Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, June 8, 2024

Chùm ảnh HOA THANH NGỌC 2 MẦU - Chu Vương Miện

 





READ MORE - Chùm ảnh HOA THANH NGỌC 2 MẦU - Chu Vương Miện

CỒN HOA VÀNG (Trường thi) – Lê Minh Hiền

 

Chi tiết tin - Quảng Bình

 

CỒN HOA VÀNG

(Trường thi)

Lê Minh Hiền 

                     …Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia,

                                                          (Nguyễn Du) 


Phần 1:  MỘNG NGUYÊN THU

1.

Mùa Xuân xuống Cồn Hoa Vàng

thương ai từ độ nụ hườm nguyên sơ

buồn ơi xin vẫy tay chào

Nguyên Xuân khởi sự ngọt ngào Nguyên Thu

2.

Thiên thai một nụ sa mù

chiều xuân mát rượi ngàn ru miên trường

đêm qua hoa bưởi dậy hương

mưa về phố nhỏ bước hồn xanh sao!

3.

Tây hiên đọng giọt sương mờ

trà thơm lan tỏa nét thơ lụa là

tình đầu cát bụi mù xa

yêu ai tình cuối nghe ra vô thường

4.

Trùng trùng ngăn cách người thương

tết mang cố quận xuôi miền Bolsa

đì đùng pháo nổ gần xa

xuân về phố nhỏ thật thà thương Thu

5.

Nửa khuya tỉnh giấc mơ hồ

đêm dài đứt khúc chồn chờ thương ai

ngập rung động mùa phôi phai

29 Tết nhỏ chưa nói gì

6.

Cho xe xuống phố hoang hoài

ngày xuân rõ mặt cúc mai rộn ràng

xứ người nay đã quê hương

trước thềm năm mới nghe hồn nao nao

7.

Đêm 30 xa lắc lơ

nhỏ hay lỗi hẹn giả vờ cong môi

nụ hườm pha nét liêu trai

cầu mơ lỗi nhịp lỡ mai đoạn trường!

8.

Nửa khuya tỉnh giấc hoàn hồn

tình đầu trầm tích mưa nguồn xa xưa

hẹn nhỏ trong đêm giao thừa

mưa bên cố quận đây mùa chiêm bao

9.

Mùng 1 cùng nhỏ đi chùa

ngập ngừng tín hiệu lưa thưa mưa phùn

nụ hườm thơm ngọt môi hôn

cho xe xuống phố nghe hồn vào xuân

10.

Mùi… thì con gái lúa non

nõn nà da thịt phấn hồng ngực thơm

mùng 2 tết bên nhỏ ngoan

mưa xuân rắc hột khe nguồn truông mê

11.

Mùng 3 tết mai vàng hè

hửng tình phát tiết ngày về liên hoan

Thu ngoan bước xuống vườn hoang

hỏi nhỏ: “Nhỏ có lỡ thương một người!?”

 12.

Tháng Giêng ghé phố loay hoay

ngập đường xác pháo người đi sao người

hồn xuân đó còn chần chừ

xin thưa ươm nụ sa mù xuân sang

13.

Một năm rồi sẽ một năm

nụ hườm chớm nụ lá non chớm cành

nhỏ về còn nhớ ta không

ta về còn giữ một hồn chiêm bao

14.

Phương Đông nắng sớm vườn đào

xôn xao phố thị sắc màu phôi pha

ta về giữ ngọc gìn hoa

nhỏ còn ngơ ngác một mùa ngây thơ

15.

Có người nứt mộng ngu ngơ

bước cao bước thấp bên bờ lao xao

sợi buồn quấn cuộn hư hao

may mà gặp nhỏ qua cầu làm quen

16.

Xuân về ươm hạt tinh sương

cho nhỏ mặc áo dài ngoan ngoan hiền

sáng nay tính đã giữa giêng

y trang xếp lại dễ chừng sang năm

 17.

Nhỏ mộng mị nhỏ hồn nhiên

ai về giũ áo bên đường tà huy

chút hồn lang bạt cuồng say

chút hồn chân thật mưa mây xuống chiều

18.

Thương ta mấy thuở bạc đầu

con tim khờ dại bên cầu thiên thu

đường đời tinh thể ngây ngu

đa mang mắt biếc yêu màu môi non

19.

Xuân hồng ghé bến tương giang

vân hạ thấp thoáng đông hàn ướt vai

thu vàng lá rụng xuống tay

cơn mưa chưa ngớt phố ngày vắng em

20.

Ta như một dòng dung nham

tràn qua cõi thực xuống thềm ngẩn ngơ

bốn mùa thay áo tiểu thơ

chân dài sóng lụa qua bờ nhân gian

21.

Chợt nghe đời rất bình yên

trông ra bão rớt một cơn mưa chiều

phố buồn người có vui đâu

thương nhau ngày tháng nhuộm màu vô tư

22.

Ngã mình phòng vắng đêm sâu

chiêm bao người cũ cội sầu vàng cây

thú đau thương vết phôi phai

trở mình trầm cảm một thời ngông nghênh

23.

Thức nửa khuya buốt lạnh hồn

chiêm bao thuở ấy bên cồn hoàng hôn

biển xanh cát trắng thùy dương

ai đi về cõi vô cùng thời gian

 24.

Giật mình buông giấc man miên

trở về mát lạnh bên dòng sông ngoan

nhỏ hư thực nhỏ phân thân

dáng kiều ngồn ngộn cồn hoang mơ huyền

25.

Một ngụm trà sáng tinh sương

yêu ai từ độ cồn làng khe mây

ngoảnh đầu ngày tháng mơ phai

ngoài hiên nắng mới nối lời Nguyên Thu


Feb. – Sept. 2023


READ MORE - CỒN HOA VÀNG (Trường thi) – Lê Minh Hiền

Thursday, June 6, 2024

THUỞ BAN ĐẦU - Thy Lệ Trang

 


 Thy Lệ Trang

THUỞ BAN ĐẦU


 

Ngày đầu bước vào ngưỡng cửa Trung học của tôi không được đẹp và dễ thương như các nhà văn đã miêu tả. Tuy nhiên nó vẫn cho tôi nhiều kỷ niệm khó quên.

 

Sau gần một ngày chờ đợi trước cỗng trường để nghe đọc tên những thí sinh trúng tuyển vào đệ Thất trường Trung Học công lập Ngô Quyền. Tôi trở về nhà với nỗi buồn vô tận. Thật uổng công tôi miệt mài đèn sách luyện thi - ở lớp luyện thi tôi được xếp hạng hai - và uổng công tôi hy vọng tràn trề trong ngày thi, thày giám thị phòng thi đã đọc bài luận của tôi và khen khá lắm. Sợ tôi buồn vì thi rớt, ba tôi luôn an ủi, vỗ về: “Học tài thi phận con ạ!”.

 

Thủa nhỏ chưa biết ham chơi, tôi dẹp nỗi buồn và xin vào trường tư thục Khiết Tâm. Đang học ở đây được gần hai tuần -Mai Hữu- cô bạn nhỏ học cùng lớp nhất ở trường tiểu học Tân Thành chạy đến nhà tôi báo tin: -"Tao thấy tên mày trong danh sách lớp Thất ba trường NQ, vô đi kẻo trễ.” Rồi Trần Thị Châu cũng báo cho tôi hay kèm theo dặn dò: -"Nhớ gặp cô Giám thị Giàu.” Thế là tôi chuẩn bị vào trường một mình bởi vì ba tôi bận đi làm xa.

 

Người chị bà con cấp tốc đặt may thưởng cho tôi ba chiếc áo dài: một chiếc gấm màu xanh và hai chiếc phin trắng. Lần đầu tiên mặc áo dài, tôi cảm thấy rất ngượng ngập, khó chịu. Tôi vốn nhỏ con, ốm yếu lại không được xinh gái chiếc áo dài lại rộng phùng phình làm tôi có cảm tưởng dị hơn. Trường lúc này không khí rất nhộn nhịp, bận rộn. Tôi phải chờ hơn nửa tiếng mới gặp được cô Giàu. Sau khi nghe tôi trình bày - cô ngước lên nhìn tôi với cặp kiếng trắng kéo xệ ngang lỗ mũi: -"Danh sách ở lớp nào?” Chết thật! Tôi chỉ nhớ loáng thoáng con số ba Huệ báo cho tôi. Ở Khiết Tâm tôi đang học lớp Thất A một. Nghĩ là trường nào cũng giống nhau, tôi nhanh nhẩu trả lời: -"Dạ, lớp Thất A ba.” –“Ở đây không có lớp Thất A ba.” Cô nhấn mạnh và vội vàng bỏ đi. Lật đật chạy theo cô suýt nữa tôi vấp ngã vì chiếc ống quần vừa rộng, vừa dài. Tôi đưa cô số ký danh và họ tên nhờ cô xem lại. Cô dò vào tập hồ sơ "Lớp Thất ba." Sau đó, cô dẫn tôi lên dãy lầu thứ nhất... lớp cuối cùng. Lớp học lúc này chưa có giáo sư nên ồn ào như một bầy ong. Khuôn mặt người nào cũng hớn hở, tươi cười. Tôi nhìn thấy Huệ ở bàn đầu đang trò chuyện cùng các bạn mới. Cô Giàu dẫn tôi xuống bàn cuối cùng và bảo: -"Đây là chổ ngồi của trò lớp Thất ba ban Pháp văn.” Tôi buột miệng: -“Thưa cô con xin học ban Anh văn." –“Lớp Anh văn không còn chỗ trống chỉ còn lớp Pháp văn thôi." Nói xong, cô bỏ đi. Đang ngỡ ngàng thì một bàn tay kéo tôi ngồi xuống và đẩy tôi vào bên trong, "ngồi đi còn chọn lựa gì nữa". Nhiều giọng nói khác chen vào: -"Tui cũng xin ban Anh văn nè, rốt cuộc cũng vào đây." -"Ban nào cũng được miễn vào trường công là ngon rồi."

 

Sau khi ổn định được chổ ngồi, tôi được biết cô bạn to con kéo tôi ngồi xuống là Trần thị Lưu, nước da ngâm đen nhưng có duyên. Kế bên là Trần Lệ Dung miệng mồm liếng thoắng, tóc cột đuôi ngựa trông có vẽ tinh nghịch hơn. Phan thị Hà ốm yếu như tôi có chiếc mũi xinh xinh và chiếc răng sún. Cô bạn ngồi bàn trên hay cúi xuống nhìn tôi cười có tên đẹp cũng như khuôn mặt đẹp là Nguyễn Thu Xuân.

 

Từ nhà tôi đến trường NQ bằng xe lam phải đi hai chuyến: một chuyến từ nhà đến chợ và một chuyến từ chợ đến trường. Tôi quyết định đi học bằng xe đạp. Chưa bao giờ đạp xe đi xa nên tôi rất hoang mang, lo sợ thứ nhất là sợ đi qua vòng cua Công trường Sông Phố. Những tuần lễ đầu tôi phải ngừng xe ở trước trường Mỹ nghệ, dẫn xe đạp qua bên kia đường rồi mới dám chạy tiếp. Thứ hai là sợ vạt áo dài bị cuốn vào dây sên, dù tôi đã cẩn thận ràng vạt áo sau vào ba ga còn vạt trước cầm trong tay. Chiếc xe đạp của tôi loại "cà tàng" nên hay bị sút sên, do đó tay tôi thường dính dầu nhớt và ống quần thường bị sên "cạp" te tua. Trong nỗi khổ cũng có niềm vui nho nhỏ. Mỗi lần tan trường, bọn học trò nhỏ chúng tôi cho xe đạp thả dốc tự do - con dốc dài từ trường NQ dẫn đến rạp hát Biên Hùng. Có bạn gan dạ còn buông cả hai tay như làm xiếc. Từ từ quen dần, tôi biết quẹo qua đường Hưng Đạo Vương ngang chùa Tịnh Độ để đến trường, tránh qua công trường Sông phố lúc nào cũng ồn ào, náo nhiệt. Giờ ra chơi, bọn tôi hay la cà đến các lớp đàn anh, đàn chị. Dưới mắt chúng tôi các anh chị ấy là thần tượng. Nhỏ Lưu lanh lợi nên biết nhiều... Anh X này làm trưởng lớp. Anh A có vợ một con. Chị B là con ông Z giàu có tiếng ở Biên Hòa. Đến các bậc giáo sư nó cũng biết nhiều điều mới lạ. Lưu chỉ tôi vợ chồng thày Nguyễn Xuân Hoàng, nó thì thầm vào tai tôi -"Mày biết không các chị lớp lớn tương tư thày còn các anh trồng cây si cô như điên." Nhỏ Lưu hay thổi phồng câu chuyện cho hấp dẫn nhưng điều này tôi tin là có thật. Bỡi vì vợ chồng thày Hoàng rất đẹp. Một hôm, vừa tan học, Lưu kéo tôi chạy xuống lầu "theo tao đến lớp...các anh chị làm liên hoan tiễn thày Tôn Thất Long đi Pháp.” Chúng tôi là những vị khách không được mời chỉ đứng ngoài cửa sổ dòm ké. Hôm đó, tôi về nhà thật muộn, báo hại mẹ tôi phải ra ngoài ngõ đứng chờ.

 

Vốn yêu thích thơ văn từ nhỏ nên tôi hay tìm đọc báo chí của trường. Tôi đã đọc vỡ kịch Công chúa Huyền Trân của thày Quýnh và ao ước sẽ viết được vỡ kịch như thế trong tương lai. Lưu bảo tôi thày Quýnh đạo diễn cho các anh chị lớp đệ nhất diễn vỡ kịch đó ở rạp hát Biên Hùng trong dịp Tết. Tôi không được xem nên không biết lời nó đúng hay sai. Bấy giờ, trước văn phòng trường có một bảng đen dùng để báo cáo những hoạt động của trường: từ học tập-văn nghệ-thể thao đến báo chí. Những bản tin ngắn có kèm theo hình ảnh thật sống động. Thấy tôi dán mắt vào những tấm ảnh về buổi lễ trao giải thưởng văn chương của trường -giải thưởng được trao cho một người con gái có khuôn mặt đẹp và nụ cười rạng ngời-, Lưu vội reo lên: -"Tao biết chị này con ông trung úy Công, nhà có ba người con gái Dung, Ngôn, Hạnh." Sau đó, tôi có gặp chị Dung vài lần ở cổng trường. Tôi lén nhìn chị và âm thầm ngưỡng mộ chị mà không ai hay.

 

Bây giờ, dù đang sửa soạn bước vào ngưỡng cửa sáu mươi tôi vẫn nghe lòng mình trẻ lại mỗi khi nhớ về thủa ban đầu vào trường Ngô Quyền. Hình ảnh con bé ốm yếu với chiếc xe đạp cũ -giọng cười ríu rít như như chim của một đàn tiên áo trắng- tiếng guốc khua vang trên thang lầu quen thuộc và con dốc dài thân thương thủa nào...Tất cả dường như còn quanh quẩn bên tôi. Và cho dù nhiều năm sau này trường Ngô Quyền có nhiều người đẹp nỗi tiếng -tôi vẫn không bao giờ quên được nét đẹp của chị Dung... Ôi! nét đẹp thật hồn nhiên, ngây thơ, man dại...

 

 THY LỆ TRANG NGUYỄN THỊ CÚC

 MASSACHUSETTS

 

THƯƠNG QUÁ... NGÔ QUYỀN...

 

Như hoa hồng ngậm giọt sương mai

Tinh khiết em trong áo lụa dài

Thành phố nồng nàn hương bưởi tỏa

Sân trường rực rỡ lá cờ bay

Màu xanh* gấm mịn còn tươi thắm

Sắc trắng* tơ mềm khó úa phai

Mấy chục năm rồi hồn vẫn nhớ

Ngô Quyền một thuở tiếc thương hoài!


Thy Lệ Trang

* Trường trung học Ngô Quyền Biên Hòa ngày xưa con gái mặc áo dài xanh vào ngày thứ hai, áo dài trắng vào những ngày còn lại.

 

TÌNH HỌC TRÒ

THỂ NGŨ NGÕN -YẾT HẬU

 

Sân trường lá rụng đầy

Áo lụa dài bay bay

Em má hồng, môi đỏ

Say!

Ta lạc vào vườn thơ

Tình yêu đến bất ngờ

Nhìn hoa vàng bướm trắng

Mơ!

Tặng em một nụ hồng

Ngước mặt, mỏi mòn trông

Chu mỏ, nàng quay bước

Xong!

                  Thy Lệ Trang

 


READ MORE - THUỞ BAN ĐẦU - Thy Lệ Trang

Tuesday, June 4, 2024

QUẢNG TRỊ QUA DÒNG LỊCH SỬ - Lê Quang Thái

 

Nhà nghiên cứu Lê Quang Thái (1940-2020)




 

Lê Quang Thái

QUẢNG TRỊ QUA DÒNG LỊCH SỬ

 

Kể từ mùa xuân Tân Dậu (1801), tỉnh Quảng Trị mới hình thành thay thế cho tên cũ là Thuận Châu của xứ Thuận Hóa. Tính ra đến nay (1992), cơ cuộc này đã tròn 191 năm, (cái tuổi) còn lớn hơn tuổi lập quốc của một số quốc gia trên thế giới.

Khi giang sơn thu về một mối, vua Gia Long trích hai huyện Hải Lăng, Đăng Xương thuộc phủ Triệu Phong và huyện Minh Linh thuộc phủ Tân Bình (tức Quảng Bình ngày nay) đặt làm dinh Quảng Trị.

Quan chức cai trị có Lưu thủ, Cai bộ (bạ) và Kỷ lục. Lưu thủ là quan võ lo trấn giữ, Cai bạ làm nhiệm vụ của Tuần vũ, Kỷ lục đóng vai như Án sát. Còn nguồn Cam Lộ (đất Cam Lộ và Hướng Hóa) được cải thành đạo, đứng đầu là Hiệp thủ, gọi là Lưu quan nghĩa là quan chức do triều đình Huế cử đến chăm dân đóng ở thành Vĩnh Ninh của đất Cam Lộ.

Buổi đầu, lỵ sở dinh Quảng Trị đóng tại phường Tiền Kiên, tổng An Đôn, huyện Đăng Xương, [trước là Vũ (Võ) Xương, sau cải thành Thuận Xương]. Năm Gia Long thứ 5 (1806), đặt Quảng Trị làm dinh trực lệ thuộc Kinh sư. Tháng Năm năm Đinh Mão (1807) dựng hành cung và công sảnh ở Quảng Trị.

Buớc qua năm Gia Long thứ 8 (1809), thủ phủ chính thức được dời về làng Thạch Hãn, huyện Hải Lăng, Quảng Trị không còn là dinh nữa mà là trấn, thống nhất theo đơn vị hành chính đồng cấp khắp cả nước. Về sau, vua Minh Mạng đổi trấn thành tỉnh, Quảng Trị có tên gọi chính danh chững chạc từ năm Minh Mạng thứ 12 (1831). Nếu tính tuổi địa lý hành chính đúng danh đúng phận thì nay tỉnh Quảng Trị tròn đầy tuổi thọ 161.

Dưới đời Minh Mạng, buổi đầu quan chức cai trị có Trấn thủ, Hiệp trấn và Tham Hiệp trấn. Tháng Chạp năm Tân Mão (1831) ban hành quy chế Tổng đốc, Tuần vũ, Bố chánh, Án sát mô phỏng theo quan chế nhà Thanh. Tại mỗi trấn có hai ty Bố chánh và Án sát, tục gọi là ty Phiên coi về hành chính, ty Niết coi về hình ản (kiêm quản huyện).

Năm 1830 mới đặt chức Tri phủ Triệu Phong kiêm quản huyện Minh Linh. Năm 1831 bắt đầu đặt Tri phủ Cam Lộ, vẫn đóng tại thành Vĩnh Ninh, sau đó thành ấy được gọi là Phủ thành.

Từ đây tỉnh Quảng Trị gồm hai phủ Triệu Phong, Cam Lộ, và mười châu.

-Phủ Triệu Phong gồm các huyện Hải Lăng, Đăng Xương, Minh Linh.

-Phủ Cam Lộ.

-Mười châu là Hướng Hóa, Mường Vang, Nà Bôn, Thượng Kế, Tá Bang, Xương Thịnh, Tân Bồn, Ba Lan, Mường Bổng, Lang Thìn.

Ban đầu, đặt chức Bình Trị Tổng đốc, sau đặt Bình Trị Tuần vũ và dinh Tuần vũ đóng tại thành Quảng Trị. Lãnh binh là chức quan võ coi quân sự, Đốc học là quan văn coi về học chính của tỉnh. Thời chế độ Hán học suy tàn nhường chỗ cho tân học thì còn danh xưng Đốc học và gọi là Kiểm học.

Vị Tuần vũ đầu tiên cai quản tỉnh Quảng Trị là Trần Danh Bưu hàm Binh bộ Thị lang, lãnh chức Bố chánh sứ. Nguyễn Thị Tham hiệp là Trịnh Quang Khanh làm Án sát sứ. Phó vệ úy Nguyễn Văn Nghị thăng Vệ úy sung chức Lãnh binh quan.

Tuần vũ Quảng Trị trông coi mọi việc trong hạt. Quan hàm ghi rõ “Binh bộ tham tri hoặc Thị lang kiêm Đô sát viện hữu phó Đô sử, Tuần phủ (vũ) Quảng Trị xứ địa phương, Đề đốc quân vụ kiêm lý lương thưởng, lãnh Bố chánh sứ”.

Năm Tự Đức thứ 6 (1853), triều đình lại cải tổ cơ cấu hành chính, nhập tỉnh Quảng Trị vào phủ Thừa Thiên và cải đặt chức quan cai trị địa phương là Quản đạo (nhỏ hơn Tuần vũ bốn trật), bên cạnh có chức Giáo thọ trông coi việc học hành và thi cử đóng ở dinh Án sát cũ. Hình án cho phủ Thừa Thiên trông coi. 12 năm sau, năm 1865, cải đặt chức quan lo về việc học hành lên thành Điển học. Chức danh này được xử lý quyền hành ngang hàng với Đốc học của các tỉnh khác.

Đến năm Tự Đức thứ 29 (1876), Quảng Trị không còn phụ thuộc Kinh sư nữa mà được tách ra làm tỉnh trở lại như trước. Danh vị tỉnh đứng trước tên gọi Quảng Trị được duy trì và bảo lưu cho đến tháng 5.1977. Địa phận Quảng Trị được phân thành các huyện thị theo cơ cấu hành chính mới gồm: thị xã Đông Hà, huyện Triệu Hải, huyện Bến Hải và huyện Hướng Hóa, thị xã cũ Quảng Trị xuống cấp nhanh chóng, trở thành thị trấn Triệu Hải.

Ngày 01.7.1989, Quảng Trị trở lại đúng tên gọi của 158 năm về trước, theo hướng lịch sử xoay vần bằng chuỗi móc xích: dinh > trấn > tỉnh > đạo > tỉnh > huyện > tỉnh.

Ôn lại dĩ vãng thì thấy quả là một khúc dạo nhạc cung đàn đầy đủ bảy nốt hẳn hoi. Lịch sử tỉnh nhà đã trải qua những bước thăng trầm.

Từ chỗ cai quản ba huyện chính đầu lòng là: Hải Lăng, Đăng Xương, Minh Linh (đổi thành Chiêu Linh rồi Vĩnh Linh năm 1889), nhà cầm quyền Quảng Trị lần lượt tiếp nhận thêm các huyện mới Hướng Hóa (năm 1834), Địa Linh (năm 1836, đổi thành Gio Linh năm 1886), Cam Lộ (trước là Thành Hóa, năm 1853).

Trước năm 1945, tỉnh Quảng Trị có ba phủ (phủ lúc này không gồm nhiều huyện): Triệu Phong, Hải Lăng, Vĩnh Linh và huyện Cam Lộ, Gio Linh, Hướng Hóa. Đứng đầu phủ có Tri phủ, phụ việc có Lại mục và các thơ lại. Bên cạnh đó có chức Đội lệ coi quản lính hầu. Chức quan bên dưới ở huyện thì như phủ, chỉ có khác là trông coi việc học ở phủ có chức Giáo thọ và ở huyện thì có chức Huấn đạo.

Vị Tuần vũ cuối cùng của tỉnh Quảng Trị là ông Nguyễn Văn Thơ, người có công xây dựng lao xá Quảng Trị (trong thành cổ, phía cửa hậu) thành nhà lao kiên cố và bù lại đã một thời được an dưỡng tuổi già ở đây.

Từ năm 1948 đến 1954 trong vùng tạm chiến, đứng đầu tỉnh là Tỉnh trưởng, đầu phủ là Phủ trưởng, đầu huyện là Huyện trưởng. Bên dưới có Thư ký trưởng và các thư ký.

Sau Hiệp định Genève (20.7.1954), vĩ tuyến 17 trở thành lằn ranh tạm thời chia cắt hai bờ Bắc - Nam của sông Hiền Lương. Chính danh sông Bến Hải buổi xa xưa trở thành địa danh phổ biến, văn chương và thời sự là sông Bến Hỏi. Theo lằn ranh ấy, hết 2/3 diện tích phủ Vĩnh Linh nằm ở bờ Bắc, tạo thành một đơn vị hành chính mới Đặc khu Vĩnh Linh. Phần đất phía Nam vĩ tuyến 17 gồm sáu quận (từ năm 1955) cho đủ bộ sáu: Trung Lương, Gio Linh, Cam Lộ, Hướng Hóa, Triệu Phong và Hải Lăng.

Năm 1956 tỉnh Quảng Trị lập thêm quận Ba Lòng (đất của Hải Lăng và Triệu Phong), rồi từ năm 1969 đến năm 1971, tỉnh Quảng Trị lập thêm hai quận mới là Mai Linh (ở ngoại ô về phía tây nam thị xã Quảng Trị) và quận Đông Hà.

Như thế, tỉnh Quảng Trị trước 1972 có chín quận cả lớn lẫn nhỏ. Đứng đầu có chức Quận trưởng, có phó Quận trưởng (thay thế cho Thư ký trưởng). Chức này đặt ra từ năm 1965 theo hệ thống công vụ của miền Nam.

Thị xã Quảng Trị là tỉnh lỵ Quảng Trị. Nay gọi là thành thì trước kia là thành Quảng Trị. Sách Đại Nam nhất thống chí (tỉnh Quảng Trị), cho biết rõ về thành trì cả thủ phủ này như sau: “Tỉnh thành có chu vi 481 trượng 6 thước; cao 1 trượng; dày 3 trượng, có 4 cửa Tiền, Hậu, Tả, Hữu; hào rộng 4 trượng 6 thước, sâu 6 thước. Năm Minh Mạng thứ 4 (1823) thành còn đắp bằng đất, năm thứ 19 (1838) xây gạch; năm Tự Đức thứ 6 (1853) không còn gọi là tỉnh thành mà đạo thành. Năm thứ 29 trở lại làm tỉnh”?

Trong thành, ngoài dinh Tuần vũ, dinh Án sát còn có hành cung và sảnh là nơi để làm lễ bái vọng về triều hoặc làm nơi tạm trú khi nhà vua ngự giá hoặc tuần thú thăm dân.

Thời Pháp thuộc, bên cạnh quan đầu tỉnh có đặt Công sứ (dịch từ chữ Consul) và Phó sứ. Nhà Công sứ nằm ngoại thành, ở phía bờ sống theo lối kiến trúc Pháp, sau này là dinh Tỉnh trưởng và kế bên Tòa hành chính tỉnh. Còn trong thành là nơi đóng quân.

Từ năm 1972 đến 1973, tỉnh lỵ Quảng Trị đóng tại Mỹ Chánh, rồi ở Diên Sanh (huyện Hải Lăng).

Trong thời điểm ấy, chính quyền cách mạng tỉnh chọn Đông Hà làm tỉnh lỵ và Đông Hà còn gọi là Quảng Hà.

So với các tỉnh thành khác trong cả nước, Quảng Trị là tỉnh chịu đựng sự tàn phá khốc liệt nhất trong chiến tranh. Nhờ vào truyền thống, lao động cần cù và sáng tạo, tinh thần chịu thương chịu khó của nhân dân, vết thương chiến tranh sớm được hàn gắn để vươn lên: sao cho có ngày kịp tỉnh bạn.

Hoài vọng ấy chắc chắn không sớm thì muộn cũng đạt được.

 

(Tạp chí Văn hóa Quảng Trị. Số 05.1992)

 

Chú thích:

1. 481 trượng 6 thước = 1.948 m; 3 trượng = 12 m; 4 trượng 6 thước = 18,4 m, 8 thước = 3,2 m.

2. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí (tỉnh Quảng Trị), Tu Trai Nguyễn Tạo dịch, (Sài Gòn: Nha Văn hóa, Bộ Quốc gia Giáo dục, 1961), 33.

 

 

 

READ MORE - QUẢNG TRỊ QUA DÒNG LỊCH SỬ - Lê Quang Thái

CHUYỂN MÙA – Thơ Lê Phước Sinh


 


CHUYỂN MÙA
 
Nắng mùa hạ làm lá úa chuyển màu,
những sợi gân như bệnh lao, muốn khạc đờm mà cổ họng vùng vằng chưa nhổ được.
Mõ thời gian cầm canh như vờ gióng lên gióng xuống,
gợi nhớ gõ vào nhịp phách trò quan họ ngày xưa.
 
Lê Phước Sinh
 
READ MORE - CHUYỂN MÙA – Thơ Lê Phước Sinh

GHI LÒNG – Thơ Lê Kim Thượng


  


Ghi Lòng 1-2
 
1.
“Ngày Xưa” nhớ lắm… “Ngày Xưa”
Em tôi mười sáu tuổi vừa tròn trăng
Đường tình hoa tím Bằng Lăng
Tím màu chung thủy, giăng giăng đêm ngày
Tay ngà, môi ngọc, tóc mây
Mắt hiền, dáng đẹp… vòng tay ấm tình
Em – Tôi, hai đứa lặng thinh
Gió nghe xào xạc ru tình thanh tân
Cái nhìn sao cứ bâng khuâng
Tóc tơ che cổ trắng ngần chảy xuôi
Ghi lòng, em nói… Yêu tôi
Ghi lòng, tôi đã nói rồi… Yêu em
Chiều lên tóc biếc ngủ êm
Cho tôi gối mặt, gối lên nồng nàn
Mắt mi ngủ giấc mơ màng
Nụ hôn lặng lẽ, dịu dàng nhẹ êm
Chiều lên… muộn lắm, chiều lên
Bàn tay cứ muốn bắt đền… bàn tay
Hoàng hôn bóng ngả về Tây
Yêu đương một thuở… nồng say một thời…
 
2.
Hình như… yêu để rồi thôi
Hình như… em đã bỏ tôi thật rồi?
Em nhìn về phía xa xôi
Bóng tôi vẫn đợi, đơn côi lạc loài
Chiều Sao Hôm… sáng Sao Mai
Hai đầu nỗi nhớ, cách hai phương trời
Em về bên ấy với người
Xa lòng, xa mặt, sao lời… nhiêu khê?
Nhớ nhau còn đó câu thề
Nhớ nhau còn đó lối về tơ vương
Nhớ nhau lời nói yêu thương
Nhớ nhau duyên số vô thường đổ xiêu
Có người mắc cạn sông yêu
Mênh mông trời nước, sáng chiều hổ ngươi…
Môi son Thiếu phụ còn tươi
Tóc dài còn bới, nụ cười còn xinh
Em còn giọng nói đa tình
Nuôi con đời Thực… nuôi mình đời Mơ
Bao giờ cho đến bao giờ
Tôi – Em đời Thực… không chờ kiếp sau?
       
                        Nha Trang, tháng 6. 2024
                                 Lê Kim Thượng

READ MORE - GHI LÒNG – Thơ Lê Kim Thượng

ĐỂ NHẸ NHÀNG HƠN – Thơ Trần Mai Ngân


  

 
ĐỂ NHẸ NHÀNG HƠN
 
Để nhân gian nhẹ nhàng hơn
Ta yêu nhau đi
Yêu như thuở xuân thì chưa toan tính
Một nụ hôn cũng làm luýnh quýnh
Môi lần đầu rất ngọt rất say

Để nhân gian nhẹ nhàng hơn
Ta đừng mãi loay hoay
Cứ thật chậm về bên hiên nhà cũ
Lặng yên - không cần chi phải nói
Trăng đêm nay mới thật là trăng…

Để chúng ta nhẹ nhàng hơn
Bao dung đi quên những điều không đẹp
Như dòng sông ra biển chẳng phân vân
Và đêm buồn lạc một tiếng chuông ngân
Vọng trong vách - bóng đôi tình nhân cũ!
 
                                         Trần Mai Ngân
READ MORE - ĐỂ NHẸ NHÀNG HƠN – Thơ Trần Mai Ngân

RỒI SẼ NGUÔI NGOAI - Thơ Thy Lệ Trang - Nhạc Bằng Giang - Ca sĩ: Tâm Thư




RỒI EM SẼ NGUÔI NGOAI



Giọt nước mắt long lanh

Tiếc cho một cuộc tình

Hạnh phúc quá mong manh

Nên dể dàng tan nhanh

 

 Hòn sỏi nhỏ ngu ngơ

 Khuất chìm trong vũng hồ

 Như lời hứa năm xưa...

 Khuất chìm dần trong mưa

 

Anh là áng mây trôi

Một lần qua đỉnh đồi

Em là bóng trăng côi...

Trên đỉnh buồn... chơi vơi...

 

 Cho nhau từng ước vọng

 Cho nhau từng khát khao

 Cuối cùng em chợt hiểu

 Không còn gì cho nhau

 

Em sẽ lớn khôn hơn

Sau cơn u mê dài

Rồi em sẽ nguôi ngoai...

Rồi em sẽ nguôi ngoai...

 

THY LỆ TRANG

MASSACHUSETTS

 


READ MORE - RỒI SẼ NGUÔI NGOAI - Thơ Thy Lệ Trang - Nhạc Bằng Giang - Ca sĩ: Tâm Thư