Chuyện kể hai mươi
ba năm trước,
có một cô gái trẻ lang thang.
Chẳng
biết quê đâu ghé qua làng.
người dơ bẩn, đầu bù,
tóc rối.
gặp ai cũng cười cười, nói nói.
Nhiều
bà quê muốn đuổi cho xa,
“Cút lẹ đi!” mặc
sức ai la,
cô điên vẫn vào ra thôn xóm.
Hồi đó, tuổi cha
tôi đã lớn,
cụt một tay, nhà lại nghèo xơ,
làm
thế nào cưới vợ bây giờ.
Bà nội thấy cô điên
cũng được,
không quá xinh nhưng đầy sức vóc,
muốn
mang về làm vợ, đẻ con.
Định khi sinh được "đứa
nối dòng"
sẽ đuổi ra khỏi nhà tức khắc.
Cha tôi không nghĩ điều
phụ bạc,
nhưng vì nghèo cũng phải chịu thôi.
Vậy là cha có vợ
như người,
khỏi tốn tiền bỗng thành chú rể.
Khi
mẹ sinh tôi, nhìn đứa bé,
bà nội cười lộ mấy
chiếc răng,
ẵm cháu đi khoe với xóm làng:
“Con mẹ
điên sinh trai rồi đấy,
ngày tôi chết có thằng chống
gậy.”
Rồi bà không cho mẹ đến gần.
Mẹ muốn
ôm tôi đã lắm lần,
đến trước bà gào lên thật
lớn:
“Đưa, đưa tôi ...” gào hoài chỉ uổng,
nội
đã không, mặc kệ ai gào.
Bởi thân tôi rủi có bề
nào,
chuyện người điên mấy ai đoán trước.
Cứ
mỗi khi, trăm lần như một,
mẹ xin ôm, nội lại trợn
trừng:
“Mày ôm nó cần phải coi chừng,
hễ tao
thấy là tao đánh chết.”
Mẹ nghe vậy vô cùng kinh
khiếp,
muốn nhìn con chỉ đứng xa xa.
Bầu sữa mẹ
chẳng khác người ta,
căng đầy cứng nhưng tôi không
bú.
Bởi nội nói trong bầu sữa đó,
“bệnh thần
kinh” có sẵn không nên.
Bà đút nuôi tôi
sống lớn lên.
Hồi đó nhà đang nghèo thậm tệ,
đặc
biệt kể từ khi có mẹ,
đã nhiều hôm nhà phải treo
niêu.
Một lần kia nội thật đáng yêu,
bà nấu sẵn
nồi cơm thơm ngát,
rồi tự tay xúc đầy một bát,
đưa
mẹ tôi xong nội nói rằng:
“Này con dâu, cầm lấy mà
ăn,
nhà chúng ta hiện đang nghèo lắm,
mẹ có lỗi
với cô chẳng đặng.
Cô ăn xong hết bát cơm này,
rồi
tìm đâu khấm khá đi ngay,
và từ rày đừng quay lại
nữa.”
Mẹ vừa nhai chén cơm dang dở,
đã nghe bà
nội “lệnh lên đường”.
Mẹ ngạc nhiên vội
nhả ngụm cơm,
rồi nhìn tôi “Đừng...đừng..” lắp
bắp.
Nội khi ấy nghiêm trang nét mặt,
lấy quyền
uy gia trưởng, quát to:
“Con dâu này bướng bỉnh ra
trò.
Bướng như mày chẳng bao giờ khá.
mày vốn
lang thang khắp thiên hạ,
tao bao dung nuôi đã hai
năm.
Bây giờ mày đòi hỏi nữa chăng?
Ăn lẹ rồi
đi, nghe chưa hở?”
Phán lệnh xong, nội ra sau cửa,
cầm
xẻng lên đập mạnh xuống “Rầm!”
Mẹ điếng
hồn cúi xuống chén cơm,
dòng nước mắt trào tuôn lả
tả.
Bỗng mẹ làm một điều kỳ lạ,
chia bát cơm
phân nửa hai bên,
rồi từ từ ngước mắt nhìn lên.
Bà
nội hiểu điều gì muốn nói;
mẹ thà đói nhưng rất
sợ đuổi;
nội quay đi ruột rối như tơ.
Là bàn
bà, nội cũng đắn đo,
nhưng vội nuốt chôn dòng nước
mắt,
rồi quay lại nội nghiêm nét mặt:
“Ăn mau
lên, xong phải còn đi.
Ở lại đây cô chẳng khá
gì.”
Mẹ lúc ấy gần như tuyệt vọng,
bỏ nửa
bát cơm buồn đắng họng,
đứng chần chừ trước cửa
rất lâu.
Nội dằn lòng quyết đuổi đi mau:
“Đi
đi, đừng quay đầu lại nữa.
Tìm mấy người giàu
nhờ giúp đỡ!”
Mẹ đưa một tay hướng phía bà,
chắc
muốn ôm tôi, nội hiểu ra,
bà lưỡng lự rồi đưa
cho mẹ,
nhưng hai tay chực chờ hứng nhẹ,
bởi ngại
rằng mẹ nổi cơn điên,
lỡ quăng tôi, nội kịp chụp
liền.
Lần đầu tiên trong đời được ẵm,
môi mẹ
nở nụ cười tươi thắm.
Ba phút rồi, nội chẳng chờ
thêm,
giằng lấy tôi, xong vội cài then.
Khi bắt đầu lờ
mờ hiểu biết,
nội dối rằng mẹ tôi đã chết.
Bạn
bè quanh chỉ ngoại trừ tôi,
đứa nào cũng có mẹ
trong đời.
Chúng nói rằng mẹ tôi còn đó,
bởi bà
điên, nội không cho ở.
Tôi thật ra chưa hiểu
nghĩa “điên”
lòng ước mơ được thấy mẹ
hiền,
tôi gặp nội và cha vòi vĩnh.
Lúc uất quá
còn đâm liều lĩnh,
chửi nội: “Đồ lang sói,
bất nhân!”
thậm chí còn hất cả đồ ăn.
Bỗng bất ngờ năm
tôi lên sáu,
một hôm, bạn bè vào cấp báo:
“Thụ
ơi, mẹ điên đã trở về.”
Tôi vội ra cho biết
chuyện gì;
nội và ba cùng đi xem nữa.
Lần đầu
tiên từ khi biết nhớ,
gặp mẹ mình, tôi ngỡ đang
mơ.
Trên tóc bà dính những cỏ khô,
áo quần rách,
tóc tai rũ rượi,
chỉ có trời may ra biết nổi,
đêm
hôm qua bà ngủ chỗ nào.
Nhìn cổng thôn, mẹ chẳng
dám vào,
mắt hướng về nhà tôi cuối xóm.
Bà ngồi
đó trên bờ đám ruộng,
tay đang cầm quả bóng rất
dơ.
Khi đám đông vây kín nhìn vô,
mẹ đưa mắt tìm
con trai nhỏ.
Cuối cùng đã thấy tôi ở đó,
mẹ
nhìn theo chằm chặp không rời,
xong nhếch mép giơ bóng
lên trời:
“Thụ...bóng...bóng...” đưa tôi cầm
lấy.
Tôi hoảng sợ quay đầu định chạy.
Mẹ của
tôi như vậy hay sao?!
Vậy mà tôi mong nhớ từ lâu.
Một
thằng nhỏ ghẹo tôi: “Này Thụ,
giờ mày biết
“mẹ điên” rồi chứ?
Mẹ mày như vậy đó, thấy
chưa?”
Giận run lên, tôi đáp không vừa:
“Bà ta
là mẹ mầy thì có.
Đầu bà điên dính đầy những
cỏ,
mẹ của tao không phải thế này.”
Nói xong,
tôi chạy trốn như bay,
bà điên này tôi không thèm
nữa.
Nội, ba đưa mẹ
về trước cửa,
từ hôm mẹ bị đuổi khỏi nhà,
nội
lương tâm áy náy, hiểu ra,
trái tim bà không còn cứng
nữa,
nên chủ động đưa dâu về ở.
Riêng tôi bực
bội cứ không thôi,
bởi bà làm mất thể diện
tôi.
Tôi không thèm mỉm cười với mẹ,
cũng không
hề mở lời nhỏ nhẹ.
Tiếng gọi “Mẹ!” tôi
để quên lâu.
Khi có điều cần nói đôi câu,
tôi
chỉ việc gào lên thật lớn,
dù cãi nửa lời bà
chẳng muốn.
Nhà không nên để
tốn cơm hoài,
nội tìm cách chỉ việc cầm tay,
dạy
mẹ làm điều này, thứ nọ.
Một hôm nội giao đi cắt
cỏ,
mẹ ra đi thoáng chốc trở về,
hai bao đầy
xanh mướt tràn trề.
Nội vừa thấy mặt mày tái
mét:
“Cỏ và lúa mày không phân biệt ...”
Nội
gào chưa xong đã thấy người
đến trách móc chửi bới
tơi bời,
rằng nội dạy dâu đi trộm lúa.
Nội giận
lắm mặt bừng như lửa.
sẵn cây roi cứ quất vào
lưng,
mẹ biết đau lắp bắp: “Đừng...đừng...!”
Người
chủ ruộng xem chừng quá đủ,
bèn lên tiếng sau cơn
giận dữ:
“Thôi chúng tôi không bắt đền đâu,
nhưng
từ nay giữ nó về sau.”
Khi vừa qua đi cơn sóng
gió,
mẹ oằn người khóc rên nho nhỏ.
Tôi bảo: “Lúa
và cỏ khác nhau,
bà chẳng còn phân biệt được
sao?
Người như vậy đúng là con lợn.”
Lời vừa
dứt, nội lên cơn giận,
tát mặt tôi một trận ra
trò:
“Thằng ngu kia, mày nói gì cơ?
Mẹ mày đấy,
sao giờ nói thế?”
Tôi bĩu môi vùng vằng chống
chế:
“Tôi không cần có mẹ điên này”
“A, xem
bà có dám đánh mày.
Mày càng lớn càng thêm khó
dạy.”
Nội giơ tay, mẹ liền bật dậy
đứng chắn
che giữa nội và tôi,
chỉ vào đầu, mẹ nói một
hơi:
“Đánh tôi, đánh tôi!” đầy thảng
thốt.
Nội buông tay, lầm bầm một lúc:
“Mẹ điên
này cũng biết thương con!”
Rồi thời gian tới
tuổi lớn khôn,
năm tôi là học sinh lớp một,
cha
được người bà con rất tốt
mời đi canh hồ cá làng
bên,
lương đủ dùng nhờ bố rất siêng.
Mẹ nay đã
biết cắt cỏ lợn,
không còn xảy chuyện gì to
lớn,
nhờ nội luôn chỉ bảo gần kề.
Nhớ một ngày mưa
rét năm kia,
tôi học tới lớp ba đã lớn,
nội sai
mẹ mang ô đi đón.
Chắc trên đường sụp té sình
bùn,
trông thân mình nhầy nhụa, thảm thương.
Mẹ
lấp ló đứng ngoài cửa sổ,
cười ngớ ngẩn, gọi
to: “Ô...Thụ...”
Lũ bạn tôi được cớ đùa
trêu,
tôi giận sao mẹ chẳng biết điều,
càng xấu
hổ bạn càng trêu chọc.
Thằng Hỷ vốn thích trò cay
độc,
nó đứng lên bắt chước mẹ điên.
Tôi sẵn
tay cây thước đánh liền,
nhưng thằng Hỷ vốn rất
khỏe mạnh,
nó xông tới đè tôi xuống đánh.
Lúc
này tôi nghe có tiếng “ào”.
Mẹ như tay đại
hiệp “bay” vào,
chụp thằng Hỷ gọn trong
tay mẹ.
Người ta nói người điên rất khỏe,
mẹ
nhấc cao thằng Hỷ trên không,
mặc nó kêu, la hét, vẫy
vùng,
mẹ thong thả đi ra ao nước,
vứt nó xuống
rồi bà quay bước,
mặt thản nhiên như chẳng có
gì.
Cũng vì tôi nên xảy chuyện kia,
trước mặt tôi
mẹ như khiếp nhược,
bà nhìn tôi lấy lòng cho
được.
Tôi hiểu ra mẹ rất thương con,
dù đầu óc
mẹ có bất thường,
trong tình yêu, mẹ luôn tỉnh
táo,
khi thấy con gặp điều hung bạo.
Lần đầu tôi
chợt khẽ kêu lên
tiếng “Mẹ!” ôi sao
quá dịu êm!
Bà sững sờ nhìn tôi vui sướng,
mặt
mẹ hồng lên, cười ngớ ngẩn.
Lần đầu tiên hôm đó
chúng tôi,
đi bên nhau trong tiếng mưa rơi.
Tôi tới
nhà kể ngay cho nội,
vừa nghe xong bà liền chạy
vội
kiếm cha về để kịp cứu nguy.
Cha ngoài sân
chưa rõ điều chi,
một đám người đàn ông tráng
kiện,
mặt hằm hằm ào ào xông đến,
đập nát tan
mọi thứ trong nhà,
từ chum sành, chén sứ chẳng
tha.
Nhà rung chuyển như cơn địa chấn.
Bố thằng
Hỷ trông thật hung tợn,
chỉ mặt cha rồi hét rất
to:
"Thằng con tao sợ quá hóa rồ,
hiện đang nằm
nhà thương cứu chữa.
Nếu nhà mày không mang tiền
trả,
tao sẽ cho đốt cả thành tro.”
Ba nghe xong vừa
giận vừa lo,
cơn đại nạn nguyên do ở mẹ.
Ông
tháo dây thắt lưng thật lẹ,
đánh tới tấp trên mặt,
trên đầu.
Mẹ rú lên sau mỗi đòn đau,
người co
rúm như là con trút
bị dồn tới đường cùng ngỏ
cụt,
bà nhảy lên vừa chạy vừa la.
Cả đời tôi
chắc mãi tới già
sẽ không quên tiếng bà hôm
đó.
Chính quyền đến vừa khi biết rõ,
ngăn cấm
cha không được hành hung,
rồi giải hòa kết quả sau
cùng:
Cả hai bên bị nhiều tổn thất,
coi như không
còn gì khuất tất.
Ai gây thêm sẽ bắt đi tù.
Khi
đám người giải tán hồi lâu,
cha nhìn lại cảnh nhà
tan nát
đây mảnh nồi niêu, kia chén bát.
Rồi nhìn
thân mẹ lắm vết roi,
cha bất ngờ nước mắt tuôn
rơi:
“Mẹ điên ơi, tôi không muốn đánh,
nhưng nếu
không họa tai khó tránh.
Việc này e dàn xếp khó
xong,
nhà lấy đâu tiền để bồi thường,
cũng vì
nghèo nên luôn khổ mãi!”
Cha quay sang nhìn tôi ái
ngại:
“Con rán vô đại học sau này,
không vậy nhà
mình cứ khổ hoài,
bị người khác suốt đời bắt
nạt!”
Hiểu ý cha, đầu tôi khẻ gật.
Tôi đỗ trung học
năm Hai Ngàn (2000)
nội qua đời, gia cảnh khó khăn.
Học
nội trú rất nhiều bài vở,
tôi ít về nhà dù rất
nhớ.
Cha vẫn còn công việc làm thuê,
mẹ phải lo
tiếp tế đi về,
sau mỗi lần thím tôi nấu sẵn.
Chặng
đường đi gần mười lăm dặm,
dẫu xa xuôi mẹ chẳng
ngại chi.
Nghĩ mãi không ra chuyện diệu kỳ,
mẹ vì
tôi không điên những lúc.
Câu trả lời phải chờ y
học,
còn gì ngoài tình mẫu tử ra?
Ngày Hăm Bảy,
Tháng Bốn, Lẻ Ba (27/4/2003)
hôm đó tôi nhớ là Chúa
Nhật,
ngoài đồ ăn mẹ mang quà vặt.
chục quả đào
hoang chẳng biết đâu.
Tôi ăn xong hỏi thử một
câu:
“Đào ngon lắm, chỗ nào ra vậy?”
Mẹ ấp
úng rằng: “Tôi...tôi hái...”
Tôi không ngờ,
khen mẹ chân thành:
“Mẹ càng ngày càng giỏi, đáng
khen!”
Mẹ nghe xong cười hì, không nói.
Trước khi
mẹ về, tôi quen thói,
dặn bà nên cẩn thận an
toàn.
Mẹ ờ ờ chân bước vội vàng.
Tiễn mẹ
xong, tôi lao vào học;
thi cuối kỳ phổ thông nặng
nhọc.
Ngay hôm sau, đang
lúc ở trường,
có tiếng loa thông báo oang oang:
“Học
sinh Thụ ra phòng tiếp khách
có thân nhân đang chờ gặp
gấp!”
Ờ hóa ra bà thím đến thăm.
Sau vài câu
chào đón, hỏi han,
bà hỏi tôi tin tức về
mẹ
rằng: “Hôm qua bà đi tiếp tế
mãi tới
nay chưa thấy quay về!”
Tôi thót người sau phút gẫm
suy;
mẹ không thể lạc đường chắc chắn,
đã ba
năm chưa lần nhầm lẫn.
Thím hỏi quanh những chuyện
xảy ra:
“Mẹ mày nói gì suốt hôm qua?”
Tôi
đáp: “Mẹ không nói gì cả
chỉ cho tôi đào
hoang mấy quả.”
Thím nghe xong bỗng đập hai tay:
“Thôi
chết tôi, chính quả dại này!”
Thím bảo tôi vào xin
nghỉ học,
rồi cả hai chúng tôi tức tốc,
men theo
đường vách núi dò tìm.
Rất nhiều cây đào dại hai
bên,
kìa có một nhành nghiêng gãy sẵn
nằm chênh
vênh bên bờ vực thẳm.
Thím bảo tôi cùng xuống thử
tìm.
Tôi bảo: “Đừng dọa cháu yếu tim!”
Thím
im lặng kéo tôi xuống núi.
Mẹ nằm đó bên bờ con
suối,
những trái đào vung vãi quanh đây,
một chùm
còn nắm chặt trong tay,
máu trên người đã đen khô
cứng.
Tôi ôm mẹ vô cùng đau đớn:
“Mẹ ơi, Mẹ
điên của con ơi!”
Con hối hận vì đã mở lời
khen
đào ngọt để giờ mẹ chết.
Suốt đời mẹ sướng
sung chưa biết,
vì thương con gánh hết thương đau!”
Bên
xác mẹ tôi nấc nghẹn ngào,
hình như gió trên cao cũng
khóc.
và cỏ cây trong rừng, cuối dốc.
suối kề
bên trỗi khúc bi ca.
Ngày mồng Bảy,
tháng Tám, Lẻ Ba (7/8/2003)
một trăm ngày sau khi chôn
cất,
giấy trúng tuyển vào trường Đại học,
chữ
trên thư dát những nét vàng,
theo con đường mẹ đã
đi ngang,
bay thẳng tới nhà tôi vừa lúc.
Trên mộ
phần cây đào dại mọc,
tôi cúi đầu trình mẹ tờ
thư:
“Này Mẹ xem, đã thỏa ước mơ,
nơi chín suối
ngậm cười nhé Mẹ!”
Nguyễn Tường
New
York, July 07, 2011
tuong_lan88@yahoo.com