Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Thursday, May 10, 2012

NHỚ NẮNG SÔNG TIỀN - Lê Cảnh Tiến


Gờn gợn phù sa sông Tiền cuộn sóng
Em đi rồi chiều vắng nắng tương tư
Đôi mắt em huyền ảo nước cuối mùa
Cho bóng nắng theo về đêm tóc rối
Nắng sông Tiền vàng trôi chiều lạc lối
Buổi em về bối rối hạt mưa rơi
Vành môi khô nắng nhạt rớt bên đời
Thương nhớ bến em quay về chốn củ
Ngày em đi nắng Thu buồn quyến rủ
Như mắt em vời vợi giữa sông dài
Cánh hồng đào đỏ rực sớm Thu phai
Ghen mắt biếc màu môi em đỏ thắm
Về chốn xưa giữa mây trời xanh thẳm
Nghe mênh mông trĩu nặng những u hoài
Mối tình đầu vương vấn giọt sương mai
Còn đọng lại bài thơ đêm viết vội
Ngày em đi mây buồn giăng kín lối
Nắng bàng hoàng chết lịm buổi chiều mơ
Gió lao xao buồn thổi chút hững hờ
Trăng héo úa lặng mờ nơi bến vắng
Nhớ không em nắng sông Tiền tĩnh lặng
Dẫu xa xăm nhớ nắng cũng quay về
Nắng chiều vàng rực rỡ bến sông quê
Vẫn còn đó chiều xưa em đứng đợi

                              10/5/2012
                             Lê Cảnh Tiến
letien3010@gmail.com
READ MORE - NHỚ NẮNG SÔNG TIỀN - Lê Cảnh Tiến

CỔ TÍCH LOAN VÀ DŨNG - Huy Uyên



                        (Thân tặng lớp 3C Nguyễn Hoàng 1965)

Có thể Loan con đường buổi trước
để người đi không nói nên lời
một chiều ngẩn ngơ một chiều phiêu bạt
nên nhói đau hoài tim ơi !
Ngày đi ai đời-mưa-gió
dấu chi nhau một vết thương buồn
có thể bây giờ còn lại Dũng
để mây trời trôi đi bâng khuâng .
Có thể em của một đời không hề bắt kịp
để riêng tôi xa xót trăm năm
hãy vì tôi mà đợi chờ dù một phút
đò rồi cũng xuôi theo đêm trăng .
Em còn lại những tháng ngày xa khuất
khi bỏ đi nào có bao giờ
in đậm trong tim người thuốc độc
chết đời ai đằm thắm cỏi hư vô .
Tôi, vẫn còn tôi một mình quay lại
trong mãnh sân xưa khép kín nổi lòng
mới đó thoáng bóng người hồ điệp
sao tôi về chi với lặng im .
Có thể em đêm nay đêm ba mươi
bên nhà ai bếp lửa hồng tâm sự
biết trôi về đâu đời lử thứ
lặng lẻ theo đò xuôi sông .
Trên tay buồn đắng cay chén rượu
có thể gió đã về bên đê Yên-phụ
có làm em quàng lạnh tình xưa
có thể là Dũng & Loan
để mãi nghe lời ly biệt
mắt ngước nhìn trăng xa trời ơi người  có biết .
Còn lại tôi với nổi đau cổ tích
và bao giờ đêm nay
không bến không bờ
xao xuyến hoài một mối tình không nói .
Nhà ai đêm cuối năm le lói
ánh đèn buồn chao sông
cho dù em là Loan
tôi mãi một đời lầm lủi bước.




Huy Uyên
lesinh.lesinh@yahoo.com
0903 583 673 
READ MORE - CỔ TÍCH LOAN VÀ DŨNG - Huy Uyên

ĐÌNH THU - Bài ca vọng cổ NƠI CÒN LẠI YÊU THƯƠNG : 6.LỜI RU CỦA MẸ



6. Lời ru của mẹ

Hò ơ ơ… Chim xa rừng còn thương cây nhớ cội.
Người xa người tội lắm … chừ ai ơi
Chẳng thà không biết thì thôi.
Biết rồi mỗi đứa mỗi nơi thêm buồn

1/ Không gian trưa ngủ im lìm, bỗng có tiếng ai ru vang lên từ cuối xóm. Tiếng ru làm lay động lòng tôi da diết cả tâm hồn.
Tiếng ru êm yên giấc buổi trưa hè
Ngày xưa mẹ thường hát ru … nghe tiếng trầm tiếng bổng, lời mênh mang trôi theo những dòng sông. Đã mấy chục năm trời xa quê, thèm lời ru của mẹ. Đêm ngủ giật mình nằm nhớ hình bóng quê, nhớ tiếng mưa rơi trên cánh đồng mùa gặt, mẹ gánh lúa về trời mưa dầm không dứt ...

2/ Ngón chân cái bấm sâu vào đường đất, chiếc đòn gánh nặng cong nhưng mẹ vẫn tươi cười.
Mẹ tần tảo ngày đêm mong ước mai sau con được nên người.
Con vẫn còn nhớ như in trong từng dòng tâm tưởng, ngày tết mẹ dẫn về thăm quê ngoại làng bên. Trương Xá thân yêu với nhiều kỷ niệm, đẹp tựa ánh trăng rằm. Ơi cái tuổi ấu thơ.
Dẫu đi xa không bao giờ quên được, vẫn nhớ lời mẹ ru hời bên nôi nhỏ thương yêu… Đi khắp nơi vẫn không bao giờ quên được, vùng vẫy bốn phương trời chưa trọn một giấc mơ, nhớ lời mẹ ru thuở thiếu thời vẫn còn vang vọng mãi.

Hát ru:

“ Ầu ơ….ví dầu cầu ván đóng đinh. Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi. Khó đi mẹ dắt con đi . Con đi trường học mẹ đi trường đời..”

5/ Quê hương thấm trong từng lời ru của mẹ, những dấu yêu năm nào còn đọng lại trên môi, vòng tay bao dung vẫn hướng về nơi nguồn cội thâm tình, có hơi ấm tình sâu nghĩa nặng quê mình.

Con muốn về nghe gió mùa thu trở giấc, nhìn lá vàng rơi khắp nẻo đường quê, để được thấy em thơ ngày hai buổi đến trường, được nâng niu từng bàn chân bước. Nỗi khát khao được trở về với mẹ, về với làng Mộc Đức thân yêu trong khói lam chiều.

6/ Ôi người mẹ thân yêu suốt đời mòn mỏi, đêm từng đêm nằm thao thức nhớ thương con, nhìn bức tường vôi trắng mẹ lần theo vết gạch in, đếm bước thời gian mong con về thăm mẹ. Ôi quê hương có tình thương của mẹ, gió xuân về thấp thỏm ngóng trông. Mai vàng nở rộ ngoài sân, thương mùa đông cũ gió heo may lạnh lùng.

Khói lam chiều trải ven đê
Dòng sông chở nặng lời thề phôi pha
Nỗi niềm riêng ở trong ta
Nghe lời ru lại nhớ nhà khôn nguôi.

Đình Thu
(Bến Tre)
dinhthubank@yahoo.com.vn
                                                                                  






READ MORE - ĐÌNH THU - Bài ca vọng cổ NƠI CÒN LẠI YÊU THƯƠNG : 6.LỜI RU CỦA MẸ

Tuesday, May 8, 2012

NGƯỜI MẸ ĐIÊN - Chuyện kể của Nguyễn Tường



Chuyện kể hai mươi ba năm trước,
có một cô gái trẻ lang thang.
Chẳng biết quê đâu ghé qua làng.
người dơ bẩn, đầu bù, tóc rối.
gặp ai cũng cười cười, nói nói.
Nhiều bà quê muốn đuổi cho xa,
“Cút lẹ đi!” mặc sức ai la,
cô điên vẫn vào ra thôn xóm.

Hồi đó, tuổi cha tôi đã lớn,
cụt một tay, nhà lại nghèo xơ,
làm thế nào cưới vợ bây giờ.
Bà nội thấy cô điên cũng được,
không quá xinh nhưng đầy sức vóc,
muốn mang về làm vợ, đẻ con.
Định khi sinh được "đứa nối dòng"
sẽ đuổi ra khỏi nhà tức khắc.
Cha tôi không nghĩ điều phụ bạc,
nhưng vì nghèo cũng phải chịu thôi.

Vậy là cha có vợ như người,
khỏi tốn tiền bỗng thành chú rể.
Khi mẹ sinh tôi, nhìn đứa bé,
bà nội cười lộ mấy chiếc răng,
ẵm cháu đi khoe với xóm làng:
“Con mẹ điên sinh trai rồi đấy,
ngày tôi chết có thằng chống gậy.”
Rồi bà không cho mẹ đến gần.
Mẹ muốn ôm tôi đã lắm lần,
đến trước bà gào lên thật lớn:
“Đưa, đưa tôi ...” gào hoài chỉ uổng,
nội đã không, mặc kệ ai gào.
Bởi thân tôi rủi có bề nào,
chuyện người điên mấy ai đoán trước.
Cứ mỗi khi, trăm lần như một,
mẹ xin ôm, nội lại trợn trừng:
“Mày ôm nó cần phải coi chừng,
hễ tao thấy là tao đánh chết.”
Mẹ nghe vậy vô cùng kinh khiếp,
muốn nhìn con chỉ đứng xa xa.
Bầu sữa mẹ chẳng khác người ta,
căng đầy cứng nhưng tôi không bú.
Bởi nội nói trong bầu sữa đó,
“bệnh thần kinh” có sẵn không nên.

Bà đút nuôi tôi sống lớn lên.
Hồi đó nhà đang nghèo thậm tệ,
đặc biệt kể từ khi có mẹ,
đã nhiều hôm nhà phải treo niêu.
Một lần kia nội thật đáng yêu,
bà nấu sẵn nồi cơm thơm ngát,
rồi tự tay xúc đầy một bát,
đưa mẹ tôi xong nội nói rằng:
“Này con dâu, cầm lấy mà ăn,
nhà chúng ta hiện đang nghèo lắm,
mẹ có lỗi với cô chẳng đặng.
Cô ăn xong hết bát cơm này,
rồi tìm đâu khấm khá đi ngay,
và từ rày đừng quay lại nữa.”
Mẹ vừa nhai chén cơm dang dở,
đã nghe bà nội “lệnh lên đường”.
Mẹ ngạc nhiên vội nhả ngụm cơm,
rồi nhìn tôi “Đừng...đừng..” lắp bắp.
Nội khi ấy nghiêm trang nét mặt,
lấy quyền uy gia trưởng, quát to:
“Con dâu này bướng bỉnh ra trò.
Bướng như mày chẳng bao giờ khá.
mày vốn lang thang khắp thiên hạ,
tao bao dung nuôi đã hai năm.
Bây giờ mày đòi hỏi nữa chăng?
Ăn lẹ rồi đi, nghe chưa hở?”
Phán lệnh xong, nội ra sau cửa,
cầm xẻng lên đập mạnh xuống “Rầm!”
Mẹ điếng hồn cúi xuống chén cơm,
dòng nước mắt trào tuôn lả tả.
Bỗng mẹ làm một điều kỳ lạ,
chia bát cơm phân nửa hai bên,
rồi từ từ ngước mắt nhìn lên.
Bà nội hiểu điều gì muốn nói;
mẹ thà đói nhưng rất sợ đuổi;
nội quay đi ruột rối như tơ.
Là bàn bà, nội cũng đắn đo,
nhưng vội nuốt chôn dòng nước mắt,
rồi quay lại nội nghiêm nét mặt:
“Ăn mau lên, xong phải còn đi.
Ở lại đây cô chẳng khá gì.”
Mẹ lúc ấy gần như tuyệt vọng,
bỏ nửa bát cơm buồn đắng họng,
đứng chần chừ trước cửa rất lâu.
Nội dằn lòng quyết đuổi đi mau:
“Đi đi, đừng quay đầu lại nữa.
Tìm mấy người giàu nhờ giúp đỡ!”
Mẹ đưa một tay hướng phía bà,
chắc muốn ôm tôi, nội hiểu ra,
bà lưỡng lự rồi đưa cho mẹ,
nhưng hai tay chực chờ hứng nhẹ,
bởi ngại rằng mẹ nổi cơn điên,
lỡ quăng tôi, nội kịp chụp liền.
Lần đầu tiên trong đời được ẵm,
môi mẹ nở nụ cười tươi thắm.
Ba phút rồi, nội chẳng chờ thêm,
giằng lấy tôi, xong vội cài then.

Khi bắt đầu lờ mờ hiểu biết,
nội dối rằng mẹ tôi đã chết.
Bạn bè quanh chỉ ngoại trừ tôi,
đứa nào cũng có mẹ trong đời.
Chúng nói rằng mẹ tôi còn đó,
bởi bà điên, nội không cho ở.
Tôi thật ra chưa hiểu nghĩa “điên”
lòng ước mơ được thấy mẹ hiền,
tôi gặp nội và cha vòi vĩnh.
Lúc uất quá còn đâm liều lĩnh,
chửi nội: “Đồ lang sói, bất nhân!”
thậm chí còn hất cả đồ ăn.

Bỗng bất ngờ năm tôi lên sáu,
một hôm, bạn bè vào cấp báo:
“Thụ ơi, mẹ điên đã trở về.”
Tôi vội ra cho biết chuyện gì;
nội và ba cùng đi xem nữa.
Lần đầu tiên từ khi biết nhớ,
gặp mẹ mình, tôi ngỡ đang mơ.
Trên tóc bà dính những cỏ khô,
áo quần rách, tóc tai rũ rượi,
chỉ có trời may ra biết nổi,
đêm hôm qua bà ngủ chỗ nào.
Nhìn cổng thôn, mẹ chẳng dám vào,
mắt hướng về nhà tôi cuối xóm.
Bà ngồi đó trên bờ đám ruộng,
tay đang cầm quả bóng rất dơ.
Khi đám đông vây kín nhìn vô,
mẹ đưa mắt tìm con trai nhỏ.
Cuối cùng đã thấy tôi ở đó,
mẹ nhìn theo chằm chặp không rời,
xong nhếch mép giơ bóng lên trời:
“Thụ...bóng...bóng...” đưa tôi cầm lấy.
Tôi hoảng sợ quay đầu định chạy.
Mẹ của tôi như vậy hay sao?!
Vậy mà tôi mong nhớ từ lâu.
Một thằng nhỏ ghẹo tôi: “Này Thụ,
giờ mày biết “mẹ điên” rồi chứ?
Mẹ mày như vậy đó, thấy chưa?”
Giận run lên, tôi đáp không vừa:
“Bà ta là mẹ mầy thì có.
Đầu bà điên dính đầy những cỏ,
mẹ của tao không phải thế này.”
Nói xong, tôi chạy trốn như bay,
bà điên này tôi không thèm nữa.

Nội, ba đưa mẹ về trước cửa,
từ hôm mẹ bị đuổi khỏi nhà,
nội lương tâm áy náy, hiểu ra,
trái tim bà không còn cứng nữa,
nên chủ động đưa dâu về ở.
Riêng tôi bực bội cứ không thôi,
bởi bà làm mất thể diện tôi.
Tôi không thèm mỉm cười với mẹ,
cũng không hề mở lời nhỏ nhẹ.
Tiếng gọi “Mẹ!” tôi để quên lâu.
Khi có điều cần nói đôi câu,
tôi chỉ việc gào lên thật lớn,
dù cãi nửa lời bà chẳng muốn.

Nhà không nên để tốn cơm hoài,
nội tìm cách chỉ việc cầm tay,
dạy mẹ làm điều này, thứ nọ.
Một hôm nội giao đi cắt cỏ,
mẹ ra đi thoáng chốc trở về,
hai bao đầy xanh mướt tràn trề.
Nội vừa thấy mặt mày tái mét:
“Cỏ và lúa mày không phân biệt ...”
Nội gào chưa xong đã thấy người
đến trách móc chửi bới tơi bời,
rằng nội dạy dâu đi trộm lúa.
Nội giận lắm mặt bừng như lửa.
sẵn cây roi cứ quất vào lưng,
mẹ biết đau lắp bắp: “Đừng...đừng...!”
Người chủ ruộng xem chừng quá đủ,
bèn lên tiếng sau cơn giận dữ:
“Thôi chúng tôi không bắt đền đâu,
nhưng từ nay giữ nó về sau.”
Khi vừa qua đi cơn sóng gió,
mẹ oằn người khóc rên nho nhỏ.
Tôi bảo: “Lúa và cỏ khác nhau,
bà chẳng còn phân biệt được sao?
Người như vậy đúng là con lợn.”
Lời vừa dứt, nội lên cơn giận,
tát mặt tôi một trận ra trò:
“Thằng ngu kia, mày nói gì cơ?
Mẹ mày đấy, sao giờ nói thế?”
Tôi bĩu môi vùng vằng chống chế:
“Tôi không cần có mẹ điên này”
“A, xem bà có dám đánh mày.
Mày càng lớn càng thêm khó dạy.”
Nội giơ tay, mẹ liền bật dậy
đứng chắn che giữa nội và tôi,
chỉ vào đầu, mẹ nói một hơi:
“Đánh tôi, đánh tôi!” đầy thảng thốt.
Nội buông tay, lầm bầm một lúc:
“Mẹ điên này cũng biết thương con!”

Rồi thời gian tới tuổi lớn khôn,
năm tôi là học sinh lớp một,
cha được người bà con rất tốt
mời đi canh hồ cá làng bên,
lương đủ dùng nhờ bố rất siêng.
Mẹ nay đã biết cắt cỏ lợn,
không còn xảy chuyện gì to lớn,
nhờ nội luôn chỉ bảo gần kề.

Nhớ một ngày mưa rét năm kia,
tôi học tới lớp ba đã lớn,
nội sai mẹ mang ô đi đón.
Chắc trên đường sụp té sình bùn,
trông thân mình nhầy nhụa, thảm thương.
Mẹ lấp ló đứng ngoài cửa sổ,
cười ngớ ngẩn, gọi to: “Ô...Thụ...”
Lũ bạn tôi được cớ đùa trêu,
tôi giận sao mẹ chẳng biết điều,
càng xấu hổ bạn càng trêu chọc.
Thằng Hỷ vốn thích trò cay độc,
nó đứng lên bắt chước mẹ điên.
Tôi sẵn tay cây thước đánh liền,
nhưng thằng Hỷ vốn rất khỏe mạnh,
nó xông tới đè tôi xuống đánh.
Lúc này tôi nghe có tiếng “ào”.
Mẹ như tay đại hiệp “bay” vào,
chụp thằng Hỷ gọn trong tay mẹ.
Người ta nói người điên rất khỏe,
mẹ nhấc cao thằng Hỷ trên không,
mặc nó kêu, la hét, vẫy vùng,
mẹ thong thả đi ra ao nước,
vứt nó xuống rồi bà quay bước,
mặt thản nhiên như chẳng có gì.
Cũng vì tôi nên xảy chuyện kia,
trước mặt tôi mẹ như khiếp nhược,
bà nhìn tôi lấy lòng cho được.
Tôi hiểu ra mẹ rất thương con,
dù đầu óc mẹ có bất thường,
trong tình yêu, mẹ luôn tỉnh táo,
khi thấy con gặp điều hung bạo.
Lần đầu tôi chợt khẽ kêu lên
tiếng “Mẹ!” ôi  sao quá dịu êm!
Bà sững sờ nhìn tôi vui sướng,
mặt mẹ hồng lên, cười ngớ ngẩn.
Lần đầu tiên hôm đó chúng tôi,
đi bên nhau trong tiếng mưa rơi.
Tôi tới nhà kể ngay cho nội,
vừa nghe xong bà liền chạy vội
kiếm cha về để kịp cứu nguy.
Cha ngoài sân chưa rõ điều chi,
một đám người đàn ông tráng kiện,
mặt hằm hằm ào ào xông đến,
đập nát tan mọi thứ trong nhà,
từ chum sành, chén sứ chẳng tha.
Nhà rung chuyển như cơn địa chấn.
Bố thằng Hỷ trông thật hung tợn,
chỉ mặt cha rồi hét rất to:
"Thằng con tao sợ quá hóa rồ,
hiện đang nằm nhà thương cứu chữa.
Nếu nhà mày không mang tiền trả,
tao sẽ cho đốt cả thành tro.”
Ba nghe xong vừa giận vừa lo,
cơn đại nạn nguyên do ở mẹ.
Ông tháo dây thắt lưng thật lẹ,
đánh tới tấp trên mặt, trên đầu.
Mẹ rú lên sau mỗi đòn đau,
người co rúm như là con trút
bị dồn tới đường cùng ngỏ cụt,
bà nhảy lên vừa chạy vừa la.
Cả đời tôi chắc mãi tới già
sẽ không quên tiếng bà hôm đó.
Chính quyền đến vừa khi biết rõ,
ngăn cấm cha không được hành hung,
rồi giải hòa kết quả sau cùng:
Cả hai bên bị nhiều tổn thất,
coi như không còn gì khuất tất.
Ai gây thêm sẽ bắt đi tù.
Khi đám người giải tán hồi lâu,
cha nhìn lại cảnh nhà tan nát
đây mảnh nồi niêu, kia chén bát.
Rồi nhìn thân mẹ lắm vết roi,
cha bất ngờ nước mắt tuôn rơi:
“Mẹ điên ơi, tôi không muốn đánh,
nhưng nếu không họa tai khó tránh.
Việc này e dàn xếp khó xong,
nhà lấy đâu tiền để bồi thường,
cũng vì nghèo nên luôn khổ mãi!”
Cha quay sang nhìn tôi ái ngại:
“Con rán vô đại học sau này,
không vậy nhà mình cứ khổ hoài,
bị người khác suốt đời bắt nạt!”
Hiểu ý cha, đầu tôi khẻ gật.

Tôi đỗ trung học năm Hai Ngàn (2000)
nội qua đời, gia cảnh khó khăn.
Học nội trú rất nhiều bài vở,
tôi ít về nhà dù rất nhớ.
Cha vẫn còn công việc làm thuê,
mẹ phải lo tiếp tế đi về,
sau mỗi lần thím tôi nấu sẵn.
Chặng đường đi gần mười lăm dặm,
dẫu xa xuôi mẹ chẳng ngại chi.
Nghĩ mãi không ra chuyện diệu kỳ,
mẹ vì tôi không điên những lúc.
Câu trả lời phải chờ y học,
còn gì ngoài tình mẫu tử ra?
Ngày Hăm Bảy, Tháng Bốn, Lẻ Ba (27/4/2003)
hôm đó tôi nhớ là Chúa Nhật,
ngoài đồ ăn mẹ mang quà vặt.
chục quả đào hoang chẳng biết đâu.
Tôi ăn xong hỏi thử một câu:
“Đào ngon lắm, chỗ nào ra vậy?”
Mẹ ấp úng rằng: “Tôi...tôi hái...”
Tôi không ngờ, khen mẹ chân thành:
“Mẹ càng ngày càng giỏi, đáng khen!”
Mẹ nghe xong cười hì, không nói.
Trước khi mẹ về, tôi quen thói,
dặn bà nên cẩn thận an toàn.
Mẹ ờ ờ chân bước vội vàng.
Tiễn mẹ xong, tôi lao vào học;
thi cuối kỳ phổ thông nặng nhọc.

Ngay hôm sau, đang lúc ở trường,
có tiếng loa thông báo oang oang:
“Học sinh Thụ ra phòng tiếp khách
có thân nhân đang chờ gặp gấp!”
Ờ hóa ra bà thím đến thăm.
Sau vài câu chào đón, hỏi han,
bà hỏi tôi tin tức về mẹ
rằng: “Hôm qua bà đi tiếp tế
mãi tới nay chưa thấy quay về!”
Tôi thót người sau phút gẫm suy;
mẹ không thể lạc đường chắc chắn,
đã ba năm chưa lần nhầm lẫn.
Thím hỏi quanh những chuyện xảy ra:
“Mẹ mày nói gì suốt hôm qua?”
Tôi đáp: “Mẹ không nói gì cả
chỉ cho tôi đào hoang mấy quả.”
Thím nghe xong bỗng đập hai tay:
“Thôi chết tôi, chính quả dại này!”
Thím bảo tôi vào xin nghỉ học,
rồi cả hai chúng tôi tức tốc,
men theo đường vách núi dò tìm.
Rất nhiều cây đào dại hai bên,
kìa có một nhành nghiêng gãy sẵn
nằm chênh vênh bên bờ vực thẳm.
Thím bảo tôi cùng xuống thử tìm.
Tôi bảo: “Đừng dọa cháu yếu tim!”
Thím im lặng kéo tôi xuống núi.
Mẹ nằm đó bên bờ con suối,
những trái đào vung vãi quanh đây,
một chùm còn nắm chặt trong tay,
máu trên người đã đen khô cứng.
Tôi ôm mẹ vô cùng đau đớn:
“Mẹ ơi, Mẹ điên của con ơi!”
Con hối hận vì đã mở lời
khen đào ngọt để giờ mẹ chết.
Suốt đời mẹ sướng sung chưa biết,
vì thương con gánh hết thương đau!”
Bên xác mẹ tôi nấc nghẹn ngào,
hình như gió trên cao cũng khóc.
và cỏ cây trong rừng, cuối dốc.
suối kề bên trỗi khúc bi ca.

Ngày mồng Bảy, tháng Tám, Lẻ Ba (7/8/2003)
một trăm ngày sau khi chôn cất,
giấy trúng tuyển vào trường Đại học,
chữ trên thư dát những nét vàng,
theo con đường mẹ đã đi ngang,
bay thẳng tới nhà tôi vừa lúc.
Trên mộ phần cây đào dại mọc,
tôi cúi đầu trình mẹ tờ thư:
“Này Mẹ xem, đã thỏa ước mơ,
nơi chín suối ngậm cười nhé Mẹ!”


Nguyễn Tường

New York,  July 07, 2011 
tuong_lan88@yahoo.com
READ MORE - NGƯỜI MẸ ĐIÊN - Chuyện kể của Nguyễn Tường

NGHỊCH LÝ - Truyện ngắn Lưu Quang Minh



              …Khi câu chuyện này vừa bắt đầu thì thật ra nó đã kết thúc rồi.
      Có đúng như vậy không hay chỉ là điều tôi nghĩ?
              Cửa mở ra và gã đã đứng đó. Một tên đeo mặt nạ kỳ lạ? Một kẻ điên? Gã sẽ nghĩ gì khác ngoài những điều tôi đã nghĩ? Không làm sao chắc được.
              Cuộc gặp gỡ buộc phải xảy ra…
* * *
              Gã bảo vậy. Anh không tin cũng được. Nhưng tôi mong anh hãy làm theo mọi lời tôi cảnh báo.
              Nghe xong, tôi chỉ cười, và lập tức tống tiễn hắn ngay ra khỏi cửa.
              Hoang đường! Toàn là chuyện tào lao, nhảm nhí. Tôi sẽ nhanh chóng quên sạch câu chuyện gã vừa kể vanh vách từ đầu đến đuôi.
              Nhưng khi rời khỏi nhà, đến ngã tư trước mặt, tôi sực nhớ lại lời của gã:
              “Đến ngã tư thì anh tuyệt đối đừng rẽ phải, hãy rẽ trái… nhớ nhé, làm ơn!”
              Cớ làm sao tôi phải rẽ trái? Tôi muốn đến nhà bạn mình, hướng bên phải mới là lựa chọn sáng suốt nhất.
              Và tôi rẽ phải theo dự định đinh ninh của mình.
              Lúc tôi kịp hoàn hồn thì toàn thân đã ướt như chuột lột. Vũng nước mưa và chiếc xe chết tiệt!
              Thật là bực mình! Nhưng thôi chuyện cũng đã xảy ra rồi. Nhanh chân đến nhà bạn thôi.
              Bạn tôi – nhà phát kiến tài ba trẻ tuổi - muốn cho tôi xem một thứ được gọi là “phát minh mới lạ”. Vào thời buổi công nghệ cao này, ngày ngày có vô khối những “phát minh mới lạ” được trưng ra. Làm một nhà phát kiến không phải là một việc dễ dàng. Cũng giống như các nhà văn, chuyên môn của bạn tôi là sáng tạo. Sáng tạo ra những điều mới mẻ. Không rập khuôn và cũ mòn. Thật là một thách thức.
Vậy nên tôi rất háo hức chờ xem phát minh này.
Tôi đặc biệt không ưa thích những câu chuyện khi mở ra đã đoán định được ngay kết thúc. Phải rồi, tôi vốn là một độc giả khó tính. Bạn tôi biết điều đó nên khá là cẩn trọng trong câu từ. Điều đó càng khơi gợi trí tò mò vốn có của tôi. Hiện giờ, khi đang còn lạnh toát toàn thân vì tai nạn ban nãy, trong đầu tôi vẫn bận tâmmiên man suy đoán về phát minh của hắn ta. Là gì nhỉ?
Cái quái gì vậy nhỉ?
“Nếu cứ tiếp tục đi mà đầu óc lơ mơ như thế, anh sẽ vấp cục đá và ngã lăn quay ra đường!”
Câu nói của tên điên ập đến khi tôi đã ê ẩm khắp toàn thân. Cục đá chết tiệt! Tôi nhìn lại. Trời ơi. Vật cản to đùng lù lù ngay trước mắt. Ai ai đi qua cũng đều thấy và tránh được ngay. Thế mà cớ làm sao tôi lại không nhìn ra. Ôi, bực! Bực cả mình!
“Chưa hết đâu. Khi đứng dậy anh còn va phải một gã hớt hơ hớt hải chạy như bay đến từ phía sau…”
“Á!” – Chấn động ập đến từ phía sau.
Đồ… đồ thần kinh!
Không một lời xin lỗi, gã đàn ông phăm phăm chạy mất hút.
Ôi không, cái lưng của tôi... Ngày gì mà xui xẻo thế này! Trời ơi là trời!
              “Hắt xì!”
              Cuối cùng, tôi nhận ra mình đã cảm lạnh. Còn một quãng nữa… Thoát rùng mình không rõ vì lạnh vì đau hay vì mường tượng đến những câu nói tiếp sau đó của gã đeo mặt nạ, chân tôi lê bước một cách khó nhọc.
              “Anh hoàn toàn có thể tránh được những điều xui xẻo tiếp theo, chỉ cần anh…”
              Tại sao gã phải đeo mặt nạ? Gã muốn che giấu điều gì? Tại sao tôi phải lắng nghe lời gã? Trong khi nhân thân thật của gã tôi cũng không được biết?
              Quá nhiều câu hỏi nảy ra trong đầu cho đến khi tôi nhớ được câu tiếp theo của gã.
              “Làm ơn hết sức chú ý cái bóp tiền…”
              Giật mình, chạm tay vào túi kiểm tra thì đã quá muộn. Trong bóp có tất cả giấy tờ tùy thân của tôi và một số tiền không nhỏ. Nó hẳn vừa rơi mất đâu đó vàoban nãy.
              Biết thế ở nhà cho xong! Biết thế mình đã không ra đường. Buông một tiếng thở dài, cảm giác hối tiếc choáng ngợp lấy tôi. Nếu được làm lại, tôi chắc chắn sẽ tránh được tất cả tai ương này…
              Cửa mở ra và bạn tôi đứng đó.
              “Trời, sao thảm hại thế này?”
              Tôi chỉ biết nhăn răng cười trừ.
              “Vào đây, mình cho bạn xem!”
              Cái gì vậy? Chứng tò mò trở lại sau mọi phiền muộn bận tâm vừa qua, tôi đi theo bạn vào một căn phòng ẩn chứa “phát minh mới lạ”.
              “Mình đặt tên cho nó là Nghịch lý.”
              “Nghịch lý? Tại sao?”
              Cỗ máy đồ sộ kềnh càng nằm chễm chệ ngay giữa gian phòng.
              “Đã bao giờ bạn muốn thay đổi điều gì đó xảy ra trong cuộc đời mình chưa?”
              “Có. Có chứ. Hẳn nhiên. Ai mà chẳng có lúc thốt ra những câu: giá như, ước gì mà…”
              “Chính nó đấy. Cỗ máy này sẽ giúp bạn!”
              “Giúp như thế nào?”
              “Bạn ngồi vào trong máy này. Máy sẽ đưa bạn về gặp chính bạn trong quá khứ, và bạn có thể giúp chính bạn thay đổi cuộc đời!”
              “Kỳ diệu vậy sao? Vậy đây chính là một cỗ máy thời gian! Nhưng tại sao lại là Nghịch lý?”               
              Bạn bỗng nhiên cười bí hiểm:
              “Chỉ là một cái tên thôi…”
              “Ừ… Thế thì nhanh lên, đưa mình về hai tiếng đồng hồ trước!”
              Bạn đưa cho tôi một cái mặt nạ trông rất quen, bảo tôi đeo vào vì lý do an toàn. Tôi đeo vào ngay, lập tức yên vị trong cỗ máy, chẳng suy nghĩ nhiều hơn. Việc tôi mong muốn nhất lúc này là trở về gặp cái gã tôi trong quá khứ, báo với gã rằng gã sẽ gặp biết bao nhiêu là điều xui xẻo. Phải rồi, tôi sẽ giúp gã tránh hết vận rủi.
Gã không tin cũng được. Chỉ cần chịu làm theo mọi lời tôi cảnh báo.
* * *
…Cuộc gặp gỡ buộc phải xảy ra.
Không làm sao chắc được. Gã sẽ nghĩ gì khác ngoài những điều tôi đã nghĩ?             
              Một kẻ điên? Một tên đeo mặt nạ kỳ lạ?
              Cửa mở ra và gã đã đứng đó.
              Có đúng như vậy không hay chỉ là điều tôi nghĩ?
Khi câu chuyện này vừa bắt đầu thì thật ra nó đã kết thúc rồi… ./.
Lưu Quang Minh – 12/2011

Lưu Quang Minh             
Đc: 63/14/4 Lê Văn Sỹ F 13 Q Phú Nhuận TP HCM. 
Đt: 0908018518 – 0908240609

READ MORE - NGHỊCH LÝ - Truyện ngắn Lưu Quang Minh

Monday, May 7, 2012

CHIỀU MIỀN TÂY - Hoàng Yên Lynh



Tôi người miền Trung
Cuộc thế tai ương
Ngược xuôi miền Tây kiếm sống
Gặp em
Áo bà ba
Chống xuồng mùa nước lũ.


Chiều Kiên Giang
Hương lúa, hương tràm
Chạnh lòng tôi thân bại trận
Tiếng em vút cao giữa chiều lộng gió
"Anh Hai qua sông sao chỉ mình ên ..."
Giọng nói đong đưa trời chiều nắng đổ.


Tôi kẽ trắng tay
Chinh chiến qua rồi
Lưu lạc nỗi trôi
Nhọc nhằn cơm áo.


Chiều miền Tây
Dáng em nghiêng bên rừng Đước U Minh
Ước đời mình
Như Phạm Thái tiên sinh
Bầu rượu sông hồ
Thương nhớ bóng Quỳnh Như.


Chiều miền Tây
Chạnh lòng người lữ thứ
Quán rượu ven đường
Xua lạnh bước tha hương .


Bạn đường ơi rượu uống để làm quen
Đất phương Nam dung thân người lỡ vận
Bạn với qua cảnh đời chung lận đận
Xếp tàn y ta dong ruổi đường trần.

Chiều miền Tây
Sông Cái Lớn chồng chành con sóng vội
Qua sông rồi nhớ mãi tóc ai bay
Mất quê rồi ai hẹn được ngày mai
Đời xuôi ngược biết bao giờ trở lại ...
"Cô gái đưa đò ...Tôi qua sông chỉ mình ên"
Chiều miền Tây
Bìm bịp mãi kêu chiều.

U Minh 1980

HOÀNG YÊN LYNH

hoangmylinh@live.com
READ MORE - CHIỀU MIỀN TÂY - Hoàng Yên Lynh

GẶP GỠ NHAU SAU 40 NĂM GIẢI PHÓNG QUẢNG TRỊ - Tự sự- BS. Thái Lê Phương



Tôi ấp ủ cuộc gặp mặt những nhân viên làm công tác y tế tại bệnh viện Quảng Trị [QT] này đã lâu lắm rồi. Tôi rất mong một ngày được gặp lại các em y tá, hộ lý trên quê hương QT mình.

Tôi là đứa con xa quê từ lúc còn thơ bé và được trở về quê hương trong những ngày lịch sử năm 1972. Tôi và và các em được sống trong không khí những ngày đầu giải phóng. Thật sung sướng và hạnh phúc quá đỗi! Cái hạnh phúc mà đã trải qua biết bao hy sinh mất mát của cả một dân tộc mới có được. Ý thức như vậy nên chúng tôi làm việc say sưa nhiệt tình, đầy trách nhiệm; làm việc không biết đến giờ giấc và ngày nghỉ. Hồi đó tôi làm Trưởng khoa nội A. Khoa chúng tôi trong bệnh viên QT hồi đó được đặt trong các dãy nhà lợp phi- brô xi-măng và những nhà bạt được dựng lên làm nơi điều trị bệnh nhân (kể cả những ca phẫu thuật và sản phụ sinh nở). Chúng tôi đón bệnh nhân cả ngày lẫn đêm. Nào là các bệnh nhân sốt rét, sốt rét ác tính; nào là các bệnh do vết thương chiến tranh, do bom mìn gây nên v.v… Và cả điều trị cho rất nhiều bệnh nhân khác ở vùng mới giải phóng. Ngoài ra chúng tôi còn tiếp nhận các bệnh nhân được trao trả (thuộc T72) với bệnh tật đa dạng.

Khoa nội chúng tôi lúc bấy giờ các em y tá, hộ lý còn rất trẻ, chưa ai có gia đình. Mọi người làm việc toàn tâm trí vì người bệnh. Có thể nói, các em làm việc không để ý đến thời gian và chỉ trở về nhà khi đã thực sự yên tâm về các bệnh nhân của mình đã được thực hiện y lệnh đầy đủ và bàn giao chu đáo cho ban trực thay ca tiếp theo.

Khu tập thể chúng tôi và bệnh viện hầu như không có cách biệt về chức vụ, học vị, bằng cấp... Cả tập thể nhân viên chúng tôi với bệnh nhân cũng luôn luôn gần gũi nhau. Chúng tôi thực sự đã sống nhưng tháng ngày khó khăn, gian khổ và đẹp đẽ đầy tình người như vậy đó!... Giờ đây chúng tôi trở về gặp lại nhau trong niềm vui như vỡ òa với bao kỷ niệm buồn vui thương nhớ, ôm chầm lấy nhau không ngăn được dòng nước mắt, mừng mừng, tủi tủi…

Mọi người cùng nhau ôn lại những năm tháng đã qua. Có những lúc đói khổ, thiếu ăn, thiếu thuốc chữa bệnh, nhất là thuốc trị sốt rét. Nhiều lúc cứ tưởng như không vượt qua nổi. Nhưng nhờ sự quan tâm của lãnh đạo ngành và sự chăm sóc tận tình của những tấm lòng đồng nghiệp đã sẻ chia nhau từng củ khoai, hạt muối mà giờ đây còn sống mới có ngày gặp lại. Tôi còn nhớ về các anh, các chị đã vào chi viện cho bệnh viện QT ngay từ đầu mà nay chưa kịp về chung vui với chúng tôi hôm nay như anh Khoan ở Bệnh viện Việt- Đức Hà Nội; chị Súy, chị Đức, chị Thái (khoa dược), chị Lá (khoa sản); chị Ninh, chị Kế (khoa nội) v.v…

Các anh các chị đã một thời cùng chúng tôi đóng góp phần mình cho một QT hồi sinh. Giờ đây mỗi người đang ở các phương trời nào đó mà chưa liên lạc được với nhau; chưa có dịp gặp lại nhau đầy đủ, thật là tiếc! Chúng tôi những người con QT xin chân thành cám ơn các anh các chị đã dành tình cảm, dành một phần tuổi trẻ đóng góp cho quê hương chúng tôi một thời như thế. QT tuy vẫn còn nhiều khó khăn, nghèo khổ của một vùng đất còn nhiều gánh nặng hậu quả chiến tranh; vùng đất nhiều gió Lào và cát trắng, nhưng chúng tôi luôn dành những tấm lòng hướng về tất cả bạn bè và tất cả những ai đã đi xa không còn được gặp lại nhau trên mảnh đất lịch sử này.

Hôm nay chúng tôi về QT họp mặt nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng quê hương mình mà lòng dâng tràn niềm xúc động. Nhớ lại QT ngày xưa và thấy QT hôm nay đã thay đổi nhiều về mọi mặt. Thành phố Đông Hà sừng sững bên bờ sông Hiếu hiền hòa đang ngắm nhìn những công trình đã và đang phát triển; cửa khẩu Lao Bảo sầm uất, con đường xuyên Á nối bàn tay bạn bè giao lưu với nhiều nước. Bệnh viện QT, Khoa nội chúng tôi trước đây đến bây giờ đã khang trang, đàng hoàng lên rất nhiều cả về trang thiết bị y tế cũng như về nhân lực với một đội ngũ nhân viên đang lớn mạnh và ngày càng được nâng cao về phẩm chất y đức và chuyên môn. Các em ngày đó, giờ đây đã trưởng thành và giữ nhiều vị trí chủ chốt trong cơ quan, trong ngành như BS. Nguyễn Minh Chung, BS. Giảng, BS.Đình, BS. Lĩnh, BS. Hồng Thiện v.v…

Thật sung sướng và tự hào được làm người con QT! Dù đi đâu, làm gì, chúng tôi luôn đau đáu về quê hương mình và ghi dấu một trời kỷ niệm của những năm tháng không thể nào quên. Dù đi bốn phương trời vẫn nhớ về QT- một quê hương đã chịu nhiều nỗi đau của chiến tranh. Chúng tôi và các em hôm nay nguyện xứng đáng là người con QT.

                           Đông Hà, cuối tháng 4, năm 2012
                     BS. Thái Lê Phương 
(Nguyên Trưởng khoa nội A, bệnh viện QT)
 tranphuongn3@gmail.com



READ MORE - GẶP GỠ NHAU SAU 40 NĂM GIẢI PHÓNG QUẢNG TRỊ - Tự sự- BS. Thái Lê Phương

Sunday, May 6, 2012

MƯA QUẢNG TRỊ - Huy Uyên



Mưa qua thành ướt cây chiều
Mai rồi có nhớ quạnh hiu tình nầy
Mưa tan trên lá đời cây
Mưa phai nhạt bóng tháng ngày xưa sau
Giọt lên ngày nhớ dặm sầu
Giọt về phố cũ đem chao giọng buồn
Mưa, mưa ngũ triền miên
Một trời trắng xóa, một phiền muộn đau...




Huy Uyên
lesinh.lesinh@yahoo.com
0903 583 673 
READ MORE - MƯA QUẢNG TRỊ - Huy Uyên

Tuệ Thiền Lê Bá Bôn - ĐƯỜNG VỀ MINH TRIẾT



PHẦN II (tiếp theo)


CÁI LƯỠI CÂU


Bạn tôi làm ở một xí nghiệp nọ, gặp tôi anh than thở:

- Tớ chán cái xí nghiệp nổi tiếng này quá, cậu ạ. Tay nhà báo nào đó thổi phồng thành tích của nó hết cỡ. Trong khi ấy, bao nhiêu thối tha lại không đụng đến một chữ!... Càng nổi tiếng, công nhân càng khổ!

Dù ở ngành giáo dục nhưng tôi cũng không lạ gì vấn đề này. Ung nhọt đang mọc khắp cơ thể xã hội… Tôi vỗ vai bạn, khích lệ:

- Hãy đấu tranh! Có tổ chức công đoàn mà.

Bạn tôi nhếch mép nhìn tôi. Một lúc sau anh ấy nói:

- Khi người ta có quan hệ thân thiết với cậu, đối xử tốt với cậu, dù cậu không thật biết lòng dạ người ta như thế nào, cậu vẫn có thiện cảm với người ta chứ?

Tôi nghĩ bạn tôi đã chuyển đề tài, nhanh miệng nói:

- Dĩ nhiên là có. Ai lại không vậy.

- Đã có thiện cảm, cậu có nỡ làm người ta đau lòng, buồn lòng không?

Tôi dè dặt không trả lời. Bạn tôi trầm giọng:

- Trở lại vấn đề ở xí nghiệp tớ. Tớ đang suy nghĩ nát óc để tìm một biện pháp hữu hiệu nhưng vẫn chưa ra. Phải làm sao loại trừ cái lưỡi câu.

Tôi ngạc nhiên:

- Cái lưỡi câu?

- Vâng. Đó là những cái bắt tay quá thân thiện, những chầu cà phê, những buổi nhậu, những cuộc thăm viếng, những ưu đãi mà ban giám đốc dành cho ban chấp hành công đoàn. Với cái lưỡi câu đó, kẻ tham mồi chạy đâu cho thoát!

Tôi giật mình, chợt thấy sợ những cái lưỡi câu đang hiện ra chỗ này chỗ nọ…

(Báo Giáo dục-thời đại, 07/09/2002).

(Trang 99-101)
------------------


SUY NGHĨ VỀ MỘT VẤN ĐỀ TRONG ĐẠI
Cốt lõi của cảm thức về ý nghĩa cuộc sống, là cảm thức về giá trị của cái “tôi”, tức là “giá trị làm người”.
Cốt lõi của giá trị làm người có văn hóa (hiểu theo nghĩa rộng) là nhân cách.
Cốt lõi của nhân cách là đạo đức.
Cốt lõi của đạo đức là khuynh hướng thiện ích cho nhân loại, cho môi  trường chung.
Kim chỉ nam của khuynh hướng thiện ích là tâm trí tỉnh thức - vô ngã.
Điều kiện để đạt được ít nhiều sự tỉnh thức - vô ngã là tự tri tự giác (tức quán tâm, biết tâm ý trọn vẹn), là thiền định.
Muốn tự tri tự giác phải có khát vọng lớn, phải có sự liêm khiết trí thức, phải có nhãn quan minh triết. (Những điều này không lệ thuộc ở học vấn nhiều hay ít, vì có nhiều phương cách để bồi dưỡng văn hoá).
Tóm lại, “tự tri  - tỉnh thức - vô ngã” là mẫu số chung của ý nghĩa cuộc sống.


(Trang 102-103)
-------------------
READ MORE - Tuệ Thiền Lê Bá Bôn - ĐƯỜNG VỀ MINH TRIẾT

Friday, May 4, 2012

TRỐNG ĐÁ - MIẾU BÀ GIÀNG VÀ LỆ THÀNH ĐINH Ở LÀNG HƯNG NHƠN - Hoàng Thị Ái Hoa

Miếu Bà - Ảnh của Nguyễn Như Khoa


Bài nghiên cứu "Trống đá - Miếu bà Giàng và lệ thành đinh" của chị Hoàng Thị Ái Hoa được tìm thấy trên trang Văn Hóa Miền Trung - http://www.vanhoamientrung.org - dưới dạng PDF, nghĩa là trang web trên muốn giữ bản quyền về bài này, chỉ cho phép đọc, không cho phép sao chép. 


Để đáp ứng lòng yêu quê hương và nguyện vọng muốn bảo tồn văn hóa làng xã của bà con Hưng Nhơn, chúng tôi xin mạn phép tác giả và trang Văn Hóa Miền Trung để được đăng lại bài này dưới dạng hình ảnh JPEG, nghĩa là cũng chỉ đọc được như trên trang của các bạn. Xin cám ơn trang Văn Hóa Miền Trung và tác giả Hoàng Thị Ái Hoa.









*****
TIỂU SỬ TÁC GIẢ
Trích từ trang web của VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT VIỆT NAM - www.vicas.org.vn

HOÀNG THỊ ÁI HOA
1. Sơ lược tiểu sử
Năm sinh: 1980
Quê quán: Cam Hiếu, Cam Lộ, Quảng Trị
Dân tộc: Kinh
Nghiên cứu viên - Phân viện Nghiên cứu Văn hoá - Thông tin tại Huế.
Học vị: Cử nhân Năm: 2003
2. Quá trình công tác
Công tác tại Phân viện Văn hoá Nghệ thuật Việt Nam tại Huế từ tháng 8/2003.
3. Hoạt động nghiên cứu khoa học
Các công trình đã công bố
a. Sách
- “Con đường trao đổi hàng hoá giữa miền xuôi và miền ngược ở Bắc miền Trung (dẫn liệu từ chợ phiên Cam Lộ)”, trong Tiếp cận Văn hoá Nghệ thuật miền Trung, Huế: Viện Văn hoá - Thông tin & Phân viện Nghiên cứu Văn hoá - Thông tin tại Huế, tập II, 2004.
- Văn hoá Việt Nam tổng mục lục các công trình nghiên cứu (Tham gia sưu tầm), tập I, “Những vấn đề chung”, Huế: Nxb. Thuận Hoá, 2006.
- Hải Cát đất và người (tham gia nghiên cứu - biên soạn), Huế: Nxb. Thuận Hoá, 2006.
- “Vấn đề ly hôn - nhìn từ sự tác động của yếu tố văn hóa truyền thống (Tham chiếu từ số liệu ở Tòa án Nhân dân Thành phố Huế)”, trong Nguyễn Hữu Thông & Suenari Michio Thay đổi của văn hóa truyền thống ở Thừa Thiên Huế - tiếp cận nhân loại học và sử học từ trong và ngoài nước, Trung tâm Nghiên cứu châu Á - Viện Nghiên cứu văn hóa châu Á - Đại học Toyo Nhật Bản, 2009.
- Mạch sống của hương ước trong làng Việt Trung bộ (dẫn liệu từ làng xã ở các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế) (Tham gia), Nguyễn Hữu Thông [chủ biên], Huế: Nxb. Thuận Hoá, 2007.
b. Bài báo trên các tạp chí khoa học chuyên ngành
- “Khảo sát một số lăng mộ thời chúa Nguyễn ở khu vực Trị - Thiên”, trong Thông tin khoa học, Huế: Viện Văn hoá - Thông tin & Phân viện Nghiên cứu Văn hoá Thông tin tại Huế, số 9, 2004.
- “Trống đá - miếu bà Giàng và lệ thành đinh ở làng Hưng Nhơn (xã Hải Hoà, Hải Lăng, Quảng Trị), trongtập Nghiên cứu văn hoá dân gian Thừa Thiên Huế, Huế: Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Thừa Thiên Huế & Hội Văn nghệ dân gian Thừa Thiên Huế, tháng 12/2005.
- “Từ lá nón đến nón lá: hành trình của một sản phẩm thủ công”, trong Di sản ngành nghề thủ công truyền thống trong bối cảnh Festival” (kỷ yếu hội thảo), Huế: thành phố Huế - Phân viện Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam tại Huế, 2005.
- “Vấn đề giới từ gốc độ tiếp cận các nguồn tài nguyên thiên nhiên”, trong Thông tin Khoa học, Huế: Phân viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam tại Huế, 2006, số tháng 3.
- “Sản phẩm thủ công truyền thống Huế: cảm nhận từ du khách”, Uỷ ban nhân dân thành phố Huế, trong320 năm Phú Xuân Huế nghề truyền thống bản sắc và phát triển (kỷ yếu hội thảo), 2007.
- “Sự tác động của yếu tố văn hóa truyền thống đến vai trò người phụ nữ Huế trong gia đình hiện nay (Trường hợp Phường Kim Long Huế)”, trong Nhận thức về miền Trung Việt Nam hành trình 10 năm nghiên cứu (kỷ yếu hội thảo), Viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam - Phân viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam tại Huế, 2009.
- “Thế ứng xử của người Việt trên vùng đất mới qua nghi lễ cúng đất”, trong Di sản văn hoá Nam Trung bộ với sự phát triển du lịch trong hội nhập (Hội thảo khoa học quốc tế), Phú Yên: Bộ Văn hoá Thể Thao & Du lịch - Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Yên, 2011.
READ MORE - TRỐNG ĐÁ - MIẾU BÀ GIÀNG VÀ LỆ THÀNH ĐINH Ở LÀNG HƯNG NHƠN - Hoàng Thị Ái Hoa