Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, November 26, 2017

TỰA VÀO NHAU ĐỂ KHÓC CƯỜI - Chùm thơ Đình Thu

Tác giả Đình Thu

Chùm thơ Đình Thu:

TỰA VÀO NHAU ĐỂ KHÓC CƯỜI

Vô tình nghe  
Gió thì thầm
Hạnh phúc đơn giản không cần lớn lao!
Ngẫng đầu lên
Chạm  
Trời cao
Nhặt hồn nhiên thuở
Chiêm bao dậy thì
Con đường khóc buổi vu qui
Chiều nằm nghiêng thả
Nắng đi
Cuối trời
Giã từ một cuộc rong chơi
Đưa bày tay vẫy
Cuộc đời mênh mông
Có cần đi hết hay không?
Lật bàn tay
Hỏi?
Có, không?
Để mà ...
Mai sau còn chút  thật thà
Điều chưa biết cũng chỉ là thế thôi ?
Tựa vào nhau để khóc, cười
Nghe hạnh phúc phía chân trời râm ran


NHẮN

Em về xứ “chắc cà đao”
Tôi lần tay vịn lối vào ngõ xưa
Giật mình nghe tiếng dạ thưa !
Có người hôm trước cũng vừa tương tư
Ông về nhắn với Đình Thu
Để tôi còn hát lời ru ...ví dầu 


MÙI HƯƠNG VÚ SỮA 

Tháng ba mơn man màu nắng nhạt
Tự dưng thèm cảm xúc nồng say
Vú sữa ngoài vườn đương chín rộ
Con chim chìa vôi hót suốt ngày

Bầu trời xanh chạm nửa bàn tay
Con đường đất níu bàn chân nhỏ
Hồn nhiên ngắm miệt vườn nắng gió
Ngân nga câu vọng cổ xàng xê

Dáng ngây ngô trên lối em về
Miền Tây dạo này khan gió chướng
Bông so đũa trở mình gọi nắng
Đồng bằng rơm rạ tỏa mùi hương

Chưa chạm vào lòng nghe vấn vương
Nắng trách cứ ... mùa mưa lỗi hẹn    
Hương vú sữa thơm mùi bẽn lẽn
Làm kẻ hào hoa cũng say tình

Tháng ba khoe sắc màu lung linh
Mùi quê hương sao mà quên được
Mai về chốn thị thành thao thức
Nhớ mùi hương mộc mạc quê nhà

Vẫn nặng lòng như hạt phù sa
Dâng cho đời bốn mùa hương sắc
Chuyện lở bồi thôi đừng có nhắc
Cả một trời thương nhớ mênh mông.

Đình Thu
(Bến Tre)
READ MORE - TỰA VÀO NHAU ĐỂ KHÓC CƯỜI - Chùm thơ Đình Thu

DỊCH THOÁT THƠ NGUYỄN DU (2) - Nguyên Lạc



      
 Nguyên Lạc
     
DỊCH THOÁT THƠ NGUYỄN DU (2)
                                         
Phần II                         
DỊCH THOÁT THƠ

Lời cẩn báo: Qua phần I tác giả đã trình bày sơ lược cách dịch thoát thơ chữ Hán Nguyễn Du theo lối riêng của mình.  Đó  chỉ là ý kiến chủ quan, chắc chắn có nhiều khuyết điểm, xin các cao nhân bỏ qua nếu có gì không hợp ý. Mọi người đều có riêng "hệ quy chiếu" về thưởng lãm, xin hãy trân trọng nhau.(NL)

Phần II này tôi xin được ghi ra đây vài câu, bài dịch thoát tiêu biểu thơ chữ Hán của thi hào Nguyễn Du

DỊCH THOÁT HAI CÂU
1.
Cố quốc sơn hà khan lạc nhật,
Tha hương thân thế thác phù vân
(THU NHẬT KÝ HỨNG - Nguyễn Du)
Thoát dịch:
Quê hương ngút mắt. chiều phương ấy
Chở hết mây ơi. nỗi sầu này!

2.
Trù trướng thâm tiêu cô đối ảnh
Mãn sàng trê vũ bất kham thinh
(TỐNG NHÂN - Nguyễn Du)
Thoát dịch:
Đêm thăm thẳm. sầu riêng với bóng
Chiếu chăn nhầu. mưa động thốn  tâm!
3.
Phu tọa nhàn song tửu nhãn khai
Lạc hoa vô số hạ thương đài
(ĐỐI TỬU - Nguyễn Du)
Thoát dịch:
Lặng ngồi độc ẩm bên song cửa
Mắt lệ người nhìn lá hoa rơi!

DỊCH THOÁT BỐN CÂU
Nhân đọc thơ chữ HÁN của đại thi hào NGUYỄN DU (1765 - 1820) tôi xin được ghi ra đây 4 câu thơ trong bài KÝ MỘNG của cụ.
Về bài thơ KÝ MỘNG: Người đàn bà (mỹ nhân) Nguyễn Du tưởng nhớ chính là người vợ hiền đã mất. Thương thay!
Khá thương cho những ai cùng tâm trạng với Nguyễn Du, vì hoàn cảnh chiến tranh, vì công vụ , vì tù tội, vì trốn lánh... mà không thể nào cầm tay vợ hiền nghe nàng dặn dò lúc nàng giã biệt cõi đời.
Bài thơ dưới đây viết trong bối cảnh khi tác giả đứng bên dòng sông hoài niệm tại quê nhà, nhìn dòng sông và nhớ đến người vợ hiền đã khuất núi tại quê của nàng .
Trong bài này Nguyễn Du  dùng lại một điển tích Tàu rất nổi tiếng.
Truyện kể:
"Biết một vị vua vì quá nhớ người thiếp yêu, một đạo sĩ làm phép giúp vua có thể tìm gặp lại người xưa.  Ông bày phép cho treo hai cái màn, một màn bên trong có vua ngồi và màn bên kia thắp nến, người đẹp hiện sẽ về bên trong. Qua ánh nến lung linh trong đêm vắng, cộng nỗi "nhớ người xưa" vô cùng khiến vua đặt hết niềm tin vào bùa phép. Vua đã "thực sự thấy" người thiếp yêu hiện về trong bức màn sa bên kia. Nhà vua được đêm tâm tình, thủ thỉ cùng vợ"  (Laiquangnam)
Tôi xin mạn phép dịch thoát bốn câu cuối  (toàn bài 24 câu) gây cảm xúc nhất (riêng tôi), coi như niềm trân trọng và tưởng nhớ đến người xưa.

KÝ MỘNG
...
Mỹ nhân bất tương kiến
Nhu tình loạn như ti
Không ốc lậu tà nguyệt
Chiếu ngã đan thường y
(Nguyễn Du)
Thoát dịch:
GHI QUA MỘNG
...
Giai nhân. người hỡi đâu rồi?
Tình sầu loạn mối. rối bời như tơ
Nhà không. xuyên ánh trăng mờ
Chiếu qua áo mỏng. thấu ta nỗi niềm!

DỊCH THOÁT  TOÀN BÀI
Nguyên Lạc xin được ghi ra đây và xin phép dịch thoát vài bài thơ của đại thi hào NGUYỄN DU (1765 - 1820) mà tôi thích nhất.  
Vì là dịch thoát, xin các bạn đừng đặt nặng phần đối chữ trong các cặp 3 - 4 và 5 - 6, cùng vị trí câu (theo tôi nghĩ, chỉ làm gò bó cảm nhận thơ),  chỉ nên chú trọng về HỒN THƠ. Mong thay.
 1. Đây là nguyên tác bài thơ TỐNG NHÂN

TỐNG NHÂN
Hương Cần quan đạo liễu thanh thanh
Giang bắc giang nam vô hạn tình
Thượng uyển oanh kiều đa đố sắc
Cố hương thuần lão thượng kham canh
Triều đình hữu đạo thành quân hiếu
Trúc thạch đa tàm phụ nhĩ minh
Trù trướng thâm tiêu cô đối ảnh
Mãn sàng trê vũ bất kham thinh
(Nguyễn Du)
Thoát dịch:
TIỄN NGƯỜI ĐI
Hương Cần đường ấy liễu xanh xanh
Cuối ngọn đầu sông chan chứa tình
Ngự uyển oanh vàng ganh dáng vẻ
Cố hương rau mọn sắc tô canh
Triều đình phải đạo anh lo vẹn
Quê mẹ bội thề tớ mất danh
Thăm thẳm đêm sầu riêng với bóng
Biếng ngồi mưa rớt trúng ngay tâm

2. Đây là nguyên tác bài thơ ĐỐI TỬU

ĐỐI TỬU
Phu tọa nhàn song tửu nhãn khai
Lạc hoa vô số hạ thương đài
Sinh tiền bất tận tôn trung tửu
Tử hậu thùy kiêu mộ thượng bôi
Xuân sắc tiệm thiên hoàng điểu khứ
Niên quang ám trục bạch đầu lai
Bách kì đãn đắc chung triêu túy
Thế sự phù vân chân khả ai
Thoát dịch:
ĐỐI MẶT CÙNG LY RƯỢU
Tựa song. mắt rượu. ngồi trông
Hoa rơi lả tả. phủ lòng thảm xanh!
Sống.  không cạn chén trọn tình
Chết. ai tri kỷ rượu nghiêng rưới mồ?
Chim bay. xuân đổi hững hờ
Tháng năm rõ hiện. trắng bờ tóc ai!
Trăm năm. ví được say dài
Sự đời mây nổi. não thay kiếp người!

 3.Đây là nguyên tác bài thơ THU NHẬT KÝ HỨNG

THU NHẬT KÝ HỨNG
Tây phong tài đáo bất quy nhân,
Đốn giác hàn uy dĩ thập phần.
Cố quốc sơn hà khan lạc nhật,
Tha hương thân thế thác phù vân.
Hốt kinh lão cảnh kim triêu thị,
Hà xứ thu thanh tạc dạ văn.
Tự sẩn bạch đầu khiếm thu nhập,
Mãn đình hoàng diệp lạc phân phân.
(Nguyễn Du )
Thoát dịch:
GHI LẠI CẢM HỨNG NGÀY THU
Gió tây vừa chạm khách tha hương,
Cái lạnh từ đâu bỗng nhập xương.
Quê mẹ trông vời chiều ngút mắt,
Mây ơi ta gởi nỗi niềm thương!
Đêm trước gió thu về réo gọi,
Thất kinh già tới bóng trong gương.
Mỉm cười đầu bạc gom góp vụng,
Lá vàng lả tả rụng đầy sân!

LỜI KẾT
Qua trên là phần dịch thoát thơ chữ Hán của đại thi hào Nguyễn Du, chắc có nhiều khuyết điểm. Tuy nhiên, xin được xem đây như  tấm lòng trân trọng và niềm tưởng nhớ đến bậc danh tài của Việt Nam thân yêu.

Nguyên Lạc
-----------------------------------------------------
Tham khảo: Thơ chữ Hán của Nguyễn Du - Thi Viện, Laiquangnam.
READ MORE - DỊCH THOÁT THƠ NGUYỄN DU (2) - Nguyên Lạc

KÝ SỰ BẮC LÀO PHẦN BA: ĐƯỜNG LÊN XỨ LUỔNG - Chế Cẩm Đình


KÝ SỰ BẮC LÀO
PHẦN BA: ĐƯỜNG LÊN XỨ LUỔNG
Chế Cẩm Đình

Người Lào có 3 sắc dân chính, Lào Lùm, như là người Kinh ở nước Việt, chiếm tỉ lệ đa số cũng như sinh sống ở các vùng đồng bằng dọc theo sông Mekong. Ngôn ngữ của người Lào Lùm thuộc nhóm Tày - Thái có nguồn gốc từ các chủng Bách Việt cổ bên Trung Quốc di cư xuống từ mấy ngàn năm trước. Nhóm thứ hai là Lào Thơng thì nói tiếng Khmer, gồm các bộ lạc người Khơ Mú, người Vân Kiều và người Tà Ổi. Người Lào Thơng sống dọc theo biên giới với Việt Nam và có họ hàng mật thiết với các nhóm đồng bào của họ phía bên kia dãy Trường Sơn. Nhóm còn lại được gọi là Lào Sủng, dùng để chỉ những bộ lạc người Lào sống ở các vùng cao phía bắc mà chủ yếu là người Mẹo.
Thật lạ kỳ, đất nước Lào rộng lớn với rất bao nhiêu vùng đất đai cao nguyên bằng phẳng còn chưa canh tác, kể cả đồng bằng cũng bỏ không. Vậy mà người Hmong gần như không lựa chọn những nơi thuận lợi đó để sinh sống mà chỉ chọn nơi ở là đèo cao hoặc rừng núi hiểm trở. Việc lựa chọn đó có lẽ là để dễ phòng thủ hoặc lẫn tránh trước kẻ thù có quân số đông hơn tấn công họ, một nỗi ám ảnh từ quá khứ bị truy sát quy mô lớn bởi các triều đại quân chủ bên Trung Hoa khiến họ phải di cư xuống tận dưới này.
Khi xe bắt đầu leo dốc từ khi ra khỏi bản Khai cho đến ngã ba Phou Khoun nơi giao nhau đường 7 với quốc lộ 13 là hơn trăm rưỡi cây số, từ Phou Khoun tiếp tục vượt đèo Phya cũng chừng đó cây số nữa, chỉ toàn là bản người Hmong ôm sát rạt mặt đường, như kiểu nhà phố nhưng không có vỉa hè ở bên mình. Trời đen thòm ngòm không một ánh trăng sao, chỉ đôi đóm lửa lóe qua kính xe từ những khe liếp bên đường đọ sáng với đèn pha. Đường chỉ mỗi leo dốc, lại ngoằn ngèo liên tục nên mệt lả.
Hơn mười một giờ khuya dừng xe bên một máng nước ở bản Kiu Kacham để tắm rửa, nước lạnh ngắt làm tỉnh hẳn cả người. Giờ đó khuya rồi nên chẳng thấy ai trong bản đó ra hỏi han gì. Ngày trước mà như vậy có khi ăn cả loạt đạn tiểu liên cảnh cáo người lạ xe lạ không chừng bởi đây chính là vùng đất sát ngay bên thủ phủ Long Chẹng – đại bản doanh của vua Mẹo Vàng Pao.
Tắm xong vừa lên xe thì trời bắt đầu mưa. Dò bản đồ ước chỉ còn non trăm cây số nữa đến Luông Pha Băng nên quyết định đi tiếp. Nhưng mưa mỗi lúc một nặng hạt, rồi nước đổ nước trút ào ào không còn thấy đường để chạy. Bò lên một đoạn kiếm được khoảng đất trống nép xe vào định tranh thủ ngủ luôn. Nhưng lại sợ mưa lớn quá đùa cả xe xuống vực nên nổ máy bò đi tiếp. Thời may, tới một đoạn thì gặp một trạm xăng bên đường liền chạy vào dừng lại, lúc này mới dám ngủ yên.
Đến gần sáng thì mưa dứt, vừa lúc bình minh đến nên trời quang hẳn ra. Ông mặt trời trên này cũng ló dạng từ đằng đông nhưng không phải trên biển mà là nhô lên từ những rặng núi. Cái cảm giác đi trên đỉnh đèo buổi sớm mai, được ngắm bình minh giữa núi rừng trời mây bảng lảng làm cho hồn người phiêu diêu thật không sao mà tả được. Rồi thì xe bắt đầu đổ đèo xuôi dần xuôi dần xuống đến thị trấn Xiang Ngeun nho nhỏ bên dòng Nậm Khan ngầu đục bởi trận mưa rừng hồi hôm kéo bùn đất trên các nương rẫy xuống. Bóng những thân dừa đổ xuống ao cá bên những mái nhà vụt gợi lên trong tôi một chút nhớ về đất nước, dù mới chỉ rời đi có ngày hôm qua.
Dò tiếp bản đồ biết chỉ còn ít cây số nữa là đến nơi rồi. Đường vào cố thành hai bên bạt ngàn tếch, mùa này hoa tếch nở trắng cả rừng, trên dốc cao nhìn xuống trông như hoa tuyết. Luông Pha Băng chào đón tôi bằng một trận mưa rào, rồi ngớt mưa ngay nhưng cảm giác trời rất nực. Ghé vào một hàng quán ngay bến xe ăn sáng, tự pha cà phê mang theo để uống vì cà phê bên này rang tẩm khác vị bên mình. Gọi điện gặp anh Bun Năm – khách hàng chính tôi cần lên gặp - thì té ra nhà anh ở đối diện ngay quán tôi đang ngồi. Vào đo đạc xong thì cũng vừa hết buổi sáng, mệt quá gục xuống thiếp đi chừng nửa giờ ngay trong lán công nhân tại công trường của anh ấy, rồi tỉnh dậy và đi ăn trưa. Xong hẳn việc đã là 4h chiều, lúc này mới tranh thủ đi thăm chỗ này chỗ kia một chút trong thành phố.
Luông Pha Băng, tiếng Lào đọc đúng là Luổng Phạ Bang. Phạ băng là đức Phật thanh mảnh, còn luổng là một vùng đất rộng lớn nhìn ngút mắt mà trong tiếng Việt có từ luống gần tương đồng. Hiểu nôm na nơi đây là xứ sở của vị Phật thanh mảnh. Luông Pha Băng từ xa xưa đã là đô thành trung tâm của cổ quốc Lan Xang (Triệu Voi), một quốc gia có lãnh thổ rộng lớn bậc nhất Đông Nam Á vào khoảng thế kỷ 15-16. Hai thế kỷ tiếp theo, vì thất bại trước sự bành trướng của người Miến Điện và vì khủng hoảng nội bộ, Lan Xang tan rã thành 3 quốc gia riêng biệt là Luông Pha Băng, Viêng Chăn và Chăm Pa Sắc. Đến thế kỷ 19 thì các lãnh thổ này lại hợp nhất và chịu sự bảo hộ của người Pháp, tiền thân của nước Lào ngày nay với trung tâm cũ là Luông Pha Băng. Năm 1975, phe cách mạng dành thắng lợi trước phái bảo hoàng sau một cuộc nội chiến kéo dài, họ thành lập nhà nước nhân dân cách mạng Lào và chọn Viêng Chăn làm thủ đô mới.
Nhà tỉnh Luông Pha Băng ngày nay còn nguyên vẹn sự thanh bình của một của một cố đô Phật giáo. Những dãy phố cổ hiền lành đan xen ô bàn cờ với nhau hoặc ruổi quanh quanh những sườn đồi thâm thấp. Kiến trúc nhà cửa gần gần với Hội An bên mình, cũng xanh rêu trầm mặc của mái ngói ngả màu thời gian. Mùa này là mùa mưa nên không đông khách du lịch mấy, ra chợ đêm bán đồ lưu niệm dưới chân núi Phou Si cũng văng vắng người. Sang vùng biên thành thấy có nhộn nhịp hơn hẳn, người Trung Quốc đã thâm nhập vào sinh sống rất nhiều, biển hiệu quảng cáo toàn Hán tự, và có hẳn khu chợ dành riêng cho cộng đồng người Tàu. Cũng như người Việt, khi được hỏi có thích người Trung Quốc thì đa phần người Lào đều nói không thích, không thích!
Vì không có nhiều thời gian nên tôi phải tạm biệt Luông Pha Băng thanh bình để quay đầu về Viêng Chăn trong ngay trong đêm. Lại được hưởng cái thú ăn bên đường, đi trên sống núi, tắm giữa rừng, ngủ ngay trên xe mỗi khi mưa lớn hay mệt không còn chạy nổi.
Đời người, thật dễ mấy khi!
07/10/2017

C.C.Đ.













READ MORE - KÝ SỰ BẮC LÀO PHẦN BA: ĐƯỜNG LÊN XỨ LUỔNG - Chế Cẩm Đình

TÌNH LẬN ĐẬN - Nhạc: Mai Hoài Thu - Thơ: Khưu Trí Dư - Ca sĩ: Diệu Hiền

READ MORE - TÌNH LẬN ĐẬN - Nhạc: Mai Hoài Thu - Thơ: Khưu Trí Dư - Ca sĩ: Diệu Hiền

NGHĨ VỀ NGÀY LỄ TẠ ƠN - Thơ Mặc Phương Tử



NGHĨ VỀ  NGÀY LỄ TẠ ƠN

Hằng năm vào tiết mùa đông
Tục rằng: phải nhớ ơn công đất trời
Ai hay cái lạnh nghiệt đời
Thuở ngày xưa ấy, bao người ấm no!?

Ơn lành, biết mấy trời cho
Biết gieo, trồng, tỉa, biết lo cấy, cày
Biết làm ra lửa từ đây
Biết muôn việc… đến hôm nay được nhờ!

Ơn trời, ơn đất, bao giờ
Đem cho muôn loại đến bờ bình an
Bí, ngô, lúa, đậu... đầy tràn
Kho trời thuở ấy muôn vàn niềm vui.

Tạ ơn, là để sống đời
Có Nhân, có Nghĩa, có lời Đạo tâm
Biết rằng trong cuộc trăm năm
Khổ-vui thoáng đã... lên mầm tử sinh.

Tạ ơn, là để tự mình
Sống đời hạnh phúc, ươm tình bao la
Dù cho người vật quanh ta
Biết yêu thương, để nở hoa dâng đời.

Vậy, lễ tạ ơn đất trời
Là thêm nghĩa sống muôn nơi thái hoà
Tự mình gần, thấy mình xa
Cho đời thêm khúc tình ca thanh bình. 
         
South Dakota, thanksgiving day, 11. 2017.
MẶC PHƯƠNG TỬ


READ MORE - NGHĨ VỀ NGÀY LỄ TẠ ƠN - Thơ Mặc Phương Tử

Saturday, November 25, 2017

Ừ ĐỢI EM VỀ... Thơ Giáng Thu Xưa




Ừ ĐỢI EM VỀ..

Hoàng hôn xuống khơi lòng em bỗng nhớ
Chuổi ngày dài dâng đượm mỏi chờ nhau
Tàn khuya đêm ngoài hiên gió đượm sầu
Như chất chứa lời tình trao chưa ngỏ

Những tháng ngày đông đến nhớ buồn tênh
Đường phố vắng chênh vênh mòn dõi đợi
Xa nhau mãi tình trong vương vời vợi
Lẻn vào tim trăn trở với thời gian

Anh xa vắng hồn em đan giọt nhớ
Lặng âm thầm như đau vỡ từng cơn
Lời nhắn gửi theo mây vờn trong gió
Ừ... Đợi em về... ta thỏ thẻ bên nhau...!

                                Giáng Thu Xưa
                                   24-11-2017

READ MORE - Ừ ĐỢI EM VỀ... Thơ Giáng Thu Xưa

Friday, November 24, 2017

ĐỌC “GIỌT NẮNG TRÊN CỎ HỒNG”, THƠ HIỆP KIM ÁO TÍM - Châu Thạch

         
             
     Nhà bình thơ Châu Thạch



ĐỌC “GIỌT NẮNG TRÊN CỎ HỒNG” - 
                     THƠ HIỆP KIM ÁO TÍM

                                                                    Châu Thạch

Có một nhà thơ nói Châu Thạch bất tài nên ít bình thơ các thi sĩ danh vọng, mà chuyên viết cảm nhận cho những cây bút chưa mấy tiếng tăm. Có mấy thi hữu lại nói Châu Thạch nịnh đầm, chuyên tán tụng thơ đàn bà. Câu đầu thì đúng một nửa nhưng câu thứ hai thì trật. Đúng một nửa vì quả Châu Thạch bất tài thật, sai một nửa vì thật ra Châu Thạch chơi nghiệp dư, cảm động thơ ai thì viết cho người nấy. Nổi danh thì tốt mà không nổi danh cũng vậy thôi. Còn việc nịnh đầm? Trước sau Châu Thạch viết được trên  200 bài cảm nhận thơ nhưng trong đó viết cho phái nữ chỉ mấy chục bài thôi, còn toàn là viết cho nam cả. Tuy thế, thật lòng Châu Thạch vẫn thích viết cho nữ hơn vì thơ mấy bà hiền từ dễ thương mà cũng dễ hiểu hơn thơ mấy ông nhiều. Ví như sáng nay, trời mưa suốt cả tuần qua vẫn còn  kéo lê bên ngoài song cửa. Ngồi bên trong với ly cà phê nóng, thèm lắm một giọt nắng hồng thì vui thay, đọc được bài thơ “Giọt Nắng Trên Cỏ Hồng” của Hiệp Kim áo Tím.
Hiệp Kim Áo Tím là ai Châu Thạch không biết, chỉ biết lần đầu đọc được bài thơ nầy, bài thơ tác giả xin một giọt nắng để chiếu cho hồng ngọn cỏ, chiếu lên những bâng khuâng, giận hờn, thương nhớ vu vơ của tác giả. Đọc khổ thơ đầu tiên, ta biết ngay trời hôm nay không mưa:

 Em xin một hạt nắng
Để gắn trên cỏ hồng
Lấp lánh ngàn tia sáng
Như màu trong mắt trong

Nếu trời đang mưa thì không ai xin một hạt nắng, mà người ta xin cả bầu trời nắng lên. Chỉ xin một hạt nắng thôi chứng tỏ trời không mưa nhưng thiếu nắng. Thiếu nắng mà bầu trời ảm đạm thì nhà thơ cũng không xin một hạt nắng để làm gì. Thiếu nắng mà trời êm ả, khung cảnh nên thơ nên nhà thơ mới xin một hạt nắng “như màu trong mắt trong”. Đọc khổ thơ ta biết ngay là hôm nay trời đẹp, nắng chưa lên nhưng bầu trời trong vắt. Câu thơ “Như màu trong mắt trong” vô tình mà đem vào hồn ta sự ấm áp với khung màu trong veo của cảnh. Tuy chỉ xin một hạt nắng để đem nó “gắn trên cỏ hồng” mà tác giả lại muôn “lấp lánh ngàn tia sáng” mới là điều hơi lạ. Tuy thế không lạ đâu, vì thật ra tác giả chỉ xin một giọt nắng ban đầu để báo hiệu cho ngàn tia nắng khác sẽ đến kèm với bao nhiêu tình cảm nẩy sinh trong tâm hồn mình. Quả đúng vậy vì ở khổ thơ thứ ba tác giả đã cho biết nắng làm hồng cả thảm cỏ.
Bây giờ bước vào khổ thơ thứ hai để xem tác giả nói gì:

Em hứng từng hạt bụi
Rơi trong mắt ngậm ngùi
Buồn ơi sao vội tới
Thời gian chẳng kịp lùi

Nhà thơ “hứng từng hạt bụi” mà hạt bụi lại “rơi trong mắt ngậm ngùi” thì chắc chắn những hạt bụi đó chính là bụi thời gian. Bụi thời gian không làm cho xốn mắt mà làm cho mắt ngậm ngùi và đôi khi rơi lệ. Đây là một tứ thơ lạ, sâu xa và thâm thúy diễn đạt nổi buồn nẩy sinh trong hiện tại nhưng tích lủy sự tồn tại của bao nỗi buồn trong quá khứ. Hai câu thơ sau “Buồn ơi sao vội tới/ Thời gian chẳng kịp lùi” cho ta hiểu nổi buồn đến đột ngột và dồn dập bao kỷ niệm ùa tới đến nổi tác giả tưởng như thời gian bây giờ ngưng lại và thời gian quá khứ quay về bây giờ. Khổ thơ thật hay vì nó không hoen lệ một cách thường tình, nó không xót xa rên rỉ chút nào nhưng nó cho ta một nỗi buồn lắng đọng, vội tới trong phút giây nhưng mang cả thời gian cả cuộc đời về trong tâm tưởng.
Qua khổ thơ thứ ba, Hiệp Kim Áo Tím diển đạt một cách khôn khéo tâm trạng rất vu vơ của mình trong cái nhìn cảnh vật:

Em ngồi nhìn đây đó
Sao giọt nắng buồn so
Nắng làm hồng thảm cỏ
Vô tình chẳng so đo

Đọc khổ thơ nầy ta thấy một hình ảnh thật dễ thương. Ta biết tác giả là một người nữ, và cứ cho là một người nữ đẹp ngồi bên thảm cỏ. Ta thấy hình ảnh cô gái ngồi nhìn nắng lên trên thảm cỏ để cô nhân cách hóa hạt nắng biết buồn so, hạt nắng rất vô tình không so đo hơn thiệt. Giọt nắng đó cũng chính là tánh tình, là tâm tư của tác giả. 
Tiếp đến nhà thơ gởi cái giận hờn vu vơ của mình lên màu xanh của bầu trời:

Màu trời xanh lớ ngớ
Em giận hờn vu vơ
Tóc rối lòng bỡ ngỡ
Làm ngỡ ngàng vần thơ

Đem cái giận hờn vu vơ trong lòng mình mà so với màu xanh “lớ ngớ” của da trời là một cách ví von rất nên thơ và rất dễ thương. Nhà thơ cũng đã nhân cách hóa đến cả da trời để gởi tâm trạng của mình vào đó. Da trời thì đậm hay nhạt, xanh biếc hay xanh lơ chớ không xanh lớ ngớ bao giờ. “Lớ ngớ” là hành động lúng túng của con người.Vì thế da trời mà xanh lớ ngớ thì cái màu xanh ấy như có linh hồn, nó cũng lớ ngớ như người thơ đang ngồi nhìn viễn vông vậy. Thế rồi đến cuối bài thơ tác giả mới cho ta biết bao nhiêu biến chuyển trong lòng trước một khung trời thiếu nắng chỉ bởi một nguyên nhân là “Tình vẫn hoài xa xôi”:

Em thấy lòng bối rối
Tình vẫn hoài xa xôi
Chợt giật mình tiếc nuối
Thương giọt nắng tan rồi...

 
Nhà thơ vẩn vơ suy nghĩ, giận hờn vu vơ để khi quay nhìn lại thì “giọt nắng tan rồi”. Khổ thơ cuối như cuối của cuộc tình, như thể hiện một cuộc chia ly êm đềm mà nuối tiếc. Chỉ một câu thơ “Thương giọt nắng tan rồi…” nhưng nó bổ nghĩa cho toàn bài thơ, làm cho bài thơ có chủ địch, làm cho bao nhiêu hình ảnh trong những khổ thơ trên điểm xuyết cho một cuộc tình đã tan đi như giọt nắng. Nếu cuộc tình chỉ xa xôi mà chưa tan thì nó cũng làm cho cô gái lo xa đến viễn cảnh sau nầy.
Mở đầu bài thơ, Hiệp Kim Áo Tím chỉ xin một hạt nắng để lấp lánh tia sáng làm cho cỏ hồng, nghĩa là xin một niềm vui đến với mình. Nhưng nắng đến mà niềm vui không đến. Nắng đến đem đến cho cô sự ngậm ngùi. Nắng đến đem cho cô cảm nhận giọt nắng buồn so, và nắng đến  đem cho cô những giận hờn vu vơ, bối rối, tiếc nuối và thương giọt nắng tan rồi, hay đúng ra thương mối tình đã hết hoặc nghi ngờ trong tương lai sẽ hết. Toàn bộ bài thơ diễn tiến một cách hài hòa, biểu hiện một tác phong rất dễ thương, một chuyển biến tâm trạng rất thật của thiếu nữ và cho ta thấy một khung cảnh đẹp của bầu trời, một tâm hồn đẹp chất chứa nhiều cảm xúc sâu lắng của tình.

                                                                   Châu Thạch

   

     Nhà thơ Hiệp Kim Áo Tím


GIỌT NẮNG TRÊN CỎ HỒNG 

Em xin một hạt nắng
Để gắn trên cỏ hồng
Lấp lánh ngàn tia sáng
Như màu trong mắt trong

Em hứng từng hạt bụi
Rơi trong mắt ngậm ngùi
Buồn ơi sao vội tới
Thời gian chẳng kịp lùi

Em ngồi nhìn đây đó
Sao giọt nắng buồn so
Nắng làm hồng thảm cỏ
Vô tình chẳng so đo

Màu trời xanh lớ ngớ
Em giận hờn vu vơ
Tóc rối lòng bỡ ngỡ
Làm ngỡ ngàng vần thơ

Em thấy lòng bối rối
Tình vẫn hoài xa xôi
Chợt giật mình tiếc nuối
Thương giọt nắng tan rồi...

      Hiệp Kim Áo Tím 
    Đà Lạt, 17/11/2016

READ MORE - ĐỌC “GIỌT NẮNG TRÊN CỎ HỒNG”, THƠ HIỆP KIM ÁO TÍM - Châu Thạch

PHẾ MẶC - Thơ Lệ Hoa Trần


 


PHẾ MẶC
 
Đèn dầu treo nhánh ổi xanh
Chàng ơi, chàng hởi nhớ canh mà về
Thiếp còn bận bịu tứ bề
Nồi cơm nấu dở, tay kề con thơ
Sau nhà chú lợn đang chờ
Trước sân còn đọng mấy tờ giấy hoa
Mưa đang nhỏ nước mái nhà
Giàn hoa trước ngõ là đà choáng sân.
 
                                   Lệ Hoa Trần
                                    23-11-2017

READ MORE - PHẾ MẶC - Thơ Lệ Hoa Trần

MƠ TỪNG GIỌT NẮNG QUÊ HƯƠNG - Thơ Thủy Điền





MƠ TỪNG GIỌT NẮNG QUÊ HƯƠNG
 (Thân tặng nhà thơ Hiền Phương)
 
Có đông nào mà ấm đâu em ?
Vẫn cứ mãi một mình thầm lặng
Anh đâu trách rằng em xa vắng
Cũng bởi vì hoàn cảnh mà thôi
 
Có đông nào mà ấm em ơi !
Lạnh có lạnh… quen rồi em ạ
Nơi đất khách phương xa, người lạ
Anh mơ từng giọt nắng quê hương
 
Nơi có em, hơi ấm quen thường
Mà ngày ấy ta từng trao gởi
Vâng, gắng sức anh nguyền chờ đợi
Sẽ bên người nghe trọn lời ru.
 
                         Thủy Điền
                        24-11-2017

READ MORE - MƠ TỪNG GIỌT NẮNG QUÊ HƯƠNG - Thơ Thủy Điền