, hành nghề đó sẽ bị người người khinh dễ và “mất mặt” với xóm làng (!), dù nghề họ đang làm thu nhập chỉ hơn phân nửa người bán vé số bình thường! Có một ngưởi làm nghể hủ tiếu gõ nhiều năm, khi không còn sức khỏe để thức khuya dậy sớm nấu nướng, đẩy xe khắp hang cùng ngõ hẻm nữa, thì nghề thích hợp nhứt là bán vé số! Thế nhưng, nghĩ mình đường đường là một ông chủ… hủ tiếu gõ mà nay lại bàn vé số thì còn gì thể diện? Nhưng nếu không bán thì đói, nên ông ta hàng ngày phải đạp xe đến các xã ven mà hành nghề! Dù “giấu nghề”, nhưng lâu dài người ta vẫn biết. Biết thì biết, nhưng nhứt định không “khai”!

Nói thì nói vậy, nhưng trên đời nầy không có nghề lương thiện nào mà không đổ mồ hôi và nếm chua cay cả! Những ngày mưa bão, bán ế ẩm, không tiền trả vốn cho nhà thầu là chuyện thường; những ngày tốt trời thì người già, người tật nguyền đôi khi bị cướp giật vé số, tiền bạc; bị đổi số “trúng” bị cạo sửa; trẻ em thì bị uy hiếp. Mới hay cái ác không từ một ai!

Quanh tờ vé số có nhiều chuyện bi hài cười ra nước mắt!

Một chị rất nghèo (giàu ai bán vé số?), một buổi xế, vé số chị còn khá nhiều nhưng chị bị nhức đầu, đành nằm nghỉ cho bớt rồi bán tiếp, ai dè chi mê man đến chiều tối; tỉnh dậy chị khóc hết nước mắt. Nào ngờ sáng hôm sau chị dò thì chị trúng bốn tờ độc đắc!

Xác suất trúng số rất thấp: có người tính thử là chồng vé số cao tới… cây cột đèn mới có một tờ trúng độc đắc! Khó trúng như vậy nhưng không phải là không trúng, thậm chí có người trúng độc đắc tới ba lần! Cho nên chớ mua vé số mà tặng ai (trừ những người mình đặc biệt yêu quý): Trật thì không nói gì, nhưng “rủi” trúng thì mích lòng vì… tiếc của! Có một anh vào quán uống “tay quơ”. Hứng chí anh ta mua 5 tờ; giữ lại 1 tờ, còn 4 tờ thì hào phóng tặng cho 4 em, mỗi em một tờ. Chiều, tất cả đều trúng. Anh ta tiếc rẻ, phải chi không cho mấy em thì anh ta sẽ hưởng trọn 10 tỉ (làm tròn)! Anh ta bèn gỡ gạc bằng cách đến năn nỉ, xin lại các em mỗi người hai trăm triệu, thi đều được câu trả lời :”Ai biểu ông ngu, ông ráng chịu!”. Ói máu chưa?

Có ông đang nhậu dò vé số, sớn xơ sớn xác thế nào mà ngỡ là trật, rồi quăng di. Đứa bé bán vé số dò lại thì trúng độc đắc!

Có chị bán vé số, ngày nào cũng chừa một vé để mong đổi đời; thế nhưng có một ngày không biết sao chị bán luôn tờ mình chừa lại. Chiều tờ đó trúng! Khỏi phải nói chị tiếc rẻ đến cỡ nào!

Chuyện quanh tờ vé số thì còn rất nhiều, khó mà kể hết. Có điều làm người ta ngạc nhiên, là tại sao những người trúng số sau một thời gian họ lại nghèo hơn lúc chưa trúng - dù họ trúng hai lần? Hỏi rồi tự trả lời “của thiên trả địa thôi!”; “tiền làm không đổ mồ hôi, khó bền lắm”. Thực ra chẳng qua vì tâm lý mà thôi: Hồi nào thiếu thồn, giờ có tiền thì ăn uống thả cửa, mua sắm thả ga! Hồi trước mua vé số mỗi ngày chỉ vài tờ (tiền đâu mua nhiều?), giờ thì chơi cả cọc, cả cọc! Trước thì sau cả ngày làm việc, anh em lối xóm cùng chung vài xị rượu pha cồn để “giải nghể”; giờ thì đi xe láng cón (coóng), cứ nhà hàng trực chỉ mà luôn kèm theo đám “nịnh thần” chầu chực kiếm chác chút rượu tây, bia bọt! Trước thì…

Đó là chồng, còn vợ thì cũng không kém: Trước thì chi tiêu hằng ngày có căn bản, nếu nay lỡ tiêu quá quy định thì mai tiêu ít lại để bù qua; trước thì quần áo xuềnh xoàng, nay thì mô đen, hàng hiệu. Trước thức khuya dậy sớm, nay thức sao nỗi! Bèn cho vay vì nó nhẹ nhàng mà lợi gấp mấy lần mua gánh bán bưng!

Và rồi ở không mãi cũng chán nên tìm mối… đánh bài, chơi đề!

Chồng ăn nhậu, vợ bài bạc, con nợ trốn đi, thì không sớm muộn gì cũng nát cửa tan nhà! Đó là các lý do mà những người nghèo khổ mà trúng độc đắc thì thời gian sau còn nghèo hơn trước.

Cũng không ít người nghèo trúng độc đắc mà họ “lên” luôn; chẳng qua là họ vẫn chí thú làm ăn, không vấp phải những khuyết điểm tệ hại như trên mà thôi.

Có một hạng bán vé số khá đặc biệt nữa là hạng trí thức hết thời – thường là nhà văn, giáo viên về hưu - Hạng nầy, nếu để ý chút là nhận ra liền: Ăn mặc sạch sẽ, ít nói, cọc vé số trên tay mỏng dính’. Họ cũng không tụm năm tụm ba với “đồng nghiệp” bàn chuyện tào lao, không nhèo nhẹo mời khách, và khi nghỉ ngơi thường ngồi trầm tư uống cà phê một mình…

Sau năm 1975, kẻ viết bài nầy đã có hơn chục nghề - tính luôn đang hành nghề bán vé số dạo! Nên thường xuyên la cà nơi các quán cà phê và quán nhậu để kiếm cơm; vì vậy thường chứng kiến những chuyện mà mới nghe ai cũng tưởng “nói láo mà chơi, nghe láo chơi”: Một bữa tôi đang bán bàn bên nầy, thì nghe một vị chạng bốn mươi ngoài, mặt bụng tròn trịa, áo bỏ vô thùng, đang hỏi ngươi bán vé số mà tôi cho là “trí thức hết thời”:

- Ông nhớ tui không?

Ngập ngừng:

- Xin lỗi, tôi không nhớ…

- Hi! Nhưng tui nhớ ông rất rõ vì ông có cái nút ruồi hãm tài trên mặt!

Nhiều người tỏ ra bất bình; hắn tiếp:

- Cha tui là học trò ông! Hồi tui còn nhỏ, cha tui lâu lâu chở tui đến thăm ông lúc ông “mất dạy” đó. Ông nhớ chưa? Ha ha…

Không biết vị thầy nầy “còn nhớ hay đã quên”, nhưng ông chỉ thẳng người đối diện, nói:

- Rất may là tôi không có đứa học trò nào như cậu!

Nghề lương thiện nào cũng chua chát. Nghề bán vé số dạo cũng không ngoại lệ!

KTL

READ MORE - TÔI BÁN VÉ SỐ - Kha Tiệm Ly