Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, October 7, 2008

Nguyễn Đặng Mừng



BUỒN VUI MẤY LẦN

Nguyễn Đặng Mừng


Xay lúa Đồng Nai
Cơm gạo về ngài
Tấm cám về tui

(Đồng dao)



Giã lúa đang đạp, ba con trâu bị khớp miệng bằng những cái mơ đan bằng tre. Chú Rìu cầm mũi. Con trâu Ve bao giờ cũng đi đầu. Bình không biết dắt trâu nên được phân công cầm sẵn cái gàu tát nước được lót rơm, mỗi lần chú Rìu kêu lên “Trâu ẻ..trâu ẻ”(1), tay chú bụm chặt đuôi trâu là Bình nhanh chân chạy tới hứng. Không hứng kịp, phân trâu ị xuống trên trên lúa, rất khó dọn. Trâu đi vòng xoắn ốc từ trái sang phải, xong một lượt chú Rìu dắt trâu ra nghỉ. Thằng Thỉ và chú Gàn dùng mỏ xảy trở rơm. Chú Gàn nói nhỏ với Bình là đạp hai lượt thôi, để lúa sót trong rơm nhiều, về nhà bà con đạp chân lại kiếm chút cháo, hợp tác xã không biết.

Bình phụ thằng Thỉ làm thư ký đội. Thỉ trình độ lớp năm, cộng trừ nhân chia lộn tùng phèo nên Bình phải làm giúp. Thỉ là con cán bộ tập kết nên được làm thư ký. Hắn bực bội mỗi lần đối diện sổ sách chữ nghĩa. Tháng trước hợp tác xã cho hắn đi học trắc đạc, về làm bản đồ dãy thửa, học nửa chừng hắn không hiểu chi hết bỏ về. Thỉ nói với Bình “có cái dấu chi như cái giàn xay, tui có biết chi mô mà cũng bắt học”. Bình mắc cười nghĩ chắc đó là dấu căn số. Thỉ tình nguyện lao động trực tiếp, để việc sổ sách lại cho Bình. Bình là sĩ quan chế độ cũ, mới cải tạo về.

Mọi sản phẩm được chia theo công điểm. Rơm chia ngay trong đêm sau khi đạp lúa. Lúa hột được cào lại giữa sân, chờ phơi khén mới cân nghĩa vụ hoặc chia theo tỷ lệ công điểm, thường là tạm ứng, đến những giã lúa cuối cùng mới điều phối lại.

Bà con thiếu đói, mỗi lần trên đường gánh lúa về sân đội, vừa chạy vừa tuốt lúa cho vô túi áo, ngang nhà để gánh lúa xuống, vô nhà giả đò uống nước, trút lúa từ trong túi ra. Mỗi ngày sáu chuyến cũng kiếm được năm sáu lon, hơn cả ngày công tính theo điểm. Có đêm bà con ngồi họp bên đống lúa, sáng ra thấy đống lúa nhỏ lại. Bà con bốc lúa bỏ vô túi áo, giả đò về nhà có việc, trút lúa rồi lên họp tiếp. Ai cũng biết mà ai cũng lờ đi. Chú Gàn bảo “mần ăn kiểu ni cả làng thành đạo chích hết”




Chị Mịn đang triển khai một vấn đề quan trọng với phụ nữ trên sân đội. Giọng đồng của chị chậm rãi nghiêm trọng: “Kính thưa chị em, thực hiện đời sống mới, chị em phụ nữ chúng ta phải cương quyết chống lại tàn dư chế độ cũ, trong đó quan trọng nhất là vấn đề quan hệ nam nữ. Hôm qua các anh trong ban chấp hành chi hội thanh niên đã bắt quả tang anh Tám bên đội ba và chị Bê ở đội ta hun chắc bằng mui(2) . Theo biên bản được lập là anh chị hẹn nhau đi họp sớm, nói chuyện sau chùa, dưới lùm cây. Lúc hai anh chị đang dở trò đồi trụy thì ban chấp hành ập tới bắt quả tang”.

Con Bê gục đầu trên gối, tóc rủ xuống khóc hưng hức. Bà con im lặng. Chị Mịn tiếp: “Nam nữ trong xã hội ta có quyền yêu thương nhau nhưng phải trong sáng, thể hiện quan hệ phải minh bạch, không được lén lút, nhất là kiểu hun mui đồi trụy đó”.

Có những buổi họp cười ra nước mắt. Số là chị Lơi bên đội ba chửa hoang, bà con đồn là với chú Lùn. Làng họp trước sân chùa. Chú Lùn vừa lùn vừa nhỏ thó cùng với chị Lơi phốp pháp ngồi hàng đầu như hai bị can. Chị Mịn làm chủ tọa hỏi: “Anh Lùn làm cách chi mà chị Lơi có mang”. Chú Lùn đằng hắng mấy lần rồi trả lời: “ Tui không nhớ chi cả, chỉ nhớ là tui ho một cái bơ xong chuyện, ai ngờ có mang”. Bà con cười quá chừng, bảo chị Mịn có biết chuyện nam nữ chi mô mà cũng đứng ra phân xử. Chị Mịn nghiêm giọng: “Bà con ổn định, ổn định…”. Bà con lại cười lớn hơn. Chú Gàn nói to “ Anh Lùn ho, chị Lơi lại chàng hảng chân. Trai không vợ, gái không chồng, mai ra xã đăng ký là xong, có chi mô mà họp mà hành”.

Trong những hội đoàn, hội phụ nữ là nhiều chuyện nhất. Phụ nữ cũng mệt nhất. Vừa là hội viên hội phụ nữ, dưới ba mươi tuổi là hội viên của hội thanh niên, trên ba mươi tuổi là hội viên hội nông dân tập thể. Chị Mịn làm hội trưởng hội phụ nữ thôn, kiêm phụ trách địa bàn đội Sáu, tất bật suốt ngày.

Ngày giải phóng chị Mịn ba mươi bảy tuổi, dáng cao, chắc nịch. Da ngăm, tóc mượt. Mắt chị to, lông mi dài, hay chớp và nhìn lên. Chú Gàn bảo “Nước da bần quân cổi quần không kịp”. Hoặc “Mắt hay nhìn lên là người đa tình”, mà đời chị Mịn có đa tình chi mô, chung tình thì có. Chị thường mang súng đi tuần một mình ban đêm, nhất là ở sân đội vào ngày mùa. Bình cũng thường ở lại giữ lúa và làm sổ sách trong nhà đội.



*


Mùa xuân năm 1952,chị Mịn mười lăm tuổi đã đã có nơi dạm hỏi. Hôn phu của chị là du kích, anh Tha, con một gia đình địa chủ kháng chiến. Chị không yêu anh Tha, lại yêu anh Là, một Vệ Quốc quân người đâu ngoài Triệu Phong, hay đóng quân ở nhà chị.

Đêm về sinh hoạt văn nghệ, nhảy “đây gió”(3). Chị Mịn nhảy điệu nghệ, mắt lúng liếng, miệng cười duyên chúm chím theo làn điệu sôi nổi: “ Đây gió đây trong rừng….Gió mát nhắc rằng cô em muôn vàn thân yêu có sầu nhớ chi trong lòng”. Đến tiết mục hò, giọng chị dịu xuống tha thiết , nhắn gửi : “ Ơ…Ơ…Mưa sa ướt bụi ướt ngàn, ướt áo em thì em chịu , ướt áo Vệ Quốc Đoàn em thương ơ….ơ….”. Giọng hò dài theo hơi chị, bâng khuâng, đi vào vô tận, đi vào những ngõ ngách tâm hồn sáng như gương của các anh bộ đội. Bộ bà ba đen bó sát, gợn lên bao điều mơ ước trong mắt các anh Vệ Quốc Đoàn. Anh Là học xong trung học, bỏ trường theo kháng chiến. Anh hay làm thơ, viết câu hò địch vận và dựng kịch cho thanh niên thanh nữ trong làng. Mỗi lần bắt được Tây là anh thẩm vấn bằng tiếng Pháp. Anh chơi đàn măng đô lin hay lắm. Những buổi văn nghệ bên đàn bên hát thiệt xứng đôi. Giọng chị Mịn khàn, hát hành khúc hùng tráng quyện trong tiếng đàn réo rắt của anh Là: “Đèo là đèo Ba Rền, băng qua rừng sương, Ai bước đi trên đường dừng chân nơi chiến trường. Đèo vẫn đèo , xa mờ xa, cho tôi nhắn đôi lời gửi về chiến khu. Ai đi vô trong Nam , Ai đi ra Việt Bắc. Đường trường xa lắc, buồn vui mấy lần.”(4)

Chuyện yêu thương giữa anh Là chị Mịn rồi cũng đến tai tổ chức. Anh Là bị kiểm điểm, đổi vào trung đoàn 101 trong Thừa Thiên. Chị Mịn buồn, đau một trận thương hàn gần chết. Từ đó chị không hát hò nữa.

Đường trường xa lắc đưa anh Tha và cả anh Là tập kết ra Bắc. Chị Mịn ở lại làng. Thời đó đã đám hỏi rồi xem như vợ chồng, chị Mịn ở vậy chờ. Ngày tháng qua đi, chị mòn mỏi chờ ngày đình chiến, rồi chờ ngày tổng tuyển cử. Đến tuổi hâm đi hâm lại, qua thì khi nào không biết. Chú Gàn bảo “dáng cao mà giọng đồng thường ế chồng, sát phu”.




Hồi chín năm chú Gàn làm tổ trưởng du kích. Chú giỏi chiến đấu nhưng học chữ quên trước quên sau. Cùng lớp bình dân học vụ, Chị Mịn trình độ lớp nhất, chú Gàn học lui học tới cũng chỉ biết đọc, biết viết báo cáo. Sai chính tả thì chị Mịn sửa. Chú Gàn thuộc lớp bần cố nông, đi giữ trâu cho ông lý trưởng, cha chị Mịn. Chú kể hồi nhỏ, chiều về đưa trâu vô chuồng xong là dắt chị Mịn ra giếng tắm . Da chị ngăm nhưng láng o. Chị hay cười ré lên một lần chú Gàn kỳ cọ chỗ kín. Chú còn kể chỗ kín của chị Mịn có nốt ruồi son, biểu hiện sức lực phụ nữ.
Có đêm chị theo tổ du kích của chú Gàn qua gần đồn Tây bên Thi Ông hò địch vận . Giọng hò chị loang trong đêm tha thiết nhắn nhủ:

Thiếu chi rau mà ăn rau Bát bát,
Thiếu chi bạc mà tiêu bạc Đông Dương
Thiếu chi người thương mà thương bảo vệ
Thiếu chi người tử tế mà lại lấy Tây…

Những tràng súng liên thanh từ đồn bắn ra như mưa, sau loạt súng chị lại từ hầm trồi lên hò:

Nước cạn thiếp xuống sông mò đam , bắt cá,
Nước nậy thiếp lên rừng hái rau má rau mưng,
Khuyên chàng quay súng lại để thiếp vui mừng,
Dù chàng ăn thiếp nhịn , chứ một hai hai một xin đừng theo Tây !

Chàng ra đi Bảo vệ , thiếp ở nhà châu lệ năm canh,
Chàng nghe ai nay dỗ mai dành,
Bỏ giang sơn tổ quốc dạ sao đành chàng ơi!

Đạn lại bắn ra đùng đùng cheo chéo. Chú Gàn ôm chị Mịn vào lòng động viên “đừng sợ, đừng sợ”, lại hò thầm thì vào tai chị Mịn: “Hò cho Tây về nước Tây, hai ta đi cấy đi cày nuôi con”. Chị Mịn sợ, khóc ướt vai chú Gàn. Chú Gàn học chữ không vô nhưng nói lối là ra thơ liền liền.




Chị Mịn ở cùng xóm, thường cõng Bình đi chơi. Chị cõng Bình vừa chạy vừa hô “xung phong…xung phong”. Ôm cổ chị, nghe hương bồ kết thoảng ra từ tóc, Bình thích lắm, cười sằng sặc. Đêm về mơ thấy chị ôm Bình ngồi lên lưng trâu, trâu chạy qua đồng , bơi qua sông. Rồi chị ôm Bình khóc nức lên “ Bình ơi đời chị khổ lắm, chị thương Bình lắm” . Sáng ra, trước khi đi học Bình chạy lên rú, về ghé nhà chị Mịn kể cho chị nghe chuyện chiêm bao khi hôm. Chị Mịn ôm đầu Bình. Bình giúi đầu vào ngực chị, hít hít mùi thơm hơn sữa mạ, rưng rưng.

Mạ kể hồi Bình một tuổi, đi cấy lúa mùa đông gửi Bình cho chị Mịn , mỗi lần Bình khát sữa chị Mịn hay cho bú. Bình đòi bú dù chị không có sữa. Bình mê chị cái gì đó không phải sữa.

Chị Mịn hay tập hát cho Bình. Thường là những bài đồng dao vừa hát vừa làm bộ điệu. Như bài xay lúa Đồng Nai. Chị đối diện bắt tay Bình xô tới kéo lui như xay lúa, rồi hát:

Xay lúa Đồng Nai
Cơm gạo về ngài
Tấm cám về tui.

Hoặc buổi chiều hai chị em đi ra đồng cùng hát bài:

Nghé ơi nghé ọ
Nghé đi theo chị
Được ăn được bú
Nghé đi theo chú
Được nhai rau khoai
Nghé đi theo ai
Cắt tai chắm mắm.

Chú Gàn cũng hay cõng chạy ngược gió Nam, cái chong chóng bằng lá dứa trên tay Bình xoay tít, nhưng không thích bằng chị Mịn. Bình là đệ tử chú Gàn trong chuyện tát cá bẫy chim. Ngóc ngách nào trong làng chú cũng biết.

Chú Gàn hát cho Bình nghe những bài nhạc được cải biên lời. Như bài Đèo Ba Rền, chú hát như sau:

Đèo là đèo Ba Rền, băng qua cái rương. Khi dắt chắc vô buồng mụ cười ôn la.
I xì cái đồ đàn bà, dắt chắc vô buồng cổi quần vắt lên phên.

Chú cười ha ha, vỗ nhịp vào đùi, nhún lên nhún xuống.

Hay là bài “ lời người ra đi”, chú hát:

Ngày nào anh chết đi, em cứ mua cho anh cái hòm. Chôn đàng hoàng. Rằng hết khó cũng đừng lấy chồng, rằng lúa khoai cũng còn vài sào, đừng lo chi cả em ơi.

Con của anh , đứa lên năm, đứa lên ba, đứa đang còn nằm ngả trong nôi, khoan lấy chồng tội lắm em ơi…

Chú nằm vật vã trên cát, hát đi hát lại mấy câu trên, mặt đỏ lên, nước mắt nhiểu ra hai khóe. Bình chẳng hiểu chú khóc cười chuyện chi.

Có lần Bình hát Đèo Ba Rền theo lời của chú Gàn, chị Mịn nghiêm mặt dặn “Bựa ni sắp lên không được đi chơi với chú Gàn, nhất là hát bậy theo chú là chị nghỉ chơi liền”. Bình sợ chị nghỉ chơi, nhưng vẫn trốn chạy dọi chú Gàn mỗi lần chú dắt chó đi săn, hoặc vác ú đi tát cá.




Hết bậc tiểu học, Bình theo gia đình lên tỉnh học trung học. Thành thị không làm Bình quên làng quên xóm được . Nhớ chị Mịn, nhớ chú Gàn quay quắt, cuối tuần Bình đạp xe mười lăm cây số về làng. Ban ngày đi tát cá bẫy chim với chú Gàn, tối về ngủ nhà chị Mịn. Miếng chi ngon chị Mịn cũng để dành cho Bình. Chị Mịn cho Bình ngủ trên tấm phản, mùa hè gió mát rượi. Nhà rộng thênh thang chỉ mình chị ở.

Mùa Đông năm Bình học đệ lục, về làng ngủ nhà chị Mịn. Đang đêm rét mướt bỗng nghe tiếng súng liên thanh từng nhịp ba phát;: “Đùng đùng đùng, hỡi các bạn anh em nghĩa quân, hãy bỏ súng đầu hàng, nếu kẻ nào ngoan cố chống lại thì sẽ bị tiêu diệt, đùng đùng đùng”. Bình sợ run bắn người, ôm mền chạy qua giường chị. Hai chị em ôm lấy nhau mà run. Tiếng súng và lời kêu gọi xa dần rồi im bặt. Chị Mịn nói thì thào: “Việt cộng đó, mai em lên sớm đi”. Chị ôm chặt Bình, cuốn mền lại. Chị kể cho Bình nghe chuyện lính Tây, hồi Bình chưa đẻ. Lính Tây ác lắm, đốt nhà hiếp dâm đủ hết… có người bị cả trung đội hiếp đến chết luôn...

Hơi ấm và mùi bồ kết làm Bình ngất ngây. Bình ngủ thiếp khi nào không biết. Chiêm bao Bình thấy mình đang bú chị, bầu vú sữa căng mọng, chảy tràn ra miệng. Bình nuốt ừng ực từng ngụm sữa, nghe da thịt râm ran kiến bò. Rồi Bình thấy toán lính Tây thằng đen thằng trắng dằn Bình khỏi tay chị, Bình khóc thét lên, cắn chặt núm vú, núm vú đứt vào trong miệng, Bình nhai sừn sựt, đắng ngắt. Mấy thằng Tây đè chị xuống, hết thằng này đến thằng khác hiếp chị. Chị nằm ngửa lõa lồ, hai chân dài màu cua đồng đạp đạp liên tục vào bụng thằng Tây, tay chới với vẫy về phía Bình... Bình la lên ú ớ… Chị Mịn đập vào tay Bình kêu “chi rứa, chi rứa”, Bình choàng tỉnh. Trời sáng tỏ. Hai chị em nhìn nhau thẹn thò. Chị bảo “lên sớm đi kẻo mạ trông”, rồi chị xoa đầu, nhìn Bình buồn buồn: “Lo học cho giỏi, bựa ni đừng về nữa, nguy hiểm lắm. Khi mô rảnh chị lên thăm”.




Năm 1966, một trận chiến xảy ra giữa bộ đội chính quy và lính nhảy dù. Bà con đứng nhìn về làng qua cánh đồng. Hai chiếc phản lực ném bom napan, lửa cuộn lên từng cụm. Từng mái nhà lần lượt bốc khói. Chú Gàn la lên: “Nhà con Mịn cháy rồi”, đến “ nhà thằng Thỉ cháy rồi”. Cả xóm chìm trong ngút ngàn khói lửa. Tiếng súng lớn súng nhỏ nổ rền, chỉ còn nghe tiếng ào ào, đến chiều tối mới dứt. Bà con tản cư bàn tán về số thương vong hai bên, nhà cửa xem như chẳng còn cái nào. Ai cũng lo cho chị Mịn, chị không chịu tản cư.

Bình trốn nhà đạp xe như bay về làng. Quân đội hai bên không còn ai. Mùi tử khí quằn quoại trong từng đợt gió Nam Lào, nhen lại những tàn lửa cháy. Bình và chú Gàn chui xuống căn hầm núp đạn nhà chị Mịn, không thấy ai. Chú gàn buồn buồn, giọng khàn đục: “Rứa là con Mịn đi theo bên tê rồi”. Bình đưa tay áo quệt nước mắt, thầm kêu “chị ơi, chị ơi… Chị đừng chết nghe, em thương chị lắm’.

Từ đó, cả vùng chữ nhất được chính quyền cũ gọi là mất an ninh. Bình không về làng nữa. Mỗi lần nghe đâu đó có xác nữ du kích là Bình hỏi thăm tên tuổi xem có phải chị Mịn không.

Năm 1972, cả thị xã Quảng Trị tan hoang. Bình đậu tú tài rồi bị tổng động viên đi sĩ quan Thủ Đức. Ra trường chọn vùng miền Đông Nam Bộ cho xa làng xóm. Mỗi lần chạm súng, hình ảnh chị Mịn lại hiện về, tay Bình run lên. Hành quân ngang cánh đồng Bình lại nghe cơ hồ giọng đồng chị Mịn đâu đó, khi xa khi gần, não nề da diết:

Nghé ơi nghé ọ
Nghé đi theo chị
Được ăn được bú
Nghé đi theo chú
Được nhai rau khoai
Nghé đi theo ai
Cắt tai chắm mắm

Những buổi chiều, gối đầu lên ba lô nhìn trời làm thơ, Bình cũng không quên hình ảnh chị Mịn:

Bìm bịp kêu mùa xuân trở lại
Tuổi thơ xoay chong chóng đường làng
Vệt trăng non rủ mây trời ở lại
Bóng chị lung linh, luống cải hoa vàng.



*


Sau ngày giải phóng Anh Tha về làng mang theo vợ con từ ngoài Bắc. Chị Mịn vẫn còn con gái, chưa một lần biết mùi đàn ông.

Chị Mịn thường thân thiện với Bình khi chỉ còn hai người. Trước mặt bà con chị khắt khe với Bình lắm. Bà con chia lúa rơm gánh về hết, chị đến gần bên Bình nghiêm giọng:

– Cậu coi chơ lúa mất nhiều lắm. Hôm qua đi họp chị bị phê bình là quản lý địa bàn không chặt.

– Bà con họ đói lắm rồi. Tui cũng biết chuyện xã viên ăn cắp nhưng tui có quyền chi mô.

– Là chị nói rứa. Mình kín đáo bảo ban nhau để trong ấm ngoài êm. Chia lúa rơm còn sống(5} thì tạm được. Nhưng ăn cắp bỏ vô túi là không công bằng, người nhiều kẻ ít, những người tự trọng lại thiệt thòi. Mai chị phải nói rõ điều này với bà con, cậu tuyên truyền trước với bà con đi nghe. Chị biết bà con quý mến cậu mà.

Trời cuối tháng tối đen, gió nồm thổi mạnh. Chiếc đèn dầu tắt ngấm. Hai chị em nói chuyện thủ thỉ. Chị Mịn thở dài:

– Cậu năm ni hai lăm tuổi rồi, lo mà đi hỏi vợ hỏi con đi là vừa.

– Ai ưng mà hỏi. Nông dân ít học thì ba mạ không chịu. Cán bộ giáo viên thì ai dám ưng mình. Chắc tui ở ri cho khỏe.

Gió nồm vi vút. Hai chị em ngồi bên nhau. Im lặng. Tóc chị Mịn bay vướng vào mặt vào cổ Bình nhồn nhột. Chị khoác vai, nói nhỏ vào tai Bình.

– Cậu có oán chị không. Cái ngày dẫn cậu đi cải tạo, chị phải làm mặt nghiêm với mọi người, chắc cậu hiểu chị. Đêm đó về thương cậu quá, khóc thầm cả đêm. Đời chị em mình da diết khúc nôi quá cậu hỷ. Chị hay lén gửi quà lên trại cho cậu, mạ có nói với cậu không.

– …

– Răng cậu im lặng rứa. Cậu khóc à. Con trai không được khóc. Sông có khúc, người có lúc cậu à… hức… hức…

Hai chị em ôm nhau. Nước mắt nhòe trên má nhau. Chị hôn lên má, lên cằm, lên trán Bình. Cuối cùng họ cũng hun mui nhau. Môi họ giựt giựt cảm xúc. Người họ nóng ran lên. Họ quằn quại. Họ rên xiết lăn lộn trên đống rơm. Con trai còn tân, con gái trinh nguyên. Họ say đắm vụng về. Bản năng dẫn họ đi xa. Tình yêu dẫn họ chạy về với ngày xưa: Có giấc mơ bú sữa, có cánh đồng hoang mang tiếng kêu nghé ơi nghé ọ…




Tin chị Mịn có mang lan nhanh cả làng cả xã. Người ta đoán non đoán già về tác giả cái bầu chửa hoang. Người bảo của chú Gàn, người nói anh Tha tiếc của đời bòn cho giòn(6), không ai nghĩ đến Bình. Những bà sồn sồn có dịp để châm biếm, bàn ra tán vào: “Hành hạ người ta nhiều rồi, đến lúc phải trả giá. Gieo chi gặt nấy. Để coi mai mốt họp làng con Mịn trả lời ra răng . Con mụ mần bộ mần tịch chơ còn chi nơi nữa,. Người nớ mà chung thủy với ai…”. Cả tháng nay chị Mịn không ra khỏi nhà.

Một tối Bình lội nước lụt lẻn qua nhà chị Mịn, chị đang ngồi vá áo dưới ngọn đèn dầu. Không ngước lên , chị nói:

– Cậu không nên qua đay mần chi, phiền cho tôi và cả cậu nữa.

Bình ngồi xuống bên, giọng run run:

– Em nghĩ kỹ rồi, hay chị em mình trốn vô Nam đi chị. Ở đó không ai biết mình. Đời sống trong Nam phóng khoáng hơn ở đây, chị nghĩ răng.

Chị Mịn ngước lên , mắt rưng rưng:

– Cậu dám không, khi mô đi.

– Khi mô cũng được, mạ cho em mấy chỉ vàng bảo vô trong Đồng Nai mà lập nghiệp, trong đó lúa gạo nhiều lắm, ở đây đi rà mìn hoài có ngày cũng chết. Em chuẩn bị hết rồi.

– Đồng Nai nhiều lúa gạo. Chị em mình đi xay lúa Đồng Nai. Có tấm có cám cùng ăn cùng sống…hức… hức…

– Dạ, mấy đứa bạn em gửi thư về nói trong đó heo cũng ăn cơm. Ăn chi cũng được, miễn chị em mình thương nhau.

– Nếu đi thì đêm ni đi liền. Tối mai làng họp để kiểm điểm chị. Chị sợ phải trả lời trước bà con lắm, có khi chị nghĩ chết quách cho xong đời.

– Dạ, ba giờ sáng có chuyến tàu. Nên đi sớm hơn, cứ đi như là không hẹn, lên tàu rồi tìm nhau.

Hai bóng đen cách nhau mấy cây số, họ đi lặng lẽ trong đêm, lội bì bõm trong nước lụt những đoạn bị ngập. Trời mưa lắc rắc, tối thui, xa xa le lói ánh đèn những người đi soi cá. Làng xóm chìm đi sau lưng, nhập nhòe sấm chớp.

Chị Mịn mang bầu đi từng bước dò dẫm. Trong bụng chị thằng Bình con đang lớn. Bốn tháng nữa nó sẽ ra đời. Nó sẽ bụ bẫm, sẽ bú chị mạnh bạo như thằng Bình ngày xưa. Nó sẽ năm sáu tuổi, sẽ cầm tay chị cười sằng sặc, chị sẽ đẩy lui đẩy tới hai búp tay có ngấn, hát bài đồng dao thuở ấy. Lần này chị sẽ tập cho con hát bài xay lúa Đồng Nai công bằng hơn, không như đời chị. Chị sẽ dạy con là: “Cơm gạo ăn cùng, tấm cám chia chung”… Nó sẽ bảy tám tuổi, nó sẽ chạy theo chị như con nghé, hát bài nghé ơi nghé ọ... Cha con nó sẽ theo chị suốt đời.



Nguyễn Đặng Mừng



(1) Trâu ỉa.

(2) Hôn nhau bằng môi.

(3) Một điệu nhảy của các anh vệ quốc đoàn với thôn nữ thời kháng chiên chống Pháp.

(4) Một bài hát chưa rõ xuất xứ, thường được hát ở vùng quê tôi trong thời kháng chiến chống Pháp. Có lần tôi hỏi, nhạc sĩ Phạm Duy cũng không biết. Trước đây tôi cứ tưởng của Phạm Duy hay Trần Hoàn mà không phải. Vị nào biết xin chỉ bày.

(5) rơm còn dính nhiều lúa.

(6) Kiếm thêm , tìm thêm kẻo uổng.
READ MORE - Nguyễn Đặng Mừng

Monday, October 6, 2008

HỒ SĨ BÌNH - LÊ ĐỒI THIÊN AN




LÊN ĐỒI THIÊN AN

Chiều nay em lên đồi cao
tìm mùa thu cũ
những trái thông khô đã thành quá khứ
cả ngọn gió xạc xào
cũng rủ nhau đi
em chờ mãi
nghe tiếng mùa đi thổn thức
dưới dấu chân mình vương vấn một loài hoa
nghe tiếng đập giữa hồn sâu thẳm
cứ thầm thì như cỏ biếc ngày xưa
em muốn phân bua
đắm mình cùng mộng tưởng
muốn giữ lại những bóng hình không thể giữ
như hoa sim hoa mua đâu nở trái mùa

ơi bé nhỏ một thời xa ngái
cứ hồn nhiên nhìn mây trắng ngang đầu
tóc vẫn ngắn như ngày xưa tóc ngắn
hương vẫn thầm như hương của chiều xa
ngồi đối bóng vàng rơi màu lá nhạt
mai mốt về
ngồi kể chuyện thiên an


Một số sáng tác khác:
(Bấm vào tựa bài để xem)

Gam màu vàng đỏ của Bằng
Họa sĩ Hoàng Đặng, đời vẽ tôi tên mục đồng
Họa sĩ Trần văn Mảng, những gì xưa cũ..."
Nguyễn Ngọc Hưng, từ một góc trời...
Bê thui cầu mống, danh bất hư truyền
Nơi dừng chân giữa đại ngàn
Gỏi cá Nam Ô
Con trâu của chú Sửu
Rượu làng chuồn
Nếp làng xưa ở hạ nguồn Hương Giang"
THƠ HỒ SĨ BÌNH
READ MORE - HỒ SĨ BÌNH - LÊ ĐỒI THIÊN AN

Sunday, October 5, 2008

Phan Quang

Tên thật: Phan Thanh Diêu

Năm sinh: 1928

Nơi sinh: Quảng Trị

Bút danh: Hoàng Tùng, Vị Hoàng, Yên Thanh, Hoàng Xá

Thể loại: Truyện, ký

Các tác phẩm:

Đất rừng (1955)

Hẹn cưới (1956)

Mùa xuân (1956)

Đất nước một dải (1975)

Một mình giữa đại dương (1984)

Chinh phục Hymalaya (1987)






Một Mình Giữa Ðại Dương



Tình cờ anh có dịp được làm người giạt tàu thật sự trước khi làm người đắm tàu tự nguyện. So với những gian khổ anh sẽ phải chịu đựng về sau, trong thời gian hơn hai tháng một mình phiêu giạt giữa Đại Tây Dương, chuyện không may này chỉ là trò đùa. Nhưng nó là một cơ hội tốt cho anh kiểm tra một chi tiết trong luận án của mình, nhỏ thôi nhưng cực kỳ quan trọng, vì nó nâng cao lòng tin của anh vào khả năng của con người sống còn trên biển. Một chiều
Chủ nhật vào tháng chín cùng năm ấy, một người bạn thể thao từng có dịp cùng anh tham gia một cuộc thi bơi qua eo biển Măng-sơ gọi dây nói mời anh cùng làm một chuyến dạo trên biển. Chả là anh bạn đang lái thử một loại xuồng cấp cứu mới chế tạo, có máy đẩy. Khoảng bốn giờ chiều, hai người rời bờ biển trên chiếc xuồng cao su. Biển lặng. Trời đẹp. Cảnh vật ấy làm anh bạn chợt nảy ý kiến :

“Này, hay là chúng mình đi quá sang Phon-xtăn chơi đi". Phon-xtăn là một thị trấn nhỏ trên bờ biển nước Anh, hai người vẫn thường qua lại như cơm bữa. A-lanh gật đầu. Thế là chiếc xuồng quay mũi hướng bắc tây bắc. Nhưng về chiều, sóng gió bỗng mạnh lên. Hai người vẫn cho chiếc xuồng con cập bến Phon-xtăn an toàn dưới ánh sáng các ngọn đèn biển. Thời tiết mỗi lúc một xấu hơn. Hoá ra có một cơn bão vừa hình thành ở biển Bắc mà hai anh không theo dõi. Sáng hôm sau, sóng to gió lớn. Mọi người đều thấy ra biển lúc này với chiếc xuồng con thì quả là chuyện điên rồ. Đành phải chờ thôi. Song chờ đến tối gió vẫn chưa dịu bớt. Mà anh thì phải có mặt để trực ở bệnh viện. Mặc cho bạn bè can ngăn, chín giờ sáng hôm sau, hai chàng trai cứ đẩy xuồng khỏi bến giữa lúc sóng lớn chưa ngừng. Kể cũng phiêu lưu thật đấy. Nhưng, xét về một mặt nào có liên quan đến cuộc thực nghiệm lớn mà anh đã bắt đầu ôm ấp trong đầu, thì chuyện phiêu lưu này cũng có mặt hấp dẫn của nó. Có người đắm tàu nào được phép chọn thời tiết đâu, anh nghĩ. Hơn nữa, chính vào những lúc mưa ngập sóng dồn thì mới nên đưa ra thử thách những loại phương tiện cấp cứu mỏng manh như chiếc xuồng cao su mà nhà chế tạo định cho sản xuất hàng loạt và tung ra thị trường. Biển vắng teo, mặc dù Pa đơ Ca-le ngày thường là một tuyến giao thông đường thủy cực kỳ tấp nập. Nhiều lần hai chàng trai suýt bị sóng vùi, nhưng lần nào chiếc xuồng cũng bám biển. Đến sáu giờ chiều, nó mới cập được bờ. Cuộc đi thử thành công.

Trên bờ biển nước Pháp, một người đàn ông chờ sẵn. Đó chính là một nhà chuyên môn nổi tiếng về cấp cứu đường thủy. ông bạn mới này, một người quốc tịch Hà Lan, gợi ý sẽ cấp cho anh học bổng để làm nghiên cứu sinh ở một viện hải dương học, nhằm tạo điều kiện cho anh hoàn thiện lý thuyết về khả năng sống còn của những người gặp nạn đắm tàu. Anh sẽ tìm hiểu vấn đề ăn uống của người đi biển. Sau đó cả ba người: A-lanh, người bạn thể thao và nhà chuyên môn này, sẽ cùng ra biển, cùng sắm vai những người đắm tàu. Kết quả công trình tập thể của họ sẽ là một đóng góp giúp cho những ai sau này chẳng may đắm tàu tránh được tuyệt vọng. Mọi chi phí sẽ do ông bạn mới đài thọ. Ba người nhất trí chọn Viện hải dương học Mô-na-cô làm nơi anh sẽ đến xin nghiên cứu. Chuyến ra biển sẽ thực hiện vào khoảng cuối năm, sau khi anh hoàn thành phần công trình trong phòng thí nghiệm.

Trước khi đi Mô-na-cô, A-lanh và người bạn thể thao rủ nhau cùng sang Anh dự đám cưới một người bạn gái. Một ngày đầu tháng mười, vẫn trên chiếc xuồng cao su ấy, hai người bạn được giao dùng thử một loại máy đẩy mới ra xưởng. Vừa ra khỏi bờ chừng ba hải lý thì máy hỏng. Vì chỉ dự định làm một cuộc đi ngắn, chiếc xuồng không mang theo buồm sự phòng hoặc phương tiện chèo chống nào khác. Thế là đành để mặc cho gió giạt, tới đâu thì tới. Mùa ấy, gió bắc đông bắc thổi đều đều. Chiếc xuồng con lênh đênh suốt hai ngày ba đêm. Gió đẩy nó ra xa bờ đến mức không nhìn thấy đất liền. Nhưng hai người vẫn yên tâm vì biết rõ bờ biển nước Pháp khúc này lõm vào theo hình cánh cung, cứ để gió giạt theo hướng này thế nào rồi cũng sẽ gặp lại đất liền. Mãi đến chín giờ sáng ngày Thứ ba, kể từ hôm ra đi, hai anh mới được một chiếc tàu đánh cá cứu. Suốt hai ngày ba đêm, người bạn cùng đi không uống một giọt nước. A-lanh thì mỗi lần quá khát, lại nhấp một ngụm nước biển. Anh tin rằng uống nước biển với lượng ít như vậy chẳng có hại gì cho cơ thể. Về thức ăn, may mắn sao, trên xuồng tình cờ có nửa ki-lô-gam bơ. Hai người nhấp nháp tí chút, nhưng loại thức ăn này không thể thay thế nước giải khát. Leo lên tới chiếc tàu đánh cá, người bạn nốc một hơi liền cả một vò nước ngọt. Ngỡ mình đang thèm nước, anh cũng định làm như bạn. Nhưng, vừa uống được vài ngụm, tự nhiên anh dừng. Không phải anh khát thật, mà chỉ có cảm giác khát thôi. Quả vậy, nhờ có uống từng ít nước biển một, cơ thể anh không bị mất nước, do đó không cần nhiều. Thì ra yếu tố tâm lý tác động sâu sắc tới cơ thể, tạo ra những cảm giác và nhu cầu giả tạo. Sự việc không may ấy chẳng làm cho sức khoẻ hai chàng trai giảm sút. Họ vẫn còn đủ tươi tỉnh lao ra sân bay kịp sang Anh dự lễ cưới bạn. Hậu quả duy nhất của tai nạn ấy là anh bị các nhà chức trách duyên hải gọi đến chất vấn và dọa đưa ra tòa truy tố về tội dám ra khơi mà không xin giấy phép. Sự kiện nhỏ nhặt này về sau suýt nữa biến thành một trở lực thật sự có khả năng làm hỏng cuộc thực nghiệm của anh ngay trước khi nó được tiến hành.

PHAN QUANG


http://maxreading.com/?chapter=8072



BÀI VIẾT LIÊN QUAN ĐẾN PHAN QUANG

Đọc Bên mộ vua Tần của Phan Quang
06/08/2004



Phan Quang là tác giả (và dịch giả) của hơn 25 cuốn truyện, ký, tiểu luận, chân dung văn học và báo chí đã xuất bản 50 năm qua (từ 1954 - 2004).


Một số tái bản nhiều lần như: Một mình giữa đại dương, hoặc Đồng bằng sông Cửu Long. Bản dịch Nghìn lẻ một đêm của ông in đến lần thứ 18. Gần đây, qua tập Bên mộ vua Tần, NXB Thuận Hóa, quý II-2004, nhà báo kỳ cựu Phan Quang tập hợp 17 bài ký về đất nước Trung Hoa bao la qua các địa danh nổi tiếng: Bắc Kinh, Thiên Tân, Thẩm Dương, Thiểm Tây, Tây An, Giang Tô, Nam Kinh, Thượng Hải, Hàng Châu, Tô Châu, Quảng Châu, Tứ Xuyên, Trùng Khánh...

Nơi đâu ông cũng tìm gặp "dấu tích một nền văn hóa". Nhất là khi dấu tích đó gợi lên mối liên hệ xa gần tới văn chương nước ta. Ông cảm nhận những giao lưu và tác động đậm đà giữa hai nguồn văn hóa trong dòng chảy ngọt ngào và sống động của lục bát Việt Nam: Triều đâu nổi tiếng đùng đùng. Hỏi ra mới biết rằng sông Tiền Đường. Hiện tượng triều dâng, xua nước sông chảy ngược và tạo nên sóng lớn dữ dội ở cửa sông Tiền Đường tỉnh Chiết Giang là "đặc biệt hùng tráng và ngoạn mục. Ngọn triều lớn nhất trong năm xảy ra vào dịp Trung thu nên người thành phố Hải Ninh (Chiết Giang) tổ chức "Ngày hội quan triều (xem triều" hằng năm, tới nay hội này thành điểm cao của mùa du lịch". Ông đến Hải Ninh dự ngày hội ấy, cùng mấy vạn người đổ về cửa sông Tiền Đường, để "đón triều lên" theo dự báo. Đúng là triều đến, với làn sóng trắng đục hiện lên rất xa, vắt từ bờ này sang bờ kia. "Quang cảnh hùng vĩ ấy diễn ra gọn trong mười một phút" (Triều sông Tiền Đường). Những cảm xúc khác được Phan Quang ghi lại qua: Tây Hồ mùa thu, Nhà cũ Lỗ Tấn, Đường vào đất Thục… Trong đó, Trầm ngâm bên mộ vua Tần, theo chúng tôi, là bài ký sâu lắng nhất toàn tập. Bài này nhắc đến Tần Thủy Hoàng khi sống cất quân thôn tính sáu nước, lập nên đế chế phong kiến đầu tiên ở Trung Hoa, khi già lại phải chịu thất bại trước luật sinh tử, dầu đã phái người "lên núi xuống biển tìm thuốc trường sinh, song cái chết vẫn là cái chết, nó không nể vì quyền uy". Đối mặt với thực tế đó, Phan Quang trở nên "trầm ngâm trước sự nhỏ bé về tầm vóc, về sự ngắn ngủi trong đời sống con người… so với chiều dài lâu của lịch sử và sự trường tồn của nhân dân".

Giao Hưởng

www4.thanhnien.com.vn/Vanhoa
READ MORE - Phan Quang

MẸ TÔI - Tản văn của Mai Lĩnh




Mẹ tôi
Mai Lĩnh

Người thầy đầu tiên, người đã giáo dục tôi làm người là một phụ nữ mù chữ. Đó là mẹ tôi. Càng lớn khôn, từng trải, tôi càng nghiệm ra mẹ là người-thầy-suốt-đời của tôi. Ơn sinh thành tựa trời biển, ơn dưỡng dục càng lớn lao vô vàn.

Mẹ tôi sinh ra trong một gia đình nông dân ở vùng quê nghèo ven sông Hồng, bên bờ Hát Giang - một con sông chỉ còn lưu lại tên tuổi trong sách vở - đã bao đời sống nhờ lúa, ngô, khoai. Mẹ tôi không được học hành, không biết lấy một chữ trong quyển Tam tự kinh, không ráp được vần với những con chữ A, B, C… trong sách quốc ngữ; mẹ tôi chỉ được học làm người bằng lời dạy của cha ông và tiếp thu kiến thức qua những câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ trong kho tàng văn học dân gian. Thế thôi.

Vậy mà cuộc sống lặng lẽ, giản dị của bà lại thể hiện bao điều mà tôi đã mất thì giờ tìm tòi, nghiền ngẫm những điều tưởng như cao siêu trong sách vở.

Không một lời răn nào cho con cái về nền nếp, gia phong, không một lời khuyên các con về ý thức trong quan hệ gia đình và xã hội, nhưng cách sống của mẹ tôi đã giúp con cái hấp thụ những bài học từ tấm gương của bà. Một tấm gương về đức "nhẫn" và hạnh “trên kính, dưới nhường”.

o0o

Những thành tựu khoa học, kỹ thuật luôn hứa hẹn đem lại cho loài người một cuộc sống văn minh, một xã hội công bằng. Lao đầu vào học tập để mong có một cuộc sống khá hơn về nhiều mặt so với thế hệ cha ông là điều biết bao thanh niên hằng mong, ấp ủ. Rồi lại lao vào đời với những tính toán khôn ngoan để giành phần thắng trong cuộc sống, hầu mong đạt sở nguyện hay lấp đầy tham vọng. Đến một lúc nào đó, bỗng dưng người ta thấy hụt hẫng khi nhìn lại mình.

Mỗi lần như thế, tôi lại chợt nhớ đến hình ảnh người mẹ suốt đời lặng lẽ sống, lặng lẽ hy sinh. Hy sinh cho gia đình, cho chồng, cho con dường như là lẽ sống, là cách để bà vượt lên trên những hỷ nộ ái ố trong cuộc nhân sinh. Hy sinh - đó là từ tôi nói về mẹ - nhưng tôi chắc một điều là chính bà không hề nghĩ đến chuyện hy sinh mà coi đó như một lẽ thường, cái lẽ sống không cần phân tích, lý giải; và biết đâu, bà đã tìm thấy hạnh phúc của người “tri túc”. Điều này thật không dễ nhận ra.

Mẹ tôi đã sống giản dị đến mức tẻ nhạt, nhưng tôi đồ rằng không dễ dàng để có thể sống như thế. Phải chăng, văn hóa nông thôn Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX - mà ngày nay chúng ta thường nhìn về thời ấy với vẻ thương hại, tội nghiệp cho sự lạc hậu của xã hội ngày ấy - đã tạo ra cái hạnh sống giản dị như mẹ tôi? Có thể bà đã không thể sống giản dị như thế nếu được học hành và đọc được những tư tưởng, học thuyết trong sách từ Khổng, Lão... đến Marx, Engels hay Sartre, Heghen, Krisnamurti, Hermann Hesse v.v...

Mọi thứ triết lý ấy chỉ có tác dụng để cho con người cãi nhau suốt đời, chẳng ai chịu ai... để thỏa mãn cái sân si "chỉ mình tôi đúng" của con người. Chưa kể chuyện người ta nhân danh "triết lý", "chủ nghĩa" này nọ để xúi đồng loại giết nhau vì không chịu quy phục.

Cập tuổi lục tuần, mồ côi mẹ gần 30 năm rồi, tôi như vẫn bơi giữa biển u mê về cái lẽ sống đơn giản của mẹ tôi. Thêm một mùa xuân, lại thêm một tuổi, tôi viết những dòng này như một nén hương tưởng nhớ mẹ với sự hổ thẹn của một người con - vẫn tưởng là mình may mắn hơn mẹ - vì từng được cắp sách đến trường.


(Nha Trang - Xuân Ất Dậu)






XEM TIẾPPhoto Gallery 1
READ MORE - MẸ TÔI - Tản văn của Mai Lĩnh

Thursday, September 25, 2008

THÁI ĐÀO - LOÀI HOA TRẮNG



Loài hoa trắng
Truyện ngắn


Họ đã đi rồi. Những người từng cưu mang tôi một thời đã bỏ đi Mỹ theo diện HO rồi. Tôi một mình lang thang trở về lều chợ. Con Khờ đứng ở cổng chợ chờ tôi. Nó đưa tay vẫy vẫy. Bây giờ người thân thích còn lại của tôi la nó, con mắt nó cũng đượm buồn. Nó đưa mắt hướng về đường cái, quốc lộ. Tôi hiểu, nó cũng xót xa vì những người ra đi.


Con Khờ đưa cho tôi những củ khoai luộc chín. Tôi lắc đầu. Sáng nay dì tôi cũng bới theo những củ khoai luộc chín. tôi thấy hai bàn tay chìa ra với những củ khoai sao mà giống nhau lạ. Có cái gì của nỗi u buồn và cay cực, có cái gì của sự hao hụt và cam đành. Cầm lòng không đậu, tôi nắm lấy tay nó đặt lên ngực tôi. Tim tôi đập trong nỗi thổn thức của bàn tay nó run run.


Đã sống lâu với con Khờ trên bãi chợ của phố huyện này nên tôi hiểu nó. Tôi thương nó. Nhưng chưa bao giờ tôi cảm thấy cần nó như sáng hôm naỵ Sáng hôm nay tôi bơ vơ, lạc loài. Sáng hôm nay tôi thực sự chẳng còn ai ngay trên quê hương xứ sở của mình. Tôi chỉ còn mỗi con Khờ là người thân thiết. Tôi nắm lấy tay nó mà mặt còn ngó tới đâu đâu. Ngó tới tít tắp con đường, nơi những người từng cưu mang tôi rũ bỏ xứ sở ra đi.

- Đừng có khóc, để tôi kể chuyện cho anh nghe.

- Ừ kể đi, lại chuyện đời xửa, đời xưa.

- Không. Xí quẹt vào chuyện đời xửa, đời xưa. Chuyện sáng hôm nay hay hơn nhiều.

- Ừ... kể đi.

Nó mím môi, ngoảnh đầu chỉ về phía ngôi nhà gạch bên hông chợ. Tôi hiểu nó nói đến thằng quân sư quạt mo chạy mánh, kiếm rượu, kiếm thịt phường chợ búa.

- Hắn làm gì ?

- Đổi một bộ tam sự bằng đồng có ba chục lon gạo của một người mới từ vùng ngoài chuyển vào. Bây chừ hí hứng trúng quả.

- Rồi sao nữa ?

- Khi đổi lão chê đại nhưng người ta cúi đầu mà đổi. Bây chứ, hắn đang đánh bóng lại, hả hê đặt lên bàn thờ nhà hắn. Hắn gật gù ăn ý lắm.


Tôi cưới ngao ngán mà không nói gì. Tôi biết con Khờ cũng ghét hắn. Cái thằng không biết nên nết. Cặp mắt dê cụ chăm nhìn đàn bà con gái thiếu đường muốn lột hết quần áo người tạ Bao nhiêu lần nó đã nhổ toẹt nước miếng vào mặt hắn, coi khinh. Thế mà hắn vẫn cười khề khề, thích thú ngắm nhìn cái thân thể nở nang mới lớn của nó.


- Hết chưa ?

- Chưa.

- Thằng Hải Râu đồ tể lại vớ bở, mua rẻ mấy con lợn bự chác.

- Cũng của mấy người chuyển nhà...

- Ừ, bây chừ bọn chúng đang nhậu mừng trúng mánh.

Tôi chọc nó.

- Em nhập hội trúng quả với nó đi !

Nó bĩu môi dài thượt :

- Xí quẹt.

Tôi chăm chú nhìn nó. Nó mang tiếng là con Khờ nhưng bao giờ nó cũng sạch sẽ. Sáng nào nó cũng có mặt ở chợ này. Nó đón tôi. Cười với tôi. Phường kẻ chợ đã cặp đôi tôi với nó. Một thằng quét chợ và một con khờ sống giữa chợ. Điều đó cũng được thôi ! Cái đáng nói là lai lịch của nó. Một lai lịch mịt mờ, khó lần ra gốc gác. Một lai lịch thâm u, buồn bã, khó để biết được cội nguồn.

Có lẽ nó là kết quả của một mối tình vụng dại nào đó. Hay là quả trái của một trận hứng tình nào đó của một thằng cha và con mẹ nào đó, để rồi bê nó ra vất bên bờ sông mặc kệ với cuộc đời trắng đen, trong đục thế nào. Nó được một mụ già ăn xin, cô độc nhặt được. Mụ già đem nó về nuôi. Và nó thừa hưởng của mụ ăn xin đó cái vốn liếng ăn mày, nghèo kiệt. Suốt từ tuổi thơ đến khi chập chững bước vào đời, nó vẫn chỉ là con Khờ đi giúp việc kiếm ăn giữa chợ. Mụ già chết. Nó tứ cố thân cộ Nhưng bãi chợ vẫn là quê hương xứ sở của nó.

Tôi nhìn nó. Nó cúi đầu bẽn lẽn. Tay nó vân vê cánh hoa trắng. Cái cành hoa này tôi nhặt được ở cửa hàng bách hóa năm xưa. Không biết để làm gì, tôi đem cho nó. Và nó giữ mãi, nó đeo lên tóc, lên ngực cho đến tận bây giờ.

Nó nói nhỏ nhẹ :

- Cái hoa trắng này khi nào cũng đẹp.

Tôi gật đầu đồng ý với nó, dẫu cái hoa trắng kia là hoa nhựa.

Bỗng dưng nó đập nhẹ vào vai tôi, má ửng hồng lên rồi chạy vụt đi. Lòng tôi cũng có chút gì mang mang về nó. Tôi đưa mắt nhìn theo.


2


Khi những người từng cưu mang tôi ra đi, tôi không còn ngôi nhà nào để trở về nữa. Làng quê tôi bên kia dòng sông, nơi bạt ngàn một màu lau trắng.

Ngày ngày tôi qua sông để lên bãi chợ bằng một con đò. Nhưng từ nay bãi chợ là nhà. Tôi không còn nơi chốn để trở về. Trước khi đi, dì tôi cho tôi hai chục đồng phòng khi có cơ sự. Bây giờ, tôi trở về khu bãi chợ của tôi. Thật khó có ai cưu mang, bao bọc được ai. Lòng đau nhưng phải đành lòng làm vậy. Tôi sống bằng nghề quét rác, làm vệ sinh chợ. Tự tôi nuôi tôi bằng những hạt cơm nghèo khó. Ai gọi gì tôi cũng làm giúp : bổ củi, gánh nước, lợp nhà, che quán, sử quán, đắp nền...

Từ đây, đêm đêm tôi ở lại trên bãi chợ. Và tôi cũng cảm thấy thân phận mình cũng thuộc loài sống vô gia cư và chết vô địa táng. Hàng đêm, giữa những lều quán xiêu vẹo tả tơi, tôi nằm gác tay, ngửa mặt nhìn trời, đăm chiêu nghĩ ngợi.

Chợ một thời bị bỏ bê, thu hẹp cho nó tả tơi rách nát. Nhưng rồi người ta cũng phải chui vào đó để đổi trao, mua bán. Bởi vì, còn sống còn ăn, còn tiêu dùng, còn may mặc thì phải còn bãi chợ dù dưới dạng này hay dạng khác, cao cấp hay bần hàn. Còn khu chợ thì tôi còn sống được. Tôi cảm ơn nó và tôi thù ghét ai đòi phá chợ.

Chợ là nhà cửa của tôi, là đất thánh của cõi hồn tôi, là chốn vĩnh hằng của cuộc đời ghẻ lạnh, côi cút, đơn độc của tôi. Tôi ngồi ngậm điếu thuốc phì phèo trên môi. Con Khờ mang tới cho tôi bát nước chè xanh với mấy củ khoai luộc. Nó lại mỉm miệng cười.

- Sao lại không ăn cơm. Ăn khoai mãi thế ?

Nó lắc đầu :

- Không đủ tiền ăn cơm.

Tôi cảm thấy tôi nghiệp cho nó. Nó vừa đi hát dạo vừa đi xin, vừa phụ việc cho những người buôn bán giữa chợ. Đồng tiền nó kiếm được cũng ít ỏi như những đồng tiền tôi kiếm được. Nó hào phóng với tôi bằng tất cả tấm lòng nó. Nó khờ dại chốn chợ đời mà chân chất chốn trái tim. Tôi thương nó như thương một phần thân thể của tôi, một phần rách nát, tả tơi của số kiếp tôi. Tôi chụm đầu với nó, ăn những bữa ăn nghèo khó. Tôi thấy cay nồng mùi vị hạnh phúc góp nhặt giữa chốn trần ai. Tôi thấy thảm cỏ hạnh phúc của mình nhiều lắm cũng chỉ chừng ấy thôi mà bao la, bất tận...

- Cả ngày nay anh ngồi thừ... đau phải không ?

Tôi gật đầu chỉ vào trái tim mình. Nó gật đầu và hiểu.

Ngôn ngữ của hai chúng tôi vỏn vẹn chỉ có thế. Ngắn ngủi vài dòng mà bề dày, bề sâu thì vô kể. Con Khờ đưa cành hoa trắng trên mũi. Nó hít hà mùi hương tưởng tượng :

- Em giữ nó suốt đời em...

- Vì sao ?

- Vì của anh tặng em.

Tôi lại lặng người đi và ngồi nhìn cái thân thể mới lớn của nó. Có lẽ cũng gần kịp tới hai mươi. Tuổi của một người con gái vào đời, ươm mộng. Nhưng mà với một con Khờ thì cái một nó ươm là gì nhỉ ? Có lẽ cũng như tôi thôi. Một thằng quét chợ, quát tàn hết rác rưởi một ngày rồi ngồi thở dốc, nhìn khói thuốc baỵ Nó sẽ nhảy múa ăn xin, quàu quặt giúp việc cho những người buôn bán, tàn hết một ngày rồi thơ thẩn dạo bờ sông.

Tôi cười nắm tay nó.

Nó gật đầu và im lặng nhìn sâu vào trong mắt tôi.

- Thằng trấn lột đêm qua lại được mánh.

- Vụ gì ?

- Mấy người buôn lậu hàng Lào về, họ tắt đường qua khé Rú bị bọn thằng trấn lột mai phục cướp sạch hàng.

Nhắc đến thằng trấn lột là tôi nổi gai ở xương sống và khó chịu ở trong người. Nghe đâu xưa kia nó là võ sĩ, đã từng thượng đài, đấu đá mấy trận ở miền Trung và miền Nam. sau một thưở kỳ hồ, lang bạt, bây giờ hắn trở về quê hương xứ sở của hắn. Người ta nể danh tiếng thưở xưa, mời hắn ly trà đá, chén rượu, bữa nhậu... Hắn đổ đốn bởi thói hoang đàng xưa cũ, bắt đại những thằng có máu mặt. Hắn mời vào quán nhậu, nhưng chưa một lần hắn trả tiền cho những mâm nhậu kiểu đó. Người ta kiềng mặt hắn mà vân anh anh, em em với hắn. Hắn xâm đầy mình những hình đàn bà ở truồng. Thỉnh thoảnh hắn đánh quả áp phe hay trấn lột gì đó rồi trở về hiền từ ngồi bên gốc quán với be rượu nhìn đời mặc kệ trôi qua.

Tôi ghét cái bản mặt của hắn. Nhưng mà sợ hắn. Hắn có thể đấm một quả đấm đến tan xương nát thịt người tạ Hắn trấn lột ngay cả tôi. Thỉnh thoảng hắn rờ nắn túi áo, túi quần của tôi. Có đồng nào hắn bảo tôi đi mua rượu đãi hắn. Tôi thù hắn mà không làm gì được.

Nghe con Khờ nhắn đến hắn, tôi lắc đầu :

- Kệ chúng, đừng xí vào chuyện chúng mà chết !

Con Khờ lè lưỡi ra giễu tôi rồi cười khì khì.


3


Vầng trằng như vỡ ra, xác trôi bềnh bồng trên dòng sông lạnh ngắt. Tôi ngồi gục đầu bên dòng sông. Mặt tôi sưng húp bầm tím. Thân xác tôi rã rời, mệt lả. Cổ họng tôi khô đắng. Tôi ngó mãi dòng sông trôi...

Tôi ngó mãi xác con trăng bồng bềnh. Cái màu vàng ủi trôi lên dạt xuống như muốn tấp vào bờ, như muốn xô dạt ra xa làm tôi kinh hãi. Tôi tưởng như xác con Khờ còn đâu đó trong dòng trăng tan nát. Nó chết rồi. Nó nhảy xuống dòng sông. Thân xác nó người ta vớt lên và chôn cất ngày hôm qua, nhưng mà với tôi, mãi mãi nó vẫn còn đâu đó trên bến chợ, trên bãi sông và dật dờ ẩn hiện trước mặt tôi.

- Khờ ơi ? Tôi là thằng tồi. Tôi là một thằng không xứng đáng làm đàn ông.

Bỗng dưng tôi muốn khóc, khóc cho vơi nỗi buồn. Khóc cho dịu cơn đau...

Bọn chúng có ba thằng say rượu, đã thay phiên nhau hãm hiếp con Khờ ngay trước mặt tôi. Tôi là một thằng đàn ông không làm gì được để cứu nó. Tôi còn bị chúng đánh cho nhừ tử để đến bây giờ những vết bầm vết tím vết sưng còn mưng mủ trên da thịt và ngay cả trong cõi hồn tôi.

Tôi vò đầu vào hai bàn tay chảy máu.

Hai hàm răng tôi nghiến lại. Tôi muốn cắn nát cả cuộc đời, cắn nát cái đêm ô nhục đau thương. Vù vù bên tai tôi tiếng gió. Tiếng gió đập lên lều quán xiêu vẹo tả tơi. Con trăng bị đám mây che khuất. Mưa phùn rơi lất phất. Tôi choàng thức dậy bởi tiếng la của con Khờ. Tôi vùng dậy chạy tới cái quán nước của người đàn bà què, bán nước chè xanh để sống qua ngày ở góc chợ. Hôm nay bà về quê để tiễn những người bà con thân thích đi vào Nam. Con Khờ ở lại một mình. Hồi hôm tôi đã ngồi kể chuyện đời xửa đời xưa với nó ở đó. Nó đuổi tôi về khi khu chợ đã vào khuya. Tôi bâng khuâng ra về, và chui vào cái sập hàng của mấy mụ hàng rong. Tôi nằm bên những thùng ruốc thùng mắm mà ngủ.

Tôi thức dậy và nghe rõ ràng là tiếng la của con Khờ. Nhưng bây giờ nó có vẻ khác lạ; như ai đó đã bịt mồm bịt miệng nó lại và nó cố chống trả. Tôi lao thẳng tới đó. Và kịp khi tôi xông vào, một cú đấm như trời giáng nện xuống vai tôi. Tôi ngã sấp. Mặt đập vào nền chợ. Máu mũi chảy ra. tôi kịp nhìn lên và thấy bọn chúng. Thằng võ sĩ chuyên nghề trấn lột. Thằng đồ tể mổ heo. Và thằng bán hàng rong lẻo mép, theo đóm ăn tàn chuyên tiêu thụ hàng gian phi.

Bọn chúng đang lột hết quần áo con Khờ ra. Bọn chúng dận khăn vào miệng con Khờ cho nó hết la hét. Bọn chúng, thằng cầm tay, đứa cầm chân dằn ngửa con Khờ ra trên cái nền đất xám xịt. Tiếng con Khờ thở dốc, vùng vẫy. tôi nghiến răng vùng dậy. Một cú đá làm tôi bật ngửa. Thằng võ sĩ giọng lè nhè mùi rượu :

- Nằm yên, nhỏ. Tao đập bể họng mày bây giờ.

Và hắn đạp một chân lên cổ họng tôi đến nghẹt thở.. Tôi đã biết giá trị bàn chân của hắn. Tôi đau đớn phẫn uất. Cả vùng da thịt con Khờ phơi bày ra trắng toát, phì nhiêu như một vùng châu thổ. Ôi những đứa mất nết, đốn mạt, dâm bôn. Ôi những đứa phi luân, mất dạy. Một lũ cường đồ chè rượu. Nó phá nát cái thiên đường ngà ngọc của tôi. Nó biến miền đất hứa của tôi thành vũng sâu đọa lạc. Nó làm tôi điêu đứng khổ đau. Tôi thà chết với nó. Tôi đạp tung hai chân và vùng dậy. Nhưng lần này lại là thằng đồ tể. Nó đá ngược tôi với một tuyệt chiêu như từng vật bò, hạ heo. Nó dí vào miệng tôi mũi dao nhọn :

- Tao sẽ thọc hết con dao này vào miệng mày như thọc heo vậy.

Mồ hôi vã ra. Mũi da dí vào miệng tôi đụng tời bờ răng. Hắn là chuyên gia giết mổ. Có bao giờ ghê tay một cú đâm thọc đâu. Tôi trở nên bất lực, yếu hèn, nằm im thin thít và khổ đau nghe tiếng thở phì phì của bọn chúng và tiếng nấc tức nghẹn của con Khờ.

Sau cùng thằng bán hàng rong, loài theo đóm ăn tàn, giải quyết việc tôi, hắn nện vào mặt tôi một đấm. Bình thường hắn là thằng ốm o, nhu nhược, nhưng khi có cơ hội, theo bè, theo cánh, đánh hùa, đánh hôi thì hắn là một thằng ác độc, ti tiện nhất. Hắn đấm thẳng tay và liên tục. Hắn vừa đấm vừa lè nhè :

- Mày phải biết giữ kín chuyện này, lép bép là tụi tao làm thịt mày không thương tiếc.

Tôi muốn rên lên mà không được, một thằng lấy giẻ bịt miệng tôi. Nó cũng lột hết quần áo của tôi và vất nằm bên con Khờ, để cả hai trần truồng như nhộng. Đó là kế nhằm đánh lận con đen, gây hỏa mù với thiên hạ.

Tôi biết được ý đồ đen tối của nó. Tôi gắng đau lết dậy khi chúng đi rồi. Trên vùng ngực hoen ố, nát tan của con Khờ tôi bỗng bật khóc, tấm tức như một kẻ mất hết gia tài vốn liếng của đời mình. Tôi đau xót lau chùi những vết máu lấm với đất bùn nhơ bẩn, hoài thương trinh tiết một đời người.

Phương đông hừng sáng. tôi đắp cho con Khờ những manh áo còn sót lại. Nó khóc nức nở mà không nói gì. Tôi lần mò ra bờ sông, rửa mặt, rửa những vết thương bầm tím.

Ba ngày liền con Khờ im lặng không tha thiết gì đến chuyện ăn uống. Nó lảnh tránh tôi. Nó không còn đem đến cho tôi những bát cơm, những củ khoai, những miếng kẹo, những bát nước chè xanh. Ba ngày liền nó thẩn thờ tìm kiếm trên khắp nền đất chợ, trong những đống rác. Nó bươi cào. Nó lục lọi. Nó kiếm tìm cái bông hoa trắng mà trong cái đêm khốn nạt đó, lũ cường đồ đã làm tan nát và ném mất đi đâu. Nó rầu rĩ, lặng câm như người mất trí. Nó không còn hát, còn ca, còn ngửa tay xin tiền như mọi bữa. Tôi đau khổ ngồi nhìn nó. Tôi và nó không có đứa nào dám nghĩ đến chuyên thưa báo với chính quyền. Chúng tôi làm thế nào mà thưa kiện được chúng nó.

Tôi ngồi xua đuổi những con ruồi, con nhặng bay vo ve trên những vết mưng, vết mủ. Ba ngày liền tôi cũng không đói. Nhưng cái đang hành hạ tôi lúc này là tôi không biết làm sao an ủi được con Khờ.

Sáng hôm qua tôi lên cửa hàng bách hóa, tìm mua một cành hoa trắng đẹp nhất. Tôi tìm nó ở sau bãi chợ và trao cho nó, thế cái bông đã mất. Nó lắc đầu :

- Không phải cái bông này. Cái này là đồ "dỏm".

- Cái kia cũng bằng nhựa mà.

- Nhưng anh đã cho em đã hai năm rồi. Hồi đó anh dễ thương và thương em lắm. Em giữ nó mãi. Không cái nào thế được đâu.

Tôi lặng người đi :

- Nhưng cái này cũng của anh cho em mà.

Nó lắc đầu :

- Anh bây chừ không phải anh hồi xưa. Có mỗi cái bông hoa trắng mà không giữ được cho em. Thằng đồ tể nó giữ cho con vợ béo ủ của nó cả tòa nhà. Thằng thầu khoán nó giữ cho vợ nó cả áo đầm, xe cúp, tivi, tủ lạnh.

Tôi nói như phân bua, giải bày :

- Nhưng mà... Em cũng thấy anh bị chúng đánh đến tả tơi.

Nó gật đầu và ứa nước mắt :

- Tội nghiệp cho anh, nhưng mà cái bông trắng đã mất rồi !

Và nó bỏ đi. Tôi đứng sững nhìn theo. Nó tiếp tục tìm kiếp suốt ngày hôm đó. Nó như kẻ khất thực đi xin lại loài hoa trắng giữa thế gian. Nó sầu não. Nó đau thương. Nó hỏi thăm khắp phố chợ. Có ai bắt gặp được bông hoa trắng của nó không. Người ta ngỡ ngàng. Người ta ngạc nhiên. Và người ta hiểu rồi ái ngại cho nó, buồn bã cho nó.

Nó như kẻ hành hương cô độc, lặng lẽ tìm về xứ sở của loài hoa trắng.

... Cho đến buổi chiều, khi ráng chiều ối đỏ cả trần gian và mặt trời như đẫm máu, nghiêng về phương tây chở dẫn đô... thì nó nhảy xuống dòng sông. Nó tuyệt vọng vì sẽ không bao giờ tìm được cho mình bông hoa trắng của cuộc đời. Nó đã đi tìm bông hoa trắng trong dòng sông và trong cõi chết...

Bây giờ chỉ còn lại mình tôi giữa bãi chợ hoang vắng này.

Như một tiền oan nghiệt báo, như một số phận khốc liệt phải đeo mang. Cái bóng con Khờ và đôi mắt buồn thăm thẳm, mãi ám ảnh tôi. Tôi như bị mê hoặc từ một cõi xa xăm. Tôi như bị một ma lực từ cõi chết dội về, hút lấy, tung vào một cuộc kiếm tìm hoài mãi...

Thế là tôi đi. Tôi đi mãi trong mỏi mòn, kiệt sức. Người tôi xiêu đổ trên đôi chân ốm yếu. Trí tôi hoảng loạn trong mịt mù sinh tử đời người. Nhưng không bao giờ tôi được quên. Loài hoa trắng và nụ cười bát ngát của con Khờ. Tôi phải tìm nó ở dưới vực sâu, ở trong đọa lạc, hay ở giữa trời cao...

Tôi đã kiếm tìm đến kiệt sức.



READ MORE - THÁI ĐÀO - LOÀI HOA TRẮNG

Wednesday, September 24, 2008

HỒ SĨ BÌNH - CHÙM THƠ


Quê quán : Triệu Thuận, Triệu Phong, Quảng Trị
Trước 1971: Học sinh trường Nguyễn Hoàng Quảng Trị
Sau 1975 : Tốt nghiệp ĐHSP Huế, khoa ngữ văn
Hiện sống tại Đà Nẵng



Quay về

Sao tôi phải quay về
nơi phia ấy một rừng châu chấu
đường thôn chân trần ướt đẩm sương
cảm giác quen
buốt vào trí nhớ
nơi truông rú ao đầm mênh mang cỏ dại
con cò nghiêng chao
cò còn bay là đất trời trăm năm không đổi
nước dưới ao còn nương bóng chim tăm cá
nhận ra mình rơm rạ tuổi mười ba
bên bếp lửa chật chội
chị em ngồi sát vào nhau cho đủ chỗ
nhức tới xương rét cong mái lá
miên man chuyện đời xưa
rét căm căm đường làng chạy nhanh cho ấm
rét chi rét lạ rét lùng
mấy chục năm rùng mình lẩy mẩy.
chén rượu gạo chuyền tay có mùi khê
rượu mình nấu còn vương củi trấu
vô tình thấm vào vị giác
chênh chao niềm trắc ẩn
thằng bạn thời bắt ốc mò cua chôm gà trộm bưởi
giờ hom hem ngồi uống rượu suông
mưa nắng gạo cơm phập phồng mưa lũ
mọi chuyện ú ớ vật vờ cũng chỉ chiêm bao
những ngôi nhà trước cau sau chuối
trưa vắng buồn không chịu nỗi
con chó cong mình nằm ngủ
mấy ả tan chợ mai về líu ríu ngoài đê
gió nồm táp vào mái lá
phừng phực giận dỗi
chuối sau vườn lao xao bóng ai lẻn vào cửa sổ
tự dưng ngồi nghĩ chuyện vu vơ
đêm tối ngoài hiên
đượm nồng hương đồng hương bưởi
đã đời uống rượu tới khuya
con nhái con ếch làm bạn
trăng sáng chi khuya chén rượu óng màu bạc
cha mẹ không còn anh em đi hết
mộ ông mệ ngoài đồng cỏ lau chi chít
nhà cũ trường xưa bom dội tan hoang
đôi khi ngờ ngợ
đã lâu quen mùi phố xá
vợ con ngồi chưa kịp nóng đít đòi đi
sao cứ muốn về
sao cứ muốn về
bên ngõ vắng.




Một nửa Ban Mê


Có một Ban Mê
từ cây số 3 về ngã năm thành phố
lóc cóc tiếng ngựa thồ
như kim đồng hồ gõ vào trưa vắng
lả chả hoa phượng tây vàng
đong đưa mùi tóc rất Huế
đã hẹn thầm phố núi và em

ngôi nhà thường xuyên khép cửa
góc phố nhiều người qua
nhưng từ lâu tắt lửa
không một người thân
em ngồi giữ nhà giữa đồ đạc ẩm mốc và bóng tối
đơn độc thiếu vắng bạn bè
cây dương cầm không ai đánh thức
còn vang mãi vọng âm buồn
muốn giữ lại thời gian em thả trôi bong bóng về những điều quá vãng
những gì đáng quên em vẫn giữ lại
mụ mị cả tháng ngày
phía trước còn chông chênh mù mịt
đừng cõng mãi trên vai nỗi đắng cay không cần chia sẻ

đã bao lần ghé qua rất vội
tôi mở toang cánh cửa sổ
cho nắng gió tràn vào
đến bên em chia một nửa nổi buồn
muốn nhìn vào mắt em với niềm hy vọng
dù không dễ, cả chút niềm tin
vây quanh biết bao trắc trở
những bông hoa ngụy tín
không dễ gì bị đánh lừa bởi lời rao giảng

chúng ta còn quá trẻ
đắm đuối nổi buồn chưa kịp nhận ra
để bước qua giới hạn
chân trời còn mở cửa
con đường rừng vẫn muốn một lần đi hết
sau cỏ gai, những mùa hoa phải đến lúc đáo kỳ

tôi sợ sự nhàn rỗi
sẽ nuốt trôi niềm hy vọng
không chỉ một nửa nỗi buồn
đấy là điều ấp ủ cùng em
không thể bắt đầu không thể kết thúc
tháng năm xa mịt mù chao đảo
ái ngại đời mình, còn một nửa, phía ấy Ban Mê.

HỒ SĨ BÌNH
2008





READ MORE - HỒ SĨ BÌNH - CHÙM THƠ

Monday, September 15, 2008

Võ Văn Hoa


VÕ VĂN HOA
Sinh ngày: 15-4-1954,
Quê quán: Thi ông, Hải Vĩnh, Hải Lăng, Quảng Trị,
Hiện là phó trưởng phòng Giáo Dục& Đào Tạo huyện Hải Lăng, Quảng Trị.
Hội viên hội VHNT Quảng Trị.
Email: vovanhoahl@yahoo.com,
Blog: 360.yahoo.com/vovanhoahl
Tel: 0914127685


Các tặng thưởng, giải thưởng:

- Giải 3 cuộc thi văn học, tạp chí Cửa Việt, 1996, 1997.
- Giải thưởng phóng sự “Những bác sĩ của ruộng đồng”, Báo Quảng trị, 1998.
- Giải 2 câu đối hay toàn quốc, VTV, 2003.
- Giải thưởng sáng tạo văn học nghệ thuật tỉnh Quảng Trị, 2004.
- Giải B tập thơ “Còn ta với mình”.
- Giải thưởng cuộc thi “Kí ức học đường”, báo Khuyến Học & Dân Trí, 2005.


Tác phẩm đã xuất bản:

· CÒN TA VỚI MÌNH, tập thơ, NXB Thanh Niên, 2004.
· VĨNH ĐỊNH ƠI TA VỀ, CD thơ phổ nhạc, 2006.
· GIÓ CUỐN MẶT SÔNG, tập thơ, NXB Thuận Hoá, 2008

Và nhiều tác phẩm in chung trên nhiều tạp chí , giai phẩm khác.





Bão


Vắng âm thanh những chú ếch đồng
Những giun dế côn trùng muôn thuở
Đêm thị trấn mùa mưa đầu khó ngủ
Sao nhớ hoài da diết một vùng quê!


Nhớ cuống rạ dấu chân người lặn lội
Mùi cốm thơm trên nẻo đường làng
Dáng mẹ hao gầy vào ra sớm tối
Gậy khua vào bảng lanngr hoàng hôn


Cơn mưa đầu mùa xối xả ngoài hiên
Có một người trong tim bão nổi
Tôi đi ngược phía chiều gió thổi
Cõi lòng ơi! Sao dứt thuở đi về!





Thơ tình



Đừng nói gì nữa em
Để dành cho nỗi nhớ
Đừng nói gì nghe em
Trong cồn cào hơi thở


Em là đoá mây trời
Bốn mùa qua đỉnh núi
Bốn mùa trải gấm phơi
Anh cay xè sống mũi


Có phải từ bao giờ
Vân vê tà áo mỏng
Cánh chuồn bay trong thơ
Cũng ngân vang tiếng sóng


Anh từ nỗi đau xưa
Quên sao ngày xa vắng
Gom đan từng giọt nắng
Cho-bà-Hoàng-lên-ngôi !





Ra phố



Tháng giêng một mình ra phố
Nhìn hoài sắc áo ai bay
Xanh mướt vườn xuân hương cỏ
Đong đưa cây trái như bày !


Tháng giêng một mình ra phố
Anh trông về phía mắt buồn
Cô bé ngày xưa lạ thế !
Nhủ lòng muốn tặng nụ hôn.


Tháng giêng, trời khéo chiều người
Anh về cuối phố “tầm xuân” !


09-01-1998





Chớp bể



Người đi rừng nhìn từ phía bể
Nhà nông nhìn tổ kiến trên cao
Anh yêu em nhìn từ đôi mắt
Tinh cầu nào ở cuối trời sao?


Mưa nguồn, trong anh có từ chớp bể
Có mùa xuân vàng trắng bao giờ !
Ta đã đi qua những ngày như thế
Xuôi về em năm đợi tháng chờ !


Tượng đài trong em xây bằng vỏ ốc
Ta sơn nhân gió lộng trăng ngàn
Em hoang hoải trên thuyền độc mộc
Ta tìm về ánh chớp một dung nhan…


27-30-01-2008





Bồng bềnh cơn mây



Đi suốt đôi bờ nắng hạ
Bông bềnh, bồng bềnh cơn mây
Thương ai một thời hoá đá
Muôn đời mây trắng bay bay…
Bồng bềnh, bồng bênh, bồng bềnh
Anh ngước nhìn trời, nhìn đất
Có em tình yêu đích thực
Vĩnh hằng mây trắng thôi bay…


Hải Lăng, tháng 6-1993

Nguồn : Trích từ tập thơ GÍO CUỐN MẶT SÔNG, tác giả Võ văn Hoa, NXB Thuận Hoá, 2008
READ MORE - Võ Văn Hoa

Nguyễn Quang Lập


(Các bút danh khác: Hồng Nhật, Hồng Đức, Quang Quang)

Tên khai sinh: Nguyễn Quang Lập, sinh ngày 30 tháng 4 năm 1956, tại thị trấn Ba Đồn, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Hiện nay ở Hà Nội. Tốt nghiệp đại học Bách Khoa. Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1987)
Nguyễn Quang Lập tốt nghiệp đại học Bách Khoa năm 1980, rồi nhập ngũ, làm trợ lý kỹ thuật điều khiển tên lửa sư đoàn 375, quân chủng Phòng không. Năm 1984 chuyển ngành về công tác tại Sở Văn hóa-Thông tin Bình Trị Thiên. Nguyễn Quang Lập đã từng là Phó Tổng thư ký Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Ông còn là hội viên Hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam.

Tác phẩm chính đã xuất bản: Một giờ trước lúc rạng sáng (truyện ngắn, 1986); Kỷ niệm thời trai trẻ (thơ, in chung, 1983); Tiếng gọi phía mặt trời lặn (tập truyện, 1988); Những mảnh đời đen trắng (tiểu thuyết, 1989); Mười tám truyện ngắn Nguyễn Quang Lập (1997)

Nhà văn đã được nhận giải thưởng báo Văn nghệ (1986-1987) với truyện ngắn Cây Sến lửa. Giải thơ Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (1981-1987), với bài Nón em là Nhớ về đỉnh gió. Giải sân khấu 5 năm (1985-1990) Bộ quốc phòng với vở kịch Mùa hạ cay đắng. Giải Hội Nghệ sĩ sân khấu và Hội Nhà văn Việt Nam (1990) với kịch bản Mùa hạ cay đắng.


http://www.binhthuan.gov.vn/khtt/vanhoc/tacgia/TG236.htm



Người thổi kèn Trom-pet


Truyện ngắn



"Xin hát về bạn bè tôi

Những người sống với mọi người …"

(Lời một ca khúc)



Khi đó anh ngước lên, ngơ ngác trước mênh mông cát trắng. Em chỉ đứng cách anh có một quãng, sau một mô cát cao, thế mà anh chẳng thấy. Anh đi. Rồi chạy. Nhìn bóng anh cuống quýt trên bãi cát em buồn cười quá. "Ngốc ơi, em đây này!". Em kêu lên khe khẽ. Anh đứng khựng lại, nín thở lắng nghe. Nhưng dại gì em lại gọi anh nữa! Em đang trốn anh cơ mà …

- Hù … o …

Anh quay ngoắt lại, ngớ ra. Em cười to. Nhìn mặt anh ngẩn tò te, em cười rũ rượi. Anh cúi gầm mặt, khoát mạnh tay:

- Cứ như là … !

Rồi anh thả mịnh xuống cát, ngồi bó gối:

- Trốn … Trốn gì mà lạ thế?

Em cười, oà đến ôm lấy cổ anh:

- Ngốc ơi, người ta chỉ đứng sau có một quãng ... Thế mà cứ khoe: "Mắt anh một trăm phần mười! Thế mới biết con trai là chúa bốc phét nhá!" …

Anh cười trừ, vòng tay sau lưng ôm lấy em. Rồi đứng bật dậy, bế xốc em chạy như điên trên bãi cát. Anh hôn … hôn … hôn …

- Buông ra, cát vào cổ em hết rồi này!

- Mặc kệ! Bắt đền ... này! Bắt đền ... này!

- Thôi, em xin ... chao, quỷ ơi!

Cười to cả hai đứa. Bãi cát mênh mông thế kia chẳng ai nhìn thấy đâu, anh nhỉ?

... Bây giờ đoàn văn công của em đã rời trận địa từ hôm trước, thả em một mình với anh ở đây. Em biết anh thích lắm nhưng em thì buồn và lo quá. Liệu em có đuổi kịp đoàn không? Liệu em có kịp phục vụ bộ đội đang cố đập tan chiến dịch "Tái chiếm Q.T" không? Nếu không kịp thì chuyển công tác vào chiến trường của em thật vô tích sự. Nhìn anh, em thở dài: anh có biết em đang buồn lo điều gì đâu! Anh đang tràn trề hạnh phúc thế kia mà!

- Em ốm đúng thời cơ - Anh nói vui.- Nếu em ốm ở một trận địa khác thì quá lắm anh cũng chỉ được thưởng thức một vài điệu múa của em, và thế là chẳng có chuyện gì mà nói nữa.

- Anh đang biểu dương trận ốm của em đấy à?

Anh cười hiền lành, kéo đầu em sát má anh. Đúng là em vừa qua một trận sốt chưa từng có trong đời. Khi xe vừa qua khỏi đèo Ngang, thốt nhiên em thấy ớn lạnh. Sau đó em buồn nôn, đầu nhức buốt, cuối cùng em đổ vào lòng Kim Thoa - diễn viên hát, chuyên "sô- lô" cho đoàn. Rồi em chẳng biết gì nữa. Mấy ngày liền em nhức nhối, lơ lửng như hôn mê, cứ tỉnh được lúc nào là em lại khóc. Trời ơi, sáu năm ở Hà Nội sao không ốm đau ìg, chưa một lần em chịu hoãn lại một buổi biểu diễn, thế mà vào đây chỉ mong phục vụ bộ đội vài lần thì phải nằm chết dđ một chỗ. Càng khóc em càng kiệt sức, đến nỗi nhìn thấy thanh gỗ mít bắc ngang hầm, en tưởng nhầm là rắn, nhiều lần em rú lên …

… Rồi trong em chập chờn hình bóng anh chàng thổi kèn trom- pét. Anh không biết đâu, tay ấy khá trai lắm, cao hơn em một tấc chứ không lùn tịt như anh đâu. Tay ấy buồn cười ghê lắm! Khi nghe em thông báo là em đã đăng ký vào dnah sách những người xung phong đi phục vụ chiến trường, anh chàng đứng như trời trồng, nhìn em chằm chằm. "Thật à?". "Thật". - "Tại sao lại đi?" - "Thích!" - "Không thể thích như thế được!" - "Cứ thích!" … Anh chàng lắc đầu thở dài và cầm lấy cây kèn lững thững ra hành lang thổi một bản nhạc rầu rĩ: "Tôi đã xa em .. toe! toe! .. Màu trong tôi … toe! toe! … Trái tim tôi … toe! toe!". Em nhớ khi đó Hà Nội đang vào mùa hoa sữa.

Cho đến phút cuối cùng chia tay, anh chàng thổi kèn trom-pet vẫn cố gắng không tin điều đó là sự thật. Tay ấy cho đó chẳng qua là hành động bột phát, liều lĩnh của em. Tay ấy vẫn coi em như một lãng tử, thích giang hồ, mạo hiểm. Có lẽ cũng không sai lắm đâu. Tính em ngang ngược lắm, bướng lắm. Đầu tiên khi em cầm bút đăng ký vào danh sách chỉ vì em thích xê dịch, thích được biết cái nơi mà ngày nào người ta cũng ca ngợi hết lời trên đài, báo. Nhưng sau đó khi thấy tay phó đoàn và hai nhạc công chính của đoàn, những người buộc phải đi, đã chạy chọt xin cho bằng được ở lại Hà Nội, một vài người cũng "đăng ký xung phong" nhưng không phải vì tự nguyện, chỉ vì sợ bị chê cười, sợ bị kiểm điểm … thì em nhận ra tầm quan trọng của chuyến đi cùng với ý nghĩa thiêng liêng của nó.

Em đi. Anh chàng thổi kèn trom-pet không tiễn em, chỉ đứng suốt đêm thổi kèn trên gác thượng… Thế mà trong cơn sốt mê man em đã mường tượng thấy anh chàng đang ngồi cạnh em, bón cho em từng thìa cháo hành, rồi bằng một cái so vai rất điệu, anh chàng nâng cây kèn có một vết xước đầu loe kèn thổi một bản nhạc vui Cu-ba mà em rất thích. Chao ôi, chỉ cần có thế thôi là đủ cho em yêu anh ấy rồi, không cần một lời ngỏ nào hết. Nếu anh ấy cùng đi với em chuyến này thì anh sẽ chẳng có em đâu, em sẽ yêu anh ấy để "trả công" cho bốn năm anh ấy theo đuổi em… Sao anh xịu mặt thế? Ghen à? Xấu quá kìa! … Nhưng ngốc ơi, đó là "giả sử" kia mà, còn bây giờ em đã thuộc về anh rồi, tất cả…

…

Nơi xuất bản: NXB Hội nhà văn - 2003

http://maxreading.com/?chapter=8029




49 cây cơm nguội


Truyện ngắn

Chỉ bước khoảng vài mươi bước chân, từ cái cổng sắt gỉ của một người bạn gái, chị đã giật mình nhận ra sai lầm của mình. Tại sao lại ngang nhiên rảo bước trên đường mưa vào lúc gà sắp gáy như thế này? - Chị đứng khựng lại, ngoái cổ về phía sau vào đúng lúc câu hỏi ấy vang lên trong chị. Có cái gì rung bần bật trên cao, trong vòm lá cơm nguội làm một khối nước mỏng rơi ào xuống vai. Trong vòm lá cây cơm nguội ở bên kia đường cũng có cái gì vừa rung lên bần bật... Chị nghĩ là đã ngước lên nhìn vào hai vòm lá cây cơm nguội, nơi có tiếng rung bần bật đó, ngay khi vừa nghe thấy, nhưng định thần một chút mới biết mình đã bước lùi hơn mười bước từ lúc nào và mắt cũng vừa mới mở ra. "Có cái gì đâu, trò con nít của thiên nhiên!" - Tự trấn an bằng một định nghĩa mà chị cầm chắc là không đời nào mình lại nghĩ ra loại từ ngữ hay ho như vậy. Có thể ai đã nói từ cái thủa xa lắc, hoặc một người nào vừa "thổi" vào tai phải chị. Thốt nhiên chị cảm thấy tai phải nong nóng. Chị bước lên. Một bước, hai bước, ba... bốn... năm... sáu... bảy - "Đấy, đúng chưa? Có cái gì đâu, trò con nít của thiên nhiên! Đã bảo mà...". Rõ ràng có một người nào đã "thổi" vào tai trái chị, bởi vì, bước thứ bảy vừa dứt thì tai trái bỗng nóng rực lên!... Rốt cuộc cả hai tai cũng đã nguội lạnh khi chị dấn thêm vài mươi bước nữa. Bắt đầu thấy an tâm hơn, da bụng cũng không còn rung lên như mặt trống Jazz lúc phải dùi nữa, tuy chị vẫn không thôi rủa thầm cái tính tự ái vặt đã đẩy chị ra khỏi căn phòng còn có một cái giường không vào lúc không có một phụ nữ táo tợn nào dám bước ra đường. Người bạn gái cùng tuổi bốn mươi với chị chẳng có lỗi gì to tát, chỉ là cái sự vô tâm khi luôn mồm than phiền rằng cô vừa bị cắt hai suất lao động tiên tiến - giữa và cuối năm - vì đã đẻ "ngoài kế hoạch" hai đứa nữa. Chỉ hai suất đẻ mà có bốn đứa con, đáng lẽ phải phổng mũi lên trước thiên hạ rằng bố mẹ của cô, ông bà của cô, ông bà của ông bà của ông bà của ông bà... của cô ăn ở có phúc đức như thế nào trời mới ban cho cái đặc ân được tiết kiệm số lần đẻ tối thiểu để có bốn đứa bé kháu khỉnh đến mê người, lại ở "tỷ lệ vàng" nhiều người nằm mơ cũng không thấy: hai trai hai gái, thế mà cô ta cứ rên rỉ mãi về số tiền thưởng hai suất lao động tiên tiến - giữa và cuối năm - tính theo tỷ lệ tiền lương kiểu nào đó không biết, có tổng số mất đi là chín trăm mười bốn đồng hai hào chẵn!

Chín trăm mười bốn đồng hai hào, thật là vớ vẩn. Nếu chị đẻ được chị sẽ đẻ 100 đứa dù có mất đi một trăm lần chín trăm mười bốn đồng hai hào chẵn ấy. Chị không đẻ được không phải bởi vì chị không đẻ được... Chị thừa sức làm cái công việc tối thiếu ấy của phụ nữ một cách dễ dàng, không một chút kêu ca như người bạn gái lúc nào cũng "loa! loa! loa! loa!" về hai suất lao động tiên tiến. Giá cô ấy ngồi lặng lẽ bên chị, đưa cặp mắt u sầu ngước lên nhìn chị, khẽ khàng cầm lấy hai bàn tay xanh gầy của chị, thì thầm: "Đã có ai chưa? Có chưa..." thì lúc đó chị thở dài, khẽ lắc đầu, hoặc sẽ gục vào vai cô ấy mà khóc, khóc tức tưởi... nhưng chị sẽ ngủ lại với cô ấy. Chị sẽ nằm giữa bốn đứa trẻ để ngửi cái mùi sữa hoi hoi và mùi nước tiểu của chúng. Và hát. Đúng như vậy, chị sẽ hát như một người mẹ đang có bốn đứa con, hai trai hai gái, vừa hát vừa hít lấy hít để cái mùi sữa hoi hoi và mùi nước tiểu của lũ trẻ cho tới khi bật khóc. Thà phải khóc như thế còn hơn là bây giờ đang một mình lủi thủi giữa đường đêm hiu hắt đầy mưa...

*
* *
Chị dừng lại một chút trước khi vượt qua quãng đường tối nhất, để sau đó chị cần rẽ vào một lối hẹp chừng ba mươi mét là đến khu tập thể nơi chị sống với mười chín cô gái tơ suốt ngày thổi kèn đồng (tức là hát và cười ré lên) cùng với những câu chuyện chị cho là ngớ ngẩn, vô bổ về các anh chàng đần và nhát gái được họ vừa tranh nhau kể vừa cười vừa chép miệng... Bây giờ "mười chín cái kèn đồng" đã ngủ, chỉ mỗi mình chị lủi thủi giữa đường mưa. Như thế này còn thú hơn phải ngồi giữa dàn hỗn tấu vô bổ, ngớ ngẩn ấy. Sống với họ, chị thấy mình lạc lõng, vô duyên, y như một kẻ không biết uống rượu buộc phải ngồi giữa một lũ say. Chị buộc chặt tấm áo mưa, níu lại quai nón, hít một hơi thật sâu và bước. Mới đầu chị bước từng bước ngắn và nhanh, nhưng sau đó, khi mưa dồn dần về phía sau để lại phía trước từng đám mưa rây bột, thì chị bước dài hơn và chậm lại. Phía sau, tiếng mưa nghe như tiếng chân của một đám đông trẻ con đang chạy, chị nghĩ thế và bước chậm lại, thật chậm để chờ lũ nhóc thích nghịch nước ấy tiến lên. Chốc lát, mưa có vẻ lắng lại chút ít rồi chợt vỡ oà ra, tràn trề ở phía sau. Chị thấy mình rạo rực hẳn lên, bước từng bước thong thả, đầy tự tin, pha một chút kiêu hãnh - kiêu hãnh như "mười chín kèn đồng" mỗi bận bước ra đường - chỉ vì bỗng nhiên chị tưởng tượng có một triệu chàng trai đang lẽo đẽo sau lưng chị. Họ vừa bước vừa đưa mắt thăm dò nhau, rồi họ bước nhanh dần, tranh nhau bước... Chị mỉm cười. Thì chị cũng đã có một thời như vậy, tất nhiên không lấy đâu ra một triệu, chỉ năm bảy chàng trai lực lưỡng lẽo đẽo theo chị trên những nẻo đường rừng. Lúc đó chị còn là một cô gái xinh tươi và nghịch không thể tả. Chị đi, mải mốt đuổi theo những gì chưa có trong sự thật, để lại cho anh chàng cứ việc lẽo đẽo theo sau, thỉnh thoảng nói vớt vát vài câu không chủ vị. Và chị mỉm cười, y như bây giờ chị đang mỉm cười. Rồi số người đuổi theo chị thưa dần. Không phải họ đã nản: người này xuống đồng bằng và hy sinh, lại người khác, lại hy sinh... Chỉ còn một người, cái anh chàng cù lần có cái nốt ruồi to như hạt đỗ đen đậu thản nhiên trên mép trái, chướng mắt đến độ nhiều lần chị kêu toáng lên: "?i chết, con ruồi...!" Làm mặt anh chàng bỗng như một miếng cơm cháy, thì vẫn còn câm lặng kiên trì luôn cách cái gáy trắng muốt của chị năm bước chân - chỉ năm bước không hơn. Rốt cuộc chị đã yêu anh, đúng hơn là chớm yêu, đúng hơn nữa là khi môi chị run run sắp chạm vào môi anh thì một tiếng hắng giọng rõ to từ sau gốc cây lim trắng bỗng vang lên, đó là tiếng hắng giọng "oai hùng" của ông thủ trưởng binh trạm. Thường thường ông chỉ dùng tiếng hắng giọng ấy để báo hiệu bắt đầu vào cuộc họp, và bao giờ cũng hiệu quả như một phát súng hiệu báo đến giờ G, nên sau đó đúng một buổi chiều, khắp binh trạm người ta kháo nhau rằng anh chị chuẩn bị "họp" thì ông thủ trưởng hắng giọng... Người ta ôm bụng cười còn chị thì bị kiểm điểm vì tội "làm cách mạng nhưng chưa triệt để", hạ từ "đối tượng" xuống "cảm tình". Anh thì được điều xuống K11, ít lâu sau nghe nói vướng mìn clâymo và chết. Chị nhớ mãi đôi mắt hơi lồi của ông thủ trưởng đã nghiêm khắc nhìn hai người như thế nào khi ông xuất hiện bất ngờ từ sau gốc lim trắng. Sau đó, đôi mắt hơi lồi của ông thủ trưởng lại nghiêm khắc nhìn chị một lần nữa, không phải, lần này ông nghiêm khắc nhìn hết người trong binh trạm chứ chẳng riêng gì chị, để kiểm tra xem có ai dám tung tin ông đã ăn nằm với một nữ dũng sĩ diệt Mỹ chuẩn bị ra bắc báo cáo thành tích, hay không. Cấp ủy của binh trạm đã ra nghị quyết "về việc cấm tung tin này để bảo vệ uy tín cho lãnh đạo". Chị im re. Tất cả đều im re, trừ anh chàng thủ kho ngứa mồm, nhân vác con lợn nái xuống trại chăn nuôi của một đơn vị bộ đội gần đấy xin lấy giống, bô bô chuyện động trời này cho mọi người, bị "cạo" bốn ngày hai đêm vì tội "bôi nhọ lãnh đạo" đến nỗi một năm sau anh ta như một kẻ câm, chỉ thỉnh thoảng bật ra một tiếng cười gằn. Chị sợ quá đôi mắt hơi lồi của ông thủ trưởng binh trạm, một người luôn luôn nói rành mạch và khẳng khái cách mạng thế giới diễn ra mấy giai đoạn, giai đoạn nào thì nhảy vọt, giai đoạn nào thì nhảy qua... Đáng lẽ chị chẳng nhớ đến đôi mắt hơi lồi ấy vào lúc mưa gió th?này đâu nếu chị không để ý đến những cái bong bóng nước chợt phình lên - dọc các mép đường ở những chỗ có ánh điện - lấp lóe, lấp lóe rồi phụt tắt, lại phình lên... làm cho chị rùng mình. Chị còn thấy những cái bong bóng nước nữa, những ảo ảnh về nó vẫn còn, chị thấy sờ sợ, cảm hứng hoang tưởng về một triệu chàng trai đuổi theo bỗng tan biến! Chị bước nhanh, gần như chạy...

*
* *
Mưa đã quạt trở lại, từ phía sau dồn nhanh lên phía trước, ào ào. Chị rụt cổ sâu vào tấm áo mưa, thành thử cái nón như một vật thừa, xoay tứ bề phía trên chỏm tóc. Một đợt gió nhẹ, rất nhẹ, đã làm nó bật ngửa rơi chéo ở phía trái sau lưng chị. Chị quay lại, vừa cúi xuống bỗng há miệng nhảy lùi xa đến mấy bước. Một bóng đen như mọc lên từ những rễ cây cơm nguội cạnh đấy, lừ lừ bước ra. Bóng đen giơ tay chào rồi cúi xuống nhặt cái nón đội lên đầu, tiến về phía chị. Chị lùi dần, lùi dần. Chị muốn hét lên, hét thật to nhưng cổ họng cứng ngắc...

- Đư-ừng! - Cuối cùng chị đã hét lên. Ngay sau tiếng hét ấy, một sự bật nút chai, toàn thân chị dâm dấp một thứ nước nóng, có lẽ là mồ hôi.

- Tôi đây mà - Bóng đen đã lên tiếng, đó là tiếng của đàn ông.

Chị hoảng hốt giật lùi mấy bước nữa người đàn ông đã tiến lại gần, chị kêu lên run rẩy:

- Đừng, trời ơi! Tại sao cứ tiến lại!... Tại sao cứ tiến lại!

- Không tiến lại thì tôi sẽ ướt như chuột... Tôi xin được trú nhờ tấm áo mưa của chị một lát, một lát thôi, nhà tôi ở gần đây rồi.

Vừa nói người đàn ông vừa gỡ nút ni lông trong tay phải chị, nhanh nhảu và bình thản như người nhà, hất ni lông qua vai chị, đội cái nón lên đầu chị.

- Đi! Nhanh lên ướt hết cả bây giờ! ?i, tôi may quá... Tấm áo mưa được người đàn ông giăng rộng, khéo léo khép hờ bên trái kia một chút làm cho chị lọt thỏm vào phía trong, sau nách trái người đàn ông một vài phân. Đầu chị hoàn toàn trống rỗng, chị chỉ biết bước theo, bước bước bước bước...

- Cúi đầu xuống một tý! Đừng sợ, tiến lên. Nhanh...

- ...

- Mưa kiểu này cá bống nhiều lắm đấy. úi chà chà... ếch! Tiên sư mấy con ếch, bố mày mà có cái đèn!...

- A ha ha... Cái nón!

Cái nón bật ra, lăn mấy vòng xuống lề đường. Người đàn ông buông ni lông quay lui. Khi đó, đúng một tích tắc, chị định vùng chạy. "Chạy nhanh lên! Chạy nhanh lên!" - Vang vang trong chị tiếng kêu như tiếng còi cứu hỏa. Thế mà chị cứ đứng im cho đến khi người đàn ông quay lại, chui vào tấm áo mưa.

- Tiếp tục.

- ...

- Cẩn thận mấy cái vòi sắt! A ha ha... cái nón! Tiên sư bố nó chứ.

Người đàn ông lại buông ni lông quay lui về phía cái nón khi đó đang xoay tít ở phía sau. "Chạy nhanh lên"... chị run rẩy... "Chạy nhanh lên"... Chị cắn chặt môi, nín thở...

- Đi thôi, lần này đừng có hòng mà bay nữa nhé. Chị cầm hộ tôi đầu này... Đấy! Tốt ! Đi!

Chị lăm xăm theo từng bước dài, gấp gáp của người đàn ông, cảm giác như mình bị lôi đi xềnh xệch chứ không phải đang bước. Chị mụ đi trước sức cuốn táo tợn và vui vẻ của người đàn ông, chỉ có bước, vậy thôi, ngay vả việc ước tính khoảng bao lâu nữa sẽ tới nhà chị cũng không nghĩ tới.

- Đến rồi! Tốt rồi. Giờ phút chia ly đầy nước... mưa đã tới. Chị cầm lấy mảnh ni lông. Tốt. Tạm biệt!

Người đàn ông rời tấm áo mưa vụt chạy, được mấy bước chợt phá lên cười:

- A ha ha... cái nón! Suýt nữa tôi ăn cắp cái nón.

Người đàn ông quay lại, vui vẻ đặt cái nón lên đầu chị rồi vụt chạy, được vài bước lại kêu lên và cười:

- Chưa cảm ơn! A ha ha... thằng đần!

Ngay lúc đó, hoặc trước đó, hoặc sau đó, đầu chị bỗng dúi dụi. Một cái hôn bất ngờ đặt xuống đúng lúm đồng tiền bên má trái. Chị sững người, toàn thân run lên, một cảm giác mát rượi và ran rát từ lúm đồng tiền má trái chạy lân lan khắp cơ thể chị. Người đàn ông biến mất, hình như đã rẽ vào một lối nhỏ bên trái...

Chị rũ xuống trong giây lát rồi ngẩng phắt lên, chạy. Chị chạy tơi bời giữa một trời mưa gió...

*
* *
Rất lâu, sau khi vấp phải bức tường đen nhẻm chắn ngang trước mặt, chị mới đứng khựng lại, ngơ ngác ngó xung quanh: một đám cây rưới, một tháp chuông cao, một lạch nước nhỏ. Thôi rồi chị đã lạc vào ngõ nhà thờ! Không biết chị chạy như thế nào để có thể lạc vào một ngõ nhỏ heo hút nằm sau phía tây thành phố. Chị đứng dựa vào bức tường, thở dốc.

Mưa đã có phần giảm đi, qua một khoảng sáng được phản chiếu nhờ ánh lửa của mấy cái lò nung vôi nhỏ gần đấy, chị thấy rõ từng đám mưa cắt chéo đang thưa dần. Đành phải trở lại, chẳng có cách nào hơn. Chị vừa kéo lại tấm áo mưa, xốc ngược lên, chuẩn bị bước thì nhận ra cái nón đã bay từ lúc nào. Một cái nón mới, quai nhung mầu nước biển mới sắm hôm qua, bây giờ biết nó bay về lối nào để mà tìm? Phải quay trở lại theo đúng con đường đã chạy tới đây may ra mới tìm thấy nhưng làm sao nhớ được khi chị chạy như một con điên mịt mù những ảo giác? Chị bỗng thấy oan ức quá, một nỗi oan ức không thể gọi tên cứ liên tiếp ập xuống trên từng bước đường đời, đã toan hất tấm áo mưa gào lên một tiếng thật to và khóc, không hiểu sao chị chỉ khẽ nấc lên một tiếng nặng và trầm, nước mắt dân dấn...

Mưa đã ngớt. Thấp thoáng trên cao những vì sao nhỏ xíu đang nhấp nháy. Gió mạnh dần lên, mát rượi. Chị tháo tung tấm áo mưa, thong thả bước. Chẳng việc gì phải vội vàng khi đã quá khuya - quá muộn mằn không thể vớt vát. Tai họa phải sợ bắt gặp coi như đã gặp, còn một khoảng vắng cuối cùng dùng để nghỉ ngơi, nếu không ngủ được thì hãy thư thả bước. Chị không thấy sợ hãi nữa, thậm chí còn ngạc nhiên không hiểu vì sao mình lại sợ run lên khi mới rời cái cổng sắt gỉ nhà người bạn gái. Nếu bình tĩnh như lúc này, có thể chị đã nói ra được dăm ba câu thật có duyên với người đàn ông kia và dễ dàng tránh được cái hôn cưỡng bức đã làm cho chị phát cuồng chạy lạc vào tận ngõ sâu hút này. Sẽ kể chuyện này cho ai nghe? Có nên cho "mười chín cái kèn đồng" biết hay không? Không nên. Nếu chị kể họ sẽ cười váng nhà rồi mấy giây sau là quên béng. Đêm đêm, vào khoảng chập choạng tối, "mười chín cái kèn đồng" xắng lên sắm sửa áo quần lao về các câu lạc bộ vũ quốc tế, nhảy đến toát mồ hôi, rồi từng đôi, từng đôi... rút lẹ làng đến quấn quanh các gốc cây cơm nguội, bình thản nhận và bứt từng cái hôn, để rồi sáng mai lại tha hồ vừa tranh nhau kể vừa cười vừa chép miệng... về các anh chàng đần và nhát gái. Chị ở phía sau tâm hồn của "mười chín cái kèn đồng", lặng lẽ gạt những nỗi oan ức để mà bước, bước như bây giờ đang bước, như ngày xưa trên những nẻo đường rừng. Kể từ khi môi chị run run sắp chạm phải môi anh, chuẩn bị đón cái hôn đầu mà từ lâu thỉnh thoảng chị đỏ mặt hỏi thầm "không biết nó sẽ ra sao?", và bị chặn đứng lại vì cái hắng giọng rõ to từ sau gốc lim trắng... đã trọn 20 năm. Nhanh thật. Thì chị cũng chỉ bước bước bước... thế này thôi thế mà đã 20 năm. Hai mươi năm ừ nhỉ... "Không biết nó sẽ ra sao?"...ừ nhỉ... té ra mát rượi và ram ráp... Chao ôi, buồn cười chết đi được cái anh chàng cù lần có nốt ruồi to như hạt đỗ đen đậu thản nhiên trên mép trái... "A ha ha... cái nón!"... Khiếp, đôi mắt hơi lồi của ông thủ trưởng... "Tiên sư mấy con ếch, bố mày mà có cái đèn!...", Chao ôi, buồn cười chết đi được, thế mà mình lại khóc... Những liên tưởng rối rắm quay tít mù trong đầu khiến chị cảm thấy chóng mặt. Chị đứng lại hít sâu vài hơi, lại bước. Quãng đường mưa có những hàng cây cơm nguội chạy dài đã hiện ra trước mắt. Chị cảm thấy mình nhẹ hẳn, khỏe khoắn hẳn, bước nhanh hơn, khoan khoái và hứng thú. Con đường mưa đây rồi. Lối rẽ vào khu tập thể kia rồi. ?i giờ sao sáng sủa thế này? Có lẽ đã rạng sáng. Chị dừng lại chút xíu ở lối rẽ vào khu tập thể rồi bước thẳng. "Cần phải tìm cái nón chứ chắc là nó rơi gần đây thôi. Chắc thế". Chị ngước lên nhìn những vòm lá cây cơm nguội. Phía trên vòm lá là những vì sao nhỏ xíu, mọc thưa thớt, nhấp nhánh... "Cần phải tìm cho ra cái nón", chị luôn nhắc nhở mình để tiếp tục đi nốt quãng đường mưa mà chị đã bị người đàn ông "lôi đi xềnh xệch". Cuối cùng, chị tần ngần đứng lại ở chính cây cơm nguội, nơi chị đánh rơi cái nón lần đầu, nghĩ mãi vẫn không hiểu người đàn ông đã nấp ở chỗ nào khiến chị đi qua mà không thấy. Thơ thẩn dọc hàng cây cơm nguội, chăm chú nhìn từng gốc và đếm, chị đếm từng gốc cây. Có bốn mươi chín cây cơm nguội tất cả, kể từ cây chị đánh rơi cái nón lần đầu, cho tới cây người đàn ông cười ha ha "suýt nữa tôi ăn cắp cái nón". Bốn mươi chín cây không hơn đúng như vậy, không hơn bốn mươi chín cây, đừng có hòng mà sai, bốn mươi chín cây tất cả. Chị đứng tựa vào gốc cây cuối cùng nhìn thăm thẳm phía dòng sông, cố tìm xem trong lớp sương mù vương vất bờ bên kia còn một con thuyền nào không. Không có, tuyệt nhiên không, chỉ có mặt dòng sông đục mờ thấp thoáng... Chị gục đầu vào cây cơm nguội đây là cây cơm nguội thứ bốn chín, kia là lối rẽ trái của người đàn ông, một lối mòn nhỏ chạy ngoằn ngoèo xuống dòng sông đang chảy. Lối ấy không có nhà, những con thuyền cũng không... áp nhẹ má mình vào thân cây, thốt nhiên chị rùng mình ngơ ngác. Một cảm giác mát rượi và ram ráp từ vỏ cây xù xì, ướt nước đang lây lan khắp cơ thể chị. Kỳ lạ quá. Dòng sông không một bóng thuyền. Đây là cây cơm nguội thứ bốn chín. Kia là lối rẽ trái kia nữa, kia nữa... "A ha ha... Cái nón" mới đó mà đã hai mươi năm cái anh chàng cù lần... Chị áp má vào gốc cây, dúi dụi. Mát rượi và ram ráp, chị mỉm cười. Mát rượi và ram ráp. "Đừng!" - chị kêu lên thảng thốt - "thôi, kìa!..." Chị tủm tỉm cười về tiếng kêu nghốc ngếch của mình - "may mà không ai nghe thấy" - rồi nhắm nghiền mắt. Mát rượi và ram ráp. Mát rượi và ram ráp. Mát rượi và ram ráp. Mát rượi và ram ráp... Chao ôi buồn cười chết đi được cái anh chàng cù lần có nốt ruồi to bằng hạt đỗ đen đậu thản nhiên trên mép trái.



NGUYỄN QUANG LẬP
http://www.maiyeuem.net/vtopic37382.html



Đêm 30 có mỗi truyện này



Chiều ba mươi tết, Quỳ đạp xích lô ra ga, tính đón khách chuyến tàu vét rồi gửi xích lô, bắt xe đò về quê. Vừa vào sân ga, tàu chưa về đã có khách gọi, may thế. Khách là một trung niên mặt rỗ, quần bò áo thun, kính đeo gọng vàng.
- Bưởi! Gã vươn vai dựa hẳn vào thành xe, rút thuốc lá hút. Ông cho con ba chục. Quỳ chưa đi vội. Loại này hoặc công chức, hoặc ma cô, phải ngã giá trước. Gã quay lại, lột kính lừ lừ nhìn Quỳ. Quỳ cảm thấy hai tia sáng mắt gã đang soi từng lỗ chân lông da mặt mình.
- Mày định ăn thịt người ta hay sao mà thét dữ thế.
- Dạ tết nhất đến nơi. Ông gọi hàng nào cũng thế. Âëy là con lấy rẻ năm ngàn.
Thì ra gã chỉ mắng thế thôi chứ không thêm bớt một hai gì. Đường phố ngày tết người ta đi như ăn cướp, như chạy giặc. Quỳ cũng lạng lách như ai, chủ yếu để người ta không coi mình là thằng nhà quê, ngờ nghệch quá. Từ từ thôi! - gã nhắc.
- Văng. Đi tử tế vào, rồi tao trả nốt năm ngàn.
-Văng. Quỳ thả lỏng, thong thả đạp. Xem ra gã cũng tử tế. Từ ngày ra phố làm ăn, cứ ba ông khách thì một ông tử tế. Quỳ thường khoe với vợ như vậy. Vợ Quỳ tròn xoe mắt: “Tử tế mà lắm thế à?”. Đàn bà suốt đời rúc xó bếp biết gì! Vợ Quỳ mặt đã to lại phèn phẹt, nhưng từ cổ trở xuống thứ nào thứ nấy không đáng yêu cũng đáng nể. Ăn uống kham khổ lắm, thế mà cái đít lúc nào cũng vổng lên. Rõ đáng tự hào.
- Ây! Gã khách kêu lên. Quỳ không kịp phanh xe, gã đã nhảy xuống lật đật chạy về phía sau nhặt lên một cái vòng. Quỳ cũng chạy tới. Vàng! Cái vòng vàng. Gã khách mân mê cái vòng vàng, cười toét một cái: “Một cây là cái chắc!”. Gã nhét ngay vào túi và nhảy phốc lên xe.
- Đi nhanh, mày. Tao tăng gấp đôi tiền cho. Quỳ thấy xót quá, nếu mình không nghĩ vẩn vơ thì mình đã thấy trước gã.
- Ông tính một mình lấy luôn cái vòng à? Quỳ hỏi giọng run run.
- Chứ sao, tao thấy trước mày.
- Con thấy trước ông nhưng con không kêu lên. Quỳ cố gắng không để lộ cái giọng run run của mình. Gã khách cười cái “rắc”, nghe như ai vừa bẻ một cành khô.
- Ai bảo mày không chịu phát biểu ý kiến! Quỳ thấy mình đuối lý. Đối đáp với người phố bao giờ Quỳ cũng là thằng đầu đất. Hôm qua có ông khách mắng Quỳ: “Tụi mày đói là vì không biết ngậm miệng ăn tiền”. Quỳ cũng thấy đúng quá. Quỳ cố nặn óc nghĩ được câu gì hòng thuyết phục gã chia cho một ít.
- Tết nhất được lộc trời, ông cho con xin một ít. Dứt lời, mặt Quỳ nóng bừng, khi không lại mở mồm xin xỏ. Gã khách lại quay lại nhìn Quỳ.
- Mày trông thế mà cũng có văn hóa đấy. Được, mày xin thì tao cho. Tao bảy mày ba, được không? Quỳ cười nịnh, cái mặt cười mới thảm hại làm sao:
- Ông cho con bao nhiêu,ơn ông bấy nhiêu. Gã khách lại cười cái “rắc”. Thằng cha cười đến hay, như chó khạc xương.
- Ơn nghĩa! Tụi mày đói mà xài sang quá. Cái vòng này cỡ một cây. Tao trả mày tiền ba chỉ, tao lấy cái vòng - Gã xỉa ra tập tiền sáu trăm ngàn, hất tay phía sau - Cầm lấy! Nhìn sáu tờ một trăm ngàn. Quỳ thấy chân tay mình cóng lại.
- Ông ơi, vàng bây giờ một chỉ gần năm trăm ngàn. Ông cho con ba chỉ mà được có... Gã lập tức đút tiền vào túi.
- Không lấy thì thôi. Vàng rụng vàng rơi, một chỉ hai trăm là quá lắm.
Quỳ định nói: “Thôi, ông cho con xin” nhưng không hiểu sao lại kêu lên:
- Một chỉ hai trăm thì thiệt con quá!
Gã khách nhảy phắt xuống, chậm rãi tiến sát chỗ Quỳ:
- Mày được voi đòi tiên. Đã bảo vàng rụng vàng rơi giá chỉ có thế thôi. Mày thích thì tao đưa tiền cho, không thích thì đưa tiền cho tao. Cũng giá đó.
Chưa bao giờ Quỳ tính nhẩm nhanh như lúc này. Một chỉ lãi ba trăm ngàn. Bảy chỉ lãi hai triệu mốt. Đạp xích lô cả năm trời cũng thế thôi. Gã khách moi cái vòng vàng ra, đưa cho Quỳ.
- Đây, mày xem có đúng một cây không. Hay bảo tao nói phét? Quỳ cầm cái vòng xoay xoay. Một chỉ lãi ba trăm ngàn. Bảy chỉ lãi hai triệu mốt. Cộng với ba chỉ phần mình nữa, bán vứt đi cũng được 4 triệu bạc. Chợt gã khách đập nhẹ vào tay Quỳ. Quỳ giật mình ngước lên. Một cô gái đang hớt hải chạy tới. Quỳ vừa kịp đút cái vòng vào túi quần.
- Các bác được cái vòng của cháu phải không ạ? Cô gái mặt non choẹt nhưng son phấn kỹ lưỡng lắm. Áo hở rốn, quần bò bó căng, cố tình làm nổi bật cái phần cần giấu đi. Xem “phong độ” biết ngay loại ăn chơi ngoại hạng.
- Cái vòng của mẹ cháu. Các bác được thì cho cháu xin. Không mẹ giết cháu.
- Vòng vèo nào ở đây. Gã khách trợn mắt quát. Không dưng lại túm áo người ta mà hỏi. Biến đi!
- Không mà... Người ta chỉ cho cháu...
- Biến! Gã khách đẩy cô gái ngã ngồi. Cô gái lồm cồm bò dậy vừa đi vừa nấc lên. Tự dưng Quỳ muốn gọi cô gái lại quá... Cách nào thì mày giải quyết đi. Nó đi gọi công an đấy.
Quỳ sực tỉnh, vội vàng lôi trong lưng quần ra cái bọc. Gã khách giật lấy. Bao nhiêu đây?
- Một triệu ba năm chục. Tao thiệt đơn thiệt kép. Gã khách thở ra. Thôi mày đi mau lên!
Quỳ cắm cổ đạp xe chạy vù vù. Thỉnh thoảng phanh kít lại, đập tay vào túi quần: Vẫn còn! Cái vòng vẫn còn! Lại đạp xe chạy vù vù. Còi ô tô kêu cái “roét!”, mồ hôi Quỳ túa ra, lạnh toát. Gớm, không biết cách nào Quỳ đã vọt ra tận Hồ Tây. Sờ túi, cái vòng vẫn còn, Quỳ cười nhăn một mình. Bây giờ phải quay trở lại, về Hàng Đào bán mới có giá. Ở đấy Quỳ có quen một chị hàng vàng, năm ngoái Quỳ đưa đón con chị đi học. Chị này giàu nứt đố đổ vách lại tử tế, chắc chẳng thèm ăn bớt của Quỳ. Một cây gần năm triệu, có cân non đi đằng giời cũng cầm chắc bốn triệu. Bốn triệu! Quỳ chưa bao giờ cầm số tiền lớn như thế. Vợ Quỳ cũng thế. Thị sẽ thế nào khi mình giơ bọc tiền ra nhỉ? Thị sẽ không dám cầm, ngờ vực hỏi: “Ai cho mà nhiều thế?”. Ai cho” - Quỳ bế xốc thị lên giường - “Tưởng tớ không kiếm được ngần ấy tiền à?”. “Ây, ây... Con đang chơi ngoài sân”. “Gọi nó vào, đem cái đĩa bảo đi mua nước mắm”. Thị đẩy Quỳ ra, lườm: “Thì tắm rửa đi đã. Được mấy hơi mà hoắng lên thế”. Ừ thì tắm. Tắm xong tớ sẽ nghiền nát cái đít tự hào của mình ra, xem có còn khinh tớ nữa không. Xong rồi, thể nào thị cũng hỏi đi hỏi lại: “Ai cho đấy, nói thực xem nào? Hay là có con đĩ nào nó cho?”. Chà thích quá rồi, còn ra vẻ! Quỳ kể Quỳ gặp vận may như thế nào, cái ông khách tử tế ra sao. Thị lại tròn mắt kêu lên: “Tử tế mà lắm thế à?”. Tử tế mà lắm thế à. Rõ lũ đàn bà đần độn ngu si. Quỳ vừa nghĩ ra câu thơ. Quỳ nhẩm đi nhẩm lại cho thuộc, mai về sẽ đọc cho thị nghe. Thị sẽ ré lên bóp cho Quỳ một cái. Thị bóp thì đau lắm nhưng mà thích.
Chị hàng vàng tung nhẹ cái vòngmấy lần rồi ngước lên nhìn Quỳ. Có khi cái này không phải vàng. Nhẹ lắm.
Quỳ cười to, vui vẻ nói:
- Thì chị cứ thử đi. Trông điệu bộ đi tìm đèn khò không được nhiệt tình cho lắm của chị, Quỳ đã thấy lo lo. Tuy vậy, Quỳ vẫn nói cười như không.
- Vàng đang lên phải không chị?
- Ừ. Bốn chín hai.
- Em bán bây giờ là được giá, chị nhỉ?
- Ừ. Đèn khò bật lửa. Ở cái nơi tia lửa liếm vào, một thứ nước rỉ xanh tứa ra. Mắt Quỳ tối sầm.
- Đồng em ạ. Mạ vàng thôi.
Một khối nước đá từ trên đỉnh đầu đang tràn xuống chân. Quỳ đứng trơ, nước đái từ hai ống quần túa ra, đọng thành vũng trên nền đá hoa.
Quỳ rơi phịch xuống ghế. Và kể. Chị không hỏi, Quỳ cũng kể. Không phải, Quỳ đang lảm nhảm như một thằng điên.
- Vàng giả sao nó dám đưa tiền cho em? Em ơi, có khi đó cũng là tiền giả. Quỳ nuốt nước bọt, ngước lên ngẩn ngơ nói:
- Tại em tham quá. Trong tích tắc, nước mắt Quỳ dàn dụa. Chị đưa cho Quỳ cốc nước lọc, khẽ thở dài.
- Em cũng đừng dằn vặt nữa.Tham là bệnh tật của giống người. Người ta trước sau rồi cũng mắc phải, chẳng ai nói phách nói tướng được. Thôi, coi như mình vừa bị mất cắp, bị trấn lột, còn mấy tiếng nữa là hếtnăm, ráng kiếm vài chục, về quê còn có chút gì đưa vợ. Quỳ đạp xe ra ga, về bến xe phía Nam, vòng vèo ra tận Phà Đen, lên chợ Bưởi, cũng chẳng có ma nào gọi. Phố phường vẫn đầy người ra đấy nhưng hôm nay là ngày vui của người ta, ngày chết tiệt của Quỳ. Đêm xuống rất nhanh, gió hun hút thổi. Quỳ không rét nhưng mà đói. Đói lắm. Phố xá tịnh không ai còn mua bán gì. Khổ nỗi đường phố giờ này lại ngậy mùi xôi thịt, rúc vào đâu cũng ngậy mùi, càng hít chân tay càng rời rã. Quỳ dừng xe một góc phố, tính làm một giấc lấy sức rồi gửi xe cuốc bộ về quê. Gần 40 cây số nhưng đi mãi rồi cũng đến, cũng không hết tết đâu mà lo.
Không ngủ được, nhạc nhéo đinh tai nhức óc. Nhà sát đường chưng đèn kết hoa như đám cưới, nhưng nhìn vào thời trống hoác, chỉ một đôi trai gái đang ôm nhau nhảy. Chúng nhảy như động rồ, ngoắc của nợ vào nhau chứ đâu phải là nhảy. Bỗng Quỳ đứng phắt dậy. Gã khách! Thằng quần bò áo thun! Thằng mặt rỗ! Con kia đích thị là đứa đến xin vòng. Tiên sư cha quân mất dạy! Quỳ chực xông vào nhưng hú hồn đã khựng lại được trước cổng. Đêm ba mươi vào làm ầm ĩ nhà người ta thì cầm chắc tiền mất tật mang. Cứ đứng đây đợi. Thằng kia nếu là chủ thế nào cũng tiễn con kia, nếu là khách thì quá lắm đến giao thừa cũng phải cút. Còn hai tiếng nữa đến giao thừa chứ mấy. Quỳ ngồi xổm, tựa lưng thành cổng, nghiến răng chờ đợi. Con chó bẹc-giê thấy có người lạ liền đủng đỉnh đi ra, đưa mắt lừ đừ nhìn Quỳ, gừ một tiếng, ra cái điều: “Nhìn cái gì mà nhìn”. Chó nào chủ nấy. Chó nhà quê nghe tiếng người cuối xóm, đầu xóm đã sủa nhặng lên, ra vẻ hung hăng lắm, nhưng người ta dậm chân một cái đã cụp đuôi mất dạng ngay tắp lự. Con bẹc-giê đến sát cổng, nằm bẹp xuống, trễ nải lim dim mắt nhìn Quỳ. Rõ nó coi Quỳ bằng nửa con mắt. Quỳ cười khẩy, nghĩ bụng: “Mầy là cái đéo gì. Đồ liếm cứt nhà giàu”. Nó lại gừ một tiếng rồi ưỡn ngực vươn vai, đủng đỉnh đi vào, ra cái điều: “Chẳng dư hơi đôi co với lũ chúng mày”. Thế mới tức. Tự nhiên Quỳ uất lên.
“Ba-ái!”. “Xí ố ghẻ-ên!”. Rồi! Thằng kia ra rồi. Quỳ vụt dậy. Gã vừa ra khỏi cổng, Quỳ đã túm chặt lấy tay gã.
- Ông! Đây là cái vòng giả! Ông cho con xin lại tiền.
Gã từ tốn nhìn Quỳ, không lộ một chút gì tức giận hay sợ hãi. Tuồng như gã đã biết trước thế nào cũng gặp Quỳ, thế nào cũng nghe Quỳ nói thế. Thì buông ra đã nào. Tao có chạy đi đâu mà sợ.
- Con đã thử rồi. Đây là cái vòng đồng mạ vàng.
Quỳ đưa cái vòng cho gã. Gã cầm cái vòng ngắm nghía. Giả à?
- V-ăng. Ừ, nếu giả thì tao đưa lại tiền cho. Coi như tao không được cái gì.
Gã nhảy lên xích lô, vui vẻ nói:
- Đi! Đi thử một lần nữa cho chắc. Rồi mày chở tao về Bưởi, tao lấy tiền đưa mày. Mau lên, giao thừa sắp đến rồi.
Quỳ định nói: “Thôi, không thử nữa, ông cho con xin lại tiền”, nhưng lại nghĩ bụng: “Thử thì thử, sợ gì! Lần này có ông nội mày cũng không lừa được ông nữa đâu, con ạ”.
Gã bảo Quỳ dừng lại trước cửa hàng vàng cách hàng vàng quen của Quỳ có mấy trăm mét. Chủ nhà đã đóng cửa nhưng thấy gã thì vui vẻ lắm, nhanh nhẩu tìm đèn khò ra xịt. Ủa, nước vàng chảy ra tươi rói! Thế là thế nào nhỉ?
- Mày thử kiểu gì lạ thế? Làm mất thời gian tao! - Gã vừa đi ra cửa vừa càu nhàu và nhét cái vòng vào túi.
Quỳ lẽo đẽo theo sau, nói giọng thiếu tự tin hẳn:
- Con thử nhà người quen hẳn hoi.
Lập tức gã quay ngoắt lại.
- Đâu? Nhà người quen mày ở đâu?
- Đó kìa! Có một đoạn.
Gã rút cái vòng ra đưa cho Quỳ:
- Cho mày thử lại. Không bảo tao hợp đồng nhà người quen lừa mày. Đi mau lên, Quỳ co cẳng chạy. Không kịp bấm chuông, cứ thế lao thẳng vào nhà.
Chị hàng vàng cầm cái vòng lật đi lật lại. Đâu? Vết thử của người ta đâu? Mỗi vết thử của chị đây này.
- Vừa thử xong mà. - Quỳ thở hắt ra.
Chị hàng vàng bỗng tái mặt kêu lên:
- Thôi rồi! Nó thử cái vòng thật của nó. - Chị đẩy Quỳ, hối hả giục. - Ra đi! Khéo không cái xích lô của em...
Quỳ lao như tên bắn. Ối cha mẹ ơi, họa vô đơn chí! Cái xích lô lấy lại của người ta, còn chưa trả hết tiền. Quỳ ngã sấp xuống mặt đường, mãi sau gượng ngước lên đã thấy chị hàng vàng ngồi trước mặt. Chị đỡ Quỳ dậy, nói như rên:
- Về quê mà làm ăn em ạ. Ỉa vào phố với phéo. Quỳ biết mình khóc nhưng không đừng được.
- Chị ơi, bao giờ em mới hết ngu?
Chị nhét năm mươi ngàn vào túi Quỳ, giọng nghèn nghẹn:
- Em đừng mơ tưởng viển vông nữa. Mình hết ngu thì người ta mưu mẹo lên gấp năm gấp mười. Cũng coi như mình ngu như cũ. Thôi, về đi em.
Không! Không về! Phải đến nhà con kia! Nó cùng duộc với thằng mặt rỗ. Không lấy được tiền thu được của thì cũng xé tan xác chúng nó ra.
Cô gái vẫn thức, đang ngồi ngắm nghía, nắn nắn ngực mình
- Cô gì ơi! Ra tôi bảo! - Quỳ nói như quát. Cô gái thủng thẳng đi ra, vênh mặt lên, hất hàm hỏi:
- Gì thế? Tự nhiên Quỳ tịt ngỏm, không biết nên tiếp tục thế nào.
- Cô mất cái vòng phải không? - Phải. Đây là cái vòng giả! Cô lừa tôi!
Cô gái cầm lấy cái vòng, bất ngờ ném thẳng vào trán Quỳ.
- Đồ ăn cướp! Đây mà cái vòng của tao à?
Cô gái nhào tới túm chặt lấy cổ áo Quỳ, kêu to:
- Mẹ ơi! Đây rồi! Thằng ăn cắp đây rồi! Quỳ há hốc mồm, không biết nên làm gì, nói năng thế nào.
Trong nhà đi ra một người đàn bà chừng năm mươi tuổi, mặt mày xem ra phúc hậu lắm.
- Thằng này giật cái vòng của con. Bắt được, nó lại trả lại cái vòng giả.
- Không phải! Cô lừa tôi! - Quỳ vặc lại và giật tay cô gái.
- Thôi, thôi. Đừng ồn. Nhà chị đang có khách. Có gì vô nhà nói. Chuyện đâu có đó em ạ.
Bà cất tiếng dịu dàng, nghe êm như tiếng Phật bà từ trời xanh rót vào tai Quỳ. Bà tự tay mở cổng, nhẹ nhàng kéo Quỳ vào.
Vào thì vào! Cây ngay không sợ chết đứng. Chừng nào còn chưa lấy được tiền và cái xích lô thời ông còn nằm ỳ ra đấy, chúng mày không cho ông ăn thời ông ỉa ra cho mà dọn.
Bà nhẹ ấn vai Quỳ xuống ghế bành. Cái ghế to đến nỗi Quỳ thấy mình như đang tụt xuống một cái hố. Bà xăng xái đi lấy nước, rất lâu sau cầm cốc nước đi ra ấn tận tay Quỳ, ân cần nói:
- Con bé nhà chị nó cũng hư lắm. Em uống nước đi, rồi kể chị nghe đầu đuôi thế nào. Quỳ tu một hơi, quẹt mồm, nói:
- Chiều nay con đi chở khách... Thì uống nước đi đã nào. Chuyện đâu có đó mà em. Bà tươi cười cắt ngang lời Quỳ. Vô lẽ bà này lại đẻ ra con khốn nạn kia? Quỳ uống thêm ngụm nước, đang nghĩ xem mình nên bắt đầu thế nào cho vừa gọn vừa rõ ràng thì một chiếc xe Jeep đỗ xịch trước cổng. Ba người đàn ông bước vào. Hai người trẻ, một người đã đứng tuổi có cái mũi cà chua. Hai người trẻ chẳng nói chẳng rằng ập đến bẻ quặt tay Quỳ.
- Ô, sao lại thế này? - Quỳ kêu lên.
- Câm mồm! - Người mũi cà chua quát khẽ. - Lôi cổ nó ra ngoài! Quỳ ra sức trì lại nhưng không được. Tuyệt vọng, Quỳ quay mặt về phía bà chủ kêu to:
- Bà! Bà ném cho Quỳ một nụ cười khinh bỉ rồi quay lại người mũi cà chua, thở ra:
- Tết nhất... phiền các chú quá.
Người mũi cà chua cụp mắt xuống, cố gắng lễ phép với bộ ngực xốp lúc nào cũng muốn nhào ra khỏi cổ áo của bà.
- Dạ có chi... Anh đâu chị?
Bà nhỏ giọng: Anh có khách.
Người mũi cà chua liền co vai, rụt cổ, nói khẽ:
- Thôi, em chào chị, em về đây. Chị cứ yên tâm đi, thế nào em cũng lấy lại cái vòng cho cháu.
- Thôi, khỏi phiền các chú đến thế.
Bà nói và tiễn người mũi cà chua ra cổng.
Xe jeep biến khỏi cổng. Bà quay lại lườm cô gái nãy giờ vẫn ườn ra trên đi-văng.
- Cái vòng đâu rồi, con chó?
Cô gái cười rúc rích. Mẹ cũng quá lắm. Mắng nhà quê xơi xới. Cứ làm như mẹ không phải ở quê ra. Bà ngồi xuống, hực ra một tiếng cười khô khốc.
- Là tao nói thế, chứ không có chúng, bố con mày bốc cứt mà ăn. Nói rồi bà vươn vai ngáp dài.
- Khách với khứa. Giờ này còn ngồi thầm thầm thì thì.
Bà uể oải lên cầu thang. Lát sau đã nghe tiếng bà ngọt như tiếng tơ đồng:
- Âëy không. Về là thế nào. Anh đến giờ này là lộc trời ban cho nhà em đó.
Cô gái ngửa cổ cười dài, thò tay nhổ một nhúm lông ném lên phía cầu thang.
Xe Jeep chở Quỳ đến ngã tư thì dừng lại. Người mũi cà chua tự tay cởi trói cho Quỳ.
- Thôi, cho về ăn tết với vợ con.
Quỳ chẳng thấy vui sướng gì, cứ ngồi lì không chịu xuống xe. Ngồi tù còn đỡ nhục hơn về nhà kể cho vợ chuyện này.
- Con không về.
- Sao?
- Chúng nó là bọn lừa đảo.
Người mũi cà chua cười phì:
- Mày bây giờ mới biết à?
Rồi anh vỗ vai Quỳ, dịu giọng:
- Về đi em, giao thừa rồi đó.
- Nhưng, chúng nó là bọn lừa đảo! - gần như Quỳ rú lên.
- Bé mồm thôi! Mày còn nói nữa, tao lại bắt mày bây giờ!
Xe Jeep biến mất, Quỳ đứng trơ giữa ngã tư đường. Bốn ngã đường vắng hoe. Không một bóng người, cả bọn mất dạy lẫn người tử tế.


Bắc Linh Đàm 11-2001

NGUYỄN QUANG LẬP

http://vietnameseface.com/novel/D/Dem-30-Co-Moi-Truyen-Nay_603075.php

READ MORE - Nguyễn Quang Lập