Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, October 10, 2012

Huy Uyên - MÙA VÀNG 1



Và chợt lớn như bàn tay con tóc
và xanh xao như hơi thở sang mùa
em chợt đến rồi bỏ đi từ đó
tôi ra về dấu kín những ngày xưa.

Vẫn còn đó hanh vàng hoa nắng cũ
mà người xưa đã vắng bóng lâu rồi
em đi hoài còn lại một mình tôi
đứng buồn bã giữa ngã năm ngã bảy.

Ờ chiều rồi sao tôi không thấy
dáng ai về lặng lẽ phía bên kia
vẫn chiếc khăn len quàng lạnh hững hờ
và nụ cười buồn ơi da diết.
 


Xin cho tôi gom cả trời lá biếc
trải bên em bước chân nhỏ ngoan hiền
cho dù em trong một phút lặng im
cũng đủ tôi mang hoài trái tim đau đớn.

Tôi từ đó từng mùa vàng đến sớm
bên sắc trời lận đận nỗi niềm riêng
em bảo chi tôi : bạn cố nhân buồn
để bay đi như mây trời gió núi.

Sao em nỡ không để tôi chờ đợi
bên hiên nhà vò võ mấy mùa đông
và ngoài kia đò lặng lẽ xa sông
tôi một mình bên thềm cầu nhung nhớ.


Nơi vườn xưa bên em hoa quỳnh nở
một chút gì dìu dịu bóng hình ai
dấu trong nhau biền biệt một nụ cười
đi tìm mãi những mùa vàng sương khói.


HUY UYÊN
lesinh.lesinh@yahoo.com
READ MORE - Huy Uyên - MÙA VÀNG 1

TÌNH QUÊ BAO ĐỘ - Lê Đăng Mành họa thơ Nguyễn Hồng Trân

Đồng làng An THơ



TÌNH QUÊ BAO ĐỘ
Lê Đăng Mành

Hương quê ngào ngạt giữa không gian
Cho dẫu bão giông cứ chực tràn
THẠCH HÃN niệm ân dòng tỏa sáng
Ô LÂU bi mẫn nẻo lìa tan
CÂY ĐA đò thác lòng hiu quạnh
BẾN CỘ chim mơ tiếng họp đàn
QUẢNG TRỊ men tình xưa vẫn dậy
Hoa đây vẫn tỏa nét đài trang.



BÀI XƯỚNG
  
KÝ ỨC VÀ THỜI GIAN
Nguyễn Hồng Trân


Tình yêu sống mãi với thời gian
Ký ức trong tim cứ ngập tràn
Thuở ấy lơ là không gắn kết
Bây giờ hối tiếc đã tiêu tan
Người xưa lặng lẽ trao câu hát
Bạn cũ râm ran tặng điệu đàn
Thương nhớ triền miên lòng thắt lại
Cuộc đời chìm nổi đã sang trang...




READ MORE - TÌNH QUÊ BAO ĐỘ - Lê Đăng Mành họa thơ Nguyễn Hồng Trân

Trương Nguyễn - CHÙM THƠ RÚT RUỘT



ĐỐI DIỆN 1

Tôi ra đời
Cha sinh con mượn
Mẹ héo gầy những trận đòn roi
Mẹ cha lênh đênh chiếc bè đời
Dạt trôi vô định
Lớn lên hai dầu quang gánh
Mái tranh nghèo ngoặt nghoẻo áo cơm
Cha lên nguồn
Lẫn vào rừng núi
Lũ trâu kéo gỗ về xuôi
Mái tranh thiêu rụi
Lửa...!
Cháy trên tay cha nhọc nhằn
Cháy tim mẹ bầm đen khói súng
Cháy lên tuổi tôi nhói đau ký ức
Ap vào ngực cha khét nắng
Vai mẹ chai sần nhiều buổi chợ xa
Xô đẩy va đập
Mặt chạm đất
Lưng hiến cho trời
Mong mây tích tụ vĩnh hằng
Ấm ngày lăn lóc
Vật vã luân hồi hành khất đó đây
Nắm bàn tay
Gầy khô thanh củi
Ngặt nghèo lầm lũi
Mấy mùa khói ám quê hương
Bước chân dồn dập trên đường
Theo mùa đi mãi
Bác nông dân thay con cày ải
Trâu thở mùi cỏ dại
Ngập mặn mồ hôi
Hạt lúa củ khoai ấp ủ rạ rơm
Vắt ra từ cánh đồng thơm
Giọt nước đầu nguồn trong vắt
Mặt trời se thắt
Tôi thấy hết quê hương
Dải đất lưng ong
Sỏi đá thành chông nhọn
Những hố hầm
Hình thù lở lói
Bước chân như chưa hề mỏi.


 
ĐỐI DIỆN 2

Tôi
Phù sa
Đấng sinh thành
Buổi sáng gánh hàng ra chợ
Đòn gánh cong đập vào mặt – vào lưng

Quày quả đến trường
Cái nhéo tai, vị thầy già gắt gõng
Cái nhéo tai nhắc tôi lớn từng ngày
Không nắm nổi quê hương ảm đạm

Gió lào bỏng rát tận mùa đông
Mưa lũ bạc cánh đồng
Đường ngoằn ngoèo ăn sâu trí óc
Phiên chợ đông
Mẹ ngồi cô độc
Cha nắng rám thịt da

Sông lỡ bồi phù sa
Chiếc cầu vắt qua mấy mùa nắng lửa
Lũ bạn đồng trang lứa
Tóc đang xanh
Nước mắt tung bọt trắng ghềnh
Đất lặng thầm nhận thêm mấy đứa

Tôi nhận ra
Trên khuôn mặt đời
Vết khảm lên đá
Con sâu gặm mòn chiếc lá
Chất độc tàng hình
Ngấm ngầm chạy dọc bình minh

Quê tôi
Bầm tím tuổi thơ
Di chứng thời máu lửa
Trái ngang – đổ vỡ.


ĐỐI DIỆN III

Chú hề
Tấn bi kịch
Chạy long ngong đến hồi chóng mặt
Quỵ trước đời trong tiếng vỗ tay
Con ngựa bầm tím lằn roi
Chạy ngang mùi tang tóc

Những cánh rừng khói độc
Rướm máu vết thương
Giọt máu vật vã trên đường
Lênh thênh cỏ dại
Cỏ dại vô hồn lấn lướt đồng tôi

Cỏ dại lắm hạt nhiều bông
Lúa ngô nửa lưng nửa lép
Mệnh đời và nạn kiếp
Ném ra đường
Xô đẩy...
Va đập...
Lăn lóc
Mảnh đạn với hố bom

Và tôi...
Em...
Những người quen
Sống với nhau không thật
Mặt đầy son phấn
Đánh bóng những hình nhân
Khóc – cười đặt hàng vỡ diễn
Tàn mỗi đêm
Anh đèn ngã nghiêng xiêu vẹo
Cô đơn – hoang vắng
Dối người
Dối mình.


VƯỚNG TÌNH

Thu mang tàn rụng vào cây
Em trồng nỗi nhớ vơi - đầy trong tôi
Lâng lâng bay bỗng nụ cười
Lá hoa chợt thẹn mặt trời ghen tuông
Tình yêu thăm thẳm mù sương
Ai gieo lên đá sầu vương ngập đầy ?

CỎ

Ta đã sống
Rã rượi máu xương
Và những giọt sương mang hồn biển rộng
Có khi không một bóng người
Bên sườn đồi
Men theo dòng suối
Dưới bóng cây ngạo nghễ huênh hoang

Hiên ngang như núi
Cùng gió bão mưa
Chất độc tàng hình
Vào tim óc
Đôi khi kiệt sức
Lặng thầm chen chúc hồi sinh

Từ tạo vật bình minh
Thuở hồng hoang mông muội
Đắng cay nếm đủ
Vay trả luân hồi
Cuộc săn đuổi vô cùng
Vũ khí hạt nhân
Khoa học tối tân công nghệ

Ta đã quen
Nỗi đau thân thể

Không cao sang minh triết
Không vênh vang kiêu hảnh
Duy trái tim
Cảm thông đau đớn con người
                    Xanh ngời….
                                      Cỏ .



TRƯƠNG NGUYỄN
READ MORE - Trương Nguyễn - CHÙM THƠ RÚT RUỘT

TẢN MẠN VỀ NGUYỄN TRÃI - Mai Thanh


1. Tài mưu

Khiển quân giỏi như Lê Lợi
Liều mình dũng như Lê Lai
Thêm nữa tài mưu Nguyễn Trãi
Lam Thành vững đến ngày nay

Bài Đại Cáo rung động trời mây
Mà đậm đà tấm lòng nhân nghĩa
“Miền Trà Lân tro bay trúc chẻ”
Mà ngân nga câu chữ nhân tình

2. Ẩn sĩ

Một thuở bôn ba nơi chiến địa
Một thời thanh thản với thông reo
Hư vinh thây kệ nơi gác tía
Thảnh thơi nghe suối nhạc mỗi chiều

Bàn cờ đá gửi hồn phiêu diêu
"Côn Sơn Ca" thầm thì suối hát
Đành cho kiếp mây trôi-bèo dạt
Có ngờ đâu tơi tả cánh bèo

3. Oan nghiệt

Chỗ nào vua Lê ngã bệnh?
Mệnh trời đưa vua ra đi
Oán lũ gian thần sàm tấu
Thương Người ba họ tru di!

Lệ Chi đầm đìa nước mắt
Nỗi oan từ bấy đến giờ
Nuốt buồn mắt ta không khóc
Để lòng mình gửi vào thơ.

Mai Thanh
Hà Nội



VÀI NÉT VỀ NHÀ THƠ MAI THANH






 
                 
Quê Thanh Hóa; hiện làm việc tại Hà Nội.
Là cử nhân văn chương; chuyên gia văn hóa.
Làm thơ, viết văn và viết phê bình văn học.
Nguyên Giám đốc kiêm Tổng biên tập Nhà xuất bản Lao Động.
Huy hiệu “Vì sự nghiệp văn hóa”.
Hội viên "Thi Đàn Việt Nam".

Giải thưởng cuộc thi thơ về “Danh nhân Đất Việt”
do CLB thơ “Hương Đất Việt” và UBND tỉnh Hải Dương tổ chức.
Hiện là chuyên gia về văn hóa-xuất bản tại Cục xuất bản - Bộ Thông tin và Truyền thông.
Đã xuất bản 4 tập thơ: "Ánh mắt ngày xưa", "Sắc lá", "Tiếng chim" và "Cõi người".
Sẽ xuất bản: Hai tập thơ "Trăng rơi" và "Mùa sang"; tiếp theo là  tập truyện ngắn và tập phê bình-tiểu luận.
Nhiều bài thơ, văn và phê bình-tiểu luận đăng tải trên báo giấy và báo điện tử.




 

READ MORE - TẢN MẠN VỀ NGUYỄN TRÃI - Mai Thanh

Tuesday, October 9, 2012

QUÊ XƯA - Nguyễn Thanh Xuân họa thơ Lê Thiên Minh Khoa

Chiều Hải Hòa


QUÊ XƯA
Nguyễn Thanh Xuân

Quê kiểng tôi nghèo ai biết đâu
Chăn đơn gió thốc trắng đêm thâu
Gió lùa cháy mặt kêu chi khổ
Nước đạp treo chân biết mấy sầu
Lúa lũ cuốn trôi, trôi quá xót
Người tràn theo vớt, vớt thêm đau
Âm thầm chịu đựng đời cơ cực
Từ lúc trẻ thơ đến bạc đầu.

Hà Nội
                                            Mùa lũ  2012
                                                   NTX


                                     

CẢM HOÀI
Lê Thiên Minh Khoa
  
Có phải đi rồi đi mãi đâu !
Người đi để lại những đêm thâu
Mòn khuya chỉ một mình em thức
Nhầu tóc còn bao nửa sợi sầu
Nhìn ngọn Chứa Chan chan chứa nhớ
Trông dòng Thương Bạc bạc thương đau
Chừ tang thương quá, thương thương lắm
Chưa thấy trùng dương đã trắng đầu!


                      LTMK
Bà Rịa - VT
 


READ MORE - QUÊ XƯA - Nguyễn Thanh Xuân họa thơ Lê Thiên Minh Khoa

GẶP NGƯỜI LÍNH CỤ HỒ KỂ CHUYỆN NGÀY VỀ TIẾP QUẢN THỦ ĐÔ - Bút ký của Nguyễn Hồng Trân

Trong đoàn quân kéo về tiếp quản Thủ đô Hà Nội vào ngày 10-10-1954, có anh lính Phan Thanh Bồng từ chiến trường Điện Biên thắng lợi trở về trong niềm hân hoan và vinh dự nhất trong đời anh.

Anh Bồng là người  thôn Thượng  Xá, thuộc xã Hải Thượng, Hải Lăng, Quảng Trị. Hồi ấy anh Bồng mới 21 tuổi, nay đã thành ông già 79 tuổi, nhưng tôi thấy bác vẫn còn khỏe và minh mẫn kể chuyện cho tôi nghe một cách hứng thú, vui vẻ và đầy tự hào về cuộc đời lính cụ Hồ trong những năm kháng chiến chống giặc Pháp. Bác Bồng đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ  rồi được trở về tiếp quản Thủ đô Hà Nội và làm việc ở đây rồi nghỉ hưu cho đến bây giờ (2012) là gần 60 năm.
Vào cuối tháng 9 năm nay, tôi đến thăm bác (là một người bà con bên ngoại của tôi) đang cư trú tại nhà E4 khu Thanh Xuân Bắc, Hà Nội.
Nhân dịp sắp đến ngày kỷ niệm 58 năm ngày Giải phóng Thủ đô Hà Nội (10-10-1954—10-10-2012), tôi được tiếp chuyện với bác Bồng và nghe bác kể lại mấy nét thăng trầm về cuộc đời bộ đội của  bác trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc thời giặc Pháp và chuyện niềm vui của bác khi được cùng đoàn quân ta kéo về tiếp quản Thủ đô Hà Nội.
Bác Bồng đã kể rằng bác vào thiếu sinh quân từ lúc mới 13, 14 tuổi, sau đó vào bộ đội  (hồi đó gọi là Vệ quốc đoàn) thuộc tiểu đoàn 15, Trung đoàn 95 (thuộc tỉnh Quảng Trị).  Đến năm 1952- 1953, bác  được điều ra chiến trường Tây Bắc thuộc Trung đoàn 88 Sư đoàn 308 và tham gia chiến đấu với giặc tại vùng Tây Bắc và Thượng Lào. Sau đó bác theo Sư đoàn 308 về tham gia chiến dịch Điên Biên Phủ [ĐBP] đánh đồn Độc Lập, vây Mường Thanh, diệt vị trí Pắc Xíu. ..    Bác vừa là một người lính chiến đấu vừa là một họa sĩ chiến trường, bác đã  phác họa lên dược những hình ảnh sinh động kịp thời các chiến sĩ  trong chiến hào đang hừng hực tinh thần chiến đấu dũng cảm. Có lần các chiến sĩ giải tù binh Pháp đi ngang qua, bác liền lấy bút chì ra phác họa cấp tốc một số  chân dung tù binh Pháp đang sợ sệt và lủi thủi cúi đầu đi vội vàng về khu trại giam tù binh dã chiến ở phía sau chiến trường.
Sau chiến dịch ĐBP thắng lợi vào tháng 5 năm 1954, tinh thần của các chiến sĩ quân ta vô cùng phấn khởi, bừng bừng khí thế thắng khắp các chiến trường. Sau thất bại nặng nề ở Việt Nam, Chính phủ Pháp buộc phải ký Hiệp định Geneve vào tháng 7 năm 1954 - đình chiến tại Việt Nam.
Tôi thân mật hỏi kỹ bác Bồng về những ngày chuẩn bị quân ta kéo về tiếp quản Thủ đô:
“Xin bác cho biết đôi nét về tinh thần của bộ đội ta ở đơn vị bác chuẩn về tiếp quản Thủ đô Hà Nội và những cảm xúc của bác trong những ngày về tận trong lòng Hà Nội?”
Bác Bồng cười rất tươi rồi nói ngay:
“Sau khi có thông báo cho các đơn vị quân đội ta sẽ về tiếp quản Hà Nội vào ngày 10 tháng 10 năm 1954, lúc ấy  những người lính chúng tôi hân hoan vui mừng đến tột độ. Nhiều đơn vị quân đội mấy tháng trước đã tổ chức liên hoan văn nghệ vừa để ăn mừng chiến thắng Điện Biên Phủ vừa là để đón mừng ngày quân ta chiến thắng sắp trở về tiếp quản Thủ đô. Các đơn vị quân ta chuẩn bị về Hà Nội hồi đó gồm có  mấy Sư đoàn…   Tôi (Phan Thanh Bồng) thuộc  Trung đoàn 88, Sư đoàn 308.
Lúc ấy cả núi rừng Việt Bắc cũng như các vùng miền núi Liên khu III, Liên khu IV, đều vang lên hùng tráng bài ca “TIẾN VỀ HÀ NỘI” của nhạc sĩ Văn Cao, thậm chí cả trong miền Nam cũng đã biết và thuộc bài đó rồi. Mọi người từ cán bộ chỉ huy cho đến toàn quân lính ai cũng phấn khởi và tỏ lòng khen ngợi nhạc sĩ  Văn Cao. Họ nói với nhau rằng, sao Văn Cao có linh hồn âm nhạc tài tình quá!  Nhạc sĩ đã sáng suốt tiên đoán có ngày đoàn quân sẽ tiến về Hà Nội mà lại đặt bài ca này rất  hay, rất khí thế bừng bừng và đặt sớm trước  5 năm (sáng tác từ 1949). Bây giờ thì ước mong và tiên đoán của nhạc sĩ Văn Cao đã thành sự thật 100%.  Bài ca hát lên thật là hùng tráng! Ai cũng hát say mê, sôi nổi hát đi hát lại nhiều lần trong một ngày cái thời vinh quang đó.
Xin trích đoạn bài ca “TIẾN VỀ HÀ NỘI” để chúng ta cùng nhớ lại và hình dung những giờ phút hào hùng ấy:
Trùng trùng quân đi như sóng
Lớp lớp đoàn quân tiến về
 …..
 Chúng ta đem vinh quang sức dân tộc trở về
Cả cuộc đời tươi vui về đây…

Năm cửa ô đón mừng đoàn quân tiến về
Như đài hoa đón chào nở năm cánh đào
…
Ôi phố phường Hà Nội xưa yêu dấu!
…
Khi đoàn quân tiến về là đêm tan dần
Như mùa xuân xuống cành đường nghe gió về
Hà Nội bừng tiến quân ca!...

Bác Bồng say sưa nói tiếp: “Vào sáng ngày 10-10- 1954, quân ta trùng trùng tiến vào Thủ đô như sóng. Năm cửa ô Hà nội đã mở rộng đón chào đoàn quân trở về. Sư đoàn chúng tôi đi trên xe nhà binh từ sân bay Bạch Mai qua dọc đường Nam Bộ, qua phố Trường Thi ra bờ hồ Hoàn Kiếm, vòng qua Hàng Bông đến Cửa Nam rồi lên đường Cột cờ …
 Đồng bào thủ đô ngày hôm ấy y phục chỉnh tề, đẹp đẽ, tay cầm cờ hoa, reo vui, tưng bừng hoan hô bộ đội tiến về Hà Nội. Các chiến sĩ quân đội thì vui tươi sung sướng vô cùng. Lúc đó nhiều người như tôi rất ngỡ ngàng lần đầu tiên đã được tận mắt nhìn thấy cảnh vật và con người Thủ đô của Tổ quốc Việt Nam thật là đẹp!
Sau ngày 10-10 năm ấy, chúng tôi được lưu trú lại tại nội thành Hà Nội trong một tháng để thực hiện nhiệm vụ quân quản Thành phố. Tiếp đó đơn vị chúng tôi rút về đóng ở Thanh Trì, sau đó di chuyển đi nơi khác...”
Nghe bác Bồng kể như vậy tôi rất hứng thú và cảm thấy vui sướng vinh dự thay cho bác và tôi liền hỏi thêm:
“Xin bác cho biết những suy nghĩ của bác về những ngày trở về Thủ đô?”
Bác Bồng suy nghĩ một lúc rồi nói:
“Biết nói thế nào cho hết được cảm xúc trào lên của mình trong những ngày giờ vinh quang ấy! Thực ra lúc được về tiếp quản Thủ đô Hà Nội ai cũng có một tâm trạng có vui, có buồn cả, mà vui nhiều hơn buồn. Vui vì đất nước hết chiến tranh, hòa bình được lập lại, nhiều người lính và sĩ quan được vinh dự về giải phóng Thủ đô và chung sống giữa lòng dân một cách đầm ấm chan hòa trong cuộc sống bình yên, nhưng cũng cảm thấy buồn buồn vì nghĩ lại các đồng đội có nhiều chiến sĩ đã bỏ mình trên các chiến trường mà không nhìn thấy được ngày hòa bình của Tổ quốc. Mặt khác, cũng cảm thấy buồn vì đất nước đang tạm thời chia cắt chưa được hưởng trọn vẹn nền độc lập thống nhất đất nước. Nhiều anh em bộ đội cũng như tôi quê ở phía Nam giới tuyến sông Hiền Lương đều có chung một tâm tư như vậy”.
Bác Bồng ngừng giây lát rồi nói chầm chậm:
“Tôi còn nhớ một hình ảnh rất cảm động là có một anh bạn tôi- Trần Văn Bình- người Hà Nội cùng đơn vị tôi, vì vết thương nặng còn đau đớn dai dẳng trong thân mình, do đó phải điều trị trong quân y viện nên không được cùng đoàn quân trở về Thủ đô trong ngày tiếp quản. Vì vậy anh rất buồn và nắm tay tôi cười vui rồi nói: “Cho mình gửi lời chào Hà Nội nhé. Quê hương ơi lâu quá rồi chưa về gặp lại!...” Anh bạn ấy đưa cho tôi bức ảnh của anh chụp ở Hà Nội ngày xưa và anh đề phía sau ảnh: “Thằng Bình của bố mẹ đây, con bị ốm chưa về dịp này được. Con vẫn còn sống, bố mẹ cứ yên lòng. Bây giờ mẹ bố mẹ cứ nhìn các anh bộ đội cụ Hồ vui khỏe trở về Hà Nội là coi như có con đang về bên bố mẹ đấy, bố mẹ nhé! ”.
Sau mấy tuần thì cả đơn vị biết tin anh ấy đã qua đời trên 20 tuổi. Chúng tôi ai cũng bùi ngùi đau xót và thương tiếc cho hoản cảnh của anh ấy…”
Tôi lại tiếp tục tìm hiểu thêm về sự nghiệp của bác Bồng sau khi giải ngũ. Tôi Hỏi:
“Thưa bác, sau ngày giải ngũ thì bác làm gì và đời sống ra sao? Gia đình vợ con thế nào?”.
Bác Bồng vừa uống cà phê vừa chậm rải trả lời:
“Về cuộc đời của tôi sau khi giải ngũ quân đội thì cũng chẳng có gì đặc biệt cả. Tôi là một họa sĩ, là người thích hoạt động văn hóa- nghệ thuật nên đầu năm 1957 tôi chuyển ngành sang công tác ở đội chiếu bóng lưu động số 3. Năm 1958, tôi được đi thực tập làm phim hoạt họa tại Matcơva. Sau đó về nước thì làm đạo diễn phim hoạt hình. Năm 1972, tôi được cử đi học Đại học Mỹ thuật. Về sau thì tôi chuyên đi sâu vẽ tranh về các đề tài thuộc Quân đội và Văn hóa-Xã hội. Cũng có một số bức tranh của tôi được tham dự triển lãm. Tôi nghĩ rằng tôi đã cố gắng làm được một số việc nhỏ để đóng góp cho đời cũng cảm thấy vui rồi. Quá trình hoạt động cách mạng của tôi cũng không có gì nổi trội lắm, cũng như bao nhiều người khác thôi. Tôi cũng được Chính phủ tặng thưởng Huân chương Kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ hạng nhất.
Còn chuyện gia đình vợ con thì tôi đã có vợ và 2 con trai và có cháu đích tôn đã vào Đại học năm 2 rồi. Thế là cũng coi như sự nghiệp và gia đình là tạm yên tâm. Hiện nay tôi chẳng có điều gì phải ân hận cả, chỉ mong sao cho cuộc sống được an bình, con cháu có công ăn việc làm để bảo đảm đời sống. Được như thế là mãn nguyện mà không đòi hỏi gì hơn”.
Tôi nói với bác : “ Nguyện vọng của bác chắc sẽ thành hiện thực”. Kính chúc bác được sức khỏe, vui vẻ và thuận lợi trong đời sống.
                             
Hà Nội, cuối tháng 9 năm 2012
Nguyễn Hồng Trân
READ MORE - GẶP NGƯỜI LÍNH CỤ HỒ KỂ CHUYỆN NGÀY VỀ TIẾP QUẢN THỦ ĐÔ - Bút ký của Nguyễn Hồng Trân

Huy Uyên - PHÙ - DUNG TỪ


Hái chi đóa hoa phù-dung
em về bên ấy có buồn
ngữa tay tìm đường sinh-mệnh
cả đời trắng sợi sắc không.

Ngày đi mây cũng bay đi
bên sông nước chảy mắt người
em nở về chi chốn cũ
trên cầu chỉ bóng mình tôi.

Đêm qua ngọn đèn hiu hắt
cay nồng ấm lạnh môi hôn
ai kia giữa trời đứng hát
giữa thinh không giọng quá buồn.

Rồi hoa cũng tím nhạt phai
tim anh mãi có bao giờ
đỏ như màu hoa buổi trước
cháy đi! nỗi nhớ tim ơi.

Hoa rồi có còn ở lại
bên thành cầu xưa bóng ai
bơ vơ đổ dài tưởng tiếc
người ấy - ờ xa lắm rồi.

Đêm nghe tin em đi rồi
buồn buồn cầm ly rượu cũ
nhớ nhau bao đêm tâm sự
chuyện tình cay đắng đầy vơi.

Rồi hoa rồi bướm rồi sông
em yêu xiết bao lòng biển
anh yêu núi xưa khôn cùng
cho dù dòng đời tan biến
giữa đám hoa phù-dung, không!


HUY UYÊN

READ MORE - Huy Uyên - PHÙ - DUNG TỪ

Monday, October 8, 2012

QUÊ MÌNH – Lê Đăng Mành

Quý tặng thi huynh:
Ng Thanh Xuân, Trần Tư Ngoan, Lê Sĩ Thu,
Lê Ngọc Quốc, Trần Văn Hạng, Lê sĩ Hải,
Ng Bá Văn, Ng Đức Thú, Ng Đức Vinh, Ng Văn Tin
và bè bạn tha hương



Sáng lên mưa dữ dội
Cứa đứt bình minh rồi
Co ro đường ngõ vắng
Hun hút vài nón tơi.

Thinh không thu gió lộng
Ném nước bạc xuống đồng
Thương quê mình Quảng Trị
Cưỡi mãi sóng long đong.

HẠ, ngọn Lào rang hừng hực
THU, bịn rịn hoài bão giông
ĐÔNG, rét chà cứng môi cười
XUÂN, trừng nhìn phía tỉnh thức…

Bởi quê sống chuẩn mực
Dẫu dậy cùng sắn khoai
Hạnh phúc còn thao thức
Thương mình buổi giêng hai!*

Tình em đong rạo rực
Nếp hạnh đức trong veo
Tinh khôi trú lồng ngực
Nên **Quảng Trị quê nghèo.

                     Lê Đăng Mành
           Chờ bão số 7 (07/10/2012)
                         Nhâm Thìn

*Tục ngữ miền Sông Ô Lâu-Quảng Trị: Giêng hai cắn ngón tay không ra máu.
**Làm nên.
READ MORE - QUÊ MÌNH – Lê Đăng Mành