Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, June 15, 2009

Quảng Trị, cuộc đất nghĩa tình, ký của Mang Viên Long

Chiều trên sông Thạch Hãn, ảnh của Nguyễn Khắc Phước



Quảng Trị , cuộc đất nghĩa tình


Bút ký


Mang Viên Long



Chiếc xe Asia bảy chỗ ngồi của Hà Nguyên khởi hành tại Bình Định lúc 9 giờ 30 tối, đưa chúng tôi đến Huế đúng 4 giờ sáng hôm sau.. Tấp vào một quán –café-không-tên bên bờ sông Hương vừa dọn hàng-gọi mỗi người một ly café-vừa nhâm nhi thư giản-vừa ngám sông Hương buổi sớm!.Lúc này, sông Hương vẫn còn đang mơ ngủ-mềm mại và mờ ảo như một bức tranh thủy mặc Huế-sông Hương,có lẽ thơ mộng, quyến rủ nhất-chính là lúc này.Lúc Đất Trời yên tịnh vắng lặng thoát ra khỏi mọi cái ồn ào vội vã đua chen…


Tạm biệt Huế khi ly café vừa cạn/điếu thuốc vừa tàn-chúng tôi chỉ ngồi lại được với Huế có thế, nhưng khoảnh khắt ngắn ngủi bồi hồi tinh sương ấy-đã in đậm trong tôi bao niềm nhớ thương của một thời tuổi trẻ rong chơi bè bạn vô tư hồn nhiên như dòng sông lặng lẽ thuở nào!…Chúng tôi lại tiếp tục cuộc hành trình hướng về Quảng Trị/Đông Hà đang mời gọi đợi chờ phía trước!


Cách thị xã Đông Hà khoảng 40 cây số-lúc này đã hơn 6 giờ sáng-tôi gọi cho Phan văn Quang,-người bạn văn lưu lạc đã ngót 40 năm chưa gặp lại. . Hà Nguyên phone cho Anh Đức Tiên-người anh cả của Bloggers Quảng Tri-để xin địa điểm gặp nhau. Bảy giờ, xe của chúng tôi đã vào phố Đông Hà-thị xã của miền địa đầu giới tuyến thưở nào! Đây là lần đầu tiên tôi được dừng chân đến Quảng Trị/Đông Hà-nên Đất Trời QT/ĐH hiện ra trong ánh mắt lạ lẫm tôi luôn mới lạ, réo gọi-thân thương! Cái thị xã của 21 năm gánh chịu bao nỗi chia xa, thù hận, bom đạn,đau thương/chết chóc- nơi miền địa đầu một thời quê hương khói lửa binh đao-nay đang trổi dậy, nẩy mầm, vươn lên-thật tươi trẻ,hiền hòa,chung thủy! Nhìn phố xá người xe Đông Hà-tôi vừa ngậm ngùi thương cảm/vùa trân trọng thán phục! Miền đát chết ấy đã sống lại-đã hồi sinh đầy sinh lực và kiêu hảnh!


Được các anh Đức Tiên, PV Quang, Thanh Tịnh đón ngay góc phố Lê Quí Đôn-chúng tôi lần đầu bắt tay nhau mà như tình thân đã muôn thuở! Sau điểm tâm-uống ly café đầu tiên Đông Hà-theo sự “sắp xếp “ của Anh Đức Tiên-chúng tôi được tham quan 2 di tích đáng nhớ của Quảng Trị là Nghĩa Trang Trường Sơn/ Cầu Hiền Lương-ngay trong buổi sáng..


Con đường rộng, thoáng mát, rợp bóng cây dẫn đến NTTS thật thơ mộng. Có ai ngờ rằng-hơn 37 năm trước-cũng ở nơi đây-khói và lửa/đau thương và chết chóc/hận thù và chia xa-đã cày xới mảnh đất cằn khô này thành từng ngàn mảnh tang thương? Hơm 10.000 ngôi mộ liệt sĩ đã được quy tập về nơi đây-từng khu dành riêng cho mỗi tỉnh thành-hàng hàng lớp lớp người tuổi trẻ đã yên nghỉ lặng lẽ cùng cỏ cây-núi đồi Trường Sơn u tịch –khiến tôi nghe xót xa rưng tức trong lòng! 10.000 ngàn ngôi mộ-không phải vậy-nhiều ngàn lần hơn thế nũa của hai niên Nam Bắc tuổi trẻ đã phải nằm xuống im lìm khi mọi ước vọng tương lai đang xanh-Tình Yêu đang chớm nở! Có một nhà văn nào đó đã nói;”… Vâng, Chiến tranh là một bi kịch to lớn nhất của nhân loại-bởi vì nó tàn phá con người-mà mỗi con Người là môt bảo vật không thể thay thế!”. Tôi dóng một hồi chuông dài chiêm niệm vong linh các anh-sau khi thắp hương đặt hoa lên đài tưởng niêm!Tôi thắp hương/dâng hoa không chỉ cho 10.000 liệt sĩ đang yên nghỉ nơi đây-mà cho tất cả những người đã nằm xuống trên mọi miền Tổ Quốc trong cuộc chiến tương tàn dai dẳng khốc liệt này!


Xe chạy qua Quán Ngang, Dốc Miễu - tiến về chiếc cầu chia cắt 21 năm –Ôi, chiếc cầu hiền hòa bình dị nhỏ bé là thế mà sao gieo bao nỗi kinh hoàng tang thương cho Dân Tộc? Được vịn tay lên thành cầu Hiền Lương thân yêu-như được sờ mó lên từng đoạn đời chìm nỗi bất hạnh –tôi không kiềm được nỗi bàng hoàng đang dâng tràn …Đây là nhà Liên Hiệp, đây là cột cờ, đây là dãy loa phóng thanh,đây là đồn bót,đây là nhà lưu niệm(…)-mọi chứng tích hãy còn đó-mọi khổ đau đang còn kia-Cầu mong lịch sử không bao giờ tái hiện thêm nữa những vết tích đau buồn-mà hãy dựng lên nhiều tượng đài của Hy Vọng,của Tình Yêu-của Niềm Kiêu hãnh…


Buổi chiều, theo sự hướng dẫn của Thanh Tịnh-chúng tôi được thăm Thành Cổ Quảng Trị-nơi 81 ngày đêm chìm trong máu lửa! Nơi cổ thành uy nghiêm này-là nấm mồ chung của tuổi trẻ! Bước từng bậc cấp lên tượng đài-nơi dâng hương-hoa-tôi đăm đăm nhìn rộng khắp chung quanh-nhớ lại những ngày vang dội tiếng đạn bom/tiếng kêu than/ gào thét/ và máu và những giọt nước mắt cuối cùng! Thành Cổ ơi, xin thắp nén hương tâm dâng Người…Cầu mong Người được an lành nơi cõi Vĩnh Hằng!


Trời đổ mưa-Thanh Tịnh vẫn nhiệt tình hướng dẫn chúng tôi với niềm- tự -hào- Quảng -Trị; đua chúng tôi đến thăm nhà lưu niêm cố Tổng Bí Thư Lê Duẫn. Giong thanh ấm của người nữ thuyết trình viên trước mỗi bức ảnh, hiện vật, tượng khắc-làm cho gian phòng thêm ấm áp, gần gũi! Tôi cảm thấy,hình như đôi mắt cô ta long lanh chực khóc-khi nói về những ngày gian khổ của Quảng Trị! Thời gian còn lại ít ỏi quá-chúng tôi “ tranh thủ “ ghé qua Thánh Địa La Vang-thăm miền đất Thánh một thời còn lưu dấu!


Theo “ qui định” của Anh Đức Tiên-chúng tôi phải quay về Quán Soi lúc 16 giờ30-để tham gia giao lưu với anh chị em bloggers Đông Hà/Quảng Trị. Buổi tiệc nhỏ thân mật với những đăc sản QT mà Anh Đức Tiên dành cho chúng tôi thật…”hoành tráng” ! Quanh bàn, đã hiện diện tương đối đầy đủ bloggers QT/ĐH: Đức Tiên., PV Quang, Thanh Tịnh, Xuân Lợi, Văn Luyến,Cô Giáo MN Moon., Hoài Nhạn… Anh Đức Tiên nói lời chào mừng-hy vọng tình-bloggers sẽ nhân lên mãi. Hà Nguyên thay mặt chúng tôi bày tỏ cảm tưởng,lời cảm ơn đối với anh chị em bloggers QT-Và cùng nâng ly trâm phần trăm chúc mứng cuộc Hội Ngộ khó quên!…Khoảng 1 giò sau-Anh Nguyễn Quang Vinh từ Quảng Bình đã lái xe đến đúng hẹn-lại thêm một bạn văn mới tháp tùng-bạn Trần Phương đang công tác ở báo Nông Nghiệp. Bốn anh em chúng tôi( H Nguyên/NM Quang/PV Phương và tôi) -phải cụng ly …tới bến với nhiều bloggers QT hào hoa uống bia như …nước suối! Chuyện trò, tâm tình-cụng ly-và vui cười thoải mái cho đến gần 11 giờ- Hà Nguyên lại thay anh em BĐ gởi “ chút quà đặc sản” ( Nem chợ Huyên bà Bảy/Bánh ít đen Bà Dư/Rượu Bầu Đá)-để anh em cùng thưởng thức “ hương vị BĐ” trong lúc chưa có “ đủ duyên “ ghé lại-Anh Đức Tiên tăng chúng tôi mỗi người một tập” Thơ Webs-Bloggers Quảng Trị-Vuontruc online”- Thanh Tịnh tặng tập thơ mới của Anh( Tập” Cầu Vòng Cõng Những Cơn Mưa”) Cuộc vui kỳ ngộ tạm kết thúc - Chúng tôi trở về Ngân Hà Hotel “ ngủ với Đông Hà” một đêm!


Hẹn nhau ở Quán Café Giang Châu ( của blogger –nhà thơ Xuân Lợi) để cùng uống ly -café –tạm-biệt! Lại một cuộc gặp gỡ thật đầm ấm . Lại một tên quán Giang Châu nhiều ấn tượng. Đông Hà ơi,Quảng Trị ơi- cuộc sum hợp nào rồi cũng có lúc phải chia xa-mỗi người một cảnh đời bận rộn-nhưng trong khoảng im lặng tưởng nhớ của đời sống-Quảng Trị, Cuộc Đất Nghĩa Tình luôn sáng mãi nồng ấm trong tôi! ./.


Quê Nhà, Ngày 30 th 3-2009

Mang Viên Long

Nguôn: www.vanchuongviet.org





Các sáng tác của Mang Viên Long
Thơ, truyện ngắn của Mang Viên Long, vanchuongviet.org

READ MORE - Quảng Trị, cuộc đất nghĩa tình, ký của Mang Viên Long

Wednesday, May 27, 2009

QUA TRUÔNG NHÀ HỒ - Hoàng Đình Hiếu

Cổ thành Quảng Trị





Để đưọc gọi là người Quảng Trị, xét ra tôi không thuộc diện nào cả. Đang tính quẩy gánh qua Truông nhà Hồ để vào Quảng Trị tá túc lâu dài, bỗng dưng nửa đàng rớt thúng. Bạn thử nghĩ có ai quẩy gánh mà chỉ có một đầu ? Thành ra nói về Quảng Trị, tôi là kẻ đứng bên lề. Nghe nhiều hơn biết. Nếu người Quảng Trị có những điểm nổi bật, theo tôi nghe, thì khẩu lệnh sau đây trở thành như bất biến. Ấy là: ‘’Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe’’.

Đặc tính nầy xét ra rất chí lý đối với một tập thể vốn không phải là cư dân cố cựu trên vùng đất phiá Nam dãy Hoành Sơn (Đèo Ngang). Cũng như Quảng Bình, người Quảng Trị có nguồn gốc lâu đời ở miền Bắc Việt Nam, nghĩa là từ phía Bắc đèo Ngang trở ra tới biên giới Trung Hoa. Có lẽ đã có nhiều cuộc di dân về miền Nam. Nhưng khi hai châu Ô, Lý (cũng gọi là Rí) của Chiêm Thành chính thức trở thành hai châu Hóa, Thuận của Đại Việt sau cuộc tình đổi chác giữa công chúa Huyền Trân với Chiêm Vương Chế Mân vào năm 1306, thì đã có nhiều tộc hệ đến lập cư trên vùng đất mới. Họ khác nhau về tộc hệ, nhưng có chung một mẫu số là Đại Việt. Hơn thế nữa, họ có chung một lý tưởng là tạo cơ nghiệp trên vùng đất mới, đảm nhận vai trò xung yếu: Tiến Công, Phát Triển và Ổn Định trong sứ mệnh lịch sử Nam Tiến của dân tộc. Mỗi tộc hệ là những đơn vị cư dân. Chính họ phải chứng tỏ khả năng tiêu biểu của mình trong cộng đồng xã hội mới. Tính tự trọng được coi như mẫu mực, làm nền tảng cho nấc thang gía trị. Phân biệt chân giả cũng do đó mà phát sinh. Không cá nhân nào có thể nói thay cho tộc hệ của mình nếu không phải là vị tộc trưởng được cả tộc tôn kính và tín nhiệm. Câu nói ‘’Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe’’, tôi nghĩ có lẽ đã ra đời trong một hoàn cảnh như vậy.

Bạn có thể nhận ra trong việc bố trí cư dân dựa trên tộc hệ ở Quảng Trị. Có lẽ không có nơi nào khác, tên mỗi tộc hệ đã dược dùng nhiều để đặt thành địa danh như ở Quảng Trị. Là người địa phương, chắc chắn bạn sẽ kể ra hàng chục địa danh bắt đầu bằng tên họ (last name) cọng thêm chữ Xá. Xá là Nhà. Chẳng hạn như: Mai Xá, Ngô Xá, Hoàng Xá, Dương Xá, Võ Xá...Điều đáng nói là mỗi Xá như vậy phải có cái gì để tự hào. Tất nhiên phải là cái Biết có giá trị. Nếu chưa Biết thì phải dựa cột Xá mà nghe vị tộc trưởng dạy dỗ, bảo ban. Xét ra không đơn giản. Cái khó của người Quảng Trị nằm ở chỗ đó. Nhưng là một cái khó làm nên nét tự hào đặc biệt.

Hạ Cờ và Chấp Lễ, mỗi làng nằm hai bên lằn ranh Quảng Bình và Quảng Trị. Hai địa danh nầy hình như có chung một câu chuyện truyền khẩu lịch sử liên quan đến một vị vua triều Nguyễn ngự giá đi thăm dân cho biết sự tìn. Chỗ dân mang đặc sản tiến lên vua và đuợc nhà vua chấp nhận, sau được gọi tên là Chấp Lễ. Chỗ nhà vua và đoàn xa giá dừng chân nghỉ lại, sau gọi là Hạ Kỳ. Dân dã kêu là Hạ Cờ.

Nếu bạn không phải là người Chấp Lễ thì đừng nên giả giọng Quảng Trị. Tiếng nói Quảng Trị coi vậy mà rất khó bắt chước. Người Phủ Cam giả giọng Quảng Trị sẽ lòi ra cái đuôi Huế, trong khi họ có thể nói tiếng Quảng Nôm như người Quảng Nam. Nói tiếng Sàigòn như người Bến Nghé. Câu‘’chửi cha không bằng pha giọng’’cũng được nguời Quảng Trị sửa lưng thiên hạ nhiều lần. Lý do là bạn gỉa giọng không đúng. Ra chợ Gio Linh, bạn hỏi mua trái khổ qua, thấy trong rỗ của một bà ngồi cạnh hàng rau giữa chợ, nhưng không ai biết bạn nói cái gì. Mướp đắng là tên gọi bình dân ai cũng biết.

Bạn phải tinh tế để thấy cái triết lý bình dân nơi những câu nói vè ở Quảng Trị.

Khoai to vôồng thì tốt cộ,
Đậu ba lá thì bưa un,
Gà mất mạ thì lâu khun
Trai muốn gái thì thậm khổ
Gái muốn trai thì thậm khổ
Trời sinh voi thì sinh cỏ
Trời sinh sông thì sinh đò
Trời sinh giếng thì sinh mo
Trời sinh o thì sinh tui
Tui một mình không đặng
O một mình không đặng
Gíó ngoài biển hắn cuốn vô
Mây trên trời hắn cuốn lại
O với tui cùng cuốn lại
Tui với o cùng cuốn lại
Hai đứa mình cùng cuốn lại.

Người ta nói giọng Quảng Trị nặng. Tôi nghĩ cái nặng ấy có lý do chính đáng của nó. Điểm nặng bao giờ cũng ở trung tâm (Center of Gravity). Và hình như cái gì càng xuôi về phía Nam (Đèo Ngang) thì rất khác với cái gì đang có ở phiá Bắc. Đó là sức ép. Nếu không có sức ép ấy thì châu Ô, Châu Lý vẫn mãi mãi là của Chiêm Thành. Thiếu một sức ép bền bỉ thì vùng đất từ Hoành Sơn vào tới mũi Cà Mâu ngày nay vẫn mãi mãi là của Lâm Ấp, Chiêm Thành, Thủy Chân Lạp.

Nói như vậy, không có nghĩa là tổ tiên chúng ta qúa hiếu chiến. Đã có lúc, tổ tiên chúng ta chọn Ái Tử là chỗ dừng chân để an cư lập nghiệp trên vùng đất vốn là qùa cưới của vua Chiêm dâng lên nhà Trần. Những địa danh bắt đầu bằng chữ An có rất nhiều ở Quảng Trị, bên cạnh những địa danh sót lại của người bản xứ Chiêm Thành như Cùa, Trấm, Sòng, Sãi nói lên một ý nghĩa lịch sử khá lý thú trong chủ trương cùng sinh tồn của tiền nhân chúng ta. Khi nói về An Cư, An Lộng, An Thái, An Lợi, An Toàn...tự nhiên bạn có một ý niệm hòa bình nơi người dân Quảng Trị. Đáng ra, phía nam Quảng Bình, phải là Quảng An. Nhưng Trị cũng có nghĩa là giữ gìn sự yên ổn. Chưa ai nói lên cái ý nghĩa tiềm tàng nơi những địa danh như vậy, kể cả soạn gỉa Nguyễn Văn Tân, với cuốn Từ Điển Địa Danh Lịch sử và Văn Hóa Việt Nam (Nhà Xb Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội, 1998). Điều lấy làm lạ là Nguyễn Văn Tân, không hề đả động đến một địa danh nào bắt đầu bằng chữ An ở Quảng Trị. Soạn gỉa nầy có ghi hai địa danh: An Cựu ở Thừa Thiên, quê của Hảỉ Triều (1908-1954), đảng viên Đảng CS; An Xá ở Quảng Bình, quê của Võ Nguyên Giáp. Tôi không có ý giới thiệu cuốn Từ Điển nầy, nhưng với một ý đồ và sự thiển cận lộ liễu như vậy, chứng tỏ người làm công tác văn hóa lịch sử ở Hà Nội chẳng có cái gì đáng gọi là văn hóa cả.

Mỗi địa danh tự nó thật vô tội. Hãy đọc mấy hàng sau địa danh Cam Lộ ở Quảng Trị do Nguyễn Văn Tân viết: Phủ ở tỉnh Quảng Trị, đời Trần là nguồn Cam Lộ, gồm hai châu; Gia Long đặt châu Cam Lộ. Cam Lộ xưa sản xuất dầu rái đỏ để thắp đèn và chế ra sơn. Thời Ngô Đình Diệm, Quận gồm 13 xã. Nay là huyện của tỉnh Quảng Trị, gồm 9 xã với diện tích 35,199 ha, 34,955 nhân khẩu. Năm 1977 hợp nhất với huyện Vĩnh Linh và Gio Linh thành huyện Bến Hãi, sau thành 3 huyện riêng.

Hãy trở lại với từng mãnh đất thân yêu của Quảng Trị chúng ta. Tôi có nhắc bạn về mấy địa danh độc chiếc ở Quảng Trị đó là Trấm, Cùa, Sòng, Sãi...Cũng vậy, ở Thừa Thiên, bạn thấy có Sịa, Sình, Sam, Truồi, Trẹm, Huế...Chắc bạn đã thấy hai tác gỉa Nguyễn Châu và Đoàn Văn Thông, khi thực hiện cuốn Ngàn Năm Xứ Huế (Thương Huế xuất bản, năm 1993) trong Chương Điạ Danh Huế, từ trang 139 đến 156, đã dùng các tài liệu của các giáo sĩ truyền giáo (1653), các nhà thương buôn Tây phương (1823) và cả tài liệu của Phan Khoang trong Việt Sử Xứ Đàng Trong (1967) để đi đến một khẳng định rằng Huế do Hóa (trong Thuận Hóa) mà viết trại ra. Rõ ràng hơn, hai tác gỉa nói ở trang 156 : Huế xuất xứ từ chữ Hóa.
Đây là một vấn đề địa lý văn hóa có liên quan đến Quảng Trị, đặc biệt là chợ Sãi ở gần làng Cổ Thành, Quảng Trị.

Vua Lê Thánh Tông (1442-1497) có lẽ là người đầu tiên nhắc đến địa danh Huế. Trong bài văn nôm có nhan đề là Thập giới cô hồn quốc ngữ văn, nhà vua đã viết: ‘Hương kỳ nam, vảy đồi mồi, búi an tức, bị hồ tiêu. Thao Lào, thóc Huế, Thuyền tám tầm chở đã vạy then’’. (Thơ văn Lê Thánh Tông, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Nhà xb Khoa Học Xã Hội, Hà Nội,1981, tr 134). [Thao là một sản phẩm dệt từ tơ tằm; Tầm là đơn vị do chiều dài khoảng 3 mét; vạy then là làm cong cái chốt của khoang thuyền do chở qúa nặng. CT của người viết ].

Với 38 năm làm vua, Lê Thánh Tông (trị vì từ 1460-1497) đã có lần đến Hóa châu, Thuận Châu, Quảng Nam và một lần vào tận Phú Yên.

Cũng nên biết rằng, trước khi Nguyễn Hoàng vào giữ chức trấn thủ Thuận Hóa năm Mậu Ngọ, 1558, thì vùng đất nầy đã được tổ chức cai trị theo chế độ chính trị của nhà Trần từ năm 1307. Quan ngự sử Đoàn Nhữ Hài đã thừa lệnh vua Trần Anh Tông (1293-1314) đặt các quan lại để củng cố an ninh vùng Ô châu ác địa, không phải ác vì đất hiểm cho bằng vì phải đối phó thường xuyên với người Chiêm lúc nào cũng tìm cách giành lại vùng đất đã mất. Châu Hóa, châu Thuận xưa, nay là đất Triệu Phong, Hải Lăng thuộc tỉnh Quảng Trị, đất các huyện Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà thuộc tỉnh Thừa Thiên.

Cũng vậy, vào năm 1554, đang khi phân tranh với Lê-Trịnh và nội bộ nhà Mạc còn xâu xé, vì Phạm Tử Nghi muốn tôn Mạc Chính Trung lên ngôi, vua Mạc là Mạc Phúc Nguyên (1546-1561) vẫn cử Phạm Khắc Khoan vào làm Tham tướng dinh Thuận Hóa. Theo Ô Châu Cận Lục của quan Thượng thư Dương Văn An (nhuận sắc và xuất bản năm Ất mão,1555) thì Triệu Phong non sông kỳ tú, ruộng đất mở mang, dân cư đông đúc, thực là nơi đô hội lớn của một phương. Cảnh tượng tươi vui, phong vật qúi giá không còn đâu hơn nữa.
Đàng khác, một bản văn nôm vừa mới được phát hiện trong năm 1999 tại huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên cách đây 546 năm (tức năm 1453 dưới triều vua Lê Nhân Tông,1443-1450)nói về một cuộc chia đất cho dân canh tác, có nguyên văn như sau: Huyện quan chấp nhận cho họ đến canh khẩn ruộng tại xứ Đông. Mà nê Đông Tây tứ phía tổng cọng hơn một trăm mẫu. Phê duyệt cho Lê Cạnh, Đoàn Túy, Lê Văn Quế được khai khẩn thành thục, nộp thuế theo như lệ định (Theo Nguyễn Thế, Phát hiện văn bản Hán Nôm cổ cách đây 546 năm tại Phong Điền (Thừa Thiên-Huế). Nghiên Cứu Lịch sử số 3 (304),1999, tr 79-86 ). Một vùng đất trù phú như vậy hẳn là nơi đã sản xuất lúa gạo (thóc) nổi tiếng vào thời nhà Lê. Một vùng đất tốt tươi như vậy mà chịu mất đi, người Chiêm làm sao không đau xót và cố gắng tìm mọi cách để giành lại. Chính vì vậy mà năm 1470, vua Lê Thánh Tông đã mở cuộc chinh phạt, đuổi người Chiêm về phía nam núi Đá Bia (Thạch Bi Sơn) tỉnh Phú Yên ngày nay.

Nhân cuộc viễn chinh nầy, nhà vua đã dừng chân ở cửa biển Tư Hiền, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên, viết bài thơ Tư Dung Hải Môn Lữ Thứ, có bản dịch như sau :

Thuyền lầu khua trống đến Ô long
Bách nhị quan hà đây yếu xung
Giáp bãi núi cao xanh ngăn ngắt
Tiếp trời sóng vổ biển trùng trùng
Triều xưa sự nghiệp còn di tích
Nước Việt dư đồ nhân cựu phong
Lương bể chẳng từ gì cáu bẩn
Sông ngòi đâu cũng hướng về đông

Bài thơ nầy đuợc trích ra từ tập Minh Lương Cẩm Tú, gồm các sáng tác của nhà vua trong các năm 1470, 1471 . Rõ ràng, thuyền tám tầm và thuyền lầu là những phương tiện hải hành thông dụng trong thời đó. Chắc chắn loại thuyền nầy đã nối Chợ Sãi với Huế, khi biết rằng sau năm 1307, vua Trần là Trần Anh Tông chính thức thâu nhận hai châu Ô, Lý và cải danh là châu Hóa và châu Thuận, và sai tướng Đoàn Nhữ Hài thiết lập guồng máy cai trị ở đó. Trong mô hình giao thương và kinh tế thời bấy giờ, hàng từ Lào sang Đại Việt không có con đường nào khác là qua Khe Sanh, Hướng Hóa, xuống Cam Lộ, qui tụ tại chợ Sòng ở làng Kim Đâu rồi theo sông Hiếu vào Thạch Hãn để lên bến chợ Sãi. Nguồn hàng từ Bắc vào Cửa Việt; nguồn hàng từ Ba Lòng qua Trấm đổ xuống đều do đường sông mà đến Chợ Sãi. Có lẽ Huế thời Đoàn Nhữ Hài chưa mấy ai biết đến, nhưng đến thời Lê Thánh Tông đã có Huế của Bao Vinh. Đến lúc thủy lộ chợ Sãi - Phá Tam Giang vào Thuận An thì Huế của Bao Vinh đã trở thành một chợ Sãi ở châu Thuận. Thao Lào, thóc Huế đã có mặt trên châu Hóa, châu Thuận, Thừa Tuyên Quảng Nam và khắp mọi miền đất nước của Đại Việt.

Phải chăng câu văn của vua Lê Thánh Tông đã có một căn bản địa lý lịch sử. Vậy thì tại sao cứ phải gọi Huế là do Hóa trong Thuận Hóa nói trại ra. Chẳng lẽ một nhà văn, một nhà thơ nổi tiếng như vua Lê Thánh Tông không đủ cho chúng ta tin, để cứ phải tin vào văn liệu các nhà ký sự Tây phương viết ra sau đó 156 năm ? Vua Lê Thánh Tông đã viết thao Lào (thao xứ Lào), thóc Huế (thóc xứ Huế) y như ngày nay chúng ta nói Cọp Khánh Hòa, ma Bình Thuận vậy. Chắc chắn nhà vua đã không lầm khi đặt địa danh Huế và Lào bên cạnh nhau để làm tỉ đối các sản phẩm tiêu biểu của của hai xứ Đại Việt và Ai Lao.

Một địa danh bao giờ cũng có mốc thời gian tương đối của nó. Thành Quảng Trị, cũng gọi là thành Đinh Công Tráng, không nằm trên địa thế làng Cổ Thành. Thế nhưng trong cuộc chiến năm 1972, nhiều người cứ lầm tưởng Cổ Thành chính là thành Quảng Trị trong đó có Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Quảng Trị trấn đóng. Làng Cổ Thành có tuổi thọ cao hơn, nằm xa thành Quảng Trị hơn một cây số về hướng đông, trên một vùng đất gần chợ Sãi, nơi đây có dấu tích một thành trì được thiết lập từ xa xưa, ít ra trước thời Nguyễn Hoàng đến đóng quân ở Aí Tử năm Mậu Ngọ, 1558. Riêng các làng có tên như Trung Kiên, Hữu Kiên, Tả Kiên, Tiền Kiên, Hậu Kiên chắc chắn phải khai sinh sau năm 1558, vì những địa danh nầy chính là tên các đơn vị quân sự của chúa Nguyễn, sau đó đổi thành tên làng xã của cư dân, mà đa phần là gia đình của quân binh từ Thanh Hóa, Nghệ An đã theo Nguyễn Hoàng vào Nam.

Cũng vậy, phải nói địa danh Huế có trước khi Vua Lê Thánh Tông ghé đến, ít ra là trước năm 1497. Xóa khai sinh của một địa danh khi chưa cố gắng tìm ra chứng liệu khả tin trong kho tàng lịch sử dân tộc; nhận những dòng ký sự Tây phương như chứng liệu duy nhất, đó là một việc làm thiếu thận trọng. Dầu sao, về điểm nầy rất cần ý kiến của các bậc thức gỉa quan tâm đến văn hóa và lịch sử của một địa phương.

Tôi có một người bạn quê ở Quảng Trị, tên là Ngô Ngọc Ch. Anh nói anh là con cháu họ Mạc. Lúc đầu tôi không tin. Nhưng đọc lại lịch sử thấy có mấy lần, họ của một dòng tộc phải thay đổi. Chẳng hạn, năm 1232, Trần Thủ Độ đã buộc họ Lý phải đổi thành họ Nguyễn. Năm 1435, vua Lê Thái Tông (trị vì 1434-1442) vì có mẹ mang tên Phạm Thị Ngọc Trần, nên nhà vua ra lệnh ai mang họ Trần phải cải thành họ Trình. Họ Mạc, năm 1594, theo lời trăn trối của tướng Mạc Ngọc Liễn nói với vua Mạc Kính Cung: ‘’Họ Lê lại trung hưng, đó là số trời. Còn như dân ta là người vô tội sao lại nỡ để cho dân mắc vào vòng mũi tên hòn đạn lâu mãi như vậy! Chúng ta nên lánh ở nước khác, cốt phải cẩn thận giữ gìn, đừng lại cố sức chiến đấu với họ nữa. Lại dứt khoát chớ có đón rước người Minh kéo sang nước ta để đến nỗi dân ta phải lầm than khốn khổ...’’ Họ Mạc từ đó không đánh nhau với họ Lê nữa mà cải danh thành nhiều họ khác. Một số người còn muốn giữ lại chút liên hệ với tổ tiên nên đã giữ lại chữ lót như trong dòng họ Nguyễn Đăng. Trường hợp bạn tôi Ngô Ngọc, có phải đã giữ lại chữ Ngọc để nhớ Mạc Ngọc không ? Có người họ Mạc đổi cả họ lẫn chữ lót đó là con trai Mạc Cảnh Huống (em vua Hiến Tông Mạc Phúc Hải) vào Nam theo giúp Nguyễn Hoàng, tên là Mạc Cảnh Vinh, cải theo họ Nguyễn trở thành Nguyễn Hữu Vinh. Tất nhiên Nguyễn Hữu chỉ là một chi của họ Mạc (Theo Trần Gia Phụng, Những Câu Chuyện Việt Sử, Tập 2, Toronto, Canada, 1999, tr 121).

Theo một truyền thuyết, họ Đỗ, họ Thái cũng là con cháu họ Mạc, do muốn giấu kín tông tích mà cải ra như vậy. Có trường hợp họ Trần không đổi thành họ Trình mà đổi thành họ Bùi, vì chữ Bùi do chữ PHI và chữ Y ghép lại, nghĩa là KHÔNG ÁO. Không áo tức Ở TRẦN. Không hiểu họ Bùi ở làng An Lộng có nằm trong trường hợp nầy không? Hình như ở An Lộng họ Bùi và họ Trần chiếm đa số dân cư trong làng ?
Chuyện họ Cao do vụ án Cao Bá Quát mà cải họ là Kiều...và hẳn còn nhiều trường hợp đổi họ khác kỳ bí hơn nữa, mà sử sách chưa thấy nói tới.

Tướng nhà Mạc là Lập Bạo tính chuyện lập công, nên đầu mùa thu năm Nhâm Thân, 1572, đã kéo binh thuyền hơn 60 chiếc theo đường Hồ Xá đến đóng quân ở chùa Thanh Tương, xã Lãng Uyển, phủ Triệu Phong, toan mở cuộc tấn công đè bẹp đạo quân chúa Nguyễn ở Aí Tử. Đang phân vân chưa biết phải đương cự ra sao thì trong hàng tì thiếp có một mỹ nữ nhan sắc tên là Ngô Thị Ngọc Lâm, tình nguyện thực hiện kế mỹ nhân giúp chúa Tiên Nguyễn Hoàng. Lập Bạo và cả đoàn tùy tùng lọt ổ phục kích do Ngô Thị Ngọc Lâm dàn cảnh trên bờ sông Aí Tử. Lập Bạo bị bắn chết khi cố bơi theo chiếc thuyền đã ra giữa dòng. Hàng ngũ rối loạn, thuyền đắm, người chết kín một khúc sông. Số còn lại đầu hàng. Nguyễn Hoàng cấp đất ở Cồn Tiên, lập thành 36 phường, cho sinh sống ở đó. Con cháu họ Mạc kể ra không ít trong số dân cư về sống ở đây.

Từ truông nhà Hồ, tôi tản mạn đi về Quảng Trị.

Thương em anh cũng muốn vô,
Sợ Truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang.
Phá Tam Giang ngày rày đã cạn,
Truông nhà Hồ nội tán cấm nghiêm.

Kể ra quan Nội Tán kiêm Án Sát Sứ Nguyễn Khoa Đăng, đã thành công trong việc trị được bọn thảo khấu hoành hành ở truông Hồ Xá, phủ Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, để hậu thế thấy rõ sự uy dũng của một võ quan, vang lừng thanh thế khắp vùng trấn nhậm chốn sơn phòng heo hút.

Ngày nay truông nhà Hồ [Cái truông ở làng Hồ Xá ] không còn nữa ! Từng doi đất của Phá Tam Giang đã bị xé ra từng mảnh. Nhà cửa, đất thâm canh bị trục ra biển Đông sau trận lũ lụt cuối năm 1999. Chiến tranh, thiên tai dồn dập và sự qui hoạch bừa bãi đã làm mất đi rất nhiều vẻ đẹp thiên nhiên của Quảng Trị ngày xưa.

Grand Prairie, Tháng 10 năm 2000
Tác giả: Hoàng Đình Hiếu
www.dunglac.org
READ MORE - QUA TRUÔNG NHÀ HỒ - Hoàng Đình Hiếu

Monday, May 25, 2009

RỪNG NGUYÊN SINH RÚ LỊNH




Rừng nguyên sinh Rú Lịnh có diện tích 170 ha (trong đó khoảng 100 ha còn rừng), là một khu rừng tự nhiên còn sót lại giữa đồng bằng; nằm cách bờ biển 3 km, cách cầu Hiền Lương 6 km về phía Bắc và cách Cửa Tùng 6 km về phía Tây Bắc.
Nằm tại toạ độ địa lý 1703’ vĩ độ Bắc, 107013’ kinh độ Đông. Thảm thực vật thuộc kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm với số loài phong phú có nguồn gốc chủ yếu từ khu hệ thực vật cổ Á nhiệt đới. Hiện Rú Lịnh có trên 200 loài thuộc 72 họ, nhiều nhất là Euphorbiaceae (23 loài); Rubiaeae (10 loài); Lauraceae (8 loài). Trong đó có nhiều loài thân gỗ hiếm sống lâu năm như Lim xanh (Erythrophloeum fordii), Gụ lau (Sindora tonkinensis), Huyệnh (Tarrietia cochinchinesis), Thị rừng (Diospiros sp), Dẻ rừng (Lithocarpus silvicolarum); nhiều cây làm thuốc như Trầm hương (Aquilaria Crassna), Ngũ gia bì (Schefflera Octophylla),... Động vật trong Rú Lịnh tuy không nhiều về số lượng và thành phần loài do rừng nằm gần khu dân cư đông đúc nhưng cũng có đến 73 loài; Chim có 60 loài như: cò, cu, cú, chào mào, sáo, bách thanh,...; Lớp thú có 12 loài như nhím, tê tê, cu li, cầy hương, sóc bụng đỏ,...
Rú Lịnh là một hệ rừng nguyên sinh duy nhất còn sót lại ở vùng Đông huyện Vĩnh Linh. Diện tích tự nhiên của Rú Lịnh rộng chừng 100 ha, nằm giữa hai xã Vĩnh Hòa và Vĩnh Hiền, áp sát tuyến đường Cáp Lài từ Hồ Xá đi Vịnh Mốc. Là rừng nguyên sinh, nên thảm thực vật của Rú Lịnh rất phong phú. Ngoài thảm thực vật tầm thấp, Rú Lịnh còn có nhiều loài cây họ gỗ trong đó có nhiều loại lâm sản quý hiếm như lim, gõ, huyệnh, sến, vàng trâm, tàu tàu và cây trầm gió. Đặc biệt Rú Lịnh có loại cây lịnh nước, một loại cây sinh thủy khá dồi dào. Bên cạnh thảm thực vật đa dạng và phong phú về chủng loại. Rú Lịnh còn có một hệ động vật hoang dã quý hiếm như lợn rừng, hoẵng, mang, trăn, trút, rắn, gà ri, chim trọc, quạ mỏ vàng. Trước những năm 1945, Rú Lịnh là một vùng rừng thâm u, là nơi cư trú của những loài động vật hoang dã, kể cả có hổ, báo. Rú Lịnh cũng là nơi cung cấp nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp của các xã Vĩnh Hòa, Vĩnh Hiền, Vĩnh Thành, Vĩnh Tân, Vĩnh Giang. Rú Lịnh được xem là lá phổi xanh của vùng Đông Vĩnh Linh.
READ MORE - RỪNG NGUYÊN SINH RÚ LỊNH

TRẦN XUÂN AN



Trần Xuân An

Nhà thơ, nhà văn


Tên thật Trần Xuân An, bút hiệu Trần Ngôn Sử, Huyên Đình. Sinh ngày 10. 11. 1956 tại Huế; Chánh quán Quảng Trị.Thời tiểu học và trung học đệ nhất, đệ nhị cấp, học tại Huệ Đức, Long Xuyên (An Giang), Quốc Anh (Sài Gòn), Mai Khôi, Hải Lăng (Quảng Trị), Hàm Nghi (Huế), Trần Cao Vân (Tam Kỳ, Quảng Nam), Phan Châu Trinh (Đà Nẵng).Tốt nghiệp khoa ngữ văn Việt ĐHSP. Huế (1974 – 1978); Dạy học tại Lâm Đồng, 1978 – 1983 (các trường: PTCS. Lộc Ngãi, Bảo Lộc; Phân hiệu PTTH. Bảo Lộc tại Đa Huoai; PTTH Đức Trọng); Hiện nay, chuyên sáng tác, nghiên cứu. Ở tại TP. HCM. Hội viên Hội Nhà văn TP. HCM.

Năm 1971, cùng bạn bè chủ trương tập san “Đất Vàng”, trong giới học sinh ở Tam Kỳ (Quảng Nam – Đà Nẵng), Có bài đăng đầu tiên trên báo Tuổi Ngọc năm 1973. Năm 1991, được giải “Sáng tạo trẻ”, Hội VHNT. Quảng Trị.

Đã cộng tác với:

* Văn nghệ giải phóng

* Văn nghệ Bình Trị Thiên

* Văn nghệ TP.HCM

* Cửa Việt

* Thanh Niên

* Tcđt

* Giao Điểm

…

Tác phẩm đã xuất bản:

* Nắng và mưa, thơ, (Hội VHNT. Quảng Trị, 1991)

* Hát chiêu hồn mình, (thơ, Nxb. Đồng Nai, 1992)

* Tôi vẫn ở trên đường (thơ, Nxb. Văn Nghệ Tp. HCM., 1993)

* Lặng lẽ ở phố, (thơ, Nxb. Trẻ, 1995)

* Kẻ bị ném vào bão (thơ, Nxb. Trẻ, 1995)

* Hát với đời ơi thương mến (thơ, Nxb. Trẻ, 1996)

* Quê nhà yêu dấu (trường ca thơ, Nxb. Văn Nghệ Tp. HCM., 1998)

* Có một nơi lá mãi xanh (tiểu thuyết, Nxb. Hội Nhà văn, 1999)

* Ngôi trường tháng giêng (tiểu thuyết, 1998, Nxb. Thanh Niên, 2003)

* Sen đỏ, bài thơ hoà bình, tiểu thuyết, 1999, Nxb. Thanh Niên, 2003)

* Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường 1824 – 1886, (truyện – sử kí – khảo cứu tư liệu lịch sử, trọn bộ 4 tập, 2002 – 2003; Nxb. Văn Nghệ TP. HCM)

* Ngẫu hứng đọc thơ, phê bình thơ, 2003(NXB. Văn Nghệ TP. HCM., 2005)

Có thơ trong các tuyển thơ:

* Thơ Miền Trung thế kỉ XX (Ban tuyển chọn, Nxb. Đà Nẵng, 1995)

* Hai thập kỉ thơ Huế, 1975 – 1995 (Ban tuyển chọn, Nxb. Văn Học, 1995)

* Thơ tình bốn phương (Thái Doãn Hiểu – Hoàng Liên tuyển chọn, Nxb. Trẻ, 1995 )

* Thơ tình Việt Nam và thế giới (Lê Hùng Trương [Khai Trí] tuyển, Nxb. Thanh Niên,1998)

* Thơ tứ tuyệt [nghìn năm tứ tuyệt] (Thái Doãn Hiểu – Hoàng Liên tuyển chọn, Nxb. VHDT., 1997)

* Non Mai sông Hãn [thơ văn Quảng Trị thế kỉ XX] (Hội VHNT. tuyển chọn, Sở VHTT. QT. xb.,1999)

* và nhiều tuyển thơ khác, xuất bản tại TP. HCM., Hà Nội, Đồng Nai, Lâm Đồng, Huế (1977 – 2005)…v.

Mời các bạn bấm chuột vào link TRẦN XUÂN AN bên trái màn hình để đọc toàn bộ tác phẩm của anh ấy.



READ MORE - TRẦN XUÂN AN

Saturday, May 23, 2009

Thơ Võ Văn Hoa

Sông Dakrong

KHE TRÁI



Bãi sắn, biền ngô đồi bát úp


Làng quê xanh ngát những đồi nương

Du thuyền Thạch Hãn lên mạn ngược

Khe Trái* hoa rì ** chót lá hương.

*

Cá bống thượng nguồn sao lắm thế!

Nước trong như lọc cứ vây chân

Trưa nắng anh săn từng viên cuội

Bàn mài Như Lệ có đầy sân?

*

Ngoài vùng phủ sóng. Em hướng đạo

Bia bọt lời ca động núi rừng

Bây giờ anh thấy ngày rất ngắn !

Se sắt chiều lên..bóng nguyệt rưng.


Ngày rằm tháng tư Kỷ sửu (2009)


VÕ VĂN HOA tốc ký thơ


* Khe Trái: Một chi nhánh của dòng sông Thạch Hãn phía tượng nguồn, phong cảnh đẹp

** Hoa rì: Loài hoa mọc trên đá, hoa trắng


Mời các bạn đọc trang Yahoo Blog của Võ Văn Hoa:Nhấp chuột vào đây

READ MORE - Thơ Võ Văn Hoa

Wednesday, May 20, 2009

Họa sĩ Nguyễn Bá Văn


HỌA SĨ NGUYỄN BÁ VĂN
Sinh năm 1956 tại Hải Lăng, Quảng Trị
Trước 1975 đi học ở Huế
Năm 1976 vào Miền Nam
Năm 1990 ở Sài Gòn cho đến nay.
Địa chỉ: 135/3/9 Lê Văn Thọ, P.11, Q. Gò Vấp, Tp.HCM
Tel: 0918395024
Mời các bạn đọc thơ của họa sĩ Nguyễn Bá Văn trên trang
www.nguyenbavan.vnweblog.com
và bài viết về anh trên trang
http://tiengdantalu.vnweblogs.com
Nụ tầm xuân, tranh sơn dầu

Trái cấm, tranh sơn dầu

Nguồn sống, tranh sơn dầu


READ MORE - Họa sĩ Nguyễn Bá Văn

Tuesday, May 19, 2009

Thơ Phạm Hòa Việt

PHẠM HÒA VIỆT


Về lại Đông Hà


Ba mươi năm tuổi đời hóa đá

Cánh phượng đỏ lập lòe xuân hạ

Tóc vắn dài mấy nổi ưu tư

Bên kia bờ hờ hững anh thư

Bến đò đưa sáng chiều nối tiếp

Lá vàng bay giữa mùa hoa điệp

Áo thiên thanh một sắc cầu vồng

Như thưở nào bên nhớ bên không

Ba mươi năm chưa hề gặp mặt...

Về lại Đông Hà

Nửa đời lưu lạc

Dáng anh thư phiêu bạt phương nào

Âm sắc chen vai mây nước xôn xao

Đồi Dốc Sỏi hóa thành phố thị

Cầu sông Hiếu dặm đường thiên lý

Gió chen vai áo trắng nhàu bay

Thuở làm thầy in nhẹ dấu tay

Như loài hoa nở trang sổ điểm

Như dấu tích trên môi tìm kiếm

Sóng giữa dòng sông Hiếu Cù Lao

Thưở làm thầy mưa nắng lao đao..

PHV

***

Em theo đoàn lưu dân

I.

Ta theo đoàn lưu dân

Khi mùa xuân vừa ngủ

Khi mùa mưa lại về

Trên môi người góa phụ

Ta ngóng đợi tiều phu

Như niềm khao khát nhỏ

Chân em vẫn ngập ngừng

Trên miền hoang đá cỏ

Trên miền hoang Động Đền

Trên miền hoang biển cả

Ngả bóng chiều không quên

Giữa hai bờ sông Thạch

Ta còn lại sau lưng

Mùi hương quen của đất...

Em theo đoàn lưu dân

Vai son sờn cẩm tú

Ôi tiếng hát xa xưa

Môi thơm bông bí nụ

Ta bên trờ tuổi nhỏ

Lá đông vàng biệt ly...

Em theo đoàn lưu dân

Tóc nghiêng nghiêng sợi đổ

Bàn tay gầy ngón khổ

Ngập ngừng chân bước chân

Em theo đoàn lưu dân

Ta bên trời sóng dạt

Đường chông gai cách mặt

Rừng mưa lạnh đá ghềnh

Em theo đoàn lưu dân

Bỏ ruộng nương hương lúa

Sắn khoai ngày nghèo khó

Cà xanh rau lá đỏ

Miếng ngọt chiều phai hương

Miếng chua chiều lá cọ...

II.

Lưu dân! Đoàn lưu dân!

Mưa vẫn nằm đất lạ

Hai bàn tay trống không

Bới gì trong sỏi đá

Cho ngày tháng đom bông

Cho môi em thêm hồng...

Em theo đoàn lưu dân

Cũng nhọc nhằn tuổi mộng

Bới gì trong đất xanh

Uống gì trong thác xanh

Tay em còn mềm mại

Làm sao ươm trái xanh...

Ta cầu xin, cầu xin

Buổi mai và Đá Dựng

Chuông giáo đường vẫn rung

Có em tìm đất đứng!

Tiếng hát vẫn nhọc nhằn

Đôi làn môi bé nhỏ

Trái rừng là lương khô

Cho những ngày khai phá

Hoa rừng là tinh hương

Cho tuổi hoang Động Đền

Cây rừng là sườn chái

Ta kết lá kè tươi

Trong ngôi vườn trú ngụ

Còn em và biển khơi

Tụ về cơn bão tố...

Mưa rừng là mắt em

Khi đàn chim xa mẹ

Cỏ rừng là tên cha

Khi bỏ quên đồi lá

Giữa bầu trời bao la...

III.

Bàn tay em đã lì

Củi tươi từng đống một

Đốt gì cho chuyến đi!

Bàn tay em đã gầy

Đoàn lưu dân còn đó

Ta cũng nghe sầu cay...

Nhớ quê hương tuổi nhỏ

Nhớ Huế và mưa râm

Ta nhớ cả hoa tràm

Thương con đường nắng mới

Nhớ cát mùa Gio Linh

Sim phơi rừng Cam Lộ

Bàu Đá và Đông Xuân

Giếng trong mùa lá đổ...

Xin góp cả hai tay

Tóc úp đều cổ áo

Đốt lửa cho vườn cây...

Xin hôn em một lần

Để ngày mai còn thấy

Nụ cười em rất xinh

Nụ cười em rất tình...

PHẠM HÒA VIỆT



Đọc thêm

các sáng tác khác của Phạm Hòa Việt

Blog Yahoo của Phạm Hòa Việt


THƠ VÀ ĐƯỜNG BAY NGHỆ THUẬT
READ MORE - Thơ Phạm Hòa Việt

HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG - QUÊ NHÀ



Sông Vĩnh Định

QUÊ NHÀ


Hoàng Phủ Ngọc Tường



Làng tôi là một thung đất bằng phẳng nằm kẹp giữa sông Thạch Hãn và một con đường quan nối từ thị xã về đến Cửa Việt (Quảng Trị). Trước sau tôi chỉ sống ở làng một năm rưỡi của thời thơ ấu, vừa đủ thời gian để học hết lớp nhì và học kỳ I của lớp nhất, tại ngôi trường đặt ở đình làng bên sông Vĩnh Định.
Trong quãng thời gian dài dằng dặc của một đời người, mà người ta vẫn gọi là hoa niên, trong tôi chỉ còn đọng lại kỷ niệm về những ngày tháng ở làng. Có vẻ như ngoài làng tôi ra tôi không còn sinh trưởng ở một nơi nào khác; và bao nhiêu nguồn cội văn hóa, bao nhiêu vốn kiến thức dân gian về văn chương, mỹ thuật... tôi thu lượm được trong cuộc sống đều đã được ươm mầm từ ngôi làng nhỏ bé ấy.

Sau này lớn lên, tôi đã đặt chân đến nhiều nơi trên Trái đất, thế nhưng nhờ có làng tôi không trở thành một vật vô định trong không gian, hay là đám rong rêu bồng bềnh trên mặt đại dương. Tôi đã thuộc về một “tọa độ” nào đó cụ thể trên mặt hành tinh. Do đó, tôi vẫn nghĩ rằng một con người dù tiếng tăm lừng lẫy đến đâu, cũng không thể tự cho mình là lớn lao hơn quê hương của mình được. Ngày xưa và bây giờ.

Có một nghịch lý ma quái khiến tôi mắc kẹt hoài trong đó, không làm sao thoát ra được. Sao cái ngày xưa ấy, hồi tôi còn là một chú bé nhà quê chạy đuổi theo con chuồn chuồn óng ả bay dọc theo những đường làng. Trước cái cổng gạch của nhà thờ chi này là một con đường dài dẫn đến bờ sông; rẽ trái, đi theo bờ sông thì gặp đường cái quan dẫn đến chợ Sải. Đó là con đường tôi đi học ngày xưa.

Hằng ngày tôi thường xuống tắm ở dòng sông, bơi ra nhặt ốc gạo trên một tòa miếu cổ đã chìm xuống đáy sông không biết từ đời nào. Rồi trèo lên lưng trâu đứng cao lên, thổi tù và với chiếc kèn thật to quấn bằng lá dứa dại, vừa theo trâu lội vào bờ.

Thời kỳ ấu thơ này tôi được che chở bởi làng quê kỳ diệu giống như một tổ chim bình yên. Nhưng rồi một hôm cái tổ bình yên đó đã chao đảo... Điều đó bắt đầu bằng sự kiện chú Thu con mệ Giỏ ở cạnh nhà tôi bỗng nhiên mang vẻ mặt lạnh lùng đứng gác ở ngã ba đường làng, lưng mang một quả lựu đạn bằng gỗ và một chiếc mã tấu to bản.

Mọi con đường rẽ vào làng tôi đều bị rào kín lại bằng củi nè, với những thanh niên dân làng đứng gác dọc đường: thế là tôi đã nhập vào phong trào rào làng chiến đấu, đã mặc nhiên đứng vào một phe trong cuộc chiến chống Pháp. Một buổi chiều, đi mua sách trên tỉnh, ngang qua bãi cát làng An Tiêm, tôi bỗng gặp một thanh niên tay bị trói quặt ra sau lưng, đi giữa hai gã tây đen mang súng đi kèm.

Người thanh niên có một dòng máu chảy ứa ra ở khóe miệng, nhìn tôi mỉm cười âu yếm. Té ra đó là anh Nguyễn Văn Cửu, bạn cùng học lớp nhất với tôi, ngồi ở bàn cuối nơi ngôi trường Triệu Phong ở chợ Sải. Từ đó, tôi mơ hồ cảm thấy chiến tranh đang vây bọc lấy tuổi thơ của tôi, và làng tôi không còn là nơi trú ẩn an toàn đối với một chú bé thích mơ mộng như tôi. Tôi từ giã chốn quê nhà yêu dấu, từ giã chiếc cổng ngói của ngôi nhà thờ chi rêu phong để trở lại Huế sống nhờ căn nhà bên ngoại của tôi. Và đi vào cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Ngày ký kết Hiệp định Paris, từ địa điểm đóng cơ quan ở Gio Linh, tôi đã chạy băng đồng nóng lòng về thăm lại làng tôi. Dọc đường, vài nhóm thanh niên dân quân đã tới trước, đang cố gắng dựng lại những căn nhà đàng hoàng, hình như để ăn ở lâu dài với làng xóm, dù cột kèo phải buộc bằng dây thép gai.

Khắp mặt đất không còn một thanh tre nào đủ dài bằng một sợi lạt, do bom đạn bấy lâu đã vằm nát tất cả. Không có bóng cây nào để phải che khuất tầm mắt. Nhìn khắp đồng bằng Triệu Phong tới sát biển, chỉ thấy hình dáng những con người lỏng khỏng đi trên mặt đất. Cứ nói sòng phẳng từng lời, theo nghĩa đen, là quê hương của tôi đã bị chiến tranh “lột da”.

Tôi vẫn nhớ da diết tiếng hát đuổi chim muông của lũ trẻ con cất lên từ những nương rẫy khắp nơi trong làng. Trên con đường cái quan dẫn đến thị xã kia là con đường đi học của những người lừng danh đã sống ở làng mạc dưới kia. Ví dụ họa sĩ Lê Bá Đảng hiện sống ở Pháp, trong “không gian Lê Bá Đảng” thường xuất hiện những dấu chân đi khai phá một con đường.




Như giáo sư tiến sĩ Hồ Ngọc Đại với lý tưởng học đậu tiến sĩ để đi dạy tiểu học đem lại cho tuổi thơ niềm tâm phục khẩu phục rằng đi học là một niềm hạnh phúc thật sự... Những người ấy chắc đã bỏ lại cánh diều tuổi thơ của họ trên những cánh đồng quanh đây; và chắc là hồi nhỏ tôi đã từng ngồi chơi nơi chiếc cổng nhà thờ chi bắt mặt nhìn ra đường quan và đã thấy cái bóng họ bước đi trên con đường nhân loại.
Tôi về làng dự lễ lạc thành ngôi nhà thờ họ vừa được con cháu trùng tu lại. Đất xây dựng đã được hợp tác xã giao trả lại cho họ Hoàng, và các con cháu thành đạt trong và ngoài nước đã bỏ tiền ra lấy lại đất, xây lên một nhà thờ khang trang, hợp nhất các chi nhánh xưa nay vẫn tồn tại riêng lẻ của họ Hoàng. Buổi chiều, tôi ra trước ngõ, nhìn bâng quơ ra cánh đồng. Trước kia, nơi đây có một cái hồ, nước xanh biếc quanh năm.

Bây giờ hồ đã biến mất, thành ruộng của hợp tác xã, nghe nói họ sẽ cho họ Hoàng chuộc lại để đào hồ. Cái cổng theo bản vẽ mới này lớn hơn cái cổng hồi tôi còn nhỏ. Bây giờ thì cổng rộng để ôtô có thể ra vào được nhưng nó không có vẻ thân mật. Hình như lũ chim sẻ của ngày xưa đã trở về từ những cánh đồng thời gian nào không biết, kêu lách chách trên đầu chúng tôi và bay vút vào bên trong ngực tôi. Vui một nửa, tự dưng nước mắt tôi rưng rưng.

Huyền thoại kể rằng sau khi chết, xương thịt con chim phượng hóa thành tro than, để 500 năm sau nó sống lại trên đống tro xương của nó. Trong cuộc chiến tranh vừa qua, thời gian không đến nỗi dài như thế. Chẳng cần đến 500 năm, con chim phượng huyền thoại của làng tôi đã tái sinh trên tro xương của mình.

Buổi trưa tôi nằm nghỉ ở một phòng khách của nhà mới làm. Ngọn gió nào phía sau đồng thổi đến mát rượi trong trẻo lạ thường, như một trời sương tỏa khắp không gian. Tôi nghĩ thầm lan man: chiến tranh đã hủy diệt tất cả; nhưng chiến tranh cũng hàn gắn lại tất cả. Giống như một câu thơ của Nguyên Sa: Và tất cả những gì nguyên lành / Đều xây cất trên một chút gì đổ vỡ.

Cả tâm hồn con người cũng vậy.

Lập đông 2005

HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG

Theo Việt Báo

Mời các bạn đọc thêm

Hoàng Phủ Ngọc Tường - Nỗi niềm của lửa


Thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường


Gặp Hoàng phủ Ngọc Tường, Hoàng Hữu Quyết


CHUYỆN CƠM HẾN


MÙA XUÂN THAY ÁO TRÊN CÂY


ẨM THỰC QUẢNG TRI

READ MORE - HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG - QUÊ NHÀ