Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, September 12, 2016

ĐI QUA THỜI CON GÁI / chùm thơ Lê Thanh Hùng

Tác giả Lê Thanh Hùng


Đi Qua Thời Con Gái


Này em, hãy lắng nghe
Lời thì thầm vụng dại
Trôi qua thời con gái
Hoa cúc vàng chở che
             *
Đâu tận cùng mùa thu?
Hoài mong, trong gió bấc
Xốn xang và tất bật
Chìm trong dấu sương mù
             *
Có còn nhớ không em?
Dốc cát trôi dốc nắng
Chói chang chiều sâu lắng
Thư tình vội mở xem
              *
Sắp ngữa đời, hồn nhiên
Đi qua miềm hoan lạc
Mắt xanh tròn, ngơ ngác
Dung hợp cõi vô biên
              *
Se thắt, một tuổi nào
Đẩy đưa điều mong muốn
Trôi qua thời xuân muộn
Còn vương đọng, ngọt ngào ...

LTH



Về Nơi Giấu Tuổi Của Mình


Em chở cá qua cầu Hòa Phú
Dốc cầu cong trên bến đò xưa
Dòng sông Lũy đục dòng, tràn lũ
Lợn cợn chiều, đâu tiếng đò đưa?
                     *
Anh về quê, mà như khách lạ
Lạc nhà em, luẩn quẩn tìm đâu?
Nghe xao xác, bến chiều, chợ cá
Con nước rong, chảy xiết qua cầu
                      *
Hàng phi lao, giật mình đau đáu
Bao nhiêu năm vẫn cứ rì rào
Chỉ có hàng dừa xuôi tàu, già lão
Cũng như anh, khắc khoải, hanh hao
                      *
Chợ tan, không kịp vén tóc xòa
Em ơi! Mình đâu còn trẻ nữa
Gió nam non, thổi từ phía cửa
Dưới chân cầu, trôi nổi phù hoa ...

LTH



Lặng Lẽ Chiều Phan Thiết


Cơn tố bấc
Xô nghiêng
Chiều Phan Thiết
Sóng vô tình
Lặng lẽ
Cuốn bờ em
Nước mắt rơi
Chập chờn
Đêm giã biệt
Ba mươi năm
Còn thấm đẩm
Quanh rèm ...

Lê Thanh Hùng
huyện Bắc Bình, Bình Thuận


READ MORE - ĐI QUA THỜI CON GÁI / chùm thơ Lê Thanh Hùng

ĐÔI ĐIỀU CẢM NHẬN HAI TẬP THƠ “LƯU BÚT MÙA HẠ” VÀ “THƠ TÌNH TUỔI 30” CỦA NHÀ THƠ - THẦY GIÁO PHAN PHỤNG THẠCH - Trần Thị Lệ Quyên





     

    
ĐÔI ĐIỀU CẢM NHẬN HAI TẬP THƠ “LƯU BÚT MÙA HẠ” VÀ “THƠ TÌNH TUỔI 30” CỦA NHÀ THƠ - THẦY GIÁO PHAN PHỤNG THẠCH
                                                                                                                                                                           Trần Thị Lệ Quyên


     Đọc “Lưu bút mùa hạ”, ta bắt gặp nỗi niềm cảm xúc của người thầy trong khoảnh khắc hạ về, bâng khuâng thương nhớ bởi giây phút chia xa những học trò thân thương. Đó cũng là sự đồng vọng, là tiếng lòng chung của những người làm nghề đưa đò như chúng tôi, khi những chuyến đò đã cập bến bờ bình yên, ta bỗng thảng thốt nhận ra chỉ còn mình giữa "sân trường nắng hạ". Và quả thực nhà thơ-thầy giáo Phan Phụng Thạch chính là người tình của "sân trường nắng hạ".
    Trong “Lưu bút mùa hạ”, nhà thơ dành cho học trò của mình những ngôn từ thể hiện tình yêu thương trìu mến: với thi nhân, tuổi học trò là tuổi thơ hồng, tuổi thơ ngây, tuổi nhỏ vàng son, thiên thần tuổi nhỏ...vì thế phải nâng niu, trân trọng. “Lưu bút mùa hạ” được viết với những lời thơ dịu dàng, dung dị, dạt dào những cung bậc cảm xúc của nỗi niềm chia tay thầy trò đầy lưu luyến, bịn rịn; đầy tiếc nuối, ngậm ngùi...
Khi nắng hạ trở về trong mắt biếc
Các em rồi trăm đứa sẽ trăm phương
Ta đứng đó giữa muôn ngàn cách biệt
Mắt rưng buồn và hồn cũng mù sương
Hình ảnh thơ với sân trường, áo trắng, hoa phượng, ve sầu...vốn đã thân thuộc, hằn sâu kí ức tuổi học trò mỗi lúc hạ về, nhưng với thi nhân họ Phan, lúc này đây dường như tất cả sự vật ấy đều chất chứa đông đầy nỗi niềm: Lối xưa giờ hoa phượng nở rưng rưng hay hoa phượng tàn theo lá – trơ lại cành khô đứng nhớ thương còn ve sầu cất tiếng hát bi thương và con  đường đi áo trắng xôn xao...Thật đẹp, dễ thương và đáng yêu biết bao!
Và trong giây phút chia xa ấy, nhà thơ cũng không nén nổi lòng mình bởi những băn khoăn, thấp thỏm, lo âu về dự cảm ngày mai....
Rồi một mai khi mùa thu trở lại
Các em còn về với tuổi thơ hồng?
Hay cuộc chiến đưa các em đi mãi?
Và trường đời sẽ lắm núi nhiều sông
Âu đó cũng là lẽ thường tình, bởi học sinh của thầy năm xưa trưởng thành trong hoàn cảnh đất nước chiến tranh, khi mà ranh giới giữa sự sống - cái chết vô cùng mong manh. Và vì thế nỗi chia xa ấy biết đâu có thể sẽ là sự chia ly vĩnh viễn.
Cùng với dự cảm chia xa, “Lưu bút mùa hạ” còn có nỗi ám ảnh thường trực của thời gian. Viết về mùa hạ nhưng nhà thơ cũng không quên khoảnh khắc mùa thu lá rụng, mùa xuân nắng ấm, hay chút lạnh lẽo của mùa đông. Trong vòng quay nghiệt ngã của thời gian, thi nhân chợt thấy mình "đã quá già", "đã mòn hao". Nếu như xưa nhà thơ Xuân Diệu sợ thời gian bởi thời gian như kẻ thù vô hình có sức mạnh hủy diệt ghê gớm, gợi sự héo úa tàn phai thì Phan Phụng Thạch cũng mang nỗi nuối tiếc ngậm ngùi trước sự thay đổi của đất trời....Nhìn vạn vật hồi sinh, mầm non hé nụ, các em vui đùa ríu rít mà thầy thoáng chút chạnh lòng buồn:
 Các em vui như một bầy chim sẻ
 Trong nắng vàng đang ríu rít đùa bay
 Ta bỗng thấy một thoáng buồn rất nhẹ
 Thoảng qua hồn như chút gió heo may
Nỗi ám ảnh bởi thời gian hay sự chia xa trong thơ, âu cũng bắt nguồn từ trái tim của một người thầy luôn trăn trở vì học sinh thân yêu. Dẫu có thương, có nhớ, có buồn đau thì nhà thơ vẫn gửi trọn lòng mình trong niềm tin yêu hi vọng về một ngày mai cây xanh sẽ đâm chồi nảy lộc.
        Rồi bên nhau các em tìm lẽ sống
        Vui xới tin yêu trên đất của lòng
        Cây sẽ xanh và đâm chồi hi vọng
        Các em cùng ta làm lớn quê hương
Cùng với trang “Lưu bút mùa hạ”, tác giả còn có Thơ tình tuổi 30.
Thế giới thơ tình Phan Phụng Thạch là tình buồn, tình cô đơn vô vọng. Nàng thơ của thi nhân là em - "nàng tiên trong câu chuyện cổ tích hoang đường", là “người tình đã bỏ ta đi”. Vì thế thơ tình Phan Phụng Thạch thấm đẫm nỗi buồn - đau - sầu – thương. Nỗi buồn lan tỏa, xâm chiếm, ngự trị, thấm sâu trong từng lời thơ. Không gian thơ ngập đầy nỗi nhớ nhung, hoài niệm. Hình bóng xưa đã thành ảo vọng, giờ chỉ còn thi nhân u hoài, đau đáu trong men tình ái phôi pha. Phải chăng nỗi ám ảnh về số mệnh, sự chia xa đã khiến nước mắt rỏ đầu ngọn bút.
    Đọc những vần thơ tình Phan Phụng Thạch, có lúc ta tái tê nỗi lòng bởi cái "lạnh" trong hồn thi nhân
Đó là cái lạnh của tuổi vàng:
        Cả một thiên đường đã vỡ tan
        Những niềm vui nhỏ cũng điêu tàn
        Đường em về có mưa trên tóc?
        Có gió mùa đông lạnh tuổi vàng?
Và cái lạnh làm hình hài hóa tượng, tâm hồn hóa đá:
       Thôi đã hết ta chỉ còn ảo tưởng
       Gọi em về ngồi khóc giữa di ngôn
       Ta bây giờ hóa thân thành dáng tượng
       Và buồn thương cũng hóa đá tâm hồn
Có lúc ta thấy mình tan biến ngập chìm trong sương khói bảng lảng mênh mông của cuộc đời. Trong bài thơ "tiễn người về Huế". Từ nỗi hoài niệm, nuối tiếc về một quá khứ vàng son của kinh thành Huế với thành xưa miếu cổ, điện đài ngai vàng, nhà thơ xót xa trước thực tại hoang sơ, lạnh lẽo. Và đằng sau đó là ý niệm về tình yêu - cuộc đời trước những biến thiên dâu bể trầm luân.
         Ta cũng như em một lòng hoài niệm
         Huế một thời của nước ta xưa
         Em thấy đó cuộc đời là dâu bể
         Ôi son vàng sao còn lại hoang sơ
Giống với Hàn Mặc Tử, thơ tình Phan Phụng Thạch có nỗi đau đớn khôn nguôi của một trái tim vỡ vụn vì yêu, có nỗi day dứt khắc khoải ...và cũng có sự vật vã quằn quại của linh hồn trong nỗi đau nhân thế. Phải chăng sự tương đồng cảnh ngộ đã tạo mối giao cảm những hồn thơ?
    Tình yêu của Phan Phụng Thạch là tình yêu dù biết chỉ là yêu em âm thầm không hi vọng  nhưng vẫn chân thành, tha thiết, đắm say. Tình yêu em hòa quyện trong tình yêu quê hương đất nước. Trong sâu thẳm tấc lòng, thi nhân luôn đau đáu được trở về quê hương - mảnh đất Quảng Trị thân yêu. Hình ảnh miền quê ấy đã có lúc hiện lên trong nỗi nhớ khắc khoải, khôn nguôi:
 Hỡi các em buổi học chiều êm ả
 Có bâng khuâng tưởng nhớ một quê nhà?
Và đâu đó còn trong cảm giác lạc loài của người con xa xứ:
         Quê mẹ đó làm sao con về được
         Bởi bây giờ bom đạn đã chia ngăn
         Ngày giỗ cha con ngậm ngùi phương lạ
         Những đau buồn trong ý nghĩ xa xăm
   Trước cảnh đau thương, tang tóc của chiến tranh, nhà thơ vẫn hi vọng, tin tưởng vào sự hồi sinh diệu kì:
         Rồi mai trở lại khung trời cũ
         Chân giẫm lên trên gạch Cổ Thành
         Giữa những hoang tàn ta sẽ nhủ
         Dù sao còn cỏ mọc rất xanh
   Thơ là sự phản ánh chân thật thế giới tâm hồn với những rung động, cảm xúc, nỗi niềm. Tiếng thơ Phan Phụng Thạch là tiếng lòng của tâm hồn anh. Cuộc đời với những mất mát, đau thương đã in dấu vào thơ khiến câu thơ trĩu nặng bởi dư lượng cảm xúc chất chứa dồn dập. Và chính trong sự tận cùng của nỗi đau là sự thăng hoa của nghệ thuật, những vần thơ vút lên diệu vợi, gửi một chút dấu ấn lòng mình giữa cõi nhân gian.
Ta trân trọng nhà thơ - thầy giáo Phan Phụng Thạch ở một tấm lòng và một tâm hồn thơ như thế!
                                                                     Trần Thị Lệ Quyên

READ MORE - ĐÔI ĐIỀU CẢM NHẬN HAI TẬP THƠ “LƯU BÚT MÙA HẠ” VÀ “THƠ TÌNH TUỔI 30” CỦA NHÀ THƠ - THẦY GIÁO PHAN PHỤNG THẠCH - Trần Thị Lệ Quyên

THU XA - Thơ Nhật Quang





THU XA

Nghe lòng rơi ngập lá vàng
Đêm Thu vướng vít trăng tàn phai phôi
Tiễn người ngàn dặm xa xôi...
Dấu yêu xưa cũng ngả rơi hương chiều
Đêm buồn chạm bóng tịch liêu
Vọng xa tiếng vạc đìu hiu cuối trời
Bờ vai buốt giá đơn côi
Tiếng đêm thinh lặng, chơi vơi trăng tà
Chiêm bao... nức nở  lệ nhòa
Chạm tay tháng 9 vỡ òa heo may
Thu sầu thoảng lạnh giăng mây
Ly bôi ray rứt, buồn lay lắt lòng
Người đi mắt ngóng đợi trông
Ấp ôm dĩ vãng - ngược dòng thời gian
Dấu chân mờ mịt quan san
Mơ mùa nắng ấm hợp hoan, xum vầy
Lối xưa kỷ niệm vương đầy
Thu xa lạc bước, trăng gầy hắt hiu.

                               Nhật Quang
                                (Sài Gòn)

READ MORE - THU XA - Thơ Nhật Quang

NGÀY GIỖ MỘT NHÀ THƠ - Hồi ký của Lâm Bích Thủy



                Gia đình nhà thơ Yến Lan


       NGÀY GIỖ MỘT NHÀ THƠ


Cứ mỗi độ rằm trung thu sắp đến thì mẹ tôi chộn rộn, luôn miệng nhắc nhỡ các con về ngày làm giỗ cho cha. Không biết ngày giỗ năm nay (vào đúng rằm trung thu 15/8/ âm còn dương là 5/10) mẹ còn nhớ được để nhắc con cháu nữa không?! bởi bà đã già lắm rồi, bà đã đi qua 94 mùa thu trên cõi trần đầy trầm luân này. 
Còn chúng tôi, là con thì làm sao mà quên được ngày giỗ cha mình, nhưng nếu được  mẹ nhắc vẫn hơn, vì như thế có nghĩa là chúng tôi vẫn còn trụ cột để dựa.
Trong hơn 60 năm làm đời thi sĩ, cùng thời với Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Chế Lan Viên… nếu kể về công và tâm huyết thì ba tôi không thua kém ai về tri thức, về tài năng trong nền văn học cho quê hương và đất nước. Chính ba tôi cũng tự thấy điều đó; lúc ốm nặng, biết qũi thời gian của mình không còn nhiều, ông gọi hai chị em gái chúng tôi lại: “Riêng hai con là phận gái ba mới nói điều này, ba nghèo không có gì để lại cho hai con…nhưng bù lại, suốt đời ba đã phấn đấu, đến giờ các con có quyền tự hào-mình là con của một người làm thơ biết tự trọng và khiêm tốn. Điều này còn quí hơn tiền bạc, nhà cửa”.        
Thực ra, chúng tôi rất tự hào về người cha thi sĩ của chúng tôi.. Bởi vì hai đức tính này nghe thì rất bình thường, nhưng đã mấy ai làm được, nhất là vào những thời điểm mà chân giá trị đích thực của con người chưa được đặt đúng vị trí.
Dẫu ngoài đời ông được giới văn chương, và người yêu thơ kính nể về đức, ái mộ về tài, song quyền lợi mà ông được hưởng ở chính nơi sinh ra ông không được may mắn và người. Vì sao lại vậy?!: Cũng có nhiều người hỏi như vậy mà chẳng ai trả lời được. Vì vậy, người thân của ông cứ phải thương, tiếc nỗi bất hạnh của ông.mãi…!
 Chết rồi thì nằm đâu chẳng được, miễn có nơi. Đó là nghĩa trang ở Huyện, nay là thị xã rồi. Xét ra, như vậy quê hương cũng có đôi chút ưu ái cho nhà thơ rồi; còn nếu đem so sánh với cụ Phan Khôi thì ba tôi hơn hẳn còn đòi hỏi gì nữa!…
Nhưng giá như bức điện này đến sớm hơn :
“Chúng tôi được biết, trước khi mất, nhà thơ Yến Lan có để lại một di chúc và tỏ ý mong muốn về nơi an nghỉ cuối cùng. Chúng tôi kính mong các đồng chí giúp đỡ để ý muốn cuối cùng của nhà thơ xuất sắc của chúng ta được toại nguyện.”  
                                                          (Nguyễn Hữu Thỉnh)         
Nội dung bức điện khiến tôi tiếc từ bấy đến giờ! Song, nếu điện của ông Nguyễn Hữu Thỉnh–Chủ tịch Hội nhà văn VN đến sớm hơn thì liệu có tác dụng gì đối với các nhà lãnh đạo trẻ trung của quê hương Bình Định tôi “Vua cũng thua lệ làng” mà!!!
Nhà thơ Chế Lan Viên từng tâm tình với bạn văn «Chính Yến Lan đã dẫn dắt tôi vào làng thơ.. » điều đó càng chúng tỏ suy nghĩ của tôi càng đúng « Ba tôi là người luôn luôn đi trước nhưng mãi về sau ».
Mấy tháng trước khi ba tôi còn tại thế, cả ông và tôi nghe mọi người bàn tán về nơi dành cho nhà thơ cuối cùng của Tứ Hữu Bàn Thành. Người này bảo « Họ sẽ đưa ông vào nghĩa trang tỉnh ở Qui Nhơn, người kia nói “Họ sẽ đặt ông cạnh Hàn Mặc Tử, để sau này nếu thuận lợi sẽ qui tụ toàn bộ “Tứ Linh” về nơi này, lập nên “Đồi thi nhân” trong quần thể du lịch của Thành phố biển v.v…”.
Những gì nghe được tôi đều mừng cho ba tôi. Nếu ít ra, được nằm ở nghĩa trang tỉnh thì ông đỡ quạnh hiu, hoặc giả sử được nằm cạnh ông Hàn, ở đấy, hàng ngày khách du lịch viếng thăm; tiện thể, thắp cho Hàn Mặc Tử (gốc người Đồng Hới Quãng Bình) nén tâm hương, cũng không nỡ quên thắp cho Yến Lan (sinh tại thị trấn An Nhơn Bình Định) nén hương ấm cúng! Nhưng thực tế không diển ra như vậy ?!
 Sự lạnh lùng này, âm thầm gặm nhấm lòng con cháu ông đến tận giờ. Có lẽ ông Trời muốn ông phải luôn đi trước và mãi mãi về sau chăng ?!…”
Ngày ba tôi mất, chúng tôi ở xa, chỉ nhờ con, cháu cô Ba Đen giúp hết mọi việc. Tôi về tới nhà thì mọi việc đâu vào đó : Quan tài ba đặt ở giữa phòng khách, trưởng nam của gia đình tôi. Trên quan tài có ba cây nến to, đặt ở đầu, giữa và cuối, đang leo lét cháy !
Ngoài con, cháu, thời gian trôi trôi qua khá lâu mà chẳng thấy người của chính quyền huyện nào đến chia buồn cả! Quang cảnh lễ tang thật buồn! Nỗi đau trong lòng tôi tràn ra khóe mắt!
 Ba đi xa thật rồi! lặng lẽ và cô liu như cái “Bến My Lăng” má trong thơ ông có dự báo; Đó là trong đêm vắng, trên bến sông,  chỉ mình chàng kỵ mã trơ trọi đứng gọi đò vậy thôi!…
 Tôi bùi ngùi nhớ về lễ tang cha mẹ của bạn ở thành phố; hết đoàn ra lại đoàn vào. Còn ba tôi, dù sao ông cũng là nhà thơ lớn, là người đã bằng văn chương của mình làm rạng danh cho quê hương xứ sở Bình Định bằng bốn bài thơ với tên là Bình Định 1935, 1945, 1947 1975, ông cũng được mệnh danh là danh nhân của đất võ Bình Định,  mà lặng lẽ, ảm đạm, hẩm hiu đến là vậy !?
Rất lâu sau đó, lèo tèo học sinh, hàng xóm đến thắp cho ông nén nhang! Bỗng một người đàn ông trẻ, khuôn mặt sáng sủa, tôi đoán là nhà thơ, nhà báo Nguyễn Thụy Kha? vì tôi chưa có dịp gặp, chỉ dựa vào bài viết của anh sau đó. Anh đã chạm vào nỗi đau trong tôi.
Cảnh tượng tang lễ của một danh nhân Bình Định, khiến anh bất bình hỏi: “Người nhà của nhà thơ đâu?”. Thằng em trưởng của tôi đứng cạnh anh trả lời :”dạ, tôi đây”, vậy là anh thốt lên với em trai tôi. “Trời ơi! sao lại thế này! Ban tang lễ đâu? Lãnh đạo huyện, tỉnh đâu? sao gia đình không yêu cầu lãnh đạo làm gì cho nhà thơ? Phải làm cái gì đi chứ, sao để nhà thơ thế này? Không được rồi, không được rồi! Ai lại thế này kia chứ!!!
Thằng em trưởng nam của nhà tôi, nó không giảo hoạt như anh nhà báo. Nghe anh giục, nó ừ ừ, hử hử, ngơ ngác như người ở hành tinh khác tới trái đất lần đầu!
Tôi cũng không hiểu vì sao mà như vậy! Buồn lắm! Tình trạng như vậy kéo dài hơn ngày rưỡi. Khi chỉ còn mấy tiếng nữa, gia đình phải thực hiện nội qui của huyện  “Không để người quá cố quá 24h”, Tối qua, lãnh đạo huyện đã cử người đến dặn gia đình, không được rải vàng, tiền âm phủ khi qua quốc lộ, làm mất vệ sinh đường phố, làm ô nhiễm môi trường!  Gia đình tôi chấp hành triệt để mọi thứ huyện đề ra.
Trước khi được Ban tang lễ của huyện ra tay, ba tôi-nhà thơ Yến Lan vẫn hẩm hiu, như vậy bạn ạ!….
Mãi đến hơn 8 giờ ngày 7/10/1998 gia đình được lệnh “khiêng nhà thơ ra đặt tại Nhà Văn Hóa huyện”, để cho long trọng với một danh nhân! Việc làm này không biết có ảnh hưởng gì đến tương lai con cháu? khi phải thuê bốn người gánh quan tài ba tôi ra Nhà Văn hóa huyện như khiêng hàng hóa, trông rất thê thảm, mà gia đình chúng tôi cũng phải nghe.
Đến 9 giờ tang lễ mới bắt đầu. Lúc đó mới có điện, hoa của bè bạn, đồng nghiệp và người hâm mộ các nơi gửi tới chia buồn cùng gia quyến.
Đặt biệt CTy Animex – cơ quan của vợ chồng tôi, từng giờ đã  fax tất cả các mẫu báo viết về sự ra đi của nhà thơ Yến Lan…
Trong hơn 60 bức điện chia buồn, bức điện của nhà thơ Nguyễn Hữu Thỉnh – Chủ tịch Hội nhà văn đã viết:

Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Độc lập-Tự do – Hạnh phúc
Hội Nhà Văn Việt Nam        
Hà Nội, ngày 6 tháng 10 năm 1998
Kính gửi:
    -Tỉnh Ủy tỉnh Bình Định
    – Hội đồng nhân dân tỉnh Bình Định
    – Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Bình Định
    Các đồng chí kính mến!
Hội Nhà văn Việt Nam vô cùng xúc động khi đột ngột nhận được tin cụ Yến Lan, nhà thơ xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại, người con thân yêu của Bình Định đã tạ thế
   Nhà thơ Yến Lan (lức Lâm Thanh Lang) sinh ra trên đất Bình Định 82 năm trước, trong một gia đình nghèo khó và sớm có lòng yêu nước, yêu quê hương. Trước cách mạng, Yến Lan đã tích cực hoạt động yêu nước trong nhà trường, viết kịch diễn cải lương, lập quỉ cứu tế xã hội. Yến Lan tham gia cách mạng tháng tám, cướp chính quyền ở huyện An Nhơn và là Ủy viên Ủy ban nhân dân huyện An Nhơn ngay từ tháng 9 năm 1945. Trong suốt cuộc kháng chiến chống Pháp Yến Lan đã lần lượt tham gia nhiều công tác kháng chiến: Trưởng ban tuyên truyền khu vực Bình Định: Ủy viên Ban Chấp hành Chi hội Văn Nghệ Liên Khu Năm kiêm chấp hành Phân hội Văn Nghệ Bình Định
 Tập kết ra Bắc 1955 ông tiếp tục có nhiều đóng góp cho Hội Nhà văn, cho Nhà xuất bản Văn học, trong công tác biên tập cũng như đào tạo các tài năng trẻ.
  Trong sáng tác, gần 60 năm liên tục ông đã cống hiến nhiều chuyện ngắn, kịch thơ, ca kịch trường ca và thơ, ở thể loại nào cũng có thành tựu.
  Chính vì vậy, cùng với Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Tế Hanh và nhiều nhà thơ cùng thế hệ Yến Lan đã có nhiều đóng góp lớn cho văn học và để trở thành bậc thầy mẫu mực cho nhiều thế hệ các nhà văn noi theo.
  Chúng ta cùng chia sẻ nỗi buồn đau và tổn thất to lớn. Tại Hà Nội, Hội Nhà văn Việt Nam sẽ tổ chức long trọng lễ tưởng niệm nhà thơ Yến Lan.
  Tham gia lễ tang tại Bình Định, chúng tôi trân trọng cử nhà thơ Giang Nam, nguyên Ủy viên Đảng Đoàn, Ủy viên Ban thư ký Hội Nhà văn Việt Nam thay mặt Hội Nhà văn tham gia Ban Tổ chức
   Chúng tôi được biết, trước khi mất, nhà thơ Yến Lan có để lại một di chúc và tỏ ý mong muốn về nơi an nghỉ cuối cùng.
  Chúng tôi kính mong các đồng chí giúp đỡ để ý muốn cuối cùng của nhà thơ xuất sắc của chúng ta được toại nguyện.

TM HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM
PHỔ TÔNG THƯ KÝ THƯỜNG TRỰC

 Nhà thơ Hữu Thỉnh
                                                                    Lâm Bích Thủy

READ MORE - NGÀY GIỖ MỘT NHÀ THƠ - Hồi ký của Lâm Bích Thủy

Sunday, September 11, 2016

TẮM SUỐI - Tùy bút của Hoàng Đằng


         
                             Tác giả Hoàng Đằng 


                  TẮM SUỐI
                                        Tùy bút của Hoàng Đằng

Hiện nay, đời sống vật chất của nhân dân tương đối đã khá lên. Cứ hè đến, người có điều kiện rủ nhau đi du lịch; đặc biệt là các cơ quan Nhà Nước và các đơn vị kinh tế tổ chức tua (tour) cho cán bộ, công nhân, viên chức đi đây đi đó, xem như phần thưởng cho công lao mà họ đã cống hiến. Tùy điều kiện, người thì đi ra nước ngoài, người thì đi các tỉnh, thành trong nước. Tôi, dù tuổi già sức yếu, đứng ngồi không yên, cũng tháy máy muốn đi.
Con tôi biết ý, thuê xe cùng đi với tôi một nơi nào đó trong tỉnh, để gọi là có đi du lịch như người ta.

Ngày 28/7/2016 (25/6/Bính Thân), lúc 7 giờ, xe đến đón tôi tại nhà. Tôi muốn đi Ba Lòng, thế là xe lên đường theo hướng Ba Lòng.
Ba Lòng là chiến khu của Việt Minh trong chiến tranh chống Pháp (1947 – 1954). Vì sao vùng đất ấy có tên Ba Lòng thì tôi chưa biết rõ lắm. Phải chăng là tên vùng đất bằng tiếng dân tộc bản địa (Vân Kiều) rồi người kinh phiên âm ra chăng? Tôi có hỏi một người thân làm cán bộ ở huyện Dakrong, người ấy cho biết Ba Lòng là tên thuần Việt vì vùng đất ấy có 3 dòng khe chảy qua.
Đó là một vùng đất tương đối rộng có con sông xẻ ngang ở giữa; ven sông là những biền bãi, đất phù sa màu mỡ, thích hợp với cả loại cây lương thực (bắp) và loại cây thực phẩm (đậu, mè, dưa quả); ngoài ra, còn những đồi đất thấp rộng để trồng sắn, khoai, môn … Chung quanh vùng đất này là những dãy núi cao cây cối um tùm chằng chịt.
Ngày xưa, vùng này thông thương với bên ngoài, đường bộ thì chỉ là những lối mòn, đường thủy thì từ thị xã Quảng Trị lên bằng thuyền ngược dòng sông Thạch Hãn hoặc từ vùng núi phía Tây Bắc Quảng Trị về bằng xuôi thuyền theo dòng sông Ba Lòng – đoạn sông thượng nguồn của sông Thạch Hãn. Với địa thế khó vào, khó ra như thế, sau khi bị quân xâm lược Pháp đánh bật ra khỏi vùng thành thị khi chúng trở lại chiếm nước ta lần II (1945), Việt Minh đã chọn Ba Lòng làm căn cứ địa rút về, bảo tồn, củng cố lực lượng, chờ cơ hội phản công. Sau khi hiệp định Genève ký kết (1954), theo quy định, Việt Minh tập kết ra Bắc; "quốc gia" tiếp quản Ba Lòng,lực lượng Đại Việt ở địa phương lên trấn giữ, gây ra xung đột giữa chính quyền ở Sài Gòn và nhóm Đại Việt này. 
Trong chiến tranh Việt Pháp, nhiều bậc cha chú của tôi theo tiếng gọi kháng chiến lên đây, người thì tăng gia sản xuất, người thì cầm súng chiến đấu. Tôi chọn đi Ba Lòng là để - dù chỉ trong tâm tưởng - ngửi lại mùi mồ hôi nước mắt mà cha chú mình đã chảy, đổ ra.
Xe ngược đường Quốc Lộ 9 lên hướng Lào, tới thị trấn Krong Klang – huyện lỵ của huyện Dakrong.
Thị trấn này mới lập, còn nhỏ; dân kinh doanh buôn bán từ vùng xuôi lên đây lập nghiệp khá đông. Cả thị trấn, ngoài các con đường nhỏ xẻ dọc ngang, chỉ có một con đường tương đối lớn - có dãy phân cách nằm giữa - chạy xuôi về Ba Lòng, chia thị trấn ra 2 phần tương đối gần bằng nhau; đối diện với con đường này, bên mé Bắc Quốc Lộ 9 là tượng đài chiến thắng của quân dân huyện Dakrong khá hùng vĩ, khánh thành cách đây chưa lâu.
Xe xuôi về Ba Lòng, con đường mở men theo chân các dãy núi, đường song song với dòng sông Ba Lòng, nước cạn, trong veo, nhìn thấy đáy; tôi tiếc: ước gì có mang theo đồ lót, xuống đây mà tắm thì đã đời biết mấy!
Nhiều cồn cát ven sông rất thích hợp với loại dưa quả, còn bỏ hoang. Có lẽ hoặc vì dân còn ít chưa đủ sức canh tác, hoặc vì dân chưa nghĩ ra cát ấy có thể trồng dưa quả tốt, hoặc vì việc vận chuyển sản vật xa xôi khó khăn khiến giá thành cao không đem đến lợi nhuận. Xe “ben” thỉnh thoảng tới bốc cát đem đi bán cho các công trình xây dựng; từng đàn trâu nằm dầm mình trong nước, có con bước lên bờ thủng thẳng tìm cỏ ăn. Cảnh trông rất yên bình!
Xe vào vùng Ba Lòng, đầu tiên là địa phận xã Triệu Nguyên, qua địa phận xã Ba Lòng, cuối cùng là địa phận xã Hải Phúc. Nhà cửa vườn tược không khác chi dưới vùng đồng bằng. Nhà xây, nhà đúc, mái ngói, sân bê-tông; vườn trồng các loại cây ăn quả, cây lấy gỗ, cây che bóng mát, bao quanh vườn là lũy tre. 
Do không có điểm đến định trước, xe chúng tôi cứ chạy loanh quanh trên những con đường bê-tông, rợp bóng im; xe thỉnh thoảng đâm vào đường cụt, trước mặt là khe, ruộng hay núi rừng.
Trời đã trưa, nắng và nóng; hôm nay, khi khởi hành, trời im mát, vậy mà giờ thì thế này, đúng là việc của Trời! Xe đến địa điểm một cái đập chận và điều tiết nước tưới ruộng lúa và nước cho dân sinh hoạt (giặt rửa), gọi là đập Khe Lau. 
Xe tìm đậu dưới bóng im của một cây ở chân núi; chúng tôi chọn một khoảnh đất nhỏ bằng phẳng có bóng cây che; nơi đây, dấu giẫy cỏ còn mới, 3 bếp lửa do ai trước đó nhúm chưa lâu, bên cạnh có một cái bàn cột bằng những thanh tre đơn sơ, tôi đoán người ta vừa dâng cúng lễ gì. Chúng tôi trải chiếu ngồi ăn trưa, đồ ăn và nước uống bới theo từ nhà và treo võng nằm nghỉ.
Dòng khe cạnh chỗ chúng tôi có bờ rất cao; nước khe trông màu hơi vàng, không biết ô nhiễm bởi cái gì; có lẽ lá cây trên núi cao rụng xuống, khô, lâu ngày mục, rồi bị nước cuốn xuống khi trời mưa. Chúng tôi ngồi ở trên, có nghe tiếng cười nói dưới khe; chắc là dân ở gần đây đến tắm khe buổi trưa.

14 giờ, xe trở ra Quốc Lộ 9. Trên đường, để hai cháu nội tôi hết buồn ngủ, tôi ra vế thơ để con cháu làm tiếp: “Trời trưa thăm cảnh Ba Lòng.” Mọi người trên xe suy nghĩ, Con trai tôi ứng khẩu tiếp trước tiên: “Men theo chân núi, đường vòng quanh co.” Lời khen rộ lên trong xe, xé tan sự yên lặng. Đúng là: “Cha nói thì con khen hay; con nói thì cháu vỗ tay rầm rầm”!
Ra Quốc Lộ 9, xe rẽ lên hướng Tây, xem cầu treo Dakrong; trước tiên, chúng tôi đến đứng giữa cầu ở mạn Nam đường Quốc Lộ 9, nhìn tứ phương bát hướng, lấy vài tấm hình.
Dòng sông chảy dưới cầu, hôm nay, trời nắng nóng, dòng nước cạn, mà sao nước lại bạc như nước lũ có chứa phù sa, tôi tự hỏi: Có khi nào sông bị ô nhiễm do một nhà máy nào đó xả thải ở đầu nguồn không?
Về hướng Đông của cầu treo vài trăm mét, nằm mé Bắc Quốc Lộ 9, mấy cái nhà sàn to; nghe nói đây là văn phòng khu du lịch sinh thái Dakrong gồm cả một vùng rừng, núi, hang, động rộng khoảng 40.000 ha; vậy mà hôm nay, các ngôi nhà này hoang vắng, không biết du lịch ở đây đã hoạt động chưa và, nếu đã, thì hoạt động như thế nào. Bên cạnh khu “văn phòng”, một con suối từ trên núi đổ về, sau lưng, mấy nhà sàn đồng bào dân tộc đang ở, một lối đi bê-tông dọc suối; chúng tôi xuống suối, ngồi nghỉ trên ghềnh đá; một thác nhỏ nước sủi bọt trắng bắn tung tóe tạo âm thanh rì rào, dưới thác là một vực sâu, nhìn không thấy đáy, trên thác là một vũng nước cạn; nước trong, dù trên mặt nước có xác rong rêu trôi bồng bềnh; 05 trẻ con dân tộc tuổi dưới 10 nhảy xuống tắm, một bà lão ra đứng trên bờ trông, tôi làm quen hỏi:
- Bà mấy tuổi?
- Không biết. Bà lão lắc đầu, cười, trả lời.
Các cháu nhảy tủm từ trên bờ đá xuống suối và bơi lội rất rành. Tôi cũng xuống tắm theo, nước cạn ngang ngực tôi thôi. Tôi bơi, lặn thỏa thích để sống lại thuở thiếu thời thường tắm ở đoạn sông Hiếu chảy ngang qua làng tôi; mát mẻ và thích thú quá! “Nhất tắm sông, nhì ỉa đồng” mà!

Tôi lên khỏi suối; chú tài xế nói với tôi:
- Cháu thấy ven suối phân người nhiều lắm; hình như dân từ khu nhà dân tộc này hàng ngày ra đây đại tiện.
Nghe nói, tôi cảm thấy gớm, muốn nôn. Tôi đưa bàn tay lên mũi ngửi, có mùi thôi thối. Chao ôi! Những cái xác bồng bềnh trên nước mà tôi tưởng rong rêu, không chừng là xác phân người! Mà có thể lắm! Người sống trong không gian hoang dã đâu có xây nhà vệ sinh!

Xe xuôi đường 9 về lại Đông Hà. Đến thị trấn Krong Klang – huyện lỵ Dakrong, trời bỗng đổ cơn mưa lớn – hình như do ảnh hưởng cơn bão số 1 đang vào vịnh Bắc bộ.
Xe về lại nhà ở Đông Hà khoảng 17:30 giờ. Tối 28/7/2016 ấy, tôi ngủ thật ngon, có lẽ là nhờ được tắm suối.

Tôi viết bài này muốn chia xẻ cảm nghĩ với bạn đọc sau chuyến đi.
Trên đất nước chúng ta, núi, rừng, biển cả, sông, suối, đồng ruộng … cái gì cũng đẹp. Tận mắt thấy sông suối đầu nguồn mà cũng bị nhiễm bẩn, tôi sợ rằng vẻ đẹp ấy đã, đang, sẽ mất dần và một ngày nào đó mất hết.
Nguyên do quá dễ hiểu và khắc phục cũng không tốn kém - mọi người chỉ cần có một chút ý thức.
Người Việt chúng ta đa số sống không ngăn nắp, không biết giữ vệ sinh chung. Ngày xưa, mật độ dân số thưa (trước năm 1975, dân số Việt Nam 31 triệu người – miền Bắc 17 triệu, miền Nam 14 triệu), môi trường chưa đến nổi nham nhở lắm; bây giờ, mật độ dân số cao (dân số cả nước 93 triệu người), nếu người ta không thay đổi lối sống, cộng thêm nhiều nhà máy công nghiệp xả thải, môi trường đến ngày sẽ bị hủy diệt.
Nghĩ mà buồn nhưng chẳng biết làm sao, chẳng biết nói với ai! Trời thì quá cao, người chung quanh, trên, dưới thì quá hững hờ! 

                                                       Hoàng Đằng
                                                               30/7/2016 (27/6/Bính Thân)

READ MORE - TẮM SUỐI - Tùy bút của Hoàng Đằng

Saturday, September 10, 2016

THU ĐƯƠNG ĐỘ - Thơ Vũ Lập






THU ĐƯƠNG ĐỘ

Viễn xứ Thu đương độ
Ánh lên sắc gam vàng
Hướng dương cười với cúc
Để tình ai xốn xang


Thả câu thơ lên Trăng
Gió nhẹ vờn cành liễu
Tóc bạch kim sóng xô
Thiên nga giỡn yểu điệu

Trăng nghiêng nghiêng ánh bạc
Người xưa lạc nơi nao
Sương giăng vây cái nhớ
Buộc mây tự thuở nào?

Triền đê nhãn soi bóng
Sóng sánh dòng sông xanh
Chỗ ta ngồi cỏ mật
Còn thơm lời em anh?

        Vũ Lập Germaly

READ MORE - THU ĐƯƠNG ĐỘ - Thơ Vũ Lập

Friday, September 9, 2016

KHẾ NỢ - Thơ Trương Đình Đăng



        Tác giả Trương Đình Đăng




KHẾ NỢ
     
Em chạm vào ký ức tôi
Một dấu môi
Rực lửa

Thời gan trôi
Em đủ đầy rồi
nên không nhớ nữa

Trong ký ức tôi
Dấu môi vẫn hồng ngọn lửa
Dấu môi hoá thành khế nợ
Em chẳng nỡ đòi
Tôi trả bằng thơ :

Nợ sách nợ đèn nợ áo cơm
Nợ tình nợ nghĩa nợ công ơn
Em hào hiệp quá ta thêm nợ
Bên má thơm hoài một dấu son !


              Trương Đình Đăng
                     9/9/2016  

READ MORE - KHẾ NỢ - Thơ Trương Đình Đăng

VĂN TẾ HỒN MA GIẶC PHƯƠNG BẮC - Lang Trương


         
                                Lang Trương

 


VĂN TẾ HỒN MA GIẶC PHƯƠNG BẮC

Hỡi ơi !
Mưa phủ kín trời
Mây giăng ngập lối
Bản quán mịt mờ
Cố hương diệu vợi.
Thảm thiết quá, luân hồi trọn kiếp, phận cam đành sanh bắc tử nam
Não nùng thay, nhân quả mãn đời, số đã định sống mờ chết tối.
Hồn vơ vất bờ hoang bụi vắng, lập lòe đốm lửa mà trơi
Tiếng nỉ non bóng xế canh tàn, ai oán cung đàn quỷ đói.
" Sách trời định đất nào vua nấy ", quỷ tha hương gục mặt cúi đầu
Cương thổ phân bắc đó nam đây, ma viễn xứ cong lưng khụy gối.
" Đánh cho để tóc dài
Đánh cho để răng đen
Đánh cho phiến giáp bất hoàn,
chinh luân bất phản
Đánh để sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ !"
Tuyên ngôn đành rành
Hịch truyền vang dội.
Địa lôi nổ chuyển rung trời đất Bắc, xương tan thịt nát, máu Mãn Thanh lênh láng ruộng đồng
Hỏa hổ soi sáng rực núi sông Nam, mặt cháy da sôi, xác Rợ Hán mỡ màng cây cối.
" Gươm Đại Việt mài khuyết mòn đá núi", xông lên chém phứa, nào hay đâu cổ giặc cứng hay mềm
"Voi An Nam uống cạn ráo nước sông", xốc tới đạp bừa, đâu sá kể đầu thù hôi hay thối.
Cũng có kẻ cậy tài thao lược, phải tay hào kiệt, mảnh nhung y chôn sấp liệm càng
Cũng có người cậy trí kinh luân, gặp đấng hùng anh, đồ kim giáp xô nghiêng bó vội.
Cũng có kẻ tâm hùng chí tráng, không quen thủy thổ, đành bỏ mình dưới nắng lửa chang chang
Cũng có người vai rộng sức dài, chẳng thuộc địa dư, cam quăng xác dưới ao đầm lầy lội.
Cũng có kẻ mưu cầu danh lợi, lợi danh chưa tới số, phách đã tan bàng bạc áng mây bay
Cũng có người mộng rắp khanh hầu, khanh hầu chẳng đến tay, hồn đã rã hiu hiu làn gió thổi.
Kìa Chi Lăng Liễu Thăng cụt ngọn, đầu lăn lông lốc, nghĩa phu thê đứt gánh hẹn thề
Nọ Đống Đa Nghi Đống lìa trần, cổ thắt lửng lơ, đạo thần tử nghẹn lời trăng trối.
Như Nguyệt Bạch Đằng " sấm rền chớp giật", giáo gươm tua tủa, Hoằng Tháo Toa Đô về Địa Phủ dâng công
Xương Giang Bình Than " trúc chẻ tro bay ", tên đạn bời bời, Lý Khánh Lương Minh xuống Âm Ty lãnh tội.
Nào những kẻ dân phu lao khổ, đói cơm lạt muối, chốn Cửu Tuyền còn thân gánh mình gồng
Nào những người nô dịch nặng nề, đòn nặng roi đau, nơi Chín Suối còn vai mang đầu đội.
Chết lăn lóc rừng hoang bể thẳm, phiêu dạt dật dờ mặc gió táp sương sa
Chết mỏi mòn núi hiểm sông thiêng, nổi trôi vất vưởng mặc mưa dầm nắng gội.
Kẻ lạc bước sơn cùng thủy tận, miệng hùm nọc rắn, bồng bế nhau Âm Cảnh dự phần
Kẻ sa chân vực thẳm ao sâu, nanh khái ngà voi, dắt díu chúng Diêm Đài phó hội.
Đi đường thủy có Hà Bá đưa đường
Đi đường bộ được Tử Thần dẫn lối.
Nghe tiếng trống lân lúc dập dồn lúc rộn rã, ngỡ tiếng trống công đồn mà phách tán hồn kinh
Trông bóng trăng thu khi vằng vặc khi mập mờ, tưởng chiến thuyền nã đạn mà nát gan vỡ phổi.
Cốt nhục nào chẳng xót, thịt xương kia chất đống thành gò
Huyết lệ nào không cay, nước mắt đó tuôn tràn thành suối.
Thảm thiết bấy mẹ già cha yếu, canh thâu tựa cửa, ngóng tin con ruột héo gan mòn
Thê lương thay vợ dại con thơ, đêm vắng trở mình, trông bóng bố đầu bù tóc rối.
Hồi cố quốc lối xưa thăm thẳm, thảm trạng nước nhà tin tức không thông
Ngóng cố hương nẻo cũ mịt mờ, hiện tình quê quán đường truyền khó nối.
Tổ quốc các ngươi nay :
Hạng nô tài hèn hạ lại tiếm ngôi cửu ngũ, nghe cái tên thánh tởm thần kinh
Giống ca xướng vô loài lại ngồi ghế mẫu nghi, trông bản mặt ma hờn quỷ chối.
Múa lưỡi rêu rao thánh hiền chật đất, nào Trình nào Khổng, học tiền nhân trên lọc dưới lừa
Ngoác mồm lếu láo chánh đạo ngút trời, nào Lão nào Trang, dạy hậu thế trong gian ngoài dối.
Mặt nung núc như loài heo nọc, còng lưng dân một nắng hai sương
Mình lặc lè tựa lũ lợn sề, nguy mệnh nước ba chìm bảy nổi.
Tàn độc hơn cả loài dã thú, Thiên An Môn xích nghiến lạnh lùng
Dã man hơn cả giống Sa Tăng, chùa Tây Tạng lửa thiêu nóng hổi.
Dẫu tu tròn chín kiếp cũng khó giải nghiệp căn
Dẫu giết sạch ba đời cũng khôn trừ tội lỗi.
Thương chúng ngươi kẻ trung người dũng, sa trường bỏ mạng, mà tông miếu từ đường chúng san phẳng, muôn nỗi xót xa
Thương chúng ngươi kẻ hiếu người hiền, chiến địa phơi thây, mà mồ mả tôn linh chúng quật nhào, vạn điều nhức nhối.
Việc lửa hương không kẻ lo toan
Việc tế tự không người đắp đổi.
Nay
Đạo sĩ ta ra lời hiệu triệu, Mãn Hán các ngươi sau trước sắp hàng
Lang Truong này phát lệnh xuất quân, Mông Khựa các ngươi dưới trên lập đội.
Kéo rốc về phương Bắc, vặn cổ thằng Bình cho dân an quốc thái, tôi chúa đồng lòng như thác đổ triều dâng
Thẳng tiến đến Trung Nguyên, lôi họng con Bành cho phong thuần mỹ tục, tướng sĩ đồng tâm tựa sóng gầm bão nổi.
Dặn con cháu chớ lầm đường lạc lối, hãy trông gương tổ phụ, chớ mê muội hung hăng mà mạng uổng thân vong
Nhắn hữu bằng cố mở trí khai tâm, hãy soi bóng ông cha, chớ ngu dốt hống hách mà đầu lìa máu xối.
Khai đạo nghĩa sống thù chết bạn, soạn lời văn giúp chuyển dạ ăn năn
Mở lòng nhân sinh dữ tử hiền, thảo bài tế giúp hồi tâm sám hối.
Cam lộ một bầu
Phóng tay cứu rỗi.
Thương thay !
                                                          Lang Trương
                                 Trung Thu năm Bính Thân 2016. Tuyên hạ

READ MORE - VĂN TẾ HỒN MA GIẶC PHƯƠNG BẮC - Lang Trương