Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, January 21, 2018

GIẤC PHÌ NHIÊU / ĐI BÊN MÙA LÁ RỤNG / ĐIỆP KHÚC - Chùm thơ * Hoàng Quý

Tác giả Hoàng Quý
Chùm thơ Hoàng Quý
(Do Du Tử Lê và Lê Thiên Minh Khoa tuyển chọn)

GIẤC PHÌ NHIÊU
              (Thơ văn xuôi)
                                 
Rất nhiều khi ta thảng thốt mơ giấc phì nhiêu của đời người. Em đâm đuống, em trổ ống, ta đánh cồng và ca hát khúc ca của Mường Người. Đây là non xanh, kia là thung xanh, con trâu thở hơi sương tung bọt dãi dưới vòm tre kẽo kẹt. Thằng bé đánh cù con cù quay tít. Ông ké già, bà ké già tóc xoà như cước vẹo xiêu men đắng men nồng. Vũ trụ bơ thờ hương lửa. Ta và em đắm nhìn mê sảng giấc phì nhiêu.

Nín nhìn chiếc đèn kéo quân xoay, quan xoay, lính xoay, quản tượng xoay, kẻ sĩ xoay vòng vo ngây dại, lũ nông ngư xoay chèo xoay lưới, con cá ngoắt đuôi xoay đuổi không cùng. Em tha thiết, em tươi nồng vũ trường chớp xanh chớp đỏ. Chợ chạ người anh khoe sức lực điền kẻ xem người trả. Em nhìn ta đăm đắm như buồn một thuở, thánh thót loang dài nước mắt phì nhiêu.

Giật mình tỉnh thức: - Ô! Chỉ là cơn mê. Cơn mê của mộng si níu giữ. Cuối bờ kia gầm gừ sóng phủ, biển vẫn xanh cái xanh hoang như chưa bao giờ xanh thế, gió vẫn rung reo thao thiết đến vô cùng. Con thuyền ra khơi và lưới, và cá. Vũ trụ phập phồng cái ngẫu nhiên và không ngẫu nhiên. Giấc phì nhiêu của em, của ta không là gì cả. Hiện và xóa. Không là gì cả! Không là gì… một nhúm phì nhiêu.
                                                                  1996

       ĐI BÊN MÙA LÁ RỤNG

       Nếu không còn gì ao ước ở trong tôi
       Thì có nghĩa chả còn gì để mất.
                                       (Olga Becgon)

Trên quê chị đã mùa động tuyết
Vít cong cây và trắng ướt trời
Nơi tôi đợi lại một mùa lá rụng
Những mảnh vàng gieo ánh cả vườn tôi

Trang thơ cũ trước cây vườn tôi hát
Lóng lánh buồn vui bên lá rơi
“NHẮC AI ĐI QUA DÙ ĐẦY ĐỦ LỨA ĐÔI
NHẮC CẢ NHỮNG AI ĐI CÔ ĐỘC TRÊN ĐỜI
TRÁNH, ĐỪNG ĐỘNG VÀO CÂY MÙA LÁ RỤNG” (1)

Ta cả tin
Ta rất nhiều mơ mộng
Kiên tâm trồng những tháp cát lên mưa
Mê mải thúc những con tàu rỉ sét
Phăm phăm Hành khất – Thế nhân – Buồn …

Thưa chị! Lá trên cành rụng đấy
Chúng loay hoay như một tiếng thở dài
Mơ lên mỏi cõi nhân sinh rúm ró
Giấc mơ vàng trong mắt lá mồ côi!
                                                   1996  
(1)Lời trong một bài thơ của On - ga Béc - gôn
(Bản dịch của Bằng Việt)

       ĐIỆP KHÚC 

      Mỗi ngày
      Mọi hiện hữu lại bước ra từ hư không
      Ta cứ tưởng đã hiện hữu không còn lo thất lạc
      Niềm tin có thời

Mỗi ngày
Những hình dung từ đến chào từ biệt
Như những chiếc lá vàng buồn và đẹp
Đã từng xanh muội mê xanh!

Mỗi ngày
Sự minh triết cô đơn như gió
Sự minh triết càng chất chồng càng hoang vu như cỏ
Gió mãi loay hoay đi tìm mái nhà mình
Cỏ chen vật vã mưu sinh?

Mỗi ngày
Đời người thêm một đoạn văn viết dở
Những hình hài như có như không
Chưa chợp mắt đã hoang đường hiện hữu
Đầy đường nhân nghĩa rêu rong…

Ta cứ lăm le Đóng - Đinh - Câu - Rút
Đắp - Thánh - Đường - Cõi - Nhân
Giá tình yêu vô tư như thể đất
Xoay vòng!

                                     1997
                                     Hoàng Quý
READ MORE - GIẤC PHÌ NHIÊU / ĐI BÊN MÙA LÁ RỤNG / ĐIỆP KHÚC - Chùm thơ * Hoàng Quý

MẸ ƠI, CON ĐÃ VỀ! - Truyện ngắn Lê Hứa Huyền Trân



Tác giả Lê Hứa Huyền Trân

MẸ ƠI, CON ĐÃ VỀ!
Truyện ngắn
*Lê Hứa Huyền Trân

Cứ mỗi khi Tết về là lòng cô lại chợn vợn gì đó không rõ, nó như một nỗi buồn giấu kín, ẩn sâu bên trong vẻ mặt lúc nào cũng tươi cười hăm hở. Cô luôn tự khen chính mình là giấu cảm xúc giỏi thật, đến độ cô ngờ vực cả chính bản thân liệu có phải là một diễn viên không, sao có “năng khiếu” như vậy mà lại đi chôn chặt cuộc đời ở một công ty kế toán đầy lạnh lẽo như này.
      Ngày cô còn bé, cô ngóng Tết như bao đứa trẻ khác, Tết ở quê cũng vốn không xô bồ và lạnh nhạt tình người như chốn phố thị đông đúc này. Nhà cô chỉ có ba người nhưng Tết lúc nào cũng ngập tràn tiếng cười trong căn nhà nhỏ, tưởng như ai đi qua đều có thể nghe thấy tiếng cười trong trẻo của cô gái nhỏ bên cạnh ba mẹ của mình và cứ thế thốt lên: "Ôi, gia đình ấy hạnh phúc quá!”. Cô lớn lên trong một xóm lao động nghèo, ở miền quê suốt ngày bán mặt cho đất bán lưng cho trời này, dẫu có thế, chưa bao giờ ba mẹ để cho cô một mùa Tết thiếu thốn. Dẫu cái thiếu thốn theo định nghĩa của người nghèo khác hẳn chúng ta vẫn nghĩ, có chăng, đầy đủ trong mắt họ là những ngày Tết có thể kho được một nồi thịt kho tàu khi múc ra chỉ vừa một chén, chẳng phải là những quả trứng gà trứng vịt to lớn mà chỉ là ba bốn quả trứng cút gọi là, và vài ba cục thịt mà có lẽ ai đó bán rẻ vì đã vãn phiên chợ chiều. Hoặc ít ra cái đầy đủ là có chậu mai chưng trước cửa như những nhà giàu ở khu phố luôn để một chậu to tướng, độ bề thế của mai càng chứng tỏ độ chịu chơi của họ, thì nhà của cô bé chỉ có một chậu nhỏ thôi nhưng ít ra nó cũng mang đến mùa xuân trên cánh hoa vàng rực mỗi khi ánh nắng chiếu vào.
      Ba cô đi cộ, ngày vất vả đến tối mịt mới về, còn mẹ cô bán buôn ngoài chợ, phiên chợ Tết đông người nên cũng thường hay về trễ. Những ngày thường nhật mẹ cô có về sớm hơn kịp nấu bữa cơm chiều còn không thì cô thay mẹ nấu rồi trông khi cả hai sắp về sẽ đi hâm nóng lại cơm cho cả nhà ăn ngon miệng. Cô vốn không có thói quen đòi hỏi, với cô Tết nghĩa là “gia đình quây quần bên nhau”, thế là đủ lắm rồi. Ba cô cưng cô lắm, mỗi khi cô làm sai, dù bận rộn sau một ngày vất vả mà khi nghe cô bé bị mắng, thể nào cũng bênh vực:
      -Bà lại mắng con gái tôi đấy à? Thấy nó nhè tội chưa?
      Và những lúc ấy mẹ cô sẽ lại thở dài:
      -Ông tướng lại bênh vực con gái rượu ổng rồi đấy!
      Và hai ba con cô sẽ bật cười. Nhớ Tết năm nào, ba cô ráng cày tới tận khuya ba mươi mới về, mẹ cô
giận lắm, vì mẹ cô luôn muốn cả gia đình sẽ đón giao thừa cùng nhau, vì đối với bà, người phụ nữ mồ côi thì những phút giây sum họp này luôn là những tháng ngày thiêng liêng nhất, ba cô phải xin lỗi mãi, để rồi khi tranh thủ mẹ cô không để ý vội kéo cô ra một góc, đưa cho cô một chiếc quần mới, to nhỏ:
      -Ba chạy chuyến cuối, kiếm được thêm một ít, mua cho con chiếc quần mới đi chơi tết này. Khẽ thôi, chứ mẹ biết, mẹ mắng đấy! Lại bảo ba cưng con gái.
      Cô nhớ về những ngày tháng ấy mà quệt nước mắt rơi lã chã, ba luôn dành dụm từng chút một cho cô,
và cô luôn hạnh phúc đến nỗi chỉ cần có ba trên đời cô tin chắc mình sẽ không bao giờ cô đơn nữa, bờ vai ấy có thể cõng cô đi cả thế giới này. Khi cô lớn lên một chút, ngoài thời gian học cô vẫn thường theo ba đi cộ, những ngày gần Tết, nhà người ta thường có nhiều đồ bỏ đi và cô thường theo ba đi nhặt về, khoảnh khắc khi hai cha con cùng nhau làm điều gì đó là những tháng ngày tuyệt vời nhất trong cô. Cô còn nhớ như in lúc ba mang về cho cô một chậu tắc con đựng trong một cái chậu nhỏ, cây tắc non không quá đùi cô mà cô dành để trên bàn chưng Tết, cũng là vì ba nhớ cô kể đám bạn năm nay chơi tết toàn tắc, và dù không thể mua cho con gái một chậu tắc bề thế như nhà người ta, ba cô cũng để dành tiền mua được một chậu tắc nhỏ cho con gái vui vầy.
      Cô cũng thích những ngày cùng ba canh nồi bánh tét, thường để lại một hai cây ở nhà ăn Tết còn lại đem bán, cô thường ngủ quên trên vai ba dẫu trước đó tự tin tuyên bố:
      -Con sẽ thức cả đêm canh nồi bánh cho ba, năm nay con lớn rồi, đỡ đần ba được.
      Nhưng sáng hôm sau, khi những đòn bánh thành hình thể nào ba cũng khoe với mẹ:
      -Con gái tôi giỏi lắm đấy nhé, nay đã biết thức đêm canh bánh cho ba rồi.
      Những ngày Tết là những ngày gia đình ba người ấy quây quần bên nhau, cùng trang hoàng quét dọn
nhà cửa, cùng nhau ăn miếng gừng cay và chúc nhau một năm mới tươi đẹp luc giao thừa..” Nhà” là nơi làm cô hạnh phúc nhất mỗi khi Tết về, thậm chí lên cấp ba, khi trẻ con trong xóm phải đi học xa và ở lại trường cô vẫn nhất quyết đạp xe hàng cây số chỉ để về nhà, ngủ với ba mẹ. Thế rồi, biến cố xảy ra, ba cô không may mất trong một tai nạn, những ngày gần Tết xe cộ đông, một bác tài lỡ lạc tay… Cô thành đứa bé mồ côi cha. Những ngày Têt xưa kia càng vui bao nhiêu nay đối với cô chỉ như cực hình, nhìn nơi đâu cô cũng thấy hình bóng ba mình vẫn còn, kí ức hạnh phúc trở thành ác mộng đeo bám cô mỗi đêm khiến cô khóc hoài. Và Tết năm ấy cũng trở thành năm buồn nhất của cô.
      Năm sau, cô bước vào đại học, không như suy nghĩ lúc trước sẽ chọn học một trường gần nhà, cô đăng kí học đại học ở thật xa. Đó như một cách để cô tự nhủ không thể về nhà thường xuyên và để làm lòng mình bớt ăn năn. Ngày cô đi, mẹ cô thêm một lần nữa khóc, nhưng ngay cả mẹ cũng hiểu nỗi đau của cô nên không cản, và dù cô cảm thấy rất dày vò khi cuối cùng sẽ chỉ còn mẹ vò võ trong ngôi nhà ấy, cô cũng nhất quyết không về nữa. Những ngày gần Tết, cô luôn kiếm cớ không về, năm thì cô bảo xa quá, tiền xe về quê đắt đỏ, cô lại là sinh viên nghèo, có năm lại bảo bận việc làm thêm, có khi lại bảo hết vé. Khi nhớ cô quá, mẹ cô lại tất tả lên thăm và chưa một lần oán trách, bà hiểu được chỉ cần cô bước chân vào ngôi nhà đầy hạnh phúc xưa kia thì cô sẽ khóc òa. Huống hồ, những ngày giáp Tết lại là ngày giỗ bố cô.
      Khi cô ra trường với tấm bằng giỏi cô được nhận ngay vào một công ty tài chính khá tiếng tăm, tiền lương khấm khá nên cô cũng muốn đón mẹ về ở chung, nhưng đáp lại mẹ cô chỉ nhẹ nhàng:
      -Mẹ ở quê quen rồi, phố xá lạ không quen. Hơn nữa ở đây có mộ phần của ba con, mẹ ở gần tiện đường cúng bái.- Rồi bà trầm ngâm lưỡng lự- Mẹ không ép con về nhưng chưa năm nào con về giỗ ba…
      -Cô cúp vội điện thoại như không muốn nghe tiếp về một nỗi đau. Cô đi làm ở phố ba năm chưa bao
giờ cô chu cấp thiếu thốn cho mẹ, khoản tiền cô gửi về đủ cho mẹ cô sống một cuộc sống đầy đủ ở quê, dẫu thế chưa bao giờ bà vơi bớt đi nỗi cô đơn, cô biết. Cô lại lấy việc chu cấp đầy đủ đó thành lí do để mình bớt ăn năn khi để người mẹ già một mình ở quê và đinh ninh lời từ chối không dọn lên phố ở chung của bà là cô đã hiếu thảo nhưng bị khước từ. Đến năm thứ mười sau khi ba cô mất mẹ cô lại một lần nữa nhắc lại:
      -Năm nay con có thể về được không? Đã mười năm rồi, ba nhớ con lắm…
      Không hiểu sao từ nỗi đau cô chuyển sang tức giận:
      -Không phải con nói với mẹ là con không muốn về ngôi nhà ấy rồi sao? Con đã muốn mẹ dọn về ở chung, tiện đường cúng giỗ, mẹ lên phố ở cũng được sao nhất thiết cứ ở quê?
      -Mẹ đã nói với con nhiều lần rồi, thôi con không muốn về mẹ không ép.
      -Con đã gửi tiền cho mẹ rát nhiều rồi, mẹ thay con cúng ba, xin mẹ đừng ép con về nữa.
      Mẹ cô đột nhiên đứt quãng:
      -Tiền con gửi về suốt mấy năm qua mẹ vẫn để đó dành con sau này, mẹ chỉ muốn con về nhà một lần, nhà là nơi để con quay về mà…
      Những ngày gần Tết bầu trời trở nên lạnh lẽo thêm, người người tất bật đón tàu xe về quê cho kịp Tết những ngầy ấm áp. Năm nào cô cũng nhận thêm công việc về nhà làm những ngày ấy để khua bớt nỗi cô đơn. Cô lại chuẩn bị ra ngân hàng gửi tiền về cho mẹ thì nhớ lại những câu mẹ  nói ngày hôm qua, vậy không lẽ tiền mình gửi về mẹ không hề dùng? Những năm qua mẹ đã sống sao? Tất cả cô đều không biết, cô luôn viện đủ lí do chứ thực ra chẳng hề biết gì, dù cô có nhiều tiền ra sao thì đó cũng là điều mẹ cô không hề cần, điều bà ấy cần lúc này chỉ là cô thôi. Và năm ấy, khi ba cô ra đi, chẳng phải người đau đớn nhất vẫn là bà sao? Nhưng bà vẫn ở lại, cũng vẫn một nỗi đau nhưng vẫn muốn ở lại chỉ để gìn giữ ngôi nhà ấy, ngôi nhà mà khi còn bé cô đã luôn muốn quay về, ngôi nhà ngập tràn hạnh phúc.
      Ba mươi tết, cô tất bật đón chuyến xe cuối về quê, ngôi làng mười năm cô chưa một lần quay lại người người đang tất bật đón Tết, có vài người nhận ra cô, họ mừng rơi nước mắt. Cô tìm đường về nhà một thời đã rất thân quen, mẹ cô đang lau chùi bàn thờ ba cô và đặt lên mâm cơm cúng, không để ý cô đang bước vào, cô nhẹ nhàng đỡ mẹ:
      -Mẹ à, con về rồi, để con!
      Bà vội quay lại, thấy con gái mừng rơi nước mắt. Cô nhìn quanh căn nhà, mọi thứ vẫn thế, một tay mẹ giữ gìn. Kí ức mà cô sợ sẽ làm cô đau đớn nào ngờ quay về một cách đầy hạnh phúc khiến mắt cố đột nhiên đổ màu hoàng hôn. Cô nhìn lên di ảnh ba cô, ba vẫn đang mỉm cười, cô bật khóc:
      -Ba à, con xin lỗi ba, con ích kỉ quá.
      Đột nhiên có ngọn gió xuân đâu đây thổi qua, như vỗ về cô, như cách ba cô vẫn thường nói với cô:
      -Tết này hơi lạnh, con nhớ mang bao tay vào cho ấm nghe con!

Lê Hứa Huyền Trân
Hội viên Hội VHNT Tỉnh Bình Định



READ MORE - MẸ ƠI, CON ĐÃ VỀ! - Truyện ngắn Lê Hứa Huyền Trân

HOA BỤP LỒNG ĐÈN (Hoa Lồng Đèn) - Chùm ảnh * Chu Vương Miện







READ MORE - HOA BỤP LỒNG ĐÈN (Hoa Lồng Đèn) - Chùm ảnh * Chu Vương Miện

CẢM TÁC ẢNH TRẦN MAI NGÂN - Thơ Châu Thạch





CẢM TÁC ẢNH TRẦN MAI NGÂN

Em áo đỏ trước cổng chùa sơn đỏ
Và dưới hoa cũng sắc thắm một màu
Dáng của người như dáng đứng hàng cau
Hàn Mạc Tử đã gợi hồn thôn Vỹ


Em không Huế mà trông như gái Huế
Biết bao nhiêu duyên dáng đất kinh thành
Chỉ một nhìn đã biết vạn màu thanh
Và nếu ngắm nhớ bao nàng công chúa


Em có cả một tâm hồn tơ lụa
Kén cho đời dệt mãi vạn ngàn thơ
Hương cho đời trải thảm dưới trăng mơ
Tình cho gió bay cao vời mộng ước


Em còn cả một tâm hồn sông nước
Đất miền Nam trù phú ruộng phù sa
Những đàn cò cất cánh giữa bao la
Em cô gái thơm tho mùi gạo trắng


Ta quý em với tình yêu của nắng
Gởi về em trân trọng của người anh
Không cùng cha nhưng cùng nghĩa trọn lành
Là tri kỷ, là thơ, là vẻ đẹp!!!



                                              Châu Thạch

READ MORE - CẢM TÁC ẢNH TRẦN MAI NGÂN - Thơ Châu Thạch

Saturday, January 20, 2018

TIM TREO ĐẦU NÚI - Thơ * Huy Uyên



 TIM TREO ĐẦU NÚI

Ta tặng người trái tim
Người đem treo đầu núi
Ta tặng người mối tình
Người lặng thinh không nói.

Để tim ta bối rối
Để tình người lãng-phiêu
Mai gối chồn chân mỏi
Đem chôn ai cuối đời.

Em biển cả chơi vơi
Ta con chim sóng vỗ
Thuyền từ mù xa khơi 
Cố-nhân bàn tay vẫy.

Thôi còn gì ở đó
Nụ hôn người cuối cùng
Xa nhau vòng trái đất
Ta kỷ-niệm vờ chôn.

Người là bướm là hoa
Là mây trôi vạn dặm
Một đời ta mãi chờ
Ai cõi người xa thẳm...

Huy Uyên


READ MORE - TIM TREO ĐẦU NÚI - Thơ * Huy Uyên

Friday, January 19, 2018

TÌM LẠI THÂN THẾ SỰ NGHIỆP CỦA PHÓ BẢNG-THƯỢNG THƯ LÊ TRINH * Lê Ngân


TÌM LẠI THÂN THẾ SỰ NGHIỆP CỦA PHÓ BẢNG-THƯỢNG THƯ LÊ TRINH
Bài học về đạo lý “uống nước nhớ nguồn”.
*Lê Ngân, Luật gia - Nhà báo
(Cháu nội Phó bảng-Thượng thư Lê Trinh.) 

         Tôi là người gốc thuộc tộc họ Lê Cảnh ở Bích La Đông, Triệu Phong, Quảng Trị nhưng sinh ra, lớn lên, học hành ở kinh đô Huế thời nhà Nguyễn cho đến cách mạng tháng Tám 1945, cho đến tròn 18 tuổi, chưa một lần được đặt chân về mảnh đất quê cha đất tổ. Lúc nhỏ sống trong gia đình, tôi có nghe nói ông nội tôi là cụ Lê Trinh nhưng đã qua đời từ lâu, ngoài tên Lê Trinh không còn tìm thấy bất cứ một thông tin nào của ông nội. 
      Ngày CM tháng Tám thành công, ở cố đô Huế, tôi đang học năm thứ tư hệ trung học trường Lycée Khải Định (nay là trường Quốc học-Huế). Theo lời kêu gọi “xếp bút nghiên lên đường tranh đấu”, phần đông học sinh lớp tôi đã bỏ học đăng ký gia nhập “quân giải phóng Thừa Thiên” (sau đổi tên “Vệ quốc đoàn”), được theo học một khóa thông tin về duyên hải. Sau ngày khóa học kết thúc, tôi cùng một nhóm ba học viên được phòng Quân báo tỉnh Thừa Thiên phân công ra công tác ở Cửa Việt, tỉnh Quảng Trị.Trước ngày nhận công tác ra Quảng Trị, chị tôi nhắn nhủ: ra Quảng Trị nếu có điều kiện em nên tìm về Bích La Đông thăm mộ ông nội Lê Trinh.Tôi ghi nhớ lời dặn của chị. Đến Cửa Việt ba anh em chúng tôi được ghép sinh hoạt chung với một trung đội Vệ Quốc đoàn đồn trú ở đây. 
      Cửa Việt vào những ngày ấy hoang tàn ảm đạm, không có bất cứ một hoạt động hàng hải nào thuộc nhiệm vụ chúng tôi theo dõi.Tuy vậy, hàng tuần tôi được phân công về thị xã Quảng Trị báo cáo tình hình với phòng Quân báo tinh. Để thuận tiện cho việc đi lại, rung đội Vệ Quốc đoàn cho tôi mượn một con ngựa. Đây là lần đầu tiên tôi tập cưởi ngựa. May mà gặp con ngựa thuần tính nên tôi không gặp trở ngại gì trong đi lại. Nhân có con ngựa, tôi hỏi đường về Bích La Đông và tôi đã đạt mục đích lần đầu tiên đặt chân đến mảnh đất quê cha đất tổ.Vào thời điểm này, ở Bích La Đông, tôi chỉ biết duy nhất một người là bác tôi, ông Lê Công Thâm thỉnh thoảng có ra Huế thăm gia đình tôi. Đến làng Bích La Đông, tôi hỏi thăm thì được biết trước ngày nổ ra cách mạng tháng 8/1945, cả gia đình bác tôi đã vào Nam cư trú! Tôi đành hỏi thăm đường ra ngôi mộ cụ Lê Trinh. Ngôi mộ nằm giữa một cánh đồng đẹp, xây dựng bề thế nhưng quạnh hiu, hình như đã lâu không có người chăm nom quét dọn. Bản thân tôi trong tay cũng không có lấy một nén hương để thắp cho ông nội, chỉ đành vái lạy rồi lên ngựa trở về Cửa Việt. 
      Cho đến thập niên 1990, dù đã có nhiều lần về Huế thăm gia đình, tôi vẫn chưa có dịp về lại Bích La Đông  lần thứ 2, nhưng cũng biết thêm: ở Bích La Đông có chú Lê Công Hành, người thừa kế hương khói cho cụ Lê Trinh sau ngày bác Lê Công Thâm vào Nam cư ngụ, chú Hành đã qua đời nhưng hiện gia đình con trai là Lê Công Em, một cựu chiến binh tiếp tục đảm nhiệm hương khói cho cụ Lê Trinh.  
      Năm 1994, theo yêu cầu của chính quyền địa phương, ngôi mộ cụ Lê Trinh (tôi đã từng biết năm 1945) đã được tháo dở, hài cốt quy tập và xây mộ mới ở nghĩa trang Lê Cảnh (Bich La đông).
      Đầu năm 2000, với tinh thần “uống nước nhớ nguồn”, tôi bắt đầu tìm kiếm tài liệu về thân thế, sự nghiệp của ông nội tôi. Ở Huế  có hai gia đình là con trai cụ Lê Trinh có thể còn lưu giữ tài liệu về cụ: một là nhà bác Lê Du ở đường Nhật Lệ thành Nội, đây vốn là nơi ở của Thượng Thư Lê Trinh trong những năm làm Thượng thư bộ Lễ; hai là ngay tại nhà cha tôi, ông Lê Ngô (thường gọi là Tham Ngô vì từng là Tham tá Cơ mật viện đại thần).Tại nhà bác Lê Du đã quá cố, con trai là Lê Bình đã nhiệt tình cùng tôi soát xét hồ sơ, giấy tờ gia đình đang lưu giữ.Tôi chú ý đến một tập vở chép đầy chữ Hán ngoài bìa không ghi gì. Theo anh Bình, đây là tập thơ chữ Hán của cụ Lê Trinh, tác giả chép tay để lưu lại  nhưng từ ngày cụ qua đời chưa ai đọc và dịch.Tôi đã tạm mượn và ra tiệm photo 3 bản về trao lại nguyên bản kèm một bản photo tặng anh Bình.Về lại Hà Nội, tôi đã trao bản phôt tài liệu của cụ Lê Trinh nhờ một số bạn thân là chuyên viên Hán ngữ nghiên cứu và được biết: đây là tập thơ, câu đối của một đại thần triều Nguyễn rất có giá trị, tuy chưa phải cổ vật nhưng cũng đã có trăm năm tuổi.Tuy nhiên, việc biên dịch chưa đạt yêu cầu.  Phải đến năm 2003, tôi trở lại Huế làm việc với phòng Bảo tàng TP Huế, được anh Lê Văn Thuyên, trưởng phòng và anh Lê Nguyễn Lưu chuyên viên Hán ngữ trân trọng tiếp nhận xử lý mới có kết quả mong đợi. Chỉ sau một thời gian ngắn, anh Lê Nguyễn Lưu đã trao cho tôi tập bản thảo công trình biên dịch rất công phu và cho biết: tài liệu tôi đang sở hữu là rất quý và rất có giá trị về lịch sử, về văn học, đây là tập di cảo thơ và câu đối của Phó bảng-Thượng thư Lê Trinh với bút hiệu nhà thơ Bích Phong sáng tác từ ngày bước vào quan trường (năm 1875) cho đến những năm đầu thế kỷ 20 trước ngày nhà thơ qua đời ở tuổi 60 (1909). Tập di cảo thơ Bích Phong chỉ chép tay nhưng chất lượng không thua kém bất cứ một thi tập nào đã được ấn hành cùng thời điểm. Đáng chú ý những trang sau di cảo thơ câu đối do chính Bích Phong chép, có người khác đã chép nguyên văn hai bài Chế, một bài Dụ, một bài Tế của vua Duy Tân thăng phẩm hàm lúc Thượng Thư Lê Trinh đương chức, truy phong tước “Tử” sau ngày Lê Trinh qua đời và bài Tế nhà vua sai làm cử người đại diện  đọc lúc cử hành lễ tang. Tại nhà cha tôi, trong hồ sơ giấy tờ của bà Lê Thị Thuyền, chị tôi đã quá cố, còn tìm thấy một bản tóm tắt lý lịch các chức vụ ông Lê Trinh từ ngày bắt đầu quá trình sau ngày đỗ Phó bảng ra làm quan dưới triều vua Tự Đức và trải qua 5 triều vua tiếp theo cho đến ngày qua đời và một bức ảnh cở 12x18 chụp chân dung Lê Trinh, trên bức ảnh có bài thơ do tác giả sáng tác và tự tay chép trên ảnh cho thấy ảnh chụp năm 1906, lúc tìm thấy là năm 2003, gần đúng 100 năm. Anh được đóng khung gỗ, tuy có một vài hoen ố nhưng gần như nguyên vẹn chân dung và bài thơ chữ Hán. Đây là những tư liệu quý phục vụ cho việc khôi phục thân thế sự nghiệp của cụ Lê Trinh. 
      Một sự kiện tình cờ nhưng rất có ý nghĩa: cùng thời điểm gia tộc cụ Lê Trinh sưu tầm tư liệu về cụ Lê Trinh có thêm sự kiện bà Lê Thị Kinh (Phan Thị Minh - cháu ngọai cụ Phan Chu Trinh) phát hiện trong dịp sang Pháp tìm tài liệu về cụ Phan Chu Trinh đã tìm thấy “biên bản làm việc và hai bản án của Nam triều trong dịp Phan Chu Trinh bị Pháp bắt vào ngày 3/3/1908, bị kết tội chủ mưu kích động nông dân Quảng Nam nổi dậy chống Pháp và giải về Huế giao cho Nam triều xử “trảm quyết” (chém ngay) nhưng Hội đồng Cơ mật Nam triều kết án: "trảm giam hậu”   (giam trước chém sau). Phía Pháp không đồng ý, buộc phải xử lại ở cấp cao hơn với yêu cầu “trảm quyết”! Phủ Phụ chính do hai Phụ chính đại thần đầu triều là Lê Trinh và Cao Xuân Dục đã xem lại và ra phán quyết: “bảo lưu án cũ” và cho thi hành án ngay đưa Phan Chu Trinh xuống tàu đày ra Côn Đảo. (Vài tháng sau, trước cuộc đấu tranh của Liên minh Nhân quyền ngay trên đất Pháp, Phan Chu Trinh được phóng thích và được sang Pháp tiếp tục hoạt động cứu nước cho đến năm 1926 qua đời tại Sài Gòn vì bạo bệnh).
      Toàn bộ các tư liệu mới sưu tầm được là bằng chứng lịch sử cho phép lần đầu tiên dựng lại trọn vẹn thân thế sự nghiệp của Phó bảng-Thượng thư Lê Trinh đã bị quên lãng suốt một thế kỷ kể từ ngày Cụ qua đời.
        “Lê Trinh thuộc tộc họ Lê Cảnh ở Bích La Đông xã Triệu Đông tỉnh Quảng Trị, sinh năm 1850 là con trưởng của ông Lê Cảnh Chính, Binh bộ viên ngoại thị lang hàm nhị phảm dưới triều vua Minh Mạng. Thuở nhỏ, ông nổi tiếng thông minh, học giỏi. Năm 20 tuổi dự khoa thi Hương năm Canh Ngọ,Tự Đức 23 (1870) với danh số Lê Đăng Lĩnh, đỗ cử nhân giải nguyên, năm năm sau dự thi Hội khoa Ất Hợi,Tự Đức 28 (1875) với danh số đổi lại là Lê Đăng Trinh, đỗ Phó bảng và ra làm quan với tên Lê Trinh. Lê Trinh tham dự quan trường từ cuối đời vuaTự Đức, cũng là giai đoạn kết thúc thời kỳ hưng thịnh bắt đầu thời kỳ suy thoái của triều Nguyễn.Tuy nhiên với bản lĩnh riêng của mình, Lê Trinh vẫn tiếp tục đứng vững và phát triển trãi qua 5 triều vua với nhiều biến động của thời cuộc.
      Năm Thành Thái 15 (1905), ông thụ phong Lễ bộ Thượng thư kiêm chức Phụ chính đại thần. Năm 1907 Pháp phế truất ThànhThái. Phụ chính đại thần Lê Trinh đã hiến kế để triều đình chọn hoàng tử Vĩnh San nối ngôi với niên hiệu Duy Tân. Dưới triều Duy Tân, Lê Trinh tiếp tục giữ chức Phụ chính đại thần, Thượng thư bộ Lễ và là một đại thần được vua Duy Tân đặc biệt sủng ái. 
      Ngay sau ngày lên ngôi vua, Duy Tân đã ban bài Chế ca ngợi tài, đức của Lê Trinh và chuẩn cho ông được thăng hàm Vinh Lộc đại phu, Hiệp biện đại học sĩ vẫn giữ chức cũ. Năm 1909 được tin Lê Trinh đột ngột qua đời, nhà vua ban hành đạo Dụ truy phong cho ông tước Vệ Nghĩa tử và sai làm bài Tế cử người đọc trước linh cửu bài Tế có đoạn:
Phiên âm:…Duy Khanh vi nhân, tuấn sảng khôi kỳ. Ngũ triều danh túc, nhất đại biểu nghi……Duy chi tiểu tử, viết vị hữu tri. Thượng lại khải ốc, bậc dư vu di…
Dịch nghĩa:…Khanh sinh ở thế, tài giỏi tót vời. Năm triều để tiếng, khuôn mẫu cho đời…Ta  là con nhỏ, hiểu biết nông khơi. Nhờ Khanh chỉ bảo, dạy đạo làm người…
    (Trích “Bích Phong di thảo”-NXB Thuận Hóa-2006-trang 240)
    Tuy nhiên, sau năm 1916 cuộc khởi nghĩa chống Pháp do vua Duy Tân tham dự cùng Việt nam Quang phục hội bị thất bại, Duy Tân bị bắt, bị xử phế truất ngôi vua và đi đày. Hai triều vua tiếp theo Khải Định, Bảo Đại duy trì thái dộ kỳ thị với hai nhà vua yêu nước Thành Thái, Duy Tân, mọi di sản của Thành Thái, Duy Tân bị thu hồi. Đến sau cách mạng tháng Tám -1945, tuy đã phục hồi vị thế một số nhà vua yêu nước: Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân… nhưng vẫn còn thái độ kỳ thị với giới quan lại. Đây là lý do khiến suốt gần một trăm năm sau ngày cụ Lê Trinh qua đời, không ai nhắc đến thân thế, sự nghiệp của người quá cố!    
       Với những tư liệu mới được phát hiện, từ sau năm 2003, giới truyền thông cả ở trong và ngoài nước đã có nhiều bài giới thiệu về Phó bàng-Lê Trinh.
       Năm 2005, tôi có dịp về thăm Bích La Đông lần thứ hai. Lần này đi cùng một số thành viên trong gia đình và có thêm anh Lê Công Quang (con trai út của bác Lê Thâm), Lê Hùng (cháu ngoại bác Lê Thâm ở Đà Nẵng) cùng có mặt. Chúng tôi đã tổ chức lễ cúng tại bàn thờ cụ Lê Trinh đặt tại nhà ông Lê Công Em, thăm và gặp gỡ các vị lão thành tộc họ tại từ đường Lê Cảnh, viếng mộ Cụ Lê Trinh tại nghĩa trang họ tộc Lê Cảnh.Tham dự viếng mộ có cả một đoàn đông đảo, đầy đủ hương hoa. Đứng trước ngôi mộ mới cải táng sau năm 1994 tôi không khỏi bàng hoàng xúc động. Ngôi mộ mới chiếm diện tích vẻn vẹn chưa đầy 1m2, giống như một dãy hàng dài vài chục ngôi mộ khác trong nghĩa trang. Nếu có so sánh với ngôi mộ cũ tôi từng chứng kiến năm 1945, tôi tạm dùng hình ảnh: nếu ngôi mộ cũ là quả dừa thì ngôi mộ mới này chỉ là quả quýt! Tuy nhiên vẫn còn đó tấm bia ghi hàng chữ:“Phần mộ ông Lê Cảnh Trinh nguyên Hiệp tá Thượng Thư Bộ Lễ,Cơ mật Đại thần tước Vệ Nghĩa Tử-Canh Ngọ giải nguyên, Ất Hợi Phó bảng-Mất 12/9 Âm Lịch.” Quan tước, phẩm hàm người quá cố không thay đổi nhưng diện tích, hình thức hai ngôi mộ khác nhau một trời, một vực! Tôi đã có suy nghỉ phải xây lại mộ nhưng việc cấp bách trước mắt là tiếp tục làm sáng  tỏ thân thế, sự nghiệp cụ Lê Trinh.
       Năm 2006, NXB Thuận Hóa đã in và phát hành cuốn “Bích Phong di thảo” gồm thơ, câu đối của Phó bảng Lê Trinh (Lê Ngân biên soạn, Lê Nguyễn Lưu biên dịch). Nhân dịp này, ngày 3 tháng 10 năm 2008 tôi đã gửi sách tặng UBND tỉnh Quảng Trị kèm thư kiến nghị tỉnh Quảng Trị tổ chức hội thảo về thân thế sự nghiệp của Phó bảng-Phụ chính đại thần Thượng Thư Lê Trinh nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày qua đời (1909-2009). Không lâu sau đó, tôi nhận được công văn số 562 ngày 8-12-2008 của Sở Văn Hóa,Thể Thao,D u Lịch tỉnh Quảng Trị do Phó Giám đốc TS Nguyễn Bình ký thông báo: "Theo ý kiến chỉ đạo của UBND tỉnh Quảng Trị,việc tổ chức Hội thảo về Phó bảng, Phụ chính đại thần Thượng Thư Lê Trinh sẽ giao cho Hội Di sản Văn hóa tỉnh Quảng Trị phối hợp cùng gia tộc tổ chức”. 
       Theo tinh thần thông báo trên, đúng dịp kỷ niệm 100 năm ngày giỗ của cụ Phó bảng-Thượng thư Lê Trinh (12/9/1909-/12/9/2009), cuộc Hội thảo đã được tổ chức trọng thể tại Đông Hà-Quảng Trị, có đông đảo nhà nghiên cứu khoa học xã hội ở Huế, Quảng Trị, Hà Nội tham dự, đọc tham luận (PGS-TS Đỗ Bang, NNC Nguyễn Đăc Xuân, Thạc sĩ Lê Đình Hào, PGS-TS Lê Thanh Bình, nhà báo Nguyễn Hoàn, NNC Lê Văn Thuyên,Giảng viên Đại học Nguyễn Hồng Trân…). Các bài tham luận đã bổ sung chứng cứ sáng tỏ các sự kiện Lê Trinh với vua Duy Tân, với Phan Chu Trinh, với Nguyễn Sinh Huy…về đức hạnh, tài năng qua thơ của Bích Phong. TS Nguyễn Bình-phó chủ tịch Hội Di sản tỉnh Quảng Trị (nay là Chủ tịch Hội), đồng chủ tọa cuộc Hội thảo đã kết luận: "Với những phẩm chất trong sáng, cao đẹp cùng những cống hiến đóng góp cho quê hương, dân tộc và lịch sử ,có thể nói rằng cụ Phó bảng Lê Trinh là một nhân vật lích sử đáng quý trọng  và cần được tôn vinh của quê hương đất nước”. 
      Đến đây vai trò, vị trí của Phó bảng, Phụ chính đại thần,Thượng thư Lê Trinh dưới chế độ mới đã được khẳng định. Cũng đã đến thời điểm thích hợp xây lại mộ mới cho cụ Phó bảng. Sau một thời gian ngắn chuẩn bị, ngày 12/6/2014 gia tộc đã tổ chức trọng thể lễ khánh thành ngôi mộ mới ở nghĩa trang Đùng (Bích La Đông). Khu mộ mới của Cụ Thượng được xây dựng trên khu đất có diện tích 20m2, có tường xây bao bọc cách biệt với các mộ khác. Bên trong có một số kiến trúc xây dựng công phu, có ý nghĩa ngang tầm với nơi an nghĩ của một nhân vật lịch sử nguyên đại thần triều Nguyễn có công với quê hương, đất nước. 
      Các cụ cao niên trong họ tộc còn đánh giá cao câu đối chữ Hán của Nhà nghiên cứu Lê Nguyễn Lưu làm tặng dịp xây mộ mới được khắc trang trọng trên 2 trụ biểu :
         Phiên âm: 
“Khoa bảng chấn gia thanh, hương tộc sinh huy, chân hiếu tử,
 Đống lương phù quốc thế, miếu đường duy kỉ, thực năng thần.”         
        Dịch nghĩa: 
“Khoa bảng dậy tiếng nhà, làng họ sáng ngời nên con thảo,                        
Cột rường nâng thế nước, triều đình cương kỷ, thật tôi hay”.   
                                                                                  Xuân Mậu Tuất (2018)LN.
                     

         Bức ảnh chân dung Phó bảng Lê Trinh được tìm thấy sau gần 100 năm.

Bài thơ chữ Hán do chính tác giả chép trên bức ảnh:
      Phiên âm:                               Dịch thơ:                           
 Mã họa kim tăng trưởng,    Nét vẽ nay già giặn,
Tu mi tự cải quan.                Tóc râu đã đổi thay.
Bất tài phùng thịnh thế,        Không tài đời thịnh trị,
Bị vị đáo xuân quang            Vị hão chức cao dày.
Cổ mạo hình lai dị                Dáng cổ càng lộ diện,
Đan tâm chiếu xuất nan        Lòng son khó tỏ bày.
Thời nhân như vị thức           Ai người như chẳng biết
Kỷ tác chi hồ khan.               Vài nét vẽ chơi đây!

Thành Thái Bính Ngọ hạ ngộ         
vu Xuân Thự đông hiên thời                 
dư niên ngũ thập thất dã.               
Bích phong Lê Danh Chương  
     
Mùa hè năm Bính Ngọ 
niên hiệu Thành Thái (1006) 
ở hiên đông công đường Bộ Lễ, 
bấy giờ ta 57 tuổi.                                       
Bích Phong Lê Danh Chương

(Chú thích dưới bức ảnh mới được thực hiện sau ngày tìm thấy. Bài thơ trên bức ảnh không có tiêu đề nhưng trong di cảo thơ của Bích Phong cũng có bài thơ này với tiêu đề: "Tự đề chân dung”.)
               Đọc và dịch thơ: Lê Nguyễn Lưu.
Lê Ngân     
 (Quê Bích La Đông-Triệu Đông-Triệu Phong-Quảng Trị)
Hà Nội, ĐT: 024 38 352 229.
<trucdiepthanh30@yahoo.com.vn>




READ MORE - TÌM LẠI THÂN THẾ SỰ NGHIỆP CỦA PHÓ BẢNG-THƯỢNG THƯ LÊ TRINH * Lê Ngân

Thursday, January 18, 2018

CHANH VƯỜN NHÀ - Chùm ảnh * Chu Vương Miện






READ MORE - CHANH VƯỜN NHÀ - Chùm ảnh * Chu Vương Miện

ĐÓN XUÂN - Thơ Trần Mai Ngân





ĐÓN XUÂN

Mùa Xuân mây trắng thong dong
Chắp tay chánh niệm xin lòng bình an
Ta bà sinh tử thênh thang
Lạc trong Sắc, Pháp miên man Thinh trần

Hương trầm niệm thức thật gần
Nụ cười dung thứ ân cần lên ngôi
Bóng chiều rồi chỉ có tôi
Xuân trong cõi mộng xa xôi trả về

Đã bao nhiêu kiếp đường mê
Thực tâm trả hết ủ ê làm gì 
Xa xa một đóa từ bi
Nở hoa bát ngát lối đi hương nồng...

                    Trần Mai Ngân KTD

*Trong bài có nói về LỤC TRẦN của đạo Phật (Sắc trần, Thinh trần, Hương trần, Vị trần, Xúc trần và Pháp trần)


READ MORE - ĐÓN XUÂN - Thơ Trần Mai Ngân