Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, November 22, 2008

NGUYỄN ĐẶNG MỪNG



THƠ NGUYỄN ĐẶNG MỪNG



Chẳng bao giờ thoát khỏi nhau đâu !



Chẳng bao giờ thoát được nhau đâu

Đừng nhầm tiếng thời gian

Với một đời trăn trở

Đừng nhầm đôi mắt nhỏ

Với bầu trời hư vô

Đừng nhầm một câu thơ

Với tiếng lòng thổn thức

Và anh và em đừng nhầm nhau sự thực

Chẳng bao giờ thoát khỏi được nhau đâu

*

Hỡi em thân yêu đừng nhẹ dạ

Chúng ta đang xoay vòng hư vô

Gạt lừa nhau để tìm lẽ sóng

Để yêu thương

Để mong chờ

Mà thật tình rất đổi ngây ngô

Thế mà ta hy vọng

Thế mà ta yêu nhau

*

Hỡi em thân yêu

Trừng mắt nhìn vào cuộc sống

Có bữa đói bữa no

Có bài ca hy vọng

Có anh hùng

Có cá tính

Có cả bài ca dao

Không kẻ thù đối mặt

Có ngổn ngang trăm ngàn ý thức

Nhưng có chung một sự thực

Chẳng bao giờ thoát khỏi được nhau đâu


Sài Gòn1990
READ MORE - NGUYỄN ĐẶNG MỪNG

Tuesday, November 18, 2008

BIẾT SẼ RẤT BUỒN NÊN CẰN VÀO TAY - thơ Hồ Huy

Hồ Huy



Rồi cứ thế mê mãi trong cơn mưa
Đằng sau là những tin nhắn gọi với theo vội vã
ôi tất cả cũng sẽ là mất cả
sẽ rất bình thường nếu mưa càng lớn hơn


Mà có gì đâu, mà dỗi mà hờn
sao cứ để lòng tươm lên rực rỡ
sao để ngực cầu vồng bập bùng sưng nhớ
biết sẽ rất dài và sẽ rất sâu


Chỉ im lặng thôi, biết nói gì đâu
Khi tình yêu đã quá nhiều dối trá
Khi cuộc sống đã quá nhiều hối hả
Dối lòng tôi, đâu thể dối lòng mình


thôi thế nhé, anh về với lặng im
ôm chông chênh vào lòng làm gối
em cứ ghé qua rồi trôi đi rất vội
cho đêm lên ngồi hát ở nơi đây


Biết sẽ rất buồn nên anh cắn vào tay


28/10/08


Hồ Huy
(Đông Hà, Quảng Trị)
READ MORE - BIẾT SẼ RẤT BUỒN NÊN CẰN VÀO TAY - thơ Hồ Huy

Sunday, November 16, 2008

HOÀI QUANG PHƯƠNG




Hội VHNT Quảng Trị 46 Hùng Vương, thị Xã Đông Hà, tỉnh Quảng Trị ĐTNR: 053 858 052ĐT DD:0979 741 752 Email: hoaiquangphuong@yahoo.com.vn hoặc phuong.hoaiquang@gmail.com Blog: http://vn.myblog.yahoo.com/hoaiquangphuong






THƠ HOÀI QUANG PHƯƠNG


TRẦM TÍCH THIÊNG LIÊNG

Sông Thạch Hãn ít nói về mình
trầm tư chảy
một dòng sông tìm lại tháng năm.

Từng vĩa cát nằm khuất đáy sông
hút lên thuyền đầy ắp
Còn vĩa hy sinh tìm hàng chục năm trời
chưa gặp…

Hoa đẫm nước mắt
Dòng sông đẫm hoa
Trôi vào đêm những ngọn đèn ứa lệ
Lời cầu khấn từ nhiều miền đất nước mang về
thả xuống dòng sông
Mong chờ người thân về báo mộng
Đêm chìm vào lặng im…

Những linh hồn dưới sông chưa lên tiếng
Hài cốt lạc ra ngoài tầm tay?
Không nói gì với người tìm kiếm
Lúc còn sống họ cũng kiệm lời
về chiến công của họ.

Chảy qua mấy mươi năm hòa bình
Thạch Hãn giữ gìn anh linh liệt sĩ
In bóng Tượng đài Thành Cổ
Soi gương thị xã hồng hào
Dòng sông ấp ủ trầm tích thiêng liêng…
02/2007


ĐỘC THOẠI

Biết là không có phép thần tiên
Để em bước ra từ bức ảnh
Sao anh rối bời một chiều mây tạnh
Ngóng em về…

Điều không mong lại đến, tái tê
Mưa rơi!
Cây đứng đợi đầm đìa chiếc lá.


Độc thoại gió
Không ai nhận nửa lời
Chỉ mình nghe, tất cả lấp vùi.

Gió còn lại đôi môi và chiếc cánh
Sau chiều mưa óng ánh
Tiếng em cười trong ảnh vọng ra…
4/2006


CHỒI KHOAI LANG BIỂN

Những củ khoai lang mùa đông
dạt trôi dọc bờ biển cát
níu buộc vào nhau.

Khoai ở vườn nào
Màu da trẻ con
đầy mình vết xước
như thời máu ứa, đạn bom.

Khoai lang vùng bãi ngang
Sóng cuốn
xa bờ
Năm đói dật dờ…

Mấy ai ngờ
khi bờ biển sang xuân
chồi khoai lên
xanh từng hạt cát.

Không chỉ là cây
đích xác những linh hồn!...


BAY VÀO HOÀNG HÔN

Cánh dơi bay vào hoàng hôn
nơi bắt đầu ngày của nó

Dơi đớp từng mảnh đêm sâu
Sống bằng bóng tối muỗi
Có loài dơi hút máu tươi
trong vệt đen tắt nắng

Lũ dơi kia bay vào chạng vạng
nơi dẫn đến xoáy lốc đường đêm
Hơi tiền đầy căng lồng ngực
Loài hút máu người róc kiệt ngày lên.


ĐỜI CON CHỮ

Con chữ từng được nâng niu
nhạt nhòa trong chợ trời ngôn ngữ

Con chữ tầm thường mọc nấm
huyền hoặc cánh rừng
lá khô phạc phờ khúc hát

Con chữ nương bóng thế gian
ham điều lóa mắt
quên gốc gác mình

Con chữ chiến tranh
nằm im trong lăng mộ sách
đêm trắng bạch khói hương
gốc xương mọc lên chồi sống

Ngọn bút cày vào vô thức
cơn đau lột xác
Con chữ ra đời!
3/2008


READ MORE - HOÀI QUANG PHƯƠNG

Thursday, November 13, 2008

CÁT MIÊN - CHÙM THƠ

Cát Miên, ảnh của Hồ Tĩnh Tâm

THƠ CÁT MIÊN


MÙA



Tháng năm
Mùa đổ xuống đồng
Mẹ khom lưng
Gặt
Mênh mông chín vàng.
Quờ tay đưa lưỡi liềm sang
Gặt bông lúa trĩu
Gặt ngang bóng mình.



MÀU EM


Em khoác lên mình màu xanh
Nghe mầm non bật từ lòng đất
Mạch nguồn tràn lên tán cây
Phố xanh- em xanh.

Em khoác lên mình màu nâu
Lũ chim sẻ cất tiếng hót
Chiếc áo ai bỏ quên ngày xưa?
Bạc sờn vai mẹ.

Em khoác lên mình màu tím
Đánh thức nỗi buồn bâng quơ
bằng lăng bung nơi cuối phố
Nghe lòng mênh mang

Em khoác lên mình màu đỏ
Con tim rực nỗi khát khao
Phố cũng dường như chật lại
Nụ hôn em trao.

Em- sắc màu giữa phố
Đánh thức nỗi buồn không tên
Chợt cơn mưa chiều sót lại
Cầu vòng khoác màu em.



BẬC THANG YÊU

Người miền núi
Cuộc đời bậc thang
Lên xuống nhà sàn
Một bậc,
Hai bậc...
Người miền núi
Leo bậc thang lên núi
Làm ruộng bậc thang
Bậc trồng lúa
Bậc tỉa ngô
Bậc trên cao chứa nước
Bậc lưng chừng đựng mây.
Con trai con gái núi
Đôi chân chắc như đá Đồng Văn
Đôi mắt xanh dòng Nho Quế
Nụ cười sóng sánh rượu ngô
Chưa rót
Đã say lòng người.
Muốn làm dâu miền núi
Muốn làm rể vùng cao
Phải vượt qua chín bậc
Một bậc,
hai,
ba bậc...
Gặp gió
gặp mây
gặp đá...
Bậc thứ chín
Gặp mặt trời
Chạm bậc tình yêu.


CÁT MIÊN
READ MORE - CÁT MIÊN - CHÙM THƠ

Wednesday, November 12, 2008

Lê Cung Bắc - HÀNH HƯƠNG VỀ ĐẤT PHẬT

Đoàn làm phim Sena tại Bồ Đề Đạo Tràng

Đạo diễn Lê Cung Bắc ở Nepal


NSƯT Lê Cung Bắc

Hành hương về đất Phật



Rằm tháng giêng Mậu Tý, bộ phim Duyên trần thoát tục sẽ công chiếu tại các rạp trên toàn quốc. Đạo diễn Lê Cung Bắc đã đến đất Phật ở Nepal, để quay ngoại cảnh cho bộ phim


Buổi sáng mùng 2 Tết, tại Tĩnh Tâm cốc ở nhà Lê Cung Bắc, bên tách trà thoảng hương sen, anh trầm ngâm kể công việc thực hiện bộ phim đã ảnh hưởng đến đời anh.


Khởi đầu từ nhân duyên
Từ nhỏ, Lê Cung Bắc được quy y với pháp danh Tâm Thí. Lớn lên, anh nghiên cứu nhiều kinh Phật và thầm ước ao có dịp hành hương về đất Phật. Đầu năm 2007, nhà biên kịch Phạm Thùy Nhân đưa anh kịch bản Duyên trần thoát tục. Nội dung nói về cô gái Lệ Quyên trong chuyến hành hương đến đất Phật, một nhà sư già đã tặng cô một cuốn kinh viết bằng chữ Phạn. Dù không biết chữ Phạn nhưng khi mở cuốn kinh ra, Lệ Quyên đã thấy được những tiền kiếp của cô... Từ cái “nhân” là kịch bản phim đó, tháng 3-2007, Lê Cung Bắc cùng diễn viên Việt Trinh (vai Lệ Quyên) và đoàn làm phim Sena lên đường sang Nepal.


Nửa tháng ở đất Phật, đoàn làm phim đã quay ngoại cảnh ở Lâm Tỳ Ni – nơi Phật sanh; Bồ đề đạo tràng – nơi Phật đắc đạo; vườn Lộc Uyển – nơi Phật chuyển pháp luân lần đầu tiên; núi Linh Thứu – nơi Phật thuyết pháp; Câu Thi Na – nơi Phật nhập niết bàn. Ngoài những cảnh quay sử dụng cho phim Duyên trần thoát tục, đoàn đã quay thêm rất nhiều cảnh để làm bộ phim tài liệu Hành hương về đất Phật sẽ phát hành vào dịp lễ Phật đản năm nay.


Theo đạo diễn Lê Cung Bắc, có một cảnh quay mà anh nghĩ do “duyên” mới có được. “Đó là buổi chiều sau khi quay xong cảnh ở Bồ đề đạo tràng, chúng tôi chuẩn bị trở về khách sạn để nghỉ thì thấy rất đông người kéo đến. Người hướng dẫn gốc Ấn Độ đi hỏi một vị sư rồi cho chúng tôi biết đêm nay có lễ lớn. Phật tử khắp nơi trên thế giới về đây làm lễ. Chúng tôi đã ở lại. Đêm đến, mấy chục ngàn người thắp nến sáng rực rỡ, tụng kinh thành kính, lễ ngũ thể đầu địa (lạy nằm dài, đầu chạm đất). Chúng tôi đã có dịp phỏng vấn một số nhà sư đến từ Thái Lan, Lào, Sri Lanka... Cảnh ấy dù có tiền cũng khó mà thực hiện được”.
*
Đến luật nhân quả
Cuối của bộ phim Duyên trần thoát tục là cảnh cô Lệ Quyên ngồi trên thuyền trôi trên sông Hằng và nghiệm ra rằng: Tất cả mọi việc trong đời đều do nhân quả, đúng như lời Phật dạy: “Muốn biết nhân kiếp trước hãy nhìn cái quả của kiếp này. Muốn biết cái quả của kiếp sau, hãy nhìn cái nhân của kiếp này”.


Tôi hỏi Lê Cung Bắc về vai diễn của Việt Trinh. Anh cho biết: “Việt Trinh đóng rất đạt vì đó là tâm nguyện của cô. Cô đã ngộ ra nhiều điều. Nhìn lại mình, nhìn lại quá khứ để hướng tới cái tốt đẹp hơn. Như một câu kinh Phật: Biển khổ mênh mông, quay đầu lại thấy bờ.”


Còn đối với Lê Cung Bắc, sau chuyến hành hương về đất Phật, anh đã thay đổi cái nhìn về mình và về người. “Về mình, tôi sẽ sống bớt tham sân si (chấp ngã). Vì còn chấp ngã là còn tạo nghiệp, còn sinh tử luân hồi. Về người, tôi sẽ sống hỉ xả hơn. Trước giận mười phần giờ chỉ còn một, hai vì nghĩ nguyên nhân đó do mình tạo ra nên người ta mới làm việc đó”. Bộ phim Duyên trần thoát tục mang thông điệp: Nếu sống bằng tình thương (từ bi hỉ xả), con người sẽ có hạnh phúc. Và 2/3 tiền thu được của bộ phim sẽ dành để giúp đỡ trẻ mồ côi ở Việt Nam, Ấn Độ, Nepal.



Khi chia tay, đạo diễn Lê Cung Bắc tặng tôi một chiếc lá bồ đề anh hái từ cội bồ đề nơi đức Phật ngồi đạt đạo. Anh mỉm cười không nói gì. Anh muốn chiếc lá sẽ giúp tôi hiểu về đời đức Phật, về tâm nguyện của anh hay về nhân duyên?


Thạch Biền

09-02-2008

http://www.nld.com.vn/tintuc/van-hoa/nguoi-cua-cong-chung/214792.asp
READ MORE - Lê Cung Bắc - HÀNH HƯƠNG VỀ ĐẤT PHẬT

NGỤY NGỮ

NGỤY NGỮ



Giữa bao la

Gõ súng ta ca lời Nịch Trích

Ba năm em trắng với cây rừng

Lòng vui buồn cũ cơ hồ bạc

Thêm chút men nồng cho hư không.



Cỏ biếc cũng như trời thuở đó

Lang thang đi giữa lá hoa rừng

Thiên thu là một mầm sương lạnh

Tụng giữa nghêu ngao tình Huệ Trung.



Em có thương xiêm về mặc lại

Đêm xưa ta rớt chén bên đời

Đêm xua áo lệch lời quên nói

Bởi suốt nghìn sau còn mây bay.



Ôi nhịp ca xang hồ mất trí

Ơi, hỡi tiếng hát tạ niềm xưa

Thổi chút men cay vào chuyện kể

Ba năm ta sống gởi ăn nhờ.


http://www.thanhtung.com/modules.php?name=Pages&go=page&pid=604
READ MORE - NGỤY NGỮ

HỒ SĨ VỊNH

Hồ Sĩ Vịnh, Nhà lý luận phê bình
(Bút danh khác: Hiếu Giang)

* Tên khai sinh: Hồ Sĩ Vịnh, sinh ngày 10 tháng 11 năm 1933 tại thị xã Đông Hà, Quảng Trị. Hiện ở tại xóm Ao Sen, phường Ô Chợ Dừa, Đống Đa, Hà Nội. Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Đã học trên đại học. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1990).
* Hồ Sĩ Vịnh tham gia cách mạng từ năm 1947, là nhân viên quân báo trong quân đội 1956 - 1963, học Đại học Tổng hợp Hà Nội và thực tập sinh tại Đại học Lômônôxốp, Maxcơva. Từ 1963 nghiên cứu văn học và làm báo tại Viện Nghệ thuật thuộc Bộ Văn hóa Thông tin.

*Tác phẩm đã xuất bản: A.X Puxkin (chân dung văn học, 1983); M. Gorki với văn nghệ dân gian (1985); Lênin và người nghệ sĩ mới (1985); Tìm về bản sắc dân tộc trong văn hóa (1983); Văn hóa vì con người (1983); Văn hóa Việt Nam - một chặng đường (1993).


TRIẾT HỌC VĂN HÓA – MỘT TIỀM NĂNG

NGHIÊN CỨU VĂN HÓA CON NGƯỜI

Hồ Sĩ Vịnh



Vào những năm 80 (thế kỷ XX) những vấn đề triết học văn hóa được các nhà khoa học Xô Viết ứng dụng và phát biểu theo quan điểm macxít. Người ta thường thảo luận, lật trở hai vấn đề cơ bản: Cái gì kiến tạo nên văn hóa với tư cách là một chỉnh thể, cấu trúc của nó là gì? Mục đích, sứ mệnh, ý nghĩa của văn hóa, của từng hình thái và hiện tượng văn hóa nằm ở đâu?


1. Bản chất của văn hóa là hòa giải

Hòa giải là triết lý của phát triển được hiện diện qua nhiều thời đại, ở nhiều nền văn hóa. Trong thời đại chúng ta, khi mà thế giới chịu sự tác động của tính toàn cầu tạo nên một bức tranh nhiều mảng màu đối nghịch: Một cực là các công ty độc quyền xuyên quốc gia và nhóm nhỏ nước giàu áp đặt, cưỡng đoạt các nước nghèo trong nhiều thập kỷ qua không đem lại thịnh vượng như đã hứa; còn cực kia là một nửa dân số sống trong nghèo khổ. Một tỷ người thất nghiệp hay thiếu việc làm tại hầu hết các nước. Từ đó những ý niệm và phát triển trái ngược nhau: sự tập trung kinh tế, thương mại, mậu dịch, bảo vệ môi trường, chống khủng bố... nhưng lại phân ly về chính trị, văn hóa, tôn giáo. Có ba nhân tố để bênh vực cho sự hiện diện và sự can thiệp của tác nhân hòa giải đối với phát triển: Khoảng cách về các giá trị cơ bản giữa văn hóa phương Đông văn hóa phương Tây; sự khác biệt về văn hóa, về tôn giáo sinh ra sự khác biệt về chính sách thương mại, kinh doanh, bảo vệ môi trường; sự tiến bộ của xã hội không thể chỉ đo bằng trình độ công nghệ, mức sống mà còn bằng những chuẩn mực đạo đức, thẩm mỹ, sự ổn định chính trị, sự tự do tôn giáo.

Lịch sử Việt Nam chỉ ra rằng, văn hóa hòa giải là một giá trị, có truyền thống lâu đời của cộng đồng đa dân tộc. ý thức tự cường, lòng tự hào dân tộc không chỉ là động lực của con người mà còn là vũ khí tự vệ, một nét dáng của văn hiến giữ nước. Dẫu vậy thì “Gươm núi Sóc, cọc Bạch Đằng” là chuyện bất đắc dĩ. ở thế kỷ XV, Lê Lợi, Nguyễn Trãi trước, sau vẫn dùng chính sách “tâm công” để đối xử với các nước lớn:

Sửa hòa hiếu cho hai nước,

Tắt muôn đời chiến tranh...

Chỉ cần vẹn đất, cốt sao an ninh

(Phú Núi Chí Linh)

Âm hưởng đó ta đọc được trong Bình Ngô đại cáo: Rút cục, lấy đại nghĩa mà thắng hung tàn, Lấy chí nhân mà thay cường bạo hoặc: Ta mưu đánh vào lòng, không chiến mà cũng thắng (1).

Truyền thống đó còn tìm thấy ở thời đại Quang Trung, nơi hội tụ nhiều hiện tượng văn hóa rực rỡ. Chính sách hòa hiếu không chỉ là sách lược, mà còn là bản chất của chế độ chính trị. Chiếu dụ các quan văn và cựu triều, Chiếu cầu hiền là những thông điệp ngoại giao, mềm dẻo, thu phục lòng người. Chính sách hòa hiếu cùng với đường lối dân vi bản, tư tưởng nhân nghĩa là hợp với ý trời, thuận lòng người làm cho nhân dân đời đời thái bình, là phương lược nhìn xa trông rộng, để ở bên cạnh nước lớn mà vẫn yên ổn.

Trong thời đại Hồ Chí Minh, nhân dân ta, mà trước tiên là các nhà hoạch định chiến lược vĩ mô, đã có ý thức tiếp thu có sáng tạo truyền thống hòa giải của cha ông. Nhiều nhà tư tưởng phương Tây cho rằng, Việt Nam thắng được hai đế quốc to là nhờ biết dựa vào chiều dày truyền thống văn hóa, điều mà kẻ thù xâm lược không hình dung nổi. Điều đó đúng. Chúng ta biết phát động chiến tranh tự vệ, biết đánh thắng và biết kết thúc chiến tranh. Chúng ta còn biết tạo ra những điều kiện để hòa giải, nếu cần. ở đây, tư tưởng Hồ Chí Minh về nguyên tắc hòa giải là hết sức minh bạch: Chấp nhận đối thoại giữa các chính kiến; Khoan hồng đại độ đối với kẻ thù đã thua trận; Rộng lượng, khoan hòa đối với mọi tầng lớp nhân dân; Chính sách đại đoàn kết với các dân tộc anh em; Tôn trọng sự tự do tôn giáo và tín ngưỡng; Tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Bản chất hòa giải còn hiện diện ở nhiều hiện tượng văn hóa. Sau đây là hai ví dụ:

Ví dụ 1: Đạo đức Hồ Chí Minh và việc tiếp nhận Nho, Phật, Đạo. Có lần Hồ Chủ tịch viết: “Tuy Khổng Tử là phong kiến và tuy trong học thuyết của Khổng Tử có nhiều điều không đúng, song những điều hay trong đó thì ta nên học”(2). Đối với Phật và Đạo giáo, Người cũng có những kiến giải tương tự. Theo tôi, đạo lý dân tộc chính là cơ sở để Hồ Chí Minh tiếp nhận những mặt tích cực của tam giáo. Nho giáo là triết học nhập thế, chủ trương mọi người ai cũng phải lấy tu nhân làm gốc, đề cao học vấn, lễ giáo, truyền thống trọng học, trọng tài. Phật giáo tuyên ngôn: từ bi, bác ái, cứu khổ, cứu nạn, coi trọng nếp sống đạo đức, trong sạch, làm điều thiện, tránh điều ác, đề cao lao động. Đạo giáo khuyên con người sống cao thượng, không màng lợi ích vật chất, vì một chủ nghĩa nhân văn tiến bộ. Sống giữa thiên nhiên, hòa quyện vào thiên nhiên, lấy thiên nhiên làm cảm hứng sáng tạo.v.v..., đó là đạo đức Hồ Chí Minh nhờ ảnh hưởng đạo giáo.

Ví dụ 2: Lễ hội là một hiện tượng văn hóa hòa giải. Lễ và hội vốn là hai phạm trù khác nhau, thậm chí đối nghịch nhau. Lễ là tôn giáo, là tín ngưỡng. Hội là vui chơi, ứng diễn nghệ thuật. Tôn giáo là niềm tin, nhưng thường nhuốm màu huyền bí. Còn vui chơi, ca hát là chuyện thế tục. Vậy mà ở hai hình thái văn hóa này: thiêng và tục; đạo và đời; duy lý và duy cảm; trí tuệ và tâm linh lại hòa quyện vào nhau dễ dàng để hướng tới Cái cao cả, Cái thiện, Cái mỹ. Chính nhân tố hòa giải đã làm cho hai dòng nghịch lưu hòa nhập làm một, làm cho dòng chảy văn hóa lễ hội mang ý nghĩa triết lý, ý nghĩa xã hội đối với đời sống đương đại.


2. Cấu trúc động của nền văn hóa tiên tiến

Nói đến bản chất của nền văn hóa, các nhà văn hóa sử thường tìm đến đặc trưng, đặc biệt là những đặc trưng bền vững. Còn cấu trúc, thì phải đi tìm những nhân tố mở, động, uyển chuyển. Chúng khác nào những lớp phù sa bồi đắp dòng chảy văn hóa dân tộc, từ đời này sang đời khác tạo nên bản sắc, bản lĩnh, cốt cách của nền văn hóa đó. Phải mất nhiều năm, qua kiểm nghiệm thực tiễn trong nước và trên thế giới, chúng ta mới chọn được mô hình động của nền văn hóa tiên tiến, mà cấu trúc có thể gồm bốn đặc trưng sau:

2.1. Nền tảng tư tưởng triết học phù hợp với xu thế thời đại. Nền văn hóa Việt Nam từ sau Đề cương văn hóa 1943 được xây dựng trên cơ sở triết học - mỹ học Mác - Lênin với ba nguyên tắc: dân tộc, khoa học, đại chúng; về sau là ba nội dung: dân tộc, hiện đại, nhân văn đã tạo nên một cấu trúc động hướng về phía trước. Có người nói: chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thuộc về nền văn hóa đương đại. ở đây có sự gặp gỡ kỳ diệu giữa chủ nghĩa xã hội và độc lập dân tộc mà biểu tượng số một là Hồ Chí Minh.

2.2. Nền văn hóa bao chứa những giá trị bền vững của truyền thống dân tộc được phát huy theo hướng Chân, Thiện, Mỹ. Một trong nhiều giá trị cốt lõi của truyền thống văn hóa Việt Nam là truyền thống tôn trọng con người, tôn vinh những người có đức độ, tài năng. Không phải ngẫu nhiên mà người xưa gọi các văn nhân, kẻ sĩ, danh nho là hiền tài, hiền triết, hiền nhân, quân tử. Phẩm chất nổi bật của người hiền tài là ở chữ Nhân, “nhân tâm thế đạo”. Nếu như văn chương là sự nghiệp của nghìn đời (Văn chương thiên cổ sử như câu thơ của Đỗ Phủ) thì mỗi kẻ sĩ phải tôn trọng bốn cái gốc để lập thân: đức hạnh, chính sự, ngôn ngữ, văn chương. Văn hóa chính là sự chưng cất những phẩm chất, đạo đức, trí tuệ của con người. Triết lý “phi trí bất hưng” chính là ở đó.

2.3. Nền văn hóa có số đông dân đạt trình độ học vấn khá; trình độ dân trí cao; kỹ năng công nghệ đủ sức phát triển kinh tế - xã hội. ở hai bình diện sau, hiện nay có nhiều hiện tượng đáng lo ngại: Tâm lý vọng ngoại vô cớ của một bộ phận thanh thiếu niên; kiến thức về luật pháp nói chung và về luật lệ giao thông nói riêng còn kém; văn hóa ứng xử nơi công cộng, thị hiếu nghệ thuật lành mạnh, các giá trị truyền thống.v.v... chưa được nhiều người dân coi trọng. Nhiều con em các dân tộc thiểu số không biết tiếng dân tộc mình, thờ ơ hát múa làn điệu dân tộc, ngại ngùng mặc y phục dân tộc trong dịp lễ hội. Thực trạng này đang đòi hỏi hàng loạt biện pháp nâng cao việc đào tạo nguồn nhân lực.

2.4. Nền văn hóa được hiện đại hóa. Có thể có ba nội dung. - Mục tiêu của văn hóa là xây dựng con người Việt Nam có tư tưởng tiến bộ, đạo đức trong sáng, lối sống lành mạnh. Đó là con người văn hóa, là động lực và mục tiêu của phát triển. Mọi hoạt động sáng tạo văn hóa phải làm dày lên lớp văn hóa nhân bản, làm mỏng dần lớp văn hóa hưởng thụ, phi nhân tính. - Coi trọng đúng mức những giá trị tinh thần, giá trị văn hiến dân tộc. Hiện đại hóa văn hóa chỉ có thể đi vào cuộc sống suôn sẻ, khi triệu triệu con người lao động biết tìm hiểu, khám phá, đi sâu vào biển kiến thức của nhân loại. Nhiều dự báo cho biết, ở thế kỷ XXI, trí thông minh, sức tưởng tượng và trực giác của con người vẫn tiếp tục quan trọng hơn máy móc. - Trong văn hóa, để hiện đại hóa được thực hiện cần đổi mới công nghệ in, công nghiệp giấy, thiết bị điện ảnh, thông tin đại chúng, xây dựng các thiết chế tầm quốc gia, quốc tế. Hàng đầu của quá trình hiện đại hóa còn là môi sinh văn hóa.

Nhiều năm gần đây người ta nói nhiều đến xung đột giữa các nền văn hóa. Có hai dạng xung đột dưới góc nhìn văn hóa: Sự tràn ngập hận thù giữa các sắc tộc, sự mất ổn định ở một số khu vực, sự lên ngôi của một vài tôn giáo lớn làm biến dạng nền văn hóa. Xung đột thứ hai diễn ra giữa con người và thiên nhiên do quá trình đô thị hóa. Ngoài ra, chính sách văn hóa và sự quản lý văn hóa cũng cần được coi trọng. Bởi vì trung tâm của chính sách văn hóa và quản lý văn hóa là con người, là đội ngũ trí thức; bởi vì văn hóa nói cho cùng là quang phổ hoạt động của con người, mà người đại diện cho văn hóa dân tộc là giới trí thức.


3. Triết học văn hóa trong mối quan hệ giữa văn học và lịch sử

Lịch sử văn học là phân hệ của lịch sử văn hóa. Văn học của một chế độ nhất định được quy định về mặt lịch sử các hiện tượng văn học, các tác phẩm, các giai đoạn và mọi giá trị văn học diễn ra trong thời kỳ đó. Trên thế giới chưa ai lấy một niên biểu văn học làm cột mốc để phân kỳ lịch sử văn hóa. Văn hóa trong trường kỳ lịch sử là dòng thác sáng tạo và thích nghi chảy suốt, có bên lở, bên bồi. Người ta nói văn học triết luận hơn lịch sử được thể hiện ở những tuyên ngôn của tác giả, ở phát ngôn tổng kết của nhân vật, ở hình tượng cảm nghĩ trong thơ trữ tình... Nhà viết sử ghi lại trung thực những hiện tượng xảy ra trong quá khứ dưới dạng từng phần, có lúc, có nơi đầy ắp sự kiện, nhân vật, số liệu, không có gì toàn vẹn và gắn bó với nhau cả; phải tinh lắm mới thấy được mối liên hệ giữa chúng. Còn nhà văn viện dẫn lịch sử qua sự chọn lọc, khái quát hóa, sắp xếp những cái vốn rời rạc, thúc đẩy mối quan hệ xuất hiện giữa các nhân vật với mục tiêu sau cùng là tìm được triết học văn hóa của các hiện tượng xã hội - lịch sử. Trong Truyện Kiều, sư Tam Hợp thuyết minh số phận của nàng Kiều thực chất là triết luận của Nguyễn Du về đạo trời và lòng người:

Sư rằng, phúc họa đạo trời

Cội nguồn cũng ở lòng người mà ra.

Có trời mà cũng tại ta

Tu là cõi phúc, tình là dây oan



Những triết luận trong Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc đều bắt nguồn từ nhu cầu xã hội. Lịch sử văn hóa giữ nước và dựng nước của dân tộc ta cho hay rằng, nếu như từ thế kỷ XVIII trở về trước, vấn đề tồn tại hay không tồn tại đặt ra gay gắt, thì từ đó và về sau vấn đề tồn tại như thế nào mới được đặt ra trong nhiều tác phẩm lớn. Trong Chinh phụ ngâm chủ nghĩa nhân văn mới của nhà văn được thể hiện ở nhu cầu tự do cá nhân, khát khao hạnh phúc, sánh nhau cùng dan díu chữ duyên. Tiếng nói phản kháng chiến tranh phi nghĩa đối lập với lý tưởng công danh của người chinh phu (Thà khuyên chàng đừng chịu tước phong). Quan niệm quả - phúc của Phật giáo cũng được lý giải thiết thực hơn: Theo kiếp này hơn thấy kiếp sau.v.v...

Nói văn học dựa vào lịch sử, nhưng văn học trường tồn bất chấp sự thay đổi chế độ chính trị là nhờ hình tượng tính cách và những vấn đề triết học văn hóa hiện diện trong tác phẩm. Nói văn học triết luận hơn lịch sử không có nghĩa là đề cao cái này, hạ thấp cái kia, mà trái lại, muốn nêu được đặc trưng nổi trội của mỗi loại hình khoa học xã hội và nhân văn đã đóng góp vào kho tàng văn hóa dân tộc, làm nổi bật bản sắc văn hóa dân tộc, tính cách con người Việt Nam.

Nguồn: Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật

_______________

1. Nguyễn Trãi, Thơ và đời, Nxb Văn học, Hà Nội, 1997, tr.242, 248, 249.

2. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.46
READ MORE - HỒ SĨ VỊNH

Saturday, November 8, 2008

TỪ DẠ THẢO

Bài đã đăng:
Người Quảng Trị ăn...ớt


Từ Dạ Thảo ( Ký họa của Phan Ngọc Minh)








Từ Dạ Thảo tên thật là Phạm Xuân Hùng, sinh năm 1969. Hiện là đạo diễn phim tài liệu, sống và làm việc tại Thành phố Đà Nẵng. Làm thơ (bút danh Từ Dạ Thảo) và viết truyện ngắn (bút danh Phạm Xuân Hùng).

Tác phẩm: Máu từ những cuống hoa (tập thơ, NXB Hội Nhà văn, 2005) và nhiều bài thơ đăng ở các tạp chí Kiến Thức Ngày Nay, Sông Hương, Cửa Việt.




gió từ lòng bàn tay thổi ra

nén chặt giữa bốn bức tường trong cơn đau đàn kiến bò quanh theo một trật tự định sẵn.

quẫy đạp trong mớ bòng bong những tê liệt ý thức găm đầy mạng nhện lên mỗi gương mặt.

không nhìn thấy đường chân trời sau ô cửa hẹp đành chấp nhận sự tan rã của ánh sáng.

khó khăn lắm mới sinh thành được ngọn gió từ lòng bàn tay thổi ra.

ôi bài ca được cất lên từ bóng tối, sự đa cảm lừa dối ngọn lửa hàng triệu nghìn năm trước, bài ca xao xuyến về đức tin không còn chỗ trú ngụ và những giấc mơ lang thang đi tìm chủ nhân.

đập vỡ bức tường vô minh lại gặp những bức tường khác như là sự sống kéo dài như là sự chết kéo dài đừng hỏi tại sao không dừng lại khi ô cửa hẹp dù căng mắt vẫn chẳng hiện ra đường chân trời.

khó khăn lắm mới sinh thành được ngọn gió từ lòng bàn tay thổi ra.


chính ngọ cộng hai phút bù giờ

những đường phố chảy tràn cơn nóng bốn mươi độ xê người và xe đi như thác chảy một ngọn thác được làm chậm theo cách truyền hình trực tiếp bóng đá làm chậm các pha bóng ác ý.

không có cầu thủ ngôi sao tất cả vô danh đi đứng vô danh nói cười vô danh inh ỏi tiếng còi xe vô danh tất cả hợp thành một ngọn thác hay một đội bóng vô danh.

không phía nào có cầu môn hay một cái gì đại loại như thế tất cả đông đặc và nghẹt thở đông đặc và nghẹt thở nhưng không hiểu vì sao đông đặc và nghẹt thở hay đơn giản chỉ là mỗi cá nhân tự tưởng tượng ra sự đông đặc và nghẹt thở.

không có trọng tài (trọng tài thường chỉ xuất hiện khi ống kính bắt được) tất cả tịnh tiến chầm chậm tịnh tiến theo cách của một ngọn thác được làm chậm như các pha bóng ác ý được làm chậm trong các buổi truyền hình trực tiếp bóng đá.

chỉ có một mặt trời bỏng rát ném vào da người ném vào mắt người ném vào hơi thở mỗi người cơn giận dữ của đường phố lên cơn động kinh bốn mươi độ xê.

một nghìn chiếc thẻ vàng (hoặc có thể nhiều hơn không ai dám chắc) được rút ra đúng vào khoảnh khắc chính ngọ khoảnh khắc của những cầu thủ vô danh trong đội bóng vô danh đi đứng vô danh nói cười vô danh inh ỏi tiếng còi xe vô danh chầm chậm đồng diễn một pha bóng ác ý.

lẫn trong đội hình vô danh, cùng chiều với ngọn thác chỉ duy nhất một chiếc thẻ đỏ dành cho anh vào thời khắc chính ngọ cộng hai phút bù giờ...
Euro ‘08



giữa khuya

giữa khuya anh thèm nghe một tiếng trẻ con khóc trong thành phố gần một triệu dân như thèm một cột đèn đường hắt bóng xuống những viên gạch lề đường nứt nẻ một tiếng trẻ con khóc rồi sau đó là giọng ru ngái ngủ của người đàn bà ngái ngủ người đàn bà có đôi vú phồn thực thường xuyên khắc khoải thường xuyên đợi chờ thường xuyên nói mớ với gã đàn ông nhiều gã đàn ông mang gương mặt lâm tặc những gương mặt tê dại về ý thức nhưng tràn trề thứ sinh lực của những thân gỗ sau khi đốn ngã còn để lại dòng nhựa trắng hay đỏ ướt đẫm châu thân vương vãi trên cành trên lá cuộc hành quyết hay tự huỷ theo cách của những loài thảo mộc.

giữa khuya anh thèm nghe những tiếng rao ai mỳ nóng không ai vịt lộn không ai hủ tiếu không những tiếng rao đêm dài mỏi mệt dài như một hơi thở dài như một kiếp người những tiếng rao quanh vào ngõ xa dần mất hút trong bóng tối nơi ngọn đèn đường không với tới nơi đó ở một khúc quanh có gương mặt cô gái ăn sương nhàu nhĩ phấn son chờ đợi những gã đàn ông say rượu ở phố về khuya với hy vọng kiếm được vài chục nghìn sống qua ngày mai sống qua ngày kia sống như một sự tồn tại dù đó là cuộc sống đắng cay buồn tủi dù biết ngày mai khi mặt trời lên lớp phấn son nhàu nhĩ không giấu nổi những vết nhăn chảy ra từ khoé môi càng không giấu được sự rã rời buốt đau của một phần thân thể bị vùi dập một phần thân thể dường như đã nằm lại đâu đó trong bóng tối nơi ánh sáng ngọn đèn đường đêm qua không với tới.

giữa khuya anh thèm một khát một thứ bóng tối khác với bóng tối đang vây quanh anh một thứ bóng tối không pha tạp nguyên chất thơm mùi cà phê thơm mùi đường thoảng trong mùi thuốc lá anh đốt để được trôi trong ý nghĩ về mặt trời chưa lên.

mặt trời của anh mang gương mặt trẻ thơ khóc trong đêm tối dài theo tiếng ru của người đàn bà mang đôi vú phồn thực theo bước chân những tiếng rao đêm khuất vào ngõ xa đậu trên khoé môi cô gái ăn sương mặt trời của anh không tròn xoe lành lặn không hồng rực như tranh vẽ mặt trời của anh tràn ngập màu cỏ úa dọc ven con đường anh đi qua vào năm mười tám tuổi.

tại sao năm mười tám tuổi bây giờ anh mới biết tại sao bây giờ đi qua hơn gấp đôi chặng đường đó anh mới biết tại sao anh giấu biệt một mặt trời của riêng anh vào giữa khuya tại sao anh chọn cho mình một mặt trời màu cỏ úa, tại sao?

anh xòe đôi tay giữa khuya bay lên như loài chim bay lên để nhận thấy từ trong bóng tối một mặt trời màu cỏ úa lặn vào đất đai lặn vào nơi còn lại duy nhất thứ bóng tối không pha tạp thứ bóng tối nguyên chất mang theo ý niệm vĩnh hằng về nơi khởi đầu cho sự sống anh hiểu ở đó mai kia sẽ mọc lên một con đường ngập tràn màu cỏ úa.

câu trả lời duy nhất của anh là câu hỏi anh mang theo vào bóng tối.



Đối thoại với cổ điển

Những ca dao đầy ắp cánh cò và phận người lam lũ
Sao không về cùng tôi hương khói một lần
Khóc giữa bờ tre còn nguyên hai hàng địa chỉ
Mẹ đi đồng cạn mẹ về đồng xanh.

Tôi từ miền ngược nắng ra đi
Chân giày dép cũ
Đầu đội nón tơi tay cầm chữ
Ngả nghiêng mùa cổ điển thi ca.

Tôi lại bắt đầu bằng chữ a
Này đây úm ba la
Này đây hồn Trương Ba
Đường đi tới biển
Phải qua Ngân Hà

Những bông hoa một lần hay nhiều lần
Những con chữ một mùa hay nhiều mùa
Tôi sống một đời hay nhiều đời
Để nói một lời hay nhiều lời.

Đừng rủ rê tôi những hạt giống cũ
Tôi thương vì chữ có nghĩa
Tôi không thương vì chữ có tình
hay lúc lặng im

Hãy tượng trưng tôi bằng máu đỏ
Mà xanh tới cỏ

Dù mai kia những bông hoa tàn rũ
Thề không đem theo ngày cổ điển huy hoàng...


Nhìn tôi trong mắt tôi

Từ đâu nhìn thấy một tôi 
Đường xanh hoa nắng rối bời tóc tai
Tôi đi muôn dặm đường dài 
Cầm tay một giấc mơ ngoài cõi riêng.

Đi từ sâu lắng thiên nhiên 
Cỏ cây chào đón liên miên giữa đường
Nghĩ tình hoa lá yêu thương 
Mang hồn diệp lục vấn vương tơ lòng
Tôi cầm một đóa sắc không 
Đi về phía những cánh đồng chân mây
Biển xanh ngóng phía hao gầy 
Trăng kia còn chút rằm này làm tin

Từ đâu nhìn thấy lặng im 
Mình tôi trong gió đi tìm hồ nghi
Xênh xang đàn sáo làm chi 
Mai kia dưới cỏ biết gì trăng sao

Tôi nhìn tôi dưới trời cao 
Vòm xanh cúi một lời chào tri âm
Mây bay từ độ ngàn năm 
Tôi bay từ thuở mây nằm trong nôi

Từ đâu nhìn thấy một tôi 
Xác thân vay mượn đất trời thiên thu
Tôi là tôi của phù du 
Phù du là của tuyệt mù nhân gian

Nhìn tôi đổ nát hoang tàn 
Lạnh từ huyệt mộ lạnh sang thân gầy
Mưa nguồn chớp biển nào hay 
Tôi từ phía ấy nơi này chốn nao?



Cho em vào hạ

Hình như bên kia là mùa thu
Ngàn lá rụng mang theo lời tiễn biệt
Nơi ký ức hóa vầng trăng đẫm ướt
Con dế buồn rũ cỏ hát tình ca

Bên kia là năm tháng đi qua
Còn gặp lại cũng vô tình ánh mắt
Bông hồng ấy cuối chân trời tít tắp
Dẫu muộn phiện từng cánh mỏng manh rơi

Bên kia là còn lại mình tôi
Mùa hạ và em xa vời ảo ảnh
Hoa cúc cháy trong nỗi niềm đa cảm
Thuở yêu em trong trắng vô ngần

Bên kia là còn lại dòng sông
Cánh buồn anh nửa đời đi không hết
Em xa quá, mùa thu thì chẳng biết
Có người úp mặt khóc hoàng hôn

Lẽ nào em không nhớ, lẽ nào quên
Giọt nước mắt đã tan thành hoài niệm
Thành muối mặn thành vô tư sóng biển
Để vơi đầy cùng năm tháng vì nhau

Bên kia là còn lại nỗi đau
Khao khát ấy của một trời hoa phượng
Lẽ nào em, lẽ nào tôi hoang tưởng
Lá vàng thu tiếc nối giữa tay người

Bên kia là day dứt khôn nguôi
Đồng vọng mãi lời chia tay thầm lặng
Phải mùa hạ dâng hết mình cho nắng
Nên mùa thu chớm lạnh đã se long

Thì đừng buồn bốn phía mưa giăng
Bong bóng vỡ theo về nguồn cội
Ngắt cánh phù dung ngồi đếm tuổi
Thấy trong hư vô khuôn mặt của mình
.
Thì ta quay về tìm lại dòng sông
Tìm lại xác thân phiêu bồng một thuở
Để thấp thoáng em hiện về đâu đó
Mùa hạ ấy xa như có thật trong đời.



Thơ chiêu hồn H.

1.

Về đi
những linh hồn trong gương mặt sạm nắng
bàn chân nứt nẻ ngấu bùn
bàn tay máu bật ra từ móng
lang thang làm chi trên cánh đồng chiều
Hồn lẫn vào đâu trong rơm rạ


2.

Về đi
đừng ngược xuôi tất tả
chợ Hôm vãn rồi, lều tranh nắng quái
măng giá, rau dưa cũng là thơm thảo
đừng khóc một mình, đừng gọi người quay lại
phía xa kia có hoàng hôn đứng đợi


3.

Về đi
những chuyến xe đã dừng từ lâu
hàng ghế trống sao Hồn còn ngồi
xoè bàn tay vàng mã


4.

Về đi
đừng hát lời bi ai
những nhà thơ danh tiếng
những thi nhân xiêm áo rỡ ràng
đã xanh phận mình dưới cỏ
hỏi rằng hồn cỏ ở đâu?


5.

Về đi
tiếng gọi ai như tiếng gọi đò
sao còn ngửa tai đón gió
chuyến này sang sông là chuyến cuối cùng
sông chảy hay là không chảy
chim trời cá biển người dưng.


6.

Về đi
tiếng đàn réo rắt
mang lời bát âm
chén cơm vun đầy chân nhang
quả trứng khóc đời phận mỏng
không về thì đi đâu


7.

Về đi
nước chảy qua cầu
trăng quầng thì hạn trăng tán thì mưa
đêm ba mươi có ai nhìn thấy trăng
sao lang thang một khối như rằm


8.

Về đi
nào ai nhớ mình là ai
dùng dằng làm chi, nhân gian rộng lắm
không mình thì thêm, có mình thì bớt
đi là đi mãi chưa về
về là về mãi chưa đi


9.

Về đi
cầu xin cõi người ta lần nữa chẳng sao
nhớ hay quên đều là số mệnh
tóc bạc tóc xanh đều như chiêm bao
im lặng gửi vào đất sâu giá lạnh


10.

Về thôi, chiêng trống nổi lên
Trầm hương nghi ngút
Ai gạt nước mắt, ai người tiễn đưa
Có nghe hồn nói
Một lời như thưa…
TỪ DẠ THẢO




MÁU VẪN CHẢY TỪ NHỮNG CUỐNG HOA

Nguyễn Xuân Hoàng

Đọc tập thơ “Máu từ những cuống hoa” của Từ Dạ Thảo


( NetCodo)
www.hue.vnn.vn/vanhocthica/

Tập thơ “Máu từ những cuống hoa” của Từ Dạ Thảo-một cựu sinh viên Huế vừa mới xuất bản đã được dư luận chú ý. Dưới đây là bài viết giới thiệu của Nguyễn Xuân Hoàng.

“Chúng ta nhìn trái đất những kẻ phiêu lưu nào đó đã từng sống ở nơi đây như hoa cỏ yếu ớt bám vào những tảng đá với niềm tin nhẹ dạ rằng gió sẽ không bao giờ nhổ bật chúng ta”. Tựa cho tập thơ “Máu từ những cuống hoa” của mình, Từ Dạ Thảo đã mượn nguyên lời của Wislawa Szymborska - thi sĩ từng được giải Nobel văn chương. Từ Dạ Thảo làm thơ từ những ngày còn là sinh viên văn khoa Đại học Tổng hợp Huế. Cái bút danh thơ mộng và có vẻ con gái nhưng Thảo là một đấng mày râu. Tên thật của Thảo là Phạm Xuân Hùng. Thơ Thảo đăng ở tạp chí Kiến thức ngày nay, Sông Hương, Cửa Việt và một số tờ báo sinh viên... Nhiều bài thơ của Thảo được sinh viên chép tay lại (ngày ấy chưa có máy photocopy như bây giờ) và chuyền cho nhau thuộc nằm lòng. Cũng từ ngày ấy, tôi đã thấy ở Thảo ẩn tàng một bản năng của thi ca. Con đường mà Thảo lựa chọn rồi sẽ nhiều cam go và nước mắt, nhưng tôi tin Thảo sẽ hái được từ cánh đồng thi ca những đóa hoa dại nhiều màu. Tập thơ làm tôi xúc động, không phải vì đó là thơ của bạn bè mà là từ bấy đến nay, cái hơi thơ dịu vợi, như lời tâm sự âm hao bên ngọn đèn dầu, vẫn cứ nguyên màu và nhất quán trong tâm hồn Thảo đêm tối cuối cùng của thế kỷ

Em cho phép tôi nói lời chối từ
Những miền mộng mơ ràng buộc danh phận
Để tự do ca hát trong lồng ngực
(Trong đêm cuối cùng của thế kỷ)

Thực ra thì không có những định nghĩa về thơ mà thơ chính là một định nghĩa, cái định nghĩa lớn của cuộc đời. “Máu từ những cuống hoa” giống như một lời tự sự miên man, chảy như một dòng vô thức vô định. Ở đó, có một khách bộ hành “thường độc hành, thường độc bộ” đi và lang thang:

Không có gương mặt nào nhìn rõ
Tối quá mờ quá hoặc xa quá
Lại phải bắt đầu từ đầu
Những đường mòn quạnh hiu mọc lên phố xá.

Vô thức Trong cuộc sống xô bồ nhiều khi ta đánh mất mình một cách không hay biết. Ta làm gì ? Ta đi đâu ? Đâu là nơi trở về ? Trong một phút giây tiệm ngộ dừng lại bất chợt, Thảo nhìn xuống chân mình bàng bạc những sát na khi vui quá mà khóc cười:

Nhiều khi buồn quá mà ca hát
Nhiều khi rỗng không nhìn một ngôi sao
vừa tắt
rơi xuống quanh mình.
(Vô thức)


Tự dang tay mở cửa tâm hồn mình và đẩy nỗi buồn đến tận cùng chiêm nghiệm, thơ của Thảo bỗng dưng buồn một nỗi buồn khôn tả. Nghe xao xác trong từng đêm lạnh một nỗi cô độc quá chừng ! Mà làm sao khác được nếu biên độ thơ không mở rộng cho nỗi buồn ; và thậm chí cho niềm tuyệt vọng. Và lúc này thơ là cứu cánh xoa dịu vết thương lòng Nước mắt Người rơi xuống ở đâu. Tôi không hứng được


Nụ cười Người ban phát ở đâu.
Tôi không cầm nổi trên tay
Những chiếc rễ cây mệt nhoài nuôi hy vọng
Lấy mặt trời đêm thắp sáng giấc mơ ngày
(Giấc mơ)


Những mê tự mà Thảo đưa bạn đọc vào là mê tự của nước mắt. Dẫu có lúc Thảo lên dây cót tâm hồn mình, an ủi mình với một lời tự khuyên : đừng dằn vặt đừng tiếc nuối đừng khóc (Trong đêm cuối cùng của thế kỷ) Nhưng rồi như một cơn mê, trái tim đã không chịu nổi nỗi buồn cô quạnh và Nàng Thơ ôm khuôn mặt diễm kiều nức nở khúc tình ca dở dang Khóc những quả chuông không thành tiếng Anh xé lưỡi mình trước khi gọi em (Giấc chiều) Thơ Thảo đầy những hình ảnh ẩn dụ đẹp, thân quen mà rất lạ. Chính những hình ảnh gần với những biểu tượng đã tạo ra một sức gợi lớn.

Đây là con ốc sên hay là một nhà tiên tri : “Mang theo giọt sương chưa kịp vỡ. Tôi chậm chạp bò theo ánh trăng ở phía cuối rừng” và đây là nhà tiên tri hay là con ốc sên họa sĩ :

Trong không gian hạn hẹp và có phần
Anh vẽ cho mình một đôi cánh
Dù không đến được đâu thì cũng cố mà vùng vẫy.
(Đôi cánh)

Đọc thật chậm, rồi nhẩn nha dừng lại và gạt hết những tiêu đề của từng bài thơ, tôi thấy dường như “ Máu từ những cuống hoa” không phải là một tập thơ mà là một trường ca, với một giọng điệu chân phương khoan thai và sâu thẳm từ đầu đến cuối. Kết cấu tập thơ như là 4 chương của một trường ca với tiêu đề phụ :

Từ đất cứng, đá chai có lời kinh sáng thế.
Có chậm chạp chắp nối và đứt gãy.
Không có gương mặt nào nhìn rõ, tối quá, mờ quá hoặc xa quá.
Hãy tượng trưng máu đỏ.


Và một lời kết “Em biết không trong giấc mơ tôi đêm ấy đầy ắp những bông hoa từ chối mọc cánh”.


Vậy là cuối cùng tập thơ đầu tay của Thảo đã ra đời. Ngày nào trên trái đất này còn con người thì ngày ấy thơ ca vẫn hãy còn, và máu từ những cuống hoa sẽ vẫn còn chảy mãi. Cái giả định bi tráng về cuộc đời ngập tràn nước mắt đó cũng là vẻ đẹp vô lời của thơ Từ Dạ Thảo. Dẫu bị thương đến kiệt máu và đầy nước mắt, nhưng những bông hoa vẫn ở lại đó trong từng giấc mơ, chấp nhận chịu khổ nạn với cuộc đời và khước từ một sự mọc cánh.


Nguyễn Xuân Hoàng


Đọc thêm:

Sáng tác của Từ Dạ Thảo trên vanchuongviet.org
READ MORE - TỪ DẠ THẢO

Wednesday, November 5, 2008

Hoàng Phủ Ngọc Tường



Hoàng Phủ Ngọc Tường


Sinh nhật



Mai kia tôi về ngủ trên đồi
Nắng rải hoa vàng quanh chỗ tôi
Con chim sơn ca ngày thơ bé
Nó bay về khóc mãi không thôi







Thiền định

Ngày ấy tôi thường hay đến đây
Đăm đăm soi mặt nước hồ này
Khói sương nhả tự trên trời xuống
Chỉ một mình tôi với bóng cây

Tôi thích về ngồi giữa lặng im
Rừng thông thoảng nhẹ khí thu chìm
Không ai cười nói không ai khóc
Chỉ một mình tôi với bóng chim

Tôi vẫn ngồi trong gió heo may
Một phiến hồ thu nước lại đầy
Ngày không thiên sứ chiều không nắng
Chỉ một mình tôi với bóng mây

Em kể tôi nghe chuyện núi đồi
Chỉ là ảo tưởng đấy mà thôi
Tôi nhìn trong khoảng mông lung ấy
Chỉ có tôi ngồi với bóng tôi

Em gọi tên tôi khắp mọi nơi
Gọi tôi vang động cả vòm trời
Tôi ngồi im vắng như lau sậy
Mờ mịt như màu sương khói thôi

TP HCM 20-11-2001
READ MORE - Hoàng Phủ Ngọc Tường

Tuesday, November 4, 2008

HÀN NGUYỆT



TRINH NGUYÊN

Truyện ngắn của
Hàn Nguyệt


Chị xắn quần. Chị xắn quần khéo như người cuốn bánh. Chân chị vẫn còn trắng lắm, trắng đến xót xa. Chị đặt chân phải xuống ruộng, lớp bùn nâu thẫm phún lên kẽ chân. Cảm giác lành lạnh chạy dọc theo chân phải. Chị rùng mình. Cái cuốc con lưỡi chỉ to hơn môi múc canh rơi chỏm xuống ruộng. ấy chết, gãy mất hai nhánh lúa. Chị vội nhặt cuốc lên. Tay phải thấm nước, lạnh rờn rợn lên vùng ngực. Chị ôm lấy ngực theo phản xạ tự nhiên. Ngực chị đầy chặt tay. Chị mỉm cười cúi xuống. Vớ vẩn. Ruộng vẫn nguyên cỏ, làm kẻo trưa.

Nắng bắt đầu lên. Tháng giêng nắng nhạt, lẫn bụi sương, rủ rê trên da thịt. Cái cuốc con đẩy lui thoăn thoắt trong tay chị. Một mình có ba sào lúa với hai sào khoai, chăn nuôi gà, đàn lợn nái cũng mướt mồ hồi. ¡n một mình đau tức, làm một mình cực thân. Số chị đã vậy, đành chịu.

Chị thấy nhồn nhột đằng sau gáy. Có ai đó đang nhìn mình. Nắng chếch đổ một chiếc bóng dài xuống ruộng, những gợn sóng làm cho chiếc bóng ngùng ngoằng. Chị dừng tay. Ðúng ông ta. Người cao lớn vòm ngực nở, mắt hơi xếch, ông ta như một kẻ sơn tràng. Cục mịch mà mạnh mẽ. Chính cái đôi mắt xếch với tia nhìn dữ dội ấy làm chị khó chịu đằng sau gáy. Chị cố tình không quay mình. Cái cuốc con tiếp tục động đậy.
- Thím Thư, tôi có chuyện.
- ủa anh Hải. Chuyện chi mà trái đường trái gió rứa.
- Là... cũng chuyện quan trọng. - Ông Hải nhè nhẹ đặt cày xuống đất, xắm rắm lựa thế ngồi - Thím nghỉ tay lên bờ tôi nói rõ.
- Ai thấy thì chết. Chị ngượng nghịu dúi dúi cây cuốc.
- Thôi trưa về nhà hãy nói. Ruộng còn ngồn ngộn cả cỏ. Anh thông cảm.
- Không, thím Thư, là tôi muốn nói cái chuyện mộ chú Ngộ ấy mà. Tiện đây gặp thím, tôi cũng không có ý tìm.
- Rứa thì được. Thanh thiên bạch nhật. Mình cứ thói xấu hổ đa nghi, trách gì già rồi như kẻ nít.
- Dạ để tôi rửa tay.

Ông Hải bảo hồi này Nhà nước quan tâm đến chính sách thương binh liệt sĩ. Mộ chồng chị đừng nên để mãi trong vườn nhà. Nghĩa trang liệt sĩ ta đẹp, vừa rồi mới được tôn tạo, nên để xã đưa chú ấy vào nghĩa trang, ở vườn nhà chị chăm sóc chu đáo đấy nhưng chú ấy không có đồng đội, cô đơn.
- Rứa là anh muốn để tôi cô đơn? - Chị rơm rớm nước mắt.
- Ờ... mà... ý tôi là như các anh trên xã. Còn thím thì... để mấy sào khoai tôi cày luôn thể, thím tự làm cực quá.

Chị quẹt nước mắt, bùn ở tay áo dính một chút vào đuôi mày. Ông Hải định gạt vệt bùn cho chị nhưng ông đã rụt tay lại. Gương mặt nồng nàn nhưng trầm uất của chị khiến ông không nỡ đụng vào. Ông Hải bứt vài ngọn cỏ, bập bập vào hàm răng chắc rịt:
- Việc cày bừa của nhà tôi chỉ một mình tôi lo thừa sức. Chỉ tội cho hai đứa con gái, phần lo học hành, phần lo vườn tược. Thím thì chẳng chịu làm bạn với tôi. Ông Hải dặng hắng - Thím có mang nước theo không?
Chị giật mình:
- Dạ. Dạ, có.

Nước lá nấu sôi kỹ, cho vào bi đông ủ trong bọc vải, quá nửa buổi nước vẫn còn ấm. Chị thận trọng rót nước ra nắp bi đông mời ông Hải. Mỗi nắp bi đông vừa vặn một ngụm. Nước lá chị nấu uống thơm tận tóc.
Ông Hải chép miệng:
- Ngon. Thiệt tình thím nấu nước lá ngon nhất xóm.

Quê chị lắm đồi trọc, lúp xúp cây, đa phần là sim mua, thảo mộc. Trưa đúng ngọ lên đồi bẻ lá, lá vối, lá vằng, lá hón, lá bướm bạc, lá ngấy, bông trang rừng... phơi khô, nấu kỹ, đi biệt chân trời vẫn còn lẩn quẩn mùi nước lá trên môi.
"Bọn mất gốc mới uống nước trà. Trà móc câu, trà Thái, trà nhài, trà sen, trà gì cũng đậm lưỡi nhưng chẳng có thức uống gì vừa bổ dưỡng vừa đậm đà hương vị bản xứ như nước lá". ấy là chị nghe lỏm chuyện của ông giáo Phùng với tay kỹ sư nông nghiệp buổi tối chị gánh nước qua.

Chị đặt bi đông nước xuống cỏ:
- Anh Hải à. Ơn anh tôi còn mang nặng lắm. Anh khuyên gì, bảo gì tôi cũng cúi dạ, riêng chuyện mộ anh Ngọ, anh cứ nói thẳng với mấy ông trên xã đừng đụng đậy làm chi. Sinh có nguồn, thác có cội, anh Ngọ ở trong đất đai cha mẹ tổ tiên là tốt lắm rồi.
- Thím Thư, hai mươi mấy năm rồi thím đày đọa thân. Tôi thiệt bụng thương thím. Nếu thím gật đầu thì trầu cau vẫn chưa muộn. Tôi có ý...
- Thôi anh Hải. ủa nắng lên lửng ngọn cây vối. Anh về kẻo thiên hạ nhòm ngó. Ruộng vẫn còn ngộn cả cỏ, anh thông cảm.

Chị lật đật xuống ruộng. Chị xắn quần vội như người cuốn bánh bị khách giục. Ông Hải lắc đầu, uể oải nhấc cày lên vai. Ông cười thảm hại.

Ông Hải vác cày đi chông chênh trên bờ ruộng. Chị cảm thấy rõ lúc này chiếc cày quá nặng với sức lực vốn rất cường tráng của ông. Mái tóc ông còn đen dày hơn tuổi năm mươi ba. Ông Hải đẹp hơn chồng chị nhiều. Chồng chị ngày xưa lỏng khỏng, ai nói gì cũng rụt cổ cười. Nhưng chồng chị có tài ép hoa thị thơm lâu đến mê muội cả đám con gái mấy làng thung. Mớ hỗn độn ký ức lẫn với những cảm xúc hiện tại làm chị nhói đau. Chị ôm ngực ho húng hắng rồi lệt xệt dần vào bờ. Chị ngồi phệt xuống mép ruộng, thõng chân xuống nước. Thế là quá buổi sáng. Thế là quá nửa đời người. Chị khép đôi mi rợp cho hai giọt nước mắt lăn khẽ qua.

Ngày chị lấy chồng, chỉ có mẹ vui. Ngày ấy chị có hai mươi tuổi lẻ. Cha mẹ chị chỉ có mỗi mình chị. Cấy lúa ruộng trũng, trồng khoai đất đồi, dăm bảy cây mít cây dứa đủ để nuôi chị lớn. Da hồng rựng, tóc dày mượt, đôi mi rợp buồn. "Ngữ ấy hồng nhan bạc phận" - mấy mệ bà chằng tụm đầu dè bỉu chị. Chị đẹp ngời ngợi ở tuổi mười chín, đôi mươi, điều đó khiến thằng cha thợ rèn khó tính nhất làng cũng phải thừa nhận. Trời còn cho chị một cái đẹp hiếm có: gót chân son. Cha chị gót chân chai sần, đi rừng không cần dép. Chân mẹ chị nứt nẻ, ra đồng mùa nắng khó phân biệt đường nứt ruộng với đường nứt chân. Gót chân chị đỏ hồng, mịn bóng hơn cả da mặt. Chân đất lội bùn, đạp đồi đào củ, hái rau, từ bé cho đến tuổi lấy chồng gót chân chị không hề có vết rạn nhỏ. Chị yêu gót chân chị lắm. Mỗi tối sau khi rau heo cháo chó chu tròn, chị ngồi lên giường nắn nắn gót chân. "Mình nghèo chẳng có gì cũng được đôi gót chân son" - Chị cười an ủi.

Tưởng chẳng ai chú ý đến đôi gót chân ngà ngọc của chị, nào ngờ anh chàng Ngọ làng bên phát hiện ra. Ngọ là con út ông bà Liên, hai vợ chồng bác sĩ duy nhất của cả ba làng.

Những năm ấy trai gái rậm rực vào dân quân du kích. Ngày cày ruộng cuốc rẫy, đêm tập trận bày bố kế hoạch đánh đấm không khí bùng bục như rượu nén. Chị vào du kích làng Thung Thượng, Ngọ du kích làng Thung Hạ. Một đêm vào cuối năm 1971, tiểu đội du kích của chị và tiểu đội của Ngọ được phân công đi dò đường lên cứ điểm địch ở Ðầu Mầu. Ði từ tám giờ tối, lần theo núi, đồi, khe, suối, khi trở về thì trời đã rạng. Chị thấm mệt, bấu vào vai Ngọ để vượt suối La La. Ðôi mắt tinh anh của Ngọ đã phát hiện ra đôi gót chân hồng ửng như táo chín. Ngọ mê gót chân chị. Bà Liên giục chồng hỏi vợ cho con.

Cha chị chưa muốn gả con. Nó còn dại quá, tội nghiệp. Nhưng mẹ chị mừng lắm, lấy được con trai gia đình thầy thuốc duy nhất trong vùng, trái gió trở trời cũng đỡ lo, lại gia đình cách mạng, tốt quá, phúc quá.

Những tháng sau Tết 1972, ngòi cháy của cuộc chiến tranh sắp đến độ bùng nổ. Hình như ai cũng linh cảm được điều đó. Ðám cưới chị buồn tẻ, vội vã, đầy những âu lo. Chỉ có mẹ chị vui như tất cả các mẹ nông thôn Việt Nam gả được con gái không còn lo ế ẩm.

Ðêm tân hôn. Chị khổ sở ngượng ngập vì đúng ngày kiêng trong tháng. Ngọ rụt cổ cười, hai đứa bẽn lẽn như trẻ chơi đồ hàng bị hỏng. Chị hôn Ngọ rất lâu, để bù lại những cái hôn vội vàng đêm trăng tập trận, bù lại sự rủi ro của chu kỳ con gái rơi đúng vào đêm ngọc ngậm hoa cười.

Cưới nhau được hai ngày. Cuộc tổng tấn công bùng lên. Cả vùng bờ nam sông Bến Hải ầm ầm trong bão đạn. Ngọ nhận lệnh theo tốp giao liên dẫn bộ đội chủ lực đánh chiếm cứ điểm Ðầu Mầu. Ðó là ngày mùng hai tháng tư năm bảy mươi hai. Chị nghe tin báo nhận xác chồng. Ông bà Liên đau đớn mất con nhưng lẫn cả niềm tự hào, nó đã hoàn thành nhiệm vụ. Hôm đó. Gio Linh, Cam Lộ chấp chới cờ đỏ sao vàng, chị đeo tang chồng, ôm gót chân khóc không thành tiếng.

Chị ở với cha mẹ chồng ba năm nữa thì anh Thìn, anh trai cả của Ngọ về. Anh Thìn là đại tá, chị vợ thượng úy. Anh chị cất được ngôi nhà khang trang ở phố huyện, mời cha mẹ cùng ở. Chị một mình với ngôi mộ chồng côi cút cho đến tận bây giờ.

Chị cũng không ngờ mình nguyên vẹn cho đến lúc này. Chị đã yêu chồng biết bao nhiêu. Ngọ cao mảnh, da trắng, miệng nói có duyên. Khi Ngọ nói, chị muốn uống từng tiếng. Ngọ yêu chị lắm. Ngọ ép rất nhiều hoa tặng chị. Nhiều khi tập trận, Ngọ giấu theo một gói hoa thị ép khô. Mãn buổi tập, hai đứa lại lên đồi sim, Ngọ rải hoa thị lên tóc chị, lên môi chị, bỏ vào ngực áo chị. Thơm. Thơm ngất cả đồi trăng. Thế mà bao giờ Ngọ hôn chị cũng vội vàng: "Về nhé, bảo đảm sức khỏe mai đi tập. Khi nào hai đứa cưới nhau..." Chao ôi. Vậy mà cả ngay một lần làm vợ chị cũng không có được. Nhiều đêm nghĩ miên man, chị bóp gót chân đến buốt mà không biết.

Hồi mới giải phóng, chị suýt ngã lòng. Ấy là vì cái anh chàng hạ sỹ Mận ở tiểu đoàn 17 đóng quân gần làng chị. Mận quê ở Bắc Ninh, hát quan họ ngọt mướt, miệng hát duyên hết rớt lưỡi hái. Mỗi lần chị đi gặt, Mận đòi làm "dân vận", gặt lúa giúp. Lúc đầu chị đuổi khéo, dần dà mê hát, ngồi bệt xuống cỏ quên cả bó lúa, cười đắm đuối. Tình hình đến tai ông bà Liên, bà Liên mắng chị tơi bời. Nào bẽ mặt cha mẹ chồng. Chồng hy sinh chưa hết khó đã lúng liếng. Liệu mà ở cho thơm mặt nhà chồng, thơm mặt vợ liệt sĩ. Chị khóc. Chị tự rủa mình. Chị lặng lẽ ôm gót chân và tự hứa chẳng bao giờ mềm lòng nữa.

Chị tưởng chị sẽ bị cha mẹ chồng cột chặt vào ngôi nhà rường ba gian với ngôi mộ chồng quanh năm hoa cỏ. Ai dè bà Liên có lần đến ở lại thủ thỉ với chị hẳn một đêm. Ðại khái làm thân đàn bà con gái phận mỏng, con còn trẻ tuổi, mẹ tùy con lựa bề tái giá. Bà Liên còn gợi ý có thằng Phi đẹp người tốt nết ở làng Yên Thịnh, dạm ý bà gả con dâu.

Chị sực nhớ. Phi có chiếc xe đạp Thống Nhất, mỗi lần chị đi chợ thường dắt theo. Hỏi: "Sao không đạp xe?", đáp: "Xe hỏng". Phi rất đẹp trai. Mái tóc bồng hay gãi rối lên mỗi khi nhìn chị.
Mấy buổi chiều sau hôm bà Liên thủ thỉ. Chị bồn chồn không yên. Chị nhận ra mình mong Phi, đợi Phi, rồi giả tảng mắng mình vô duyên.

Phi đến thật. Phi mang đến mấy bông hoa giấu trong vạt áo. Phi ít nói, chỉ cười, nụ cười úp mở lời yêu. Chị rót nước, rơi vỡ hết bốn cái cốc. Phi nhặt từng mảnh sứ, vô tình nhặt phải ngón tay chị. Phải đến bảy tám hôm sau chị mới quên được cái vô tình hôm ấy.
Thỉnh thoảng Phi đến, vẫn dắt xe.
- Sao anh không đạp mà dắt cho mỏi?
- Xe hỏng. Thử giúp xem nó hỏng chỗ nào.
- úi dà. Súng các loại hỏng đâu em còn biết cách chữa chứ xe pháo thì em xin hàng.
- Nói đùa. Pháo thì tôi là tay thiện xạ. Hồi lính, xe tăng xe pháo đối với tôi như trò chơi. Hay thật. Xe tăng trườn đồi. Xe tăng lội nước mới khoái, đạn sẵn tha hồ vãi. ấy chết... - Phi bịt miệng không kịp. Anh ta quên mất anh là lính thiết giáp ngụy đang nói chuyện với vợ liệt sĩ.

Chị ôm gót chân tự rủa mình đúng mười lăm hôm. Trời ơi, biết đâu quả đạn của Phi đã cướp đi Ngọ của chị... Phải rồi, hồi giải phóng Phi đi cải tạo, vợ chưa cưới bỏ Phi. Trời ạ, mà sao mẹ chồng ta cũng loạng quạng. Chị oán mình, oán đời rồi khóc, bóp đau nhừ cả gót chân.
Ðêm vùng trung du u u tiếng côn trùng. Thi thoảng lắm vào mùa mưa mới có tiếng ếch nhái, ễnh ương. Ðêm chị thường tắt đèn đi ngủ sớm, nửa khuya lùng bùng dậy dỏng tai nghe tiếng cú, tiếng vạc, tiếng chuột sục sạo. Ðôi khi các cháu nội ông giáo Phùng khóc đêm, nghe hủ hủ rồi nhòa hẳn vào tiếng đêm. Ngôi nhà cha mẹ chồng nhường cho chị ba gian lợp ngói. Ðêm cả ba gian nhà là vương quốc của chuột, gián, thạch sùng, có cả rết và bò cạp. Chị chẳng nỡ đuổi chúng. Ðêm quạnh quẽ, quan sát chúng đỡ cô đơn.

Khổ sở nhất là những đêm trăng sáng. Trăng trung du độc địa, sáng vặc như soi tận nơi sâu kín của người ta. Vại nước đầy trăng. Chị vục nước tắm, trăng vỡ ra xõa lên mình chị. Trăng trung du trần truồng rất khó chịu. Tàu lá chuối gợi tình, phẩy phẩy, lấp lóa sáng. Gốc mít lâu năm đen đủi như gã đàn ông rình rập, dòm ngó chị. Chị cười khẩy, chẳng có ai cả, ai mà rỗi hơi.

Chị cẩn thận kỳ cọ, dù biết chẳng có gì để kỳ cọ. Từ cái cổ tròn, chị lần xuống ngực. Tay chị làm lụng nhiều da tay ram ráp, xoa lên cặp vú căng muốt cứ ngỡ ai đặt tay lên. Vai chị cũng mềm. Ngày xưa Ngọ chỉ mới hôn lên đó. Ngọ chưa hôn vào chỗ nào ngoài môi và vai. Mấy mệ bà chẳng bảo đàn bà sướng nhất là mông, mông nục nạc đàn ông đụng vào như nam châm gặp sắt. Chị chẳng dám sờ tay vào nơi khốn khổ nhất của mình. Nếu phải kỳ cọ, chị dội nước thật nhanh như ma đuổi. Chị ngắm mình rồi ngửa cổ hình dung những điều quái gở. Nếu có ai đó yêu chị, hẳn người ta sẽ xiết lấy chị mà thốt lên, chị là nữ thần, như tượng nữ thần cụt tay chị thấy ở nhà ông giáo. ừ, nếu có ai đó để yêu, chị sẽ làm thế nào nhỉ, ít nhất là xem cặp mông tròn mẩy của chị có phải là nam châm không.

Mùa trăng trung du dài. Chị hao mòn đi chút ít và đôi mi rợp thấp hơn.
Một đêm vào cuối mùa trăng, trời se lạnh, chị tắm táp vội vã. Chưa kịp mặc áo, chị bắn người vì hai bàn tay sắt quắp lấy chị. Một thân thể nóng rực như lò than áp vào. Chị chỉ kịp hét lên: "Bác Phùng ơi, cứu cháu", thì bị đè vật xuống. Gã sờ soạng, gã tìm miệng chị để bịt lại. Một tay gã tìm nơi khốn khổ nhất đời chị, gã thở như lợn bị trói. Nhưng trời cho chị sức lực đạp đổ cả cây vối chặt nửa. Gã đàn ông đen nhẻm lòng khòng, tay chân cứng như nạng sắt bị chị xô bật, văng ra đám nhầy chỗ vại nước. Chùm bầu khô rơi loảng xoảng.

Gã đàn ông biến vào vạt chuối.
Ông giáo Phùng vác gậy lạt xạt băng qua vườn.
- Trộm hử?
- Dạ. Dạ không. - Chị khép vạt áo - Thằng Thỉ thợ rèn bác ạ.
- Không sao chứ? Khổ quá! Thằng này phải nhờ ông Hải giã cho một trận mới được.
- Dạ thôi bác, không có sao đâu mà, bác đừng nói gì xấu mặt cháu.
Ông Phùng không nói gì thật. Ông chỉ bảo con Hồng cháu ngoại học lớp bốn sang ngủ đêm với chị. Con Hồng tính rụt rè nhưng chăm đọc sách. Có lần đọc sách xong nó bảo:
- Dì Thư sao không lấy bác Hải? Bác Hải coi bộ thương dì lắm.
- úi dà. Hồng muốn dì Thư thành mụ dì ghẻ trong chuyện Tấm Cám đó hử?
- Eo! Vậy thì thôi. Làm dì ghẻ chán chết, dì ha.

Con Hồng ngủ, mặt nó phảng phất cười, chị nắn nắn gót chân không ngủ được.
Cây vối đơn độc đầu bờ ruộng hồi bom đạn sạt tận gốc. Hai mươi mấy năm chồi khẳng khiu cao dần. Lá của nó đủ chị hái uống suốt đời. Mùi vị nước lá uống không tả được, chỉ thấy ngan ngát nhẹ bẫng cả mặt, cả đầu. Nước lá chị nấu, có một người biết là nó ngon đến mềm môi. Ông Hải. Ông Hải là trung đội trưởng du kích hồi ấy, ông Hải xót Ngọ lắm. Ông Hải cũng thương chị. Ban đầu ông thương như một người anh cả thương đứa em út bạc mệnh. Rồi ông cũng không cắt nghĩa được sự quyến luyến của ông. Hình như. Mà phải. Ông yêu chị. Vợ ông hiền thục, sinh hạ được hai cô con gái rồi chết trong lần sinh thứ ba. Vợ ông to khỏe, có thai chín tháng vẫn đi chặt củi, đốt than. Sinh con to quá, trạm xá xã dốt nát, uể oải chẳng ai giúp chị kéo được đứa con trong bụng ra. Vợ ông chết, đứa con thứ ba chưa sống được một giờ cũng chết. Ông thành người bất hạnh.
Ông Hải là người hay mộng mị. Suốt nhiều năm rồi ông ít mơ thấy vợ, chẳng mơ thấy gã thợ rèn khó tính thường cãi nhau với ông vì rèn rựa chóng cùn, ông chỉ mơ thấy chị. Chị đẹp quá, nồng nàn quá. Ngọn đèn leo lét nhà chị bao giờ cũng tắt khi bầy lợn không còn kêu in ỉn nữa. Chị một mình nuôi lợn nái, gà bầy, một mình cuốc đất, bó lúa, sảy rơm. Chao ôi. Những việc nặng nề kia, ví như việc sửa lại gian bếp lâu năm mối mọt, lẽ ra lực trai như ông làm mới phải. Ông muốn nói với chị ông yêu cả những nếp nhăn mủi lòng bắt đầu gợn lên đuôi mắt chị. Vậy mà ầm ờ mãi ông chẳng nói được gì.

Cả vụ lúa đông xuân, ông theo dõi năm thửa ruộng cộng bằng ba sào của chị. Vụ này không sâu bệnh, mưa thuận gió hòa.
- Ðược mùa rồi đó anh Hải. Mấy năm ni mưa lũ nhiều, huyện đồng bằng nghe nói có nước cuốn trôi cả trăm ngàn tấn. Mình đây lúa má ít ỏi, dăm bảy tạ được mùa cũng đã mừng húm.
- Thím Thư à. Ruộng thím ruộng tôi chập lại bằng một sức người làm. Thím cứ để chuyện gặt hái cho tôi, ở nhà nấu nước lá cho ngon là được.
- Anh Hải hay đùa. Quá nửa đời tôi có chết cũng đã vừa, huống chi đôi ba sào lúa đâu có nặng nhọc mà anh làm lớn chuyện.

Chị tủm tỉm. Tay chị bó lúa chắc và khéo như tay đàn ông. Chân trái bấm xuống ruộng, chân phải đạp hờ lên bó lúa, dây lạt tre mềm mại "kít" một tiếng khe khẽ. Bó lúa gọn thon như lưng chị. Chị xóc lúa cũng khéo. Tay phải nhấc đòn xóc, xoay một vòng, chị đặt mũi xóc đúng vào giữa tâm bó lúa, nhún một cái, mũi xóc găm qua chạm mặt ruộng. Chị hất bó lúa ngược lên, đặt mũi xóc kia vào bó lúa thứ hai, nhún nhẹ. Gánh lúa vụt bẫng lên vai, không rơi một hạt.

Ông Hải chỉ còn biết lắc đầu. Hai bó lúa vàng rộm nhún nhẩy theo bước chân.
Từ xa vẫn thấy đôi gót chân đỏ hồng của chị đạp lên thảm gai trinh nữ, có cả mùi nước lá theo về dưới chân đồi.


Tháng tư 1997
READ MORE - HÀN NGUYỆT

TRIỆU PHONG



NHÀ THƠ TRIỆU PHONG tên khai sinh là Đặng Sĩ Tịnh, sinh ngày 10/3/1942 tại làng Ái Tử, xã Triệu Ái, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị; thường trú tại 23C Yết Kiêu, TP Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Ông là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, hội viên Hội Văn học nghệ thuật Khánh Hòa, hội viên Hội Nhà báo Việt Nam. Trước năm 1975, Triệu Phong tham gia phong trào học sinh, sinh viên đấu tranh chống Mỹ. Ông bị địch bắt nhiều lần, bị giam ở Tổng nha cảnh sát Sài Gòn, bị đày ra đảo Phú Quốc... Năm 1971, ông ra tù rồi thoát ly lên chiến khu. Triệu Phong đã cho ra mắt bạn đọc các tác phẩm thơ: Qua vùng cỏ lau, Khúc ru sợi khói, Giấc ngủ nửa vầng trăng, Một mình và nhiều bài viết trên các báo địa phương, trung ương. Thơ của ông còn được đưa vào Tiếng hát những người đi tới - tuyển tập thơ, văn, hội họa, báo chí của phong trào học sinh, sinh viên đấu tranh chống Mỹ trước năm 1975, do Báo Thanh Niên, Báo Tuổi Trẻ, Nhà xuất bản Trẻ xuất bản.

Sáng 19/10, nhà thơ Triệu Phong đến dự đại hội Hội Văn học nghệ thuật Khánh Hòa khóa IV (2004-2009) bị đột quỵ và qua đời lúc 9 giờ 10 phút cùng ngày.

Lễ truy điệu nhà thơ Triệu Phong được tổ chức lúc 6h30 ngày 21/10, sau đó an táng tại nghĩa trang Phước Đồng, TP Nha Trang.

Xin đựơc post bài thơ "HÌNH NHƯ SEN NỞ NGOÀI AO" của nhà thơ TRIỆU PHONG.

HÌNH NHƯ SEN NỞ NGOÀI AO.

Hình như sen nở ngoài ao
Hình như sen đến bên rào...hình như
Hình như cây cỏ tương tư
Mây bay về ngủ bên bờ tịch liêu
Ta như giọt nắng cuối chiều
Rơi trên mái tóc quá nhiều gian nan.
Thương em từ thủa cơ hàn
Tình yêu đi suốt dặm đàng trần ai
Ta còn biển rộng sông dài
Mà em thơm thảo như bài ru xưa.
Vô tình nắng. Vô tình mưa ta đi
Đời vẫn như chưa là đời
Hình như hơi thở loài dơi.
Bay vào cổ tích để rồi bay đi
Hình như suốt cuộc phân kỳ
Ta còn mắc nợ bởi vì yêu em!!!.

READ MORE - TRIỆU PHONG

Hoàng Phủ Ngọc Phan




Thơ Hoàng Phủ Ngọc Phan


Ngập ngừng


Tôi với em chưa hề quen nhau
Mỗi người một bóng một đêm thâu
Mỗi người ôm một cung đàn lẻ
Đàn lạnh thì thầm những nỗi đau.

Mùa xuân nở nụ hoa biêng biếc
Màu hoa bâng khuâng niềm hối tiếc
Tôi muốn tặng em nụ tầm xuân
Của những tháng năm xanh thắm thiết.

Mùa hè xôn xao gọi mặt trời
Lang thang mây trắng bay trên đồi
Em còn có tóc dài áo trắng
Để cho toi một ngày rong chơi

Mùa thu thiết tha vì chờ đợi
Tôi thấy mắt em buồn vời vợi
Lá thu rụng bay trong sương sầu
Trong mắt em cũng có mưa ngâu.

Có phải bây giờ là mùa đông
Tháng ngáy và nỗi buồn mênh mông
Chim yến bay đi chưa trở lại
Lòng tôi hoang vắng đã bao lần

Lòng tôi bỗng ngập ngừng thầm hỏi
Tôi với em nên quen nhau không…



Huế tên của nỗi nhớ


Người hỏi rằng xứ Huế bây giờ
Tôi biết làm sao quên được
Giòng sông ấy như ngọc tan thành nước
Vẫn tháng năm lưu luyến đôi bờ
Đêm thì thầm chờ hoài thôn Vỹ
Những mảnh hồn sao rơi ngẩn ngơ
Người hỏi rằng xứ Huế bây giờ
Tôi biết làm sao nói được
Đỉnh núi ấy từ muôn thuở trước
Vẫn cô đơn chờ mảnh trăng gầy
Mùa sim chín trên đồi bát ngát
Vẫn thèm ăn một chút trái hoang sơ
Người hỏi rằng xứ Huế bây giờ
Còn chờ ai trong cơn bơ vơ
Chiều Nam Giao nhớ người Bến Ngự
Thương ai một đời lỡ hẹn trong mơ
Người hỏi rằng xứ Huế bây giờ
Chiếc nón ấy có còn duyên dáng
Tà áo ấy đi qua cầu trắng
Gió xuân thì còn nhớ tóc mây
Sầu khơi đọng nhớ làn mắt ướt
Mưa kinh kỳ nhớ ai đêm nay
Nhiều khi gót mỏi đường đấtlạ
Tôi muốn về thăm Huế một ngày
Muốn bỏ lại đằng sau tất cả
Về ngủ trên đồi với cỏ may
Người hỏi rằng xứ Huế bây giờ
Tôi biết thưa làm sao đây
Từng phen gió thổi vào cung lạnh
Vách ghế thềm hoa cỏ mọc đầy.



HOÀNG PHỦ NGỌC PHAN
READ MORE - Hoàng Phủ Ngọc Phan

Monday, November 3, 2008

CHỊ (EM) - thơ Chu Vương Miện

Chu Vương Miện 
 

Cựu học sinh trường Nguyễn Hoàng, Quảng Trị.


CHỊ (EM)

Chúa Nguyễn Hoàng từ Nghệ An vào Ái Tử
Mình cũng từ Ái tử tạt qua đây
Sóng trước sóng sau vùi lên cát
Mà sao lớp lớp cát chưa mầu
Bao nhiêu năm lẻ rồi chị nhỉ
Bao nhiêu năm nửa lại theo sau
Em hỏi chị nhớ gì Quảng Trị
Băn khoăn một chút chị lắc đầu
Chị xa hồi nớ mười tám tuổi
Năm mươi năm chểnh mảng một chuyến tàu
Chị đi chả còn mong trở lại
Trông đợi làm gì rách lòng nhau
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
Trơ gan tuế nguyệt mấy boong tàu
Người xưa người nay đều đổi khác
Biển xanh cát đỏ mấy đại châu
Tình em theo đá mòn mỏm núi
Ngóng chị thân thương một miếng trầu.

                           CHU VƯƠNG MIỆN


READ MORE - CHỊ (EM) - thơ Chu Vương Miện

Sunday, November 2, 2008

HOÀI NHẠN - CHÙM THƠ










ĐI TÌM ... MỘT NỬA


Em đi tìm anh

Anh ở nơi đâu!

Em đi tìm anh

Anh ở phương nào

Để em chờ

Để em đợi .

Sầu đông đã mấy lần thay lá mới

Bưởi sau vườn đã mấy vụ đơm bông

Em vẫn chờ

Em vẫn mong

Em đi tìm anh -tìm nửa kia của mình còn lại

Dù chiều về ánh hoàng hôn nhuộm trải

Dù sương pha bạc nửa mái đầu

Em vẫn đi

dù mưa nắng giãi dầu

Để tìm...Nửa kia còn lại

Dù người đời cho khờ dại

Em vẫn đi tìm...

đi tìm...






BỖNG MỘT LẦN SIÊU THOÁT



Tôi ước làm con chuồn chuồn

Để bay và lột xác

Có những chiều dập dìu trên hồ thu dịu mát

Thả hồn về cõi mộng du

Và một lần sống hết giấc mơ


Tôi ước làm con chuồn chuồn

Để một lần lột xác

Phá bỏ lớp vỏ dày bám chật

Cùng bóng đêm và đôi cánh úa tàn

Giã từ hoàng hôn và năm tháng võ vàng

Hồn tôi bỗng một lần siêu thoát




SẦU RIÊNG


Tôi trở về xây tổ dưới gốc sầu riêng

Xin ai đừng gõ cửa

Gốc sầu riêng khẳng khiu nỗi nhớ

Cây chất nặng sầu riêng thành quả

Sần sùi

Gai góc

Dấu kín mối sầu trong vỏ bọc

Màu lá thu rơi



Tôi trở về dưới gốc sầu riêng

Xin ai đừng khơi dậy

Nỗi sầu riêng đã chín từ ngày ấy

Vẹt mòn năm tháng

Hao gầy tuổi xuân

Tôi dấu sầu riêng

Dưới con tim lạnh giá

Rồi một ngày hoá đá trước nhân duyên

HOÀI NHẠN
READ MORE - HOÀI NHẠN - CHÙM THƠ

Saturday, November 1, 2008

NGUYỄN ĐĂNG BÌNH - TẢN MẠN VỀ QUÊ HƯƠNG

Nhà báo Đăng Bình
Hiện đang cộng tác với báo Doanh Nhân và Pháp Luật


Tản mạn về quê hương


Tốt nghiệp Đại học Luật, mình về quê xin việc theo nguyện vọng của ba mình. Lần đầu tiên gặp anh Hoàng Anh Quyết, giám đốc Sở Lao động thương binh & xã hội tỉnh Quảng Trị, mình đặt vấn đề việc làm là anh Quyết OK ngay bởi sếp Quyết là một lãnh đạo năng động có tư tưởng mở cửa "chiêu hiền đãi sĩ". Học luật về công tác ở ngành thương binh xã hội, mình được anh Quyết phân công làm chuyên viên tổng hợp Văn phòng Sở, chuyên viết báo cáo và soạn thảo công văn kiêm phụ trách chương trình dự án người hồi hương của UNHCR (Cao uỷ liên hợp quốc về người tỵ nạn, tỉnh Quảng Trị có nhiều người hồi hương. Ở các xã có nhiều người hồi hương thì sẽ được UNHCR đầu tư các công trình như đường - trường- trạm y tế từ 30.000 đến 50.000 USD mỗi công trình).

Vì hoàn cảnh gia đình lúc đó hay noó trắng ra là "cơm áo gạo tiền", cuối cùng mình cũng phải chia tay anh Hoàng Anh Quyết để vào lại Sài Gòn. Nhưng nhờ có thời gian công tác trong ngành thương binh xã hội tỉnh mà mình biết được Quảng Trị có gần 70 nghĩa trang liệt sĩ, trong đó có 2 nghĩa trang liệt sĩ Quốc gia là Trường Sơn và Đường 9. Quảng Trị từng là vùng đất giới tuyến, nơi diễn ra chiến tranh ác liệt nhất, nên bây giờ vẫn còn hàng vạn chiến sĩ đang yên nghĩ trên mảnh đất này. Tấm ảnh trên đây chính là hình ảnh bà Phan Thị Tiếp quê ở tỉnh Thái Bình gọi hồn chồng tại một nghĩa trang liệt sĩ ở quê hương tôi - một cảnh trong bộ phim tư liệu "GỌI HỒN SAU CHIẾN TRANH" của đạo diễn người Pháp đã từng chiếu trên VTV1 khiến hàng triệu người xúc động.

"Có nơi mô như ở quê mình

Nghĩa trang trắng mỗi miền cát mặn.

Hạt lúa củ khoai giữa mùa Nam nắng

Bưng chén cơm ăn sao đắng cả lòng...".


Bốn câu thơ trên trong bài thơ Quê Mình của cố nhà thơ Tạ Nghi Lễ- một người con thân yêu nặng tình nặng nghĩa của quê hương Quảng Trị - đã phác hoạ cho bạn bè năm châu thấy được cái mảnh đất quê hương tôi như thế nào. Nghĩa trang nhiều là dấu hiệu nhận biết của thương hiệu Quảng Trị. Gió Nam (tức gió Lào) khô khốc cũng là "đặc sản" của Quảng Trị. Cho nên khi vào Google gõ cụm từ "nơi nhiều nghĩa trang liệt sĩ" hoặc "vùng đất gió Lào" thì chắc chắn cái tên Quảng Trị sẽ xuất hiện.

"Có nơi mô như ở quê mình

Khúc ruột thắt giữa hai miền đất nước,

Đất chật, họ tên không cần thêm chữ lót,

Cơ cực gì đeo đẳng suốt trăm năm...".

Cho đến bây giờ Quảng Trị vẫn còn nghèo lắm các bạn ạ.

Đã có một thời gian Quảng Trị nhập với Quảng Bình, Thừa Thiên Huế thành tỉnh Bình Trị Thiên - trở thành tỉnh dài nhất Việt Nam, có khi đi tàu từ sáng đến tối vẫn chưa ra hết khỏi tỉnh Bình Trị Thiên. Những chàng thanh niên Bình Trị Thiên ngày xưa đi bộ đội thường tự hào vì ăn theo cái hỗn danh "lính Bình Trị Trời". Bao nhiêu năm "góp gạo thổi cơm chung", Quảng Bình, Quảng Trị vun vén xây dựng thành phố Huế đẹp mộng mơ. Chia tỉnh, bao nhiêu tinh hoa thuộc về Huế hết, Quảng Trị trở về với nghĩa trang và cát trắng, cái thị xã Quảng Trị sơ sài như một thị trấn vùng quê còn Đông Hà thì hoang sơ cùng gió Lào rát bỏng. Một thời gian dài, cái tên Quảng Trị chìm nghỉm vào quá khứ chiến tranh khiến nhiều đứa con của Quảng Trị khi xa quê thường mượn Huế làm quê gốc của mình. "Anh người ở đâu?". "Dạ em người Huế". Nhiều người đã từng tự ti "lạnh lùng" giới thiệu về gốc gác của mình như vậy. Đặc biệt là những nghệ sĩ, ca sĩ nổi tiếng gốc gác Quảng Trị. Ôi, Quảng Trị có gì xấu đâu mà những đứa con Quảng Trị phải từ chối? Tại sao chúng ta không dám thừa nhận mình là người Quảng Trị?

Có người giải thích rằng nếu nói quê Quảng Trị thì không ai biết ở đâu. Hoặc là người ta nghe trọ trẹ là nói người Huế, thế thì giới thiệu Huế cho xong... Bao nhiêu là lời nguỵ biện cho hành vi từ chối quê hương khiến hội chứng "ăn theo" xứ cố đô có đất dung thân.

Câu chuyện "những đứa con tự từ chối" diễn ra trong một thời gian khá dài.

Thế rồi cho đến một ngày nọ cách nay khoảng chục năm, có một người Quảng Trị lần đâu tiên đã đặt vấn đề XÂY DỰNG MỘT THƯƠNG HIỆU QUẢNG TRỊ MẠNH". Người Quảng Trị nổi tiếng đó không phải là một vĩ lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước, chẳng phải là chủ tịch Hội đồng hương, mà chính là một doanh nhân- kỹ sư Lê Quốc Phong, giám đốc Nhà máy phân bón Bình Điền II, nay là Tổng giám đốc Công ty phân bón Bình Điền, một đứa con của quê hương Quảng Trị. Là một người lính đặc công đã có nhiều năm lăn lộn trên chiến trường Campuchia, khi rời chiến trường để trở về làm chiến sĩ trên thương trường, anh Lê Quốc Phong cảm nhận được nỗi buồn khi gặp phải những trường hợp từ chối quê hương như Đăng Bình đã nêu ở trên. Sau nhiều đêm suy nghĩ, anh nhận ra những đứa con không dám nhận quê hương là vì mảnh đất ấy chưa làm cho họ cảm thấy TỰ HÀO. Từ đó mỗi lần đi đâu, gặp anh em đồng hương Quảng Trị anh Lê Quốc Phong luôn kêu gọi, vận động anh em chung tay xây dựng thương hiệu cho quê hương: Hành động thiết thực nhất là tuyên truyền để cho những người con Quảng Trị biết rằng Quảng Trị phải có nhiều danh nhân, người tài; những người con của Quảng Trị thành đạt phải hỗ trợ cho quê hương.

Danh nhân Quảng Trị ư? Người tài ư? Thì đây, Quảng Trị nhiều lắm. Tổng bí thư Lê Duẩn, Đại tướng Đoàn Khuê, Nhạc sĩ Trần Hoàn, đạo diễn Lê Cung Bắc, đạo diễn Trần Ngọc Phong, diễn viên Mai Trần, ca sĩ Vân Khánh, Bảo Yến, Nhã Phương, doanh nhân Hồ Sĩ Thoảng, Lê Quốc Phong, danh hoạ Lê Bá Đảng, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, nhà thơ Tạ Nghi Lễ, nhà báo người Quảng Trị thì một rừng mà cây đại thụ chính là Trần Trọng Trân và Phan Quang (mời bạn xem thêm bài Người Quảng Trị làm báo ở Sài Gòn của Đăng Bình cũng có trong Blog này)...

Ôi, viết phải vài ngày mới hết danh nhân và người tài Quảng Trị đấy chứ.

Tại TPHCM và Hà Nội hiện có rất nhiều người con Quảng Trị thành đạt. Họ có thể là doanh nhân, kỹ sư, bác sĩ, nhà báo...

Hướng về quê hương, giúp quê hương ư? Anh Lê Quốc Phong vận động thành lập CLB những doanh nhân người Quảng TRị tại TPHCM, bây giờ là CLB Nghĩa tình Quảng Trị. Những người con của quê hương Quảng Trị đã đóng góp trên 1 tỷ đồng tạo nên quỹ TIẾP SỨC ĐẾN TRƯỜNG giúp các em sinh viên nghèo hiếu học. Bây giờ TIẾP SỨC ĐẾN TRƯỜNG đã trở thành một thương hiệu, mà chính do những người con Quảng Trị tại TPHCM "đẻ" ra nó và nuôi dưỡng nó.

Bây giờ thì Quảng Trị đã trở thành một thương hiệu mạnh. Phân bón Bình Điền nhãn hiệu Đầu Trâu đã và đang là người bạn đồng hành của nông dân với doanh thu hàng năm trên 1.500 tỷ đồng. Người lèo lái Đầu Trâu chính là người Quảng Trị. Bidrico, thương hiệu nước giải khát nổi tiếng ở Việt Nam và các nước lân cận, chủ của nó, doanh nhân Nguyễn Đặng Hiến cũng chính là người Quảng Trị. Tổng biên tập tờ báo Mực Tím- tờ báo không thể thiếu của lứa tuổi học trò - các bạn có biết là người tỉnh nào không? Xin thưa, nhà báo Thế Chữ, tổng biên tập Mực Tím, cũng là người Quảng Trị. Nhà thơ Tạ Nghi Lễ là một người con Quảng Trị có công rất lớn trong việc xây dựng THƯƠNG HIỆU QUẢNG TRỊ, rất tiếc 49 ngày trước đây, anh đột quỵ rồi ra đi vĩnh viễn, để lại cho anh em Quảng Trị tại Sài Gòn niềm tiếc thương..

Bây giờ cái tên Quảng Trị trở thành thương hiệu rồi, ngoài Nghĩa trang Quảng Trị, gió Lào Quảng Trị, bão Quảng Trị, lụt Quảng Trị... còn có Phân bón Bình Điền Quảng Trị, rượu Xika Quảng Trị, nuôi tôm sú vùng cát Quảng Trị, hồ tiêu Quảng Trị, đất học Quảng Trị, nhà báo Quảng Trị, ca sĩ Quảng Trị, đạo diễn Quảng Trị, Cửa Việt Quảng Trị, Cửa Tùng Quảng Trị, Cồn Cỏ Quảng Trị, hàng rào Mắc na ma ra Quảng Trị...

Nếu bạn là người Quảng Trị, bạn có tự hào giới thiệu mình là người con của quê hương nghĩa trang liệt sĩ không? Rồi đây cái tên Quảng Trị sẽ được ghi vào sách Guiness với kỷ lục: " Tỉnh có nhiều nghĩa trang nhất thế giới".

Còn tôi, tôi rất tự hào.

'Tôi người con lưu lạc phương Nam

Nghĩ về quê hương như gà con nhớ mẹ

Đi mô cũng giọng mình trọ trẹ

Cuống rún đầu đời ai xa nỗi quê hương"

(Mẹ quê hương - Tạ Nghi Lễ).

Viết xong 23h đêm 11/9/2008 sau khi vừa đi dự 49 ngày nhà thơ Tạ Nghi Lễ về.

ĐĂNG BÌNH


CÙNG TÁC GIẢ
NHẠC SĨ VÕ CÔNG DIÊN:"CHUYẾN ĐÒ BIỀN BIỆT 28 NĂM
READ MORE - NGUYỄN ĐĂNG BÌNH - TẢN MẠN VỀ QUÊ HƯƠNG