TRANG THUẦN TÚY VĂN HỌC NGHỆ THUẬT CỦA NGƯỜI QUẢNG TRỊ VÀ NGƯỜI YÊU MẾN QUẢNG TRỊ.
Chúc Mừng Năm Mới
Sunday, December 25, 2022
MÍA NGON ĐÁNH CẢ CỤM - Truyện ngắn Vũ Hùng
![]() |
| Nhà văn Vũ Húng |
Truyện ngắn
MÍA NGON ĐÁNH CẢ CỤM
Để tui kể thêm cái đoạn Thầy Dài bị
kỷ luật và sa thải ra sao để mấy ông rõ. Cứ thắc mắc hoài? Nhưng ngăn ngắn thôi
nha!
Khi Ban Giáo Dục Huyện ký quyết định
đẩy Thầy Dài lên Trường Long Thành xa xôi hẻo lánh chưa ráo mực và Thầy Năm
Hiệu trưởng chưa kịp xoa tay cười hả hê cho bõ tức thì cô giáo Thư, chị ruột
của Thầy đã mua tặng cho người tình yêu quý chiếc mũ phớt mới coóng của Pháp
Quốc chánh hiệu màu cứt ngựa hẳn hoi và chiếc xe Honda 67 của Nhựt Bổn chánh
hãng đỏ tươi như màu quan tài, ngay cả dân giàu có ở thị xã Quy Nhơn cũng không
dám ước mơ đủ bộ như thế?
Vi vu bằng xe Honda mới kẻng về
trường mới, Thầy Dài năng nổ lắm. Siêng năng thăm hỏi phụ huynh, quan tâm giúp
đỡ học sinh những gia đình neo đơn, cô quả. Ai cũng quý, cũng thương. Đặc biệt
Thầy thường lui tới nhà chị Ba Bảnh, đẹp người đẹp nết, chồng chết đã mười năm
cứ ở vậy nuôi con chẳng một điều tiếng nào. Thầy giúp chị lợp lại mái
nhà, sửa lại hàng rào gãy nát...
Ngày giỗ chồng chị Ba Bảnh có mời người
anh cả con ông bác ruột là Thầy Năm lên dự. Oan gia ngõ hẹp lại gặp nhau. Thầy
Năm nhìn cái bụng lùm lùm hở nút của cô em họ rồi nhìn hàm răng vẩu của Thầy
Dài mà máu trong người cứ sôi lên ùng ục, ùng ục...
Thầy Năm hậm hực bỏ về, tức tốc viết
ngay lá đơn dài đúng 9 trang giấy manh gửi gấp lên Ban Giáo dục và Ty Giáo
dục...
Bị buộc thôi việc việc Thầy Dài
chuyển qua nghề đờn một cách chóng vánh. Tiếng đờn của Thầy ngọt lắm, ngọt đến
nỗi hai Dì cháu làng Lam Giang - đang trọ Xóm Cá để học việc tại Nhà may
Thống Nhì, thị trấn Bình Định -mê như điếu đổ. Hết Dì rồi Cháu cứ thi nhau trốn
học may để nghe ngón đờn mùi mẫn của Thầy Dài như một ma lực không thể nào
cưỡng nổi .
Chưa đầy ba tháng học may chẳng đâu
vào đâu, trước Dì sau cháu đều có chung triệu chứng thèm chua và nôn oẹ khi
ngửi phải mùi cơm!..
Khi nghe tin Dì Út chưa đầy 50 tuổi
đột ngột qua đời vì nhồi máu cơ tim, Thầy Năm đạp xe xe như bay về làng Lam
Giang. Đến nơi thi thể của Dì cũng vừa khâm liệm xong. Bốn năm ông vừa sư, vừa
tiểu đang ê a tụng kinh, gõ mõ.
Thầy Năm hỏi dượng Út :
- Sao em Tư với cháu ngoại bị bịnh
gì mà xanh xao, ốm yếu dữ vậy Dượng?
Dượng Út nghẹn ngào chưa kịp trả lời
thì ngoài sân đã nghe tiếng bình bịch, bình bịch của chiếc xe Honda 67 đỏ chói
và chiếc mũ phớt màu cứt ngựa xuất hiện.
Mặt mày bỗng biến sắc, từ cổ họng
Thầy Năm bật ra một câu yếu ớt, chẳng ai hiểu gì cả!
-Trời ơi! Mía ngon đánh cả cụm à?
Rồi Thầy ngã vật ra bất tỉnh!...
Bình Định, 04.9.2021
Vũ Hùng
THƠ TRẦN ĐỨC TÍN: VÀI TRAO ĐỔI VỚI VŨ THỊ HƯƠNG MAI - Đặng Xuân Xuyến
THƠ TRẦN ĐỨC TÍN:
VÀI TRAO ĐỔI VỚI VŨ THỊ HƯƠNG MAI
*
Trần Đức Tín là nhà thơ trẻ, sinh ngày 17 tháng 8 năm 1989, gốc
người Cà Mau, vào hội nhà văn thành phố Hồ Chí Minh năm 2021. Thơ của anh xuất
hiện khá nhiều trên các diễn đàn, các trang báo trực thuộc các hội văn nghệ do
nhà nước quản lý. Anh viết theo kiểu thơ hình thức diễn giải (hậu hiện đại),
lối thơ mà các nhà thơ trung thành với lối thơ truyền thống như Trần Mạnh Hảo,
Đỗ Hoàng, Nguyễn Khôi, Triệu Lam Châu... gọi là "thứ giặc thơ",
thứ “thơ vô lối", “thơ tân con cóc”, thơ phá tiếng Việt. Anh
tham gia khá tích cực vào các cuộc thi thơ do các hội văn nghệ trong nước tổ
chức, đã giành được vài giải và cũng gặp phải đôi ba ì xèo, kiện tụng quanh
chuyện thơ dự thi của Trần Đức Tín có "những nét hao hao giống với con cái
nhà người ta.".
Bài viết này là trao đổi của tôi với tác giả Vũ Thị Hương Mai về
thơ của nhà thơ trẻ Trần Đức Tín (bút danh Khét) khi chị comment rất thẳng thắn
dưới bài viết ""Lạc" của Trần Đức Tín" trên
trang facebook của tôi.
Comment đầu tiên tác giả Vũ Thị Hương Mai viết: "Câu “Bụt
/ tuốt sợi rơm vàng, ngồi khóc để con diều ăn gió / ăn hết những yêu thương”
đọc nghe rất ngô nghê, cũ không ra cũ, mới không ra mới, giả tạo cảm xúc và màu
mè làm dáng. Đừng nói đây là câu thơ chứa nhiều ẩn dụ phải thật suy tư mới tìm
ra nghĩa bóng núp trong thơ như cách nói ngụy biện, bao che cho những cách làm
mới thơ để phá tiếng Việt của các giọng thơ cùng đẳng cấp với "Mẹ tôi chửi
kẻ trộm". Đây không phải là câu thơ “khó hiểu” mà là câu nói lung tung,
rất tối nghĩa."
Đúng là thơ của Trần Đức Tín có khá nhiều câu lan man dài dòng
diễn giải như văn nói, hoặc tối nghĩa hoặc khó hiểu và khó cảm, khiến người đọc
như ú ớ đi trong mê lộ chữ nghĩa nhảy nhót điệu đà nhưng lại không có ý hoặc ý
gượng ép chắp vá nên nhiều bài vừa đọc xong đã quên ngay:
- “chúng ta ăn trên những xác người nhé / không / chúng ta
không phải kền kền / vậy chúng ta là gì / như mọi sinh vật khác / mở mắt và đi
/ làm thứ gì đó / đại loại, mâu thuẫn / và nhốt tối trong những bức tường”
(Giấc mơ ký sinh)
- “loài người sinh ra / để lẩn trốn / nghệ thuật sinh ra / để
đào thoát” (Khi ta viết chữ)
- “bạn hãy nhìn đi / nghệ thuật sẽ bị hủy diệt bởi chính trị /
và giáo lý nào đó đã khiến chúng ta đấu tranh.” (Trên môi em tối cổ)
- “bài thơ đã mặc chiếc áo quá rộng / khi nó không có thuốc
súng / không có điểm nhọn / như cậu học sinh biết yêu lần đầu / và bị mẹ cấm /
cậu không cần lời ngợi ca, giấy khen và điểm” (Bài thơ cần lỗ thủng)
- “những lần chơi 5 - 10, thằng cu quẹo đã chui vào đống rơm /
và dĩ nhiên, lần nào nó cũng thắng / phần thưởng là trận đòn của mẹ nó / vì mấy
lần hụt hơi trước sàn lãng tưởng nó té xuống sông / hồi nhỏ” (Bạn hãy kết
liễu nó)
- “cố quận mặc áo gì / sinh ra tôi ở câu hò nửa đen nửa trắng /
mạ không còn non để mọc chân làng / chín nhánh đêm đêm vỗ lên mái tóc / đứa con
rơi của đồng bằng / ở đậu nhịp song lang” (Đừng mang tôi về cố quận)
- “tôi đã nói với em / quy tắc chúng mình chỉ một / đẻ cho anh
đứa con / chính nó cũng phá bỏ mẹ cái quy tắc.” (Quy tắc của hoa ngón)
- "không / chúng ta không thở chỉ để chết / mắt môi, con
tim, lý tưởng này không sinh ra để bắn nhau" (Không bao giờ là súng)
(....)
Tôi cũng không thích thơ kiểu hình thức diễn giải nhưng vì quý
nhau mà gắng đọc, gắng đánh vật với câu chữ rắc rối cố tạo bí hiểm của dòng thơ
"hậu hiện đại" nhưng tác giả Vũ Thị Hương Mai cho rằng: "Câu
“Bụt / tuốt sợi rơm vàng, ngồi khóc để con diều ăn gió / ăn hết những yêu
thương” đọc nghe rất ngô nghê, cũ không ra cũ, mới không ra mới, giả tạo cảm
xúc và màu mè làm dáng. .... là câu nói lung tung, rất tối nghĩa." thì
chưa công bằng với nhà thơ Trần Đức Tín bởi "Ông Bụt" nhắc đến
trong bài thơ LẠC Không phải là ông Bụt trong truyện cổ tích mà Tín (Khét) chỉ
mượn hình ảnh "ông Bụt" để nói chuyện đời, chuyện niềm tin bị
dẫn dắt, lừa dối trong xã hội hiện đại như tôi đã viết trong bài ""Lạc"
của Trần Đức Tín":
""Bụt" trong truyện
cổ tích là một ông Tiên có phép nhiệm màu luôn chớ che, bảo vệ, luôn đem đến
những yêu thương, hạnh phúc cho con người còn "Bụt" trong
"Lạc" của Khét lại là một ông Bụt “trơ vơ”, bất
lực “tuốt sợi rơm vàng, ngồi khóc để con diều ăn gió”, "ăn hết
những yêu thương."... Phép nhiệm màu của Bụt, của ông Tiên trong niềm
tin ngàn đời của người dân Việt đã bất lực trước sự hoành hành đang chiếm thế
thương phong của cái ác.
Đọc những câu thơ này của Khét, tôi nhớ hình như đã nghe ở đâu đó,
đọc ở đâu đó lời ngợi ca về một "ông Tiên", một ông "Bụt"
hiện hữu giữa đời thường còn nhân đức hơn nhiều ông tiên, ông "Bụt"
trong truyện cổ tích… nhưng mà suốt từ sáng đến giờ tôi vẫn không thể nhớ
ra."
Hay như comment khác của tác giả Vũ Thị Hương Mai: "Lại
còn cái câu "thèm lời à ơi, câu chuyện bà kể dù cổ tích không thiêng"
rất phản cảm. Xưa tới nay, những câu chuyện cổ tích có giá trị rất lớn trong
việc vun đắp ước mơ, giáo dưỡng nhân cách tốt đẹp cho trẻ em vậy mà "nhà
thơ cách tân" Trần Đức Tín, nghe đâu còn từng làm thầy giáo, viết câu thơ
nhổ toẹt vào văn hoá của nhân loại, vậy mà anh cũng tán được. (...) Em không
hiểu loại thơ vớ vẩn này mà cũng được báo chí lăng xê." thì có lẽ cũng
vì không thích dòng thơ "hậu hiện đại" mà chị trách cứ Khét chăng?!
Chuyện "cổ tích" trong "Lạc" là Khét
"mượn" để nói về niềm tin vào cuộc sống, vào tương lai tươi đẹp của
con người ở xã hội hiện tại là thứ "bánh vẽ" bị đánh tráo,
cướp đoạt... nên tôi viết: "Khét viết tiếp ước mơ của "những đứa
trẻ" tự bỏ nhà "đi hoang": "thèm lời à ơi,
câu chuyện bà kể" bằng tiếp tục ý thức tự đánh lừa niềm tin vì đã biết
"dù cổ tích không thiêng", vẫn cố bấu víu vào hy vọng huyễn
hoặc sẽ có được chút phép nhiệm màu của những câu chuyện "cổ tích"
để có được cuộc sống bình thường với “mẹ”, với Quê hương...."
Vâng! Đúng như tác giả Vũ Thị Hương Mai nhận xét là phần lớn ngôn
từ thơ của nhà thơ Trần Đức Tín giống như những con chữ rời rạc, không có cảm
xúc, đọc lên cứ trơn tuột khỏi đầu vì những con chữ đó không phải chữ của thơ,
chỉ hao hao những câu văn nói lủng củng chắp vá vô hồn.
Có lẽ không làm chủ được cảm xúc hay không có cảm xúc hoặc cảm xúc
chưa tới nên thơ của Trần Đức Tín nhạt và hời hợt, thậm chí cả những câu nói
lảm nhảm cũng được anh dễ dãi đưa vào “thơ”. Tín chất vấn H. những câu thừa
thãi: -"H ạ / ta sẽ đóng tất cả cửa / và đừng mở mắt / ta là gì nếu một
ngày quên sống?” (Gửi H). Rồi Tín tự bạch, Tín sợ con người 2 mặt xấu xí
đến ghê sợ của chính mình: - “rằm / tôi lễ chùa bằng chiếc lá đa mang che
mắt phật / cuối tuần / tôi quét lời xưng tội ra đường cho xe cán / và đêm nào /
tôi cũng sợ tôi” (Nước mắt mang hình nhau thai). Đôi lúc lại là tâm trạng
bất lực mà buông xuôi với những câu than thở luẩn quẩn loanh quanh: -“Đêm và
em: là hai tên phản bội / tôi có khóc đứng ngồi cũng thương nhớ cả hai.”
(Đêm và em) hoặc đứng lẩm bẩm một mình những câu nói lộn xộn vô nghĩa: "không
/ chúng ta không thở chỉ để chết / mắt môi, con tim, lý tưởng này không sinh ra
để bắn nhau" (Không bao giờ là súng). Cũng có khi Tín ấm ức ngửa cổ mà
vu vơ chửi đổng: “tôi nói với em / quy tắc là thứ mẹ gì mà kìm nén chúng ta”
(Quy tắc của hoa ngón), rồi như hớn hở với “chân lý” phải tốn bao công sức mò
mẫm anh mới phát hiện ra mà tuyên bố chắc nịch: “tôi đã nói với em / quy tắc
chúng mình chỉ một / đẻ cho anh đứa con / chính nó cũng phá bỏ mẹ cái quy tắc.”
(Quy tắc của hoa ngón). Tín đưa triết lý vào "thơ" nhưng đó là thứ
"triết lý" phi lý với thực tế, còn bao hàm cả yếu tố tiêu cực trong ý
thức bảo vệ Tổ Quốc nếu Đất Nước không may gặp nạn giặc ngoại xâm: -"khi
tôi cầm viết / không phải là súng / không bao giờ là súng… / nếu phải bắn / bài
thơ sẽ tự bắn mình đầu tiên / và nhất quyết không bôi thêm vệt máu nào vào lịch
sử" (Không bao giờ là súng). Và hồn nhiên với tinh thần của nhà hiệp
sĩ xứ Mantra mà "ngạo nghễ" khẳng định Khét (tức Trần Đức Tin) sẽ
trường tồn cùng dòng chảy của lịch sử: -"nếu có thể / hãy chôn tôi với
núi non” (Này em).... Nhưng không biết vì tâm lý "mặc cảm thân
phận" hay vì những nỗi đau thầm kín nào đó đã giày vò suốt năm tháng tuổi
thơ mà thơ của Khét luôn phản chiếu những hình ảnh tiêu cực của tâm thế tự ti,
bạc nhược của kẻ thất bại trong cuộc đời:
- “chín nhánh da vàng / chúng con: bọn bỏ quê / mót trăng trên
đại lộ / đội lên đầu / rồi đấm ngực mình” (Trăng quê)
- “10 năm biệt quê / lủi thủi cúi đầu” (Khói)
- “như đêm nay / chúng ta đi vào rừng / và ngồi khóc"
(Phục sinh)
- "cho tôi vay giấc mơ của em đi / tôi nghèo nàn cõng trên
lưng ngàn năm hạt lép / không dám quay về gặp mẹ / không dám chạm mặt quê hương
/ tôi đi như đứa mồ côi / dưới gầm trời chỉ còn tiếng cúm núm...” (Cho tôi
vay giấc mơ)
(....)
Những ý thơ tủn mủn, gượng ép, những hình ảnh u ám, xám xịt, những
cảm giác lạc lõng, tủi hờn... trong những câu thơ không được viết bằng sự sáng
tạo mà chỉ là viết khác đi nên những câu thơ na ná vay mượn xuất hiện trong thơ
của Trần Đức Tín khá nhiều:
- "lạy hiên trước / lạy vườn sau / đừng phau phau trắng
làm đau ruộng đồng" (Sinh nhật Mẹ)
- "tôi thương tôi: cả đời rời tổ / đêm giật mình ướt mấy
sợi rơm khô." (Thưa mẹ, con về)
- "tôi dựng căn nhà hoang trên triền núi / có cành khảo
quang trổ về hướng cửu long” (Tiếng đàn khảo quang)
- "bỗng nghe lá rụng giật mình / Phật cũng như lá lặng
thinh mà buồn" (Vào chùa)
- "tôi / đưa tay / khụy gối / lạy hiên nhà / tôi đi"
(Tôi đi)
- "tôi về ngồi cùng một con ma núi/ mới hay cổ tích / chết
yểu / trên tay người" (Ngồi cùng ma núi)
- “Cho tôi vay giấc mơ của em đi / tôi nghèo nàn / giấc mơ cũng
khô cạn.” (Cho tôi vay giấc mơ)
- “khi chết / đừng mang tôi về cố quận / hồi kinh chiều là lưỡi
dao lam...” (Đừng mang tôi về cố quận)
- “mọp quỳ trời đất mênh mông / lạy mẹ / con đã / lưu vong quê
mình” (Lạy mẹ: con cũng đã lưu vong quê mình)
(....)
Vì muốn gây ấn tượng thơ của mình “mới, lạ”, Khét (Trần Đức Tín)
đã viết những câu thơ phản cảm, miệt thị dân tộc mình bằng những câu thơ dị
biệt mà nhà thơ, nhà báo Ngô Đức Hành đã không tiếc bỏ công chăm chút liệt kê
để phong thánh cho thơ của Trần Đức Tín bằng những chữ diêm dúa rằng “tư
tưởng thơ” đã “vượt lên mọi không gian cụ thể, dành cho chúng sinh,
chủng tộc da vàng, đang quần cư và mơ ước” trong bài viết “Khét, có
khi ta tự sinh ra mình”. Và ngay sau đó nhà thơ Ngô Đức Hành đã không
ngại ngùng mà ngợi ca “Khét là nhà thơ của chất vấn, tự phản biện”. Tôi
không biết nhà thơ Trần Đức Tín “chất vấn, tự phản biện” những gì nhưng
cách anh lôi người Việt ra để miệt thị, xúc phạm như những câu được nhà thơ,
nhà báo Ngô Đức Hành trích dẫn dưới đây thì thật không ổn:
- “điều giỏi nhất của giống loài mình
là làm đau người khác
phải không tôi...”
(Giống loài)
- “tôi thấy người Việt
gọt chân cho vừa giày
gọt màu da cho lờ lợ tổ tiên”
(Lờ lợ tổ tiên)
- “đêm nay
ăn hết những giấc mơ có đốm
còn sót lại đôi mắt người Việt
nhìn chằm chằm vào tôi”
(Giấc mơ có đốm)
Đó có thể là lối sống giả dối, tệ bạc, “biến thái trong tâm
hồn, trong văn hóa” của Khét (Khét, có khi ta tự sinh ra mình - Ngô Đức
Hành), của một số cá thể trong cộng đồng người Việt nhưng nhà thơ Trần Đức Tín
không nên viết những câu miệt thị, xúc phạm người Việt Nam như thế vì những
biến thái đấy không phải là đại diện cho tâm hồn, văn hóa của đại đa số người
Việt!
Mươi ngày vật lộn đọc thơ Khét trên facebook để hiểu, để cảm thơ
của Trần Đức Tín, tôi cũng đã tìm được những câu thơ găm sâu vào trí nhớ người
đọc:
- “có phải mẹ đã đan cái nia bằng mảnh vụn thời gian / chuốt
từng sợi xát vào tim cái nhớ” (Cái nia của mẹ)
- “đưa mẹ về qua đồng sau nhà ngoại / rơi một cánh cò mà loạng
choạng cả quê hương” (Ngày mẹ về quê)
- "“ở quê nhà / cha mẹ ổn hay không / bão có giật giông
đau cái kèo cái cột / mưa có dột mẹ mang đêm ra hứng / làm gì còn cái thau nào
không đầy buồn / đôi mắt mẹ rưng rưng” (Mùa bão)
- “thương chiếc lá rơi ngủ vùi trên phố lạ / nửa mùa ngâu em
mang về giấu bên ô cửa sổ / tôi chưa kịp buồn đã ướt nửa bơ vơ” (Sài Gòn
bạt mạng cũng mình ên)
- “tôi đã kịp nói gì đâu mà sông chảy buồn biền biệt / bụi cỏ
dại trước nhà lại cựa vào lòng gió rồi tự đau.” (Tôi rạ rơm mình lam triền
sông khô đáy)
- “cơn bão đầu tiên anh đón nơi đất khách / nghe là lạ từng hạt
mưa giăng mắc / lắm lúc trở mình đau hơi gió xa xôi” (Mình ơi bão qua rồi)
- “chạy tìm em trong chập chũng phận người / anh vấp ngã giữa
minh mông sóng phố / khản đến buốt lòng anh cố gọi: / mình ơi!” (Mình ơi
bão qua rồi)
Nhưng thật tiếc đấy lại là những bài thơ Khét viết từ những năm
Khét chưa được xướng tên trong cuộc thi thơ của báo Văn Nghệ của hội nhà văn
Việt Nam. Có lẽ những lời tung hô vì nhiều lý do của các bạn thơ đã làm Trần
Đức Tín ngất ngư trong ánh hào quang của thế giới ảo nên thơ của anh ngày càng
lún sâu vào rối loạn ngôn từ?!
Là bạn trên facebook của Tín, cũng rất yêu quý Trần Đức Tín, tôi
mong lắm được gặp lại Khét của những ngày anh mới chân ướt chân ráo từ Cà Mau
về nhập cư đất Sài Gòn!
*.
Hà Nội, sáng 24 tháng 12-2022
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
.
Friday, December 23, 2022
DĨ CUỒNG, VĨ VĂN - Chu Vương Miện
Vĩ Văn của Chu Vương Miện
Họ hàng nhà này gồm có Vĩ Cuồng, Vỹ Cuồng và Dĩ Cuồng, chúng tôi đề cập từ từ từng dạng loại, không ai nói chung chung mà lại kèm theo một chủ từ đi đằng trước là Bệnh. Bệnh Vĩ Cuồng, mà đã là bệnh hay con Bệnh thì xin bà con cô bác rộng lòng tha thứ, y như Con Nghiện, Con Bạc vậy? xin vào đề ngay kẻo mất thì giờ.
DĨ CUỒNG:
Là người có bệnh Cuồng sẵn trong người, nhưng không phát tác ra ngoài, phải chờ có cơ hội "hay cơ duyên" hay bất đắc dĩ mới lộ ra nguyên hình, ví dụ:
1- Trong một đơn vị Quân đội, có nhiều binh sĩ bị bắt đi quân dịch trước năm 1963 có một số là nhà giáo, là công chức chính nghạch chỉ số 250 -270, lương sai biệt cao hơn Hạ Sĩ Quan "Trung sĩ" vào lính thì chỉ là binh nhì, công việc rất là khiêm nhường, lính gác ngày, đầu bếp hay làm "cỏ vê" tạp dịch linh tinh như quét nhà, quét lau rửa cầu tiêu, quét kho... Ông Thượng sĩ thấy một anh Binh Bét quét sân trại lôi thôi quá, ông không vừa ý, kêu anh ta lại gần rồi hỏi:
- Vậy anh hồi làm công chức, ngữ như anh thì làm được cái gì?
Anh Binh Bét trả lời: "Dạ làm thư ký soạn văn thư, công văn"
- Dạ có mấy ông thượng sĩ già không có bằng cấp giải ngũ quét nhà và nấu nước ạ?
Trả lời: "Thưa Đại Úy, binh nghiệp mà thăng như thế Lâu quá? em chơi 1 xị là làm tới Thống Chế cơ"
3- Nhà Thơ Nguyễn Đạt.
Tôi quen cả hai anh em, người anh là nhà biên khảo giáo sư Nguyễn Nhật Duật, người em là thi sĩ Nguyễn Đạt. Đạt đi Thủ Đức nhưng rớt ra binh nhì, tòng sự ở Cục Tâm Lý Chiến, năm 68 thì được đặc trách thực hiện một tuyển tập thi ca "Những Người Cầm Súng Làm Thơ"
Anh có đến tìm tôi "mời góp bài" và anh nói với tôi: "bút hiệu của bạn CVM làm tôi nhớ tới người Bác hiền lành nơi quê nhà", và anh mời tôi tối nay tới nhà anh ngủ lại để tâm sự, tôi bằng lòng. Chiều đó chúng tôi mua 2 đoạn bánh mì rồi dong ruổi xe đạp về nhà anh đi dọc theo đường Lê Đại Hành qua Trường Đua Phú Thọ rẽ trái chừng 500 thước là tới nhà anh, anh dẫn leo lên gác trải giấy báo ra sàn nhà, ngồi ngoạm bánh mì, uống nước lạnh rồi nằm chờ trăng lên, anh ngâm thơ cho tôi nghe thơ của anh:
"1 bàn tay vỗ về, 1 bàn tay lau nước mắt,ngoài kia đau đớn thổi như rừng?"
Tôi chưa có ý kiến ý cò gì, thì anh nói: mấy câu thơ này của tôi, đẩy mặt trời sáng mai chạy nhanh hơn 1 giờ?
Tôi vội vã hỏi: "vậy thì đọc thơ của ai bây giờ? "
Anh trả lời: "Bạn coi thơ thiên hạ, có thơ thằng cha nào vượt qua thơ tôi thì bạn đọc".
Tôi bèn đọc thơ Nguyễn Đức Sơn:
"Tôi dòm đời khi tuổi sắp 20dòm tới dòm lui cũng chỉ ngậm ngùinhững người đi trước sầu mang nặngnhững người đi sau sầu không nguôi"
Anh vỗ tay nói: "Thơ hay quá, nhưng nó kéo thụt lui thời gian tới 2 giờ lận, anh phải đọc 1 vài câu thơ nào nữa, cho thời gian tiến thêm lên 1 giờ thì thời gian mới được như cũ"
Tôi bèn đọc thơ Hạc Thành Hoa:
Năm ngón chân phía trướcKhông ngón nào phía sauSao có người xuôi ngượcSuốt một đời lao đao.
Thế là 2 người cùng nằm xuống ngủ. Không ngủ được, phía trên thì máy bay Muỗi và phía dưới thì Tàu lặn Kiến và Rệp
VĨ CUỒNG
1- cũng cuồng, nhưng chỉ có một bộ phận nhỏ là cái Đuôi hoang tưởng, còn cái Đầu thì cũng ở dạng bình thường, trường hợp cụ Tản Đà nằm trong cái dạng này, cụ thường mặc áo bà bà, mang guốc mộc hoặc mang dép, tóc húi cao cụ đi chân cao chân thấp, mặt lúc nào cũng hồng hào vì men rượu, cụ hay đứng ở đầu đường nhìn thiên hạ qua lại để tìm ý thơ, có người mến mộ thơ cuả cu, gặp cụ đang thư giãn, bèn đến trước mặt chắp tay vái cụ 1 vái rồi thưa:
-Lậy thi sĩ ạ!
Nghe xong hai chữ thi sĩ, cụ bèn quay mặt đi có vẻ giận.
Người chào cụ bèn vòng qua phía cụ bẩm:
- Lậy thi đồng ạ!
Cu khoan khoái cười : "có vậy chứ. Người có chữ nghĩa như nhà bác thì phải hiểu chứ. 1 hào bằng 10 xu (cắc). Nhưng không ai bao giờ kêu là thi 10 xu cả mà kêu là thi hào. 10 hào là 1 đồng, nhưng không ai kêu thi 10 hào hay thi 10 đồng cả, mà kêu là đại thi hào, chỗ quen biết tôi dậy cho bác.
2- Trong Nhà Thương Tâm Thần.
Ở giữa nhà Thương Điên Biên Hòa, cách cây đề nhiều tuổi người ta cho đào một cái hồ tắm, còn đang đào dang dở chưa đâu vào đâu, thì có một anh vĩ cuồng nhẩy xuống và kêu cấp cứu S.O.S, một ông sĩ quan bệnh tâm thần ra lệnh: "anh trung sĩ! Nhẩy xuống cứu đồng đội?"
Anh Trung Sĩ đứng trên bờ trả lời tỉnh bơ:
- "Ông là sĩ quan bộ binh, ông không có quyền ra lệnh cho tôi.
Và chỗ bên cây đề sinh hoạt nghe chừng rộn rã hơn, đa số các anh Vĩ Cuồng, trong đầu mỗi anh tự nghĩ mình là một loại... trái xoài xanh, trái xoài chín, con khỉ con vượn, con sóc... các anh đánh đu qua lại, mấy anh đứng dưới la lên rồi chỉ: "trái xoài này chín rồi? thì anh tự nghĩ mình là trái xoài chín tự động rụng xuống vỡ đầu chết tốt, chỉ qua anh khác thì còn xanh, hoặc là khỉ vượn.
-Phái đoàn đi thăm những kẻ Vĩ Cuồng, đang đi dưới sân thì trên lầu 4, một anh Vĩ Cuồng dơ chim đái xuống. Bác sĩ viện trưởng dơ tay chỉ 1 cái về phía anh ta, anh ta ngừng đái ngay lập tức, hôm sau anh ta được gọi ra Hội Đồng xét duyệt để cho về.
Bác sĩ hỏi:
- Hôm qua anh đang đái, tôi chỉ tay anh ngưng ngay. Vậy anh tỉnh táo rồi phải không? Nếu vậy thì tôi sẽ cho anh về đoàn tụ với gia đình.
- Thực ra là tôi sợ Bác Sĩ cầm sợi dây nước đái của tôi mà kéo, ngã từ lầu 4 xuống mà chết.
Kết quả là lại ở lại thêm 3 năm nữa, lần ra hội đồng kỳ này. Mở đầu Bác sĩ hỏi:
- Kỳ này được về, anh tính làm gì?
- Dạ mua 1 cái xe taxi, gỡ ra 1 cái bánh xe, gỡ cái ruột xe bằng cao su ra cắt lấy 2 sợi dây cao su làm ná thung bắn bác sĩ.
Rồi lại ra hội đòng tái khám, kỳ này bác si hỏi:
- Chúng ta có duyên ở với nhau cũng trên 10 năm, bây kỳ này anh được về nhà, thì có dự tính chi không?
- Dạ em lấy vợ!
- Tuyệt quá, đạt yêu cầu quá. Rồi sao?
- Đêm đầu tiên, em cởi quần và slip của vợ em ra, em lấy kéo cắt ở nép quần ra 2 sợi dây thung... rồi làm ná thung bắn bác sĩ.
VỸ CUỒNG
1- THÀNH CÁT 4 HÃN
Người này không thể liệt vào loại Vỹ Cuồng thông thường được mà là loại Vĩ Nhân thứ thiệt, ngồi trên núi đất mà nghĩ tới chuyện thống nhất hàng 100 bộ lạc người Mông Cổ + Mông đít lại với nhau, bao nhiêu là máu đổ đầu rơi. Thiên hạ nhà Mông dưới tay bộ lạc Bột Nhĩ Chỉ Cân, họ Đạt Mộc Nhĩ "Thiếp Mộc Nhĩ" lãnh đạo, Nam hạ chiếm toàn bộ nhà Đại Tống, rồi đô hộ Ấn Độ, chiếm luôn Ba Tư, một phần Đông Âu và Nga laTư và một phần Bắc Âu, thật là hoành và tung tráng, nhưng chính sách của người Mông Cổ qua Thành Cát 4 Hãn dã man tàn bạo khắc nghiệt quá, không đáng được gọi là Vỹ Nhân (tức là người có đuôi)
2- MAO XÊ TÔNG
Năm 1949 Mao thống nhất Hoa Lục, dân số lúc đó là 490.000.000 bây giờ là năm 2019 (70 năm sau) dân số tăng 1 tỷ 5, dân số tăng gấp 3, trong đời Mao giết chết cả thẩy dân Hoa Lục chừng 75 triệu người vừa chiến tranh, vừa đói, vừa Cách Mạng Văn Hóa, dân số tăng gấp 3 (thì có hy sinh 75 triệu người cũng chả ăn thua gì) vì nâng địa vị Trung Quốc lên hàng nhất nhì trên thế giới, thoát khỏi cái cảnh "CẤM NGƯỜI CHINA VÀ CHÓ" trong cái Thời kỳ Trung Hoa Bị Liệt Cường xâu xé.
3 - PON POT IEG SARI
Đúng là đầu óc Vỹ Cuồng thứ thiệt, giết chết oan một lúc 2 triệu dân Khờ Me, một chính sách hoang tưởng, chả đưa đất nước Khờ đi tới đâu cả?
*
VĨ VĂN
Theo văn chương thường nhật thường thấy trong sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư, hay trong các Đại tác phẩm tiểu thuyết đạo đức hoặc kiếm hiệp, hoặc văn nghị luận trong khoa cử hoặc báo chí, chúng ta thường chỉ thấy có bốn loaị văn chương: Thủ văn là văn đầu, kế đến là Cổ văn (có nghĩa là văn khúc cần cổ) mà cũng có nghĩa là văn thời trước thời xưa, chớ không là thơ văn đương hiện đại bây giờ, tiếp đến là Thân văn (là văn khúc giữa có thể hiểu là Văn ngực) và cuôí cùng là Túc Văn tức văn chân, Văn Chân là văn tả Chân chuyên viết về bàn chân mà thôi như truyện ngắn Mối tình Chân của nhà văn Nhất Linh đuợc đăng tải trong giai phẩm Văn Hoá Ngày Nay xuất bản vào quãng năm 57/60 ở miền NamViệt Nam, hoặc nhà văn Vũ Trọng Phụng được phê bình đại gia Vũ Ngọc Phan liệt vào nhưng nhà Văn tả Chân thời Tiền Chiến dù rằng ông không bao giờ viết tác phẩm nào về Chân Cẳng cả. Bây giờ đến phiên tôi (tức Chu Vương Miện), tôi thấy muốn đi vào một trong bốn loại văn chủ lực giáo khoa trên ít nhất phải là ngươì có nơi lực thâm hậu, văn hay chữ tốt, kiến thức thiên hạ có 4 bồ chữ thì mình cũng thủ đặng ba bồ (ngang ngửa thi hào Cao bá Quát, chớ tơ lơ mơ thì đừng hòng, nên tôi tự chọn cho tôi một loại hình văn học là Vĩ Văn tức là Văn Đuôi, có nghiã là văn thừa văn vứt đi, chả hạn như đuôi Chó, Mèo, Khỉ, Vượn... những điều chúng tôi trình bày hoàn toàn có tính cách thừa thãi (ruồi bu) chả ăn nhập gì tới văn chương bác học và học đường cũng hoàn toàn không bao giờ dám cạnh tranh với các Văn Khảo Cứu Gia, nếu có cũng hoàn toàn chỉ là chuyện trà dư tửu hậu, đầu voi đuôi chuột, đầu cua tai nheo, thêm râu ria cho rậm đám tạo đậm đà câu chuyện thế thôi, chớ hoàn toàn không bao giờ dám mơ ước được bước chân vào vườn hoa Văn Học Sử Điạ Lý, và loại Văn Đuôi này ai muốn đọc chơi thì đọc mà thản không có thì giờ hoặc không thèm đọc thì cũng chả chết ông Tây bà Đầm nào cả, đây chỉ là phần mào đâu mào đuôi cho nó đúng cung cách của kẻ mới nhập môn nghề viết lách này mà thôi. Hoặc có vị nào nhàn cư đôi khi để mắt ngó chơi rồi nổi hứng lên dậy bảo cho kẻ hèn này dăm ba tiếng dăm ba câu thì chúng tôi cũng vô cùng đội ơn lắm lắm.
Từ này chúng tôi có tra tự điển chung chung của nhiều vị học thật cùng học giả, nhưng thấy không đáp ứng đựơc cái điều mà kẻ hèn nay mơ ước mong đợi, lời giải thích lờ mờ không rõ ràng, không cụ thể, sau đây là phần mắt thấy tai nghe về từ “Láu cá”.
Từ này thừơng được diễn giải là kẻ ma lanh, lanh lơị, giảo hoạt, gian xảo... theo chúng tôi hiểu và biết thì từ này thoạt kỳ thủy nọ phải liên hệ chặt chẽ với “Lái Cá” là ngươi bán cá, dính dáng tới thuyền chài, hàng năm cứ vào tháng chạp cuối năm thì bà con cô bác nhà quê, ngoài bán heo (lợn) để ăn và sắm tết, tuy nhiên có ngườì nhà có ao có hồ nuôi cá ngọt thì cũng tát ao để bắt cá, hoặc cho Lái Cá tới mua. Đầu năm vào khoảng tháng tiêng tháng hai thì mua Cá Con về nhà để thả xuống ao nuôi tiếp. Thường thì Lái Cá gánh hai thúng cá con, nhưng hai thúng này lại được chia làm hai phần, có nghiã là bốn phần cá riêng biệt, thúng thường là đan bằng tre và trét dầu rái cho nước không thấm ra ngoài, trong hai thùng (mỗi thùng hai ngăn) chứa đuợc bốn lọai cá con như cá gáy, cá trắm, cá lóc, cá trê... người mua và người bán chịu giá với nhau là bao nhiêu tiền 100 con loại này, và bao nhiêu tiền cho loại cá kia, trao đổi nhất trí xong xuôi thì người Lái Cá gánh cá ra ngoài bờ ao cùng với người mua Cá, người Lái Cá quay cái phần (loại cá mà ngươì chủ nhà muốn mua) cả chủ mua và ngươì bán cùng đồng thuận và vừa nhìn tay người Lái Cá vưà nhìn xuống ao, người Lái Cá lấy tay (phải hoặc trái tùy theo thuận tay nào) xúc một cái là có khoảng 5 con cá con nằm lọt vào trong lòng bàn tay, nhìn chủ nhà (tức người mua) miệng thì đếm tay thì hất Cá xuống ao, năm này, rồi mười này, rồi mười lăm...
Đếm thì cứ năm con một, nhưng khi hất cá xuống ao, thì ngườì Lái Cá dùng một thủ thuật mà đại đa số ngươì bình thường không biết, là khi hất xuống ao thì cá trong kẽ tay người Lái Cá ba con rớt xuống ao thì hai con lại rơi vào thùng cá con như cũ, có nghĩa là ngươì mua 100 con Cá giống thì chỉ có khoảng từ 50 tới 60 con Cá con mà thôi, thành ra từ đó Lái Cá được chuyển thành Láu Cá, mà chỉ có liên hệ tới Cá (hoàn toàn không dính dáng chi tới thịt), thành ra từ Láu Cá không thể diễn giải một cách rõ ràng hai với hai là bốn được mà chỉ hiểu từ Láu Cá có nghĩa đen là như thế.
Thursday, December 22, 2022
NGỤ NGÔN Ê-DỐP (119 - 122) - Ngọc Châu phỏng dich sang song thất lục bát
![]() |
| Nhà văn Ngọc Châu |
119. Con sư tử trong trang trại
Lạc vào trại một con sư tử
Ông chủ trang muốn nhử bắt về
Đóng ngay cánh cổng liền kề
Sư kia tức khí chẳng hề đắn đo
Ngay lập tức nó vồ cừu béo
Rồi quay sang tùng xẻo con lừa
Tình hình biến chuyển không ngờ
Chủ trang quá sợ vội lo phận mình
Cổng trại mở tanh bành ngay đó
Sư đi Ngô đi Sở mặc lòng
Trong khi ông chủ khóc ròng
Tiếc cừu lừa đã mạng vong vì mình
Còn bà chủ hữu tình chứng kiến
Nói rằng nó trả miếng thật hay
Trang chủ tỉnh, trang chủ say
Mà đem sư tử nhốt ngay cùng mình!
Lúc ấy ông thông minh cất kĩ
Quên mọi khi mới chỉ từ xa
Nghe tiếng sư tử gào la
Đã tái mặt mũi, chân ra ngoài giày!
119.
The Lion in a Farmyard
A Lion entered a farmyard. The Farmer, wishing to catch
him, shut the gate. When the Lion found that he could not escape, he
flew upon the sheep and killed them, and then attacked the oxen. The
Farmer, beginning to be alarmed for his own safety, opened the gate
and released the Lion.
On his departure the Farmer grievously lamented the destruction of his sheep and oxen, but his wife, who had been a spectator to all that took place, said, "On my word, you are rightly served, for how could you for a moment think of shutting up a Lion along with you in your farmyard when you know that you shake in your shoes if you only hear his roar at a distance?
120. Thợ săn và Tiều phu
Anh thợ săn gan chưa đủ bự
Đang săn tìm sư tử trong rừng
Gặp tiều phu cưa sồi, tùng...
Hỏi thăm có vết sư từng qua đây?
Bác thợ rừng đáp ngay khi đó
“Tôi cho anh thấy nó ngoài kia…”
Thợ săn mặt tái chân tê
Răng va lập cập tính bề chuồn ngay
“Không, cám ơn! Lúc này tôi chỉ
Tìm vết chân con quỉ ấy thôi
Nó thì phải đợi lúc tôi…”
Anh hùng bằng lời nói thôi, khá nhiều!
120.
The
Hunter and the Woodman
A
Hunter, not very bold, was searching for the tracks of a Lion. He
asked a man felling oaks in the forest if he had seen any marks of
his footsteps or knew where his lair was. "I will," said
the man, "at once show you the Lion himself." The Hunter,
turning very pale and chattering with his teeth from fear, replied,
"No, thank you. I did not ask that; it is his track only I am in
search of, not the Lion himself."
The hero is brave in
deeds as well as words.
121. Cây sồi và cây sậy
Cây sồi lớn gió lôi bật gốc
Quăng ngang con suối dốc ầm ào
Đè lên cây bụi lao xao
Ngạc nhiên hỏi đám sậy cao ven bờ:
“Các cậu trông mảnh tơ nhỏ yếu
Làm cách nào vững chịu cuồng phong…”
Sậy kia đáp tỉnh như không
“Anh luôn cứng cổ đấu cùng gió to
Thì tất yếu nó cho anh gục
Lũ chúng tôi khuất phục cong mình
Trước khi bão tố rập rình
Vậy nên thần bão cũng đành cho qua
Chịu cong ắt sống đến già!”
121.
The Oak and the Reeds
A
very large Oak was uprooted by the wind and thrown across a stream.
It fell among some Reeds, which it thus addressed: "I wonder how
you, who are so light and weak, are not entirely crushed by these
strong winds." They replied, "You fight and contend with
the wind, and consequently you are destroyed; while we on the
contrary bend before the least breath of air, and therefore remain
unbroken, and escape."
Stoop to conquer.
122.
Cô gái
với xô
sữa
Trang chủ có cô con gái rượu
Đang xách xô yểu điệu về nhà
Từ đồng về cũng chẳng xa
Xô đầy ắp sữa thật là vui thay
Tay múa may khi cô suy tính
Sữa bán đi nhất định đủ mua
Ba trăm quả trứng gà to
Hai trăm rưởi nhiếp ra lò ngon xơi
Là đã tính trứng rơi trứng hỏng
Cuối năm gà lớn phổng cả lên
Trúng khi gia cầm đắt thêm
Thì
tiền bố thưởng mình đem… ôi chà!
Sẽ
mua toàn lụa là sang đẹp
May áo dài loại tuyệt văn vời
Giáng Sinh sắp sửa đến nơi
Mình ra sàn nhẩy ngồi chơi điệu đà
Ối chàng đến bên ta mời nhảy
Cứ lắc đầu quầy quậy làm cao… »
Cô nàng bước trăng bước sao
Chiêc xô rung lắc bỗng chao xuống đường
Sữa tưới cỏ hết phương cứu chữa
Giấc mơ hoa tan vỡ tức thời
Khổ thay cô vắt sữa ơi
Mơ xôi như thế bỏng rồi cũng không…
122.
The Milk-Woman and Her Pail
A
farmer's daughter was carrying her Pail of milk from the field to the
farmhouse, when she fell a-musing. "The money for which this
milk will be sold, will buy at least three hundred eggs. The eggs,
allowing for all mishaps, will produce two hundred and fifty
chickens.
The chickens will become ready for the market when poultry will fetch the highest price, so that by the end of the year I shall have money enough from my share to buy a new gown
In this dress I will go to the Christmas parties, where all the young fellows will propose to me, but I will toss my head and refuse them every one." At this moment she tossed her head in unison with her thoughts, when down fell the milk pail to the ground, and all her imaginary schemes perished in a moment.
Người dịch: Ngọc Châu.
ngocchaunvhp@gmail.com






.jpg)