Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, September 22, 2026

VỊ TRÍ CỦA NHẬT - NGUYỆT TRÊN LÁ SỐ - Đặng Xuân Xuyến



VỊ TRÍ CỦA NHẬT - NGUYỆT  TRÊN LÁ SỐ

 Đặng Xuân Xuyến

 

Khi xem lá số, điều quan trọng là phải tìm xem sao NHẬT - NGUYỆT đóng ở vị trí nào để phối hợp luận giải cùng các cung khác. Vì hai sao này tượng trưng cho ảnh hưởng của cha, mẹ, chồng, vợ và hai giòng nội, ngoại (Thái Dương biểu tượng cho người cha, người chồng, họ nội còn THÁI ÂM tượng trưng cho người mẹ, người vợ và họ ngoại) nên khi xem số phải được cân nhắc để bổ túc cho những ý nghĩa được thể hiện trong các cung Phụ Mẫu, Phu Thê, Thân, Mệnh...

 

Đây là hai sao tối quan trọng của khoa Tử Vi vì thông qua hai sao Nhật (Dương), Nguyệt (Âm), người xem số có thể thấy được một số nét chính về gia đình và cuộc đời  của đương số.

 

Chẳng  hạn: Cả hai sao Âm Dương đều miếu vượng tất lúc nhỏ đương số được bố mẹ chăm sóc chu đáo, cuộc sống có nhiều thuận lợi, nếu hãm địa thì tiên quyết đương số có tuổi thơ vất vả, hoặc khắc cha khắc mẹ. Hay với nữ số, khi NHẬT hãm địa thì tiên quyết rằng cuộc sống gia đạo sẽ gặp nhiều trắc trở, nhất là khi NHẬT hãm lại gặp sát tinh: muộn lập gia đình, làm lẽ, cô đơn, khắc chồng… Điều này càng chính xác khi NHẬT an tại cung Phu Thê hoặc Thân, Mệnh.

 

 Thông qua vị trí của hai sao Nhật, Nguyệt trên lá số, người xem số còn có thể phần nào đoán được tiền tài, sự nghiệp và hạnh phúc gia đạo của đương số nên việc nghiên cứu kỹ thế đứng của Nhật - Nguyệt trên lá số là điều tối cần với người xem số.

 

 

 

1. THẾ ĐỨNG CỦA NHẬT - NGUYỆT TRÊN LÁ SỐ VÀ HẠNH PHÚC GIA ĐÌNH:

 

Nếu Nhật Nguyệt hãm địa thì vợ chồng dễ xung khắc, dễ bỏ nhau hoặc xa cách, chia ly, nhưng nếu tại Thìn Tuất thì lại khó bỏ.

 

Nhật - Nguyệt đều miếu vượng thì vợ chồng khó có chuyện bỏ nhau, mà thường tương đắc, trừ phi gặp sao khắc kỵ với Nhật - Nguyệt, nhưng nếu Nhật - Nguyệt miếu vượng tại Thìn, Tuất thì vợ chồng tương đắc về sở thích nhưng lại hay tranh cãi nhau.

 

Âm - Dương cách cung (ví dụ như Nhật tại Dần, Nguyệt tại Tí…) thì vợ chồng chia ly, hoặc ít gần nhau (do công vụ....).

 

Mệnh giáp Âm - Dương lạc hãm thì vợ chồng cũng dễ xa cách nhau hoặc chia ly, nếu gặp Tuần Triệt thì hạnh phúc gia đạo cũng bất ổn dẫn đến chuyện bỏ nhau nhưng bỏ chậm.

 

Nhật - Nguyệt tại Sửu Mùi thì vợ chồng thường không nhường nhịn nhau nên dễ đưa đến bất hòa. Hạn đến thì sẽ có chuyện tranh chấp giữa vợ chồng, dễ đưa đến chia ly, nếu chưa có gia đình thì không thể lập gia đình trong giai đoạn này được.

 

Hạn rơi vào Âm Dương thủ hạn cũng quan trọng, thông thường dễ liên quan đến chồng hoặc cha nếu gặp Thái Dương, và mẹ hoặc vợ nếu gặp Thái Âm

 

Hạn gặp Âm Dương phản bối thì khó lập gia đình nhưng lại có chuyện vấn vương về tình cảm

 

Âm Dương sáng sủa thì cha mẹ thông thường thọ, còn lạc hãm thì không thể kết luận về sự thọ yểu của cha mẹ được

 

Nữ nhân có Thái Âm lạc hãm thì kinh nguyệt không đều, ít nhất là xảy ra trong một giai đoạn nào đó trong cuộc đời và thông thường sinh lý không mạnh, không có nhiều hứng cảm khi làm tình. Nếu Thái Âm sáng sủa thì kinh nguyệt điều hòa

 

Nam số có Thái Dương lạc hãm thì sinh lý có vấn đề như: xuất tinh sớm, bất lực hoặc sinh lý yếu, chất lượng tinh trùng kém... Nếu Thái Dương sáng sủa thì sinh lý mạnh khoẻ, âu đó cũng là một điều kiện để đưa đến hạnh phúc gia đình được suôn sẻ.

 

 

 

2. SAOTHÁI DƯƠNG:

 

1.2- CÁI NHÌN TỔNG THỂ VỀ SAO THÁI DƯƠNG:

 

Thái Dương là dương hỏa tượng trưng mắt bên trái, đại diện cho người cha, cho ánh sáng của lý trí, của sự thông minh kiêu hãnh. Thái Dương ban phát ân huệ một cách vô tư, không đòi đáp lại. Được hưởng ân huệ của Thái Dương nhiều nhất là người mệnh Hỏa, thứ nhì là mệnh Thổ, các mệnh Kim - Thủy - Mộc hưởng như nhau. Dù đóng bất cứ tại cung nào, Thái Dương cũng ảnh hưởng mạnh đến cuộc đời của đương số.

 

Khi gặp Tuần, Triệt nếu Thái Dương miếu vượng thì Tuần Triệt chỉ có thể gây khó khăn giai đoạn đầu, còn về sau vẫn phát triển rực rỡ, nhưng nếu Thái Dương hãm thì những cái xấu bị chế giảm bớt cho may mắn hơn, dễ chịu hơn chứ không thể làm mất hết cái hãm của Nhật để tốt lên như Nhật đắc, miếu được.

 

Thái Dương là Dương tinh nên chính vị ở các cung Dương, hợp với các tuổi Dương và đặc biệt phù trợ mạnh cho những người sinh ban ngày. Nam số có Thái Dương lạc hãm thì sinh lý có vấn đề như: xuất tinh sớm, bất lực, ... Nếu Thái Dương sáng sủa thì sinh lý mạnh khoẻ, một điều kiện đưa đến hạnh phúc gia đạo.

 

Khi Thái Dương miếu vượng sẽ hóa khí là Quyền và Lộc ngoài ra còn là biểu tượng của Trí tuệ thông thái, cho nên đóng cung nào giáng phúc cho cung đó, nhưng tốt nhất là ở Mệnh hay Quan Lộc.

 

Thái Dương hãm, dù đóng bất cứ nơi nào cũng phải luận đoán là tuổi trẻ buồn nhiều hơn vui, về hậu vận mới được thanh nhàn. Trong trường hợp này nếu gặp Hóa Lộc, Hóa Quyền sẽ là phản vi kỳ cách, gặp Tuần Triệt thì những cái xấu sẽ giảm đi. Tuy nhiên, dù có phản vi kỳ cách hay gặp Tuần Triệt thì đương số cũng phải nỗ lực nhiều mới mong được hưởng cảnh “tiền bần hậu phú”.

 

Thái Dương miếu vượng là người cao vừa tầm, trắng trẻo, thông minh, rộng rãi nhưng dù ít dù nhiều cũng có tính kiêu căng. Đi với Văn Xương hay Song Hao miếu là người thông kim bác cổ, học một biết mười, là người dong dỏng, dáng thư sinh và khuôn mặt đẹp. Đi cùng Đà La là người thấp vừa tầm, khôn ngoan nhưng thâm hiểm. Đi cùng Không, Kiếp thì mặt hay bị mụn, trí thông minh bình thường. Khi Không Kiếp miếu là người nóng nảy liều lĩnh, dám nghĩ dám làm. Đi với Quang Quý sẽ làm cho tính kiêu căng của Thái Dương giảm đi rất nhiều, trở nên nhân ái từ hòa hơn. Đi với Hóa Kỵ dễ mắc bệnh về trí óc và cả nghĩ.

 

Thái Thứ Lang cho rằng, những người có Thái Dương hãm địa thủ mệnh là những người có thân hình nhỏ nhắn, cao vừa tầm, mặt choắt, hơi gầy, má hóp, mắt lộ, thần sắc kém và da xanh xám, vẻ mặt u buồn, tính tình tuy nhân hậu, từ thiện nhưng lại kém thông minh, ương gàn, khắc nghiệt và không bền chí.

 

Thái Dương đắc địa trở nên khi đi với các sao Hỏa, Linh hay đóng ở những cung Dương Hỏa (?) có thể bị loạn thần, loạn trí. Những bệnh này cũng có thể xảy ra nếu Nhật hãm địa bị Tuần, Triệt án ngữ.

 

Những người Mệnh có Thái Dương hãm địa tại Hợi, Tý là những người nho nhã, từ thiện, say mê văn chương, triết lý nên thường là những nhà nghiên cứu, nhà tư tưởng.

 

Chỉ khi Thái Dương ở Sửu, Mùi mà gặp Hóa Kỵ thì tốt, còn ở các cung khác rất cần tránh xa Hóa Kỵ.

 

Khi gặp Thiên Hình đồng cung thì chắc chắn sẽ có tật ở mắt. Thái Dương dù đắc địa hay hãm địa mà gặp Kình, Đà, Không, Kiếp, Hình, Riêu sẽ khổ sở, vất vả, thường gặp tai nạn và tuổi thọ bị chiết giảm.

 

Thái Dương hãm địa mà gặp Kình (Đà), Kỵ thường là người đau mắt, cận thị, có thể bị mù và kém thông minh… nếu có thêm Hình, Kiếp Sát rất dễ bị mổ mắt.

 

Thái Dương đắc địa là người rất thông minh, thẳng thắn nhưng hơi nóng nảy, chuyên quyền nhưng nhân hậu, từ thiện, thích triết lý. Gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp như: Xương, Khúc, Khôi, Việt, Tả, Hữu, Khoa, Quyền, Lộc, Đào, Hồng, Hỷ tất sẽ là người giàu sang phú quý, phúc thọ song toàn.

 

Thái Dương ghét lũ Riêu, Đà, Kỵ vì gặp lũ Tam ám này thì bị miệng tiếng, bản thân cũng có điều mờ ám.

 

Nhật hãm ngộ Xương, Khúc, Tam Hóa là người có dáng dong dỏng cao, trắng trẻo, thông minh, biết tận dụng thời cơ, anh hùng trong thời loạn. Nếu Nhật hãm mà không gặp được các sao trên là người có hình thức thấp bé và xấu xí, tính đã cố chấp, ngu độn mà còn nặng bảo thủ.

 

2.2- VỊ TRÍ ĐỨNG CỦA SAO THÁI DƯƠNG TRÊN ĐỊA BÀN 12 CUNG:

 

Thái Dương ở Tý:

 

Tý là cung dương, Nhật ở đây bị hãm, rất nguy hiểm, rất cần được Tuần, Triệt án ngữ. Nhật hãm ở Tý nguy hại nhất cho người tuổi Giáp, vì tuổi Giáp khi ấy Thái Dương, Hóa Kỵ đồng cung, Nhật đã hãm lại còn gặp Kỵ nữa thì càng xấu, mặc dù Hóa Kỵ vượng ở Tý. Trường hợp này nếu có được Tam Minh sẽ làm cho Thái Dương quang đãng hơn, đương số bớt khổ hơn.

 

Người có Thái Dương hãm địa tại Tý thường là những người ham thích nghiên cứu văn hóa nghệ thụât, sống trung thực, rất ghét sự dối trá, gian tà. Họ là người tài giỏi nhưng bất đắc chí. Ngoại trừ người tuổi Bính, Đinh thì được giàu sang tín nghĩa, kỳ dư các tuổi khác đều không may mắn trong cuộc đời.

 

Thái Dương cư Tý sẽ có Cự Môn hãm địa ở Thìn tam hợp chiếu nên rất cần được Tuần, Triệt hoặc Tam Hóa hội họp để chiết giảm cái xấu của Cự, Nhật hãm địa. Trường hợp này dù có được Tam Hóa cũng không xem là phản vi kỳ cách, mà chỉ coi là cái xấu sẽ giảm đi, cái tốt tăng lên để cuộc đời đương số được dễ chịu hơn, may mắn hơn về lúc hậu vận.

 

Nguy hiểm nhất là gặp Đà La sẽ làm cho cuộc đời đương số hung hoạ triền miên, cuộc đời đau thương không còn gì để so sánh. (Vì ngay cả khi Thái Dương ở nơi vượng địa thì Đà La (là khắc tinh của Nhật - Nguyêt) cũng phá hết cách đẹp của đương số, nhưng nếu gặp Tứ Linh cũng làm cho bớt xấu, nếu có thêm cả Hóa Khoa nữa thì Đà La chỉ còn gây họa vừa vừa thôi, không còn là phá cách.)

 

Thái Dương ở Sửu:

 

Ở những vị trí (tại Sửu - Mùi) này, con người còn có nội tâm đặc biệt, đó là người luôn day dứt nội tâm, cầu toàn, kiểu làm xong việc gì cũng ân hận, không làm được việc gì cũng ân hận… Tuy nhiên đây là kiểu người phong lưu công tử nhưng tuổi trẻ bất hiển công danh.

 

Tại cung Sửu, Thái Dương đắc địa đồng cung với Thái Âm. Lúc này hai nguồn sáng Nhật - Nguyệt phá nhau, rất cần có sao TUẦN hoặc sao KỴ đồng cung để ngăn cản sự tranh chấp giữa Nhật và Nguyệt. Sao Triệt cũng tốt nhưng không bằng hai sao trên.

 

Ngoài ra nếu có sao Thiên Tài cũng tốt. Nhật ở Sửu nếu không có các sao trên thì bình thường, cả đời bất đắc chí.

 

Tuy nhiên, nếu Nhật - Nguyệt đồng cung tại Sửu - Mùi thì ở Sửu sẽ tốt hơn ở Mùi về công danh, sự nghiệp vì lúc bấy giờ ánh trăng tuy đã tàn nhưng bình minh đang ló sáng, báo hiệu sự vất vả, khó nhọc thủa thiếu thời sẽ gây dựng được sự nghiệp cho tương lai, dầu vậy thì “cơm no áo ấm” vẫn không thể bằng khi Thái Dương cư  Mùi.

 

Thái Dương ở Dần:

 

Cung Dần là cung mà Thiếu Dương bắt đầu hình thành. Nên khi Thái Dương đóng tại đây (đồng cung với Cự Môn) là nơi vượng địa, tuy ban đầu phải vất vả, cơ cực nhưng cuộc đời càng về sau càng sung túc, vinh hiển. (Có sách cho rằng, khi Thái Dương đắc địa tại Dần sẽ là người sướng từ trong trứng sướng ra, thích văn chương nghệ thuật nhưng về già sẽ dở dang sự nghiệp. Quan điểm này khó chấp nhận bởi thực tế người có Cự - Nhật đồng cung tại Dần phần nhiều có tuổi thơ vất vả, họ được gia đình yêu quý, tin tưởng vì tài năng, đức độ và bước đường công danh, sự nghiệp của họ càng về sau càng phát đạt.)

 

Khi đồng cung tại Dần, CỰ - NHẬT đều vượng, sẽ giao thoa nhau tăng mạnh ảnh hưởng lên rất nhiều, không những ảnh hưởng mạnh tại chính cung mà còn ảnh hưởng mạnh đến cung xung chiếu và hai cung tam hợp. Thành ra Mệnh CỰ - NHẬT tại Dần cho các tuổi Mộ, nếu đắc vòng Thái Tuế nữa thì toàn mỹ bởi vì cung Quan ,Tài chịu ảnh hưởng của Cự Nhật chiếu đến có thể xem như có CỰ - NHẬT tọa thủ, hội thêm Long - Hổ - Cái, cung Di sẽ có Mã ngộ Khốc - Khách, được Nhật, Nguyệt hợp chiếu, chính là Thư Hùng mã vậy. Nếu Mệnh có CỰ - NHẬT không đắc Thái Tuế thì chỉ có danh tiếng, thông minh chứ không quyền cao chức trọng, giàu có. (Mệnh vô chính diệu có CỰ - NHẬT chiếu cũng rất tốt)

 

 CỰ - NHẬT ở Dần gặp Tuần Triệt cũng không sợ, bản thân Thái Dương miếu vượng ít ngại Tuần, Triệt, Cự Môn vượng lại rất cần Tuần, Triệt làm vỡ đá ra để cho Cự Môn được ánh sáng của Thái Dương chiếu vào mà tỏa sáng. Nếu gặp thêm Song Hao nữa thì thật toàn mỹ. Song Hao miếu sẽ cản tác dụng của Triệt, Tuần lại làm cho Thái Dương không bị cản ngăn, ngoài ra có Song Hao Cự Môn đã đẹp lại càng thêm đẹp. Hội thêm Xương, Khúc, Tả, Hữu, Khoa, Lộc, Quyền, Khôi, Việt, Quang, Quý thì là số tối quý, làm nên sự nghiệp rực rỡ. Tuy nhiên, rất hiếm có lá số nào được như thế.

 

CỰ - NHẬT tại Dần rất kỵ Lộc Tồn đồng cung, vì nếu gặp Lộc Tồn đồng cung thì chẳng khác nào Ngọc Quý bị che mất. Trường hợp CỰ - NHẬT tại Dần, Thân cũng tối kỵ gặp Kình, Đà, Kỵ, nếu gặp thì sẽ là phá cách, cả đời bất đắc chí. Gặp Linh, Hỏa không đáng lo, gặp Không, Kiếp thì đời có lúc hoạnh phát nhưng rồi cũng sẽ tàn lụi nhanh chóng.

 

Khi CỰ - NHẬT đồng cung rất cần Xương, Khúc, Tả, Hữu nếu có Quang, Quý ở Quan và Di chiếu về thì làm cho Thái Dương trở nên hòa dịu hơn, bớt kiêu căng (xin lưu ý Nhật miếu vương thủ Mệnh bao giờ cũng có tính kiêu căng, không ít thì nhiều).

 

Thái Dương ở Mão:

 

Nhật ở Mão (có Thiên Lương đi cùng) là Nhật vào nơi đất Phật nên bản tính nhân hậu, vị tha, có lòng thương người và tuổi thọ tương đối cao. Khi NHẬT - LƯƠNG đồng cung ở Mão sẽ tạo thành cách Nhật xuất lôi môn. Người có cách này tất được Thái Âm miếu ở Hợi chiếu về. Nếu cung Mệnh hay Thân an ở Mùi được NHẬT -  LƯƠNG chiếu về thì gọi là cách Nhật Nguyệt tịnh minh, rất tốt. Nếu hội đủ Xương, Khúc, Khoa, Quyền, Lộc, Tả, Hữu là người rất thông minh, có tài kinh bang tế thế, hơn thế còn là người nhân hậu, bác ái.

 

Bộ NHẬT - LƯƠNG rất kỵ đồng cung với Hóa Kỵ và Lục Sát tinh sẽ thành ra phá cách. Nếu gặp Tuần, Triệt cũng không đáng ngại lắm, tuy nhiên trong trường hợp này rất cần có Tả, Hữu, Xương, Khúc phù trì thì mới vượt qua được sự ngăn cản phá hoại của Tuần, Triệt.

 

Thái Dương ở Thìn:

 

Thái Dương ở Thìn như Mặt Trời sáng tỏ lúc bình minh, rất đẹp, được Thái Âm miếu ở Tuất xung chiếu, hội đủ cả hai nguồn sáng Âm Dương thì thật là cực quý.

 

Trường hợp nếu Mệnh đóng ở Thìn sẽ được gọi là cách Nhật Nguyệt tranh huy. Người có cách này rất thông minh, nhân ái, có chí lớn hơn người. Nếu có thêm Xương, Khúc, Tả, Hữu, Quang, Quý hội tụ nữa thì thật là cực quý. Nếu lại đắc vòng Thái Tuế nữa sẽ có thêm Long, Phượng, Mã hội tụ, làm cho NHẬT - NGUYỆT đã đẹp càng thêm đẹp. Nếu không đắc được vòng Thái Tuế sẽ được đền bù bằng Tam Minh, tuy nhiên sẽ không được đẹp bằng đắc vòng Thái Tuế.

 

Thái Dương ở Tỵ:

 

Khi Thái Dương miếu địa ở Tỵ thì rất sáng, được Thái Âm cũng sáng ở Dậu hợp chiếu tạo thành cách Nhật Nguyệt tịnh minh, là người uy tín, đức độ, công danh vinh hiển, tuy nhiên sẽ không được tốt như ở Thìn, hay CỰ - NHẬT đồng cung tại Dần. Trường hợp này, nếu gặp Tuần, Triệt án ngữ cũng không đáng lo ngại.

 

Trường hợp Thái Dương ở Tỵ, nếu Mệnh an ở Sửu sẽ có sao Thiên Lương tọa thủ, thì sẽ không được hưởng cách Nhật Nguyệt tịnh minh. Dẫu vậy, đương số vẫn được hưởng sự giàu sang phú quý, dĩ nhiên là không thể bằng Nhật Nguyệt tịnh minh, Nhật Nguyệt tranh huy hay CỰ - NHẬT ở Dần.

 

Trường hợp Mệnh đóng tại Tỵ sẽ được Cự Môn tại Hợi xung chiếu. CỰ - NHẬT lúc này tách rời nhau ra, nên dù cả hai sao đều đắc địa cũng không thể cộng hưởng với nhau được, nên người có cách này thì chỉ giàu sang mà không phú quý. Đặc biệt khi Nhật gặp Đà La, Hóa Kỵ thì là phá cách, con người trầm luân bể khổ.

 

Thái Dương ở Ngọ:

 

Đây là nơi Thái Dương phát triển đến cực vượng, Thái Dương đóng ở đây là đẹp đẽ nhất, thường là người quyền cao chức trọng, đứng đầu một ngành, ví như mặt trời giữa trưa chói sáng, nhưng ở vị trí được gọi là "Cùng tắc biến" nên rất cần có Tuần, Triệt án ngữ hoặc Thiên Tài đồng cung để ngăn cản sức phát triển đừng lên đến cực điểm của Thái Dương, nếu không về hậu vận sẽ bất đắc chí vì theo quy luật của vạn vật thì khi đã phát triển đến cực điểm thì tất phải đến giai đoạn suy kiệt. Tuy nhiên, sao Triệt hiệu lực không hay bằng sao Tuần vì sao Triệt thì quyết liệt nhưng dễ gỡ còn sao Tuần dai dẳng khó dứt.

 

Thái Dương cư Ngọ (thủ Mệnh) nếu có thêm Văn Xương đồng cung thì là người thông thái và làm quan to, nếu không có Tuần - Triệt án ngữ hay Thiên Tài đồng cung thì hậu vận sẽ có lần ôm hận về công danh.

 

Trong trường hợp này (Nhật cư Ngọ), Thái Dương nên đóng ở cung Quan Lộc, được Cự Môn ở Tuất (Tài Bạch) chiếu về Mệnh (ở Dần) vô chính diệu là thượng cách. Cách này tốt nhất cho người mệnh Hỏa, Mệnh Kim, và cung Mệnh ở Dần rất cần có thêm Linh, Hỏa hoặc Bạch Hổ để thành cách Hung tinh độc thủ, được Cự Nhật chiếu về. Tốt nhất là sao Bạch Hổ bởi vì sẽ có Tứ Linh hội hợp, sự nghiệp rạng rỡ lâu bền. Hai sao Linh, Hỏa thì thiên về võ nghiệp, lẫy lừng lắm nhưng cuối đời chắc không toàn vẹn, có thể chết trong uất ức. Nếu có Không, Kiếp độc thủ, cuộc đời lúc lên lúc xuống, lên cũng nhanh mà xuống cũng chóng, nên ly tổ lập nghiệp thì tốt. Nếu có Kình Đà cuộc đời buồn nhiều hơn vui.

 

Tuy nhiên, tất cả các trường hợp trên đều là người thông minh, cơ mưu, quyền biến.

 

Thái Dương ở Mùi:

 

Thái Dương ở Sửu hay Mùi thì công danh khó hiển đạt, tuy nhiên ở Mùi không tốt bằng ở Sửu về công danh, sự nghiệp vì lúc bấy giờ mặt trời tuy chưa tắt nắng nhưng ánh sáng yếu ớt dần, báo hiệu sự nhạt nhòa lúc về già, dầu vậy thì cơm no áo ấm vẫn hơn hẳn khi Thái Dương cư Sửu. Khi Thái Dương đồng cung với Thái Âm tại Sửu, Mùi là hình ảnh tranh chấp nội tâm của người có tài mà không có đất dụng võ, cuộc đời lúc nào cũng ở thế lưỡng nan, ngập ngừng không dứt khoát.

 

Thái Dương cư Mùi, thường là người không bền chí, chỉ siêng năng buổi đầu, về sau lười biếng, trễ nải dở dang. Ở vị trí này, còn là người luôn day dứt nội tâm, cầu toàn, kiểu làm xong việc gì cũng ân hận, không làm được việc gì cũng ân hận… Tuy nhiên đây là kiểu người phong lưu công tử, nhưng tuổi trẻ bất hiển công danh.

 

Thái Dương ở Thân:

 

Thái Dương đóng tại cung Thân, có Cự Môn đi cùng sẽ tạo ra cách "Cự Nhật Dần Thân quan phong tam đại, thực lộc trì danh". Thực ra CỰ - NHẬT ở Thân không thể gọi là đẹp được, càng không thể so sánh với cái đẹp ở Dần vì tại cung Thân là lúc Thiếu Âm bắt đầu phát triển, Nhật bắt đầu suy tàn (tuy Nhật bị hãm nhưng cũng không đáng sợ lắm) nên sức ảnh hưởng của CỰ - NHẬT bị chiết giảm nhiều. Người có Cự - Nhật tại Thân thường có tuổi thơ được sung sướng nhưng về già thì bình thường. Họ là người học giỏi nhưng không làm nên, phần nhiều là người bất đắc chí trong cuộc đời. Họ chỉ siêng năng buổi đầu nhưng về sau trễ nải, lười biếng.

 

CỰ - NHẬT tại Thân rất cần gặp Đào, Hồng, Hỷ để sáng ra, và tối kỵ gặp phải lũ Tam ám sẽ làm cho cuộc đời đương số gặp nhiều oan trái.

 

Cũng như CỰ - NHẬT tại Dần, CỰ - NHẬT tại thân cũng tối kỵ gặp Kình, Đà và Hóa Kỵ, sẽ là phá cách, cả đời bất đắc chí. Gặp Linh, Hỏa không đáng lo, gặp Không, Kiếp đời có lúc hoạnh phát nhưng rồi cũng sẽ tàn lụi nhanh chóng.

 

Thái Dương ở Dậu:

 

Nhật ở Dậu (có Thiên Lương đi cùng) là Nhật hãm. Dậu cũng là nơi đất Phật, cho nên ở đây tuy bị hãm nhưng bản tính vẫn là người nhân hậu, đức độ, nếu đi tu sẽ dễ đắc đạo.

 

NHẬT - LƯƠNG cư Dậu tất có Thái Âm hãm ở Tỵ chiếu, cách này rất cần cả Nhật, Nguyệt ngộ Tuần Triệt, Tam Minh, Tam Hóa để đương số mở mày mở mặt. Nếu không được như trên mà lại gặp Tam ám, Lục Sát tinh thì cả đời u mê, đau khổ, chỉ có đi tu mới được yên thân.

 

Thái Dương ở Tuất:

 

Người có Thái Dương ở Tuất thì chắc chắn có Thái Âm hãm ở Thìn xung chiếu. Cả hai nguồn sáng Âm Dương này đều mờ nhạt, yếu ớt nên cuộc đời đương số chắc chắn sẽ gặp những gian truân, đau khổ. Những người có Thái Dương ở Tuất thường là những người yêu thích văn chương nhưng bất hiển công danh.

 

Nhật ở Tuất là Nhật hãm, rất xấu, rất cần gặp Tuần, Triệt, Tam Minh, Tam Hóa hoặc Thiên Không đồng cung để những cái xấu bị chế giảm, để dễ chịu hơn. Nhưng đẹp nhất không phải là gặp Tuần Triệt mà là gặp Tam Hóa, Xương Khúc, Tả Hữu, Quang Quý, lúc này được gọi là phản vi kỳ cách. Người có cách này sẽ làm nên sự nghiệp trong thời loạn. Xương - Khúc, Tả - Hữu, Quang  -Quý miếu vượng sẽ là những trợ thủ đắc lực phò tá Nhật Nguyệt. Tuy nhiên ,có cách này tuổi thiếu niên chắc chắn khổ cực, khắc cha mẹ. Công danh phải từ trung vận trở đi mới sáng sủa.

 

Thái Dương ở Hợi:

 

Thái Dương ở Hợi là nơi tối hãm nhất của Nhật, là nơi được gọi là "Cùng tắc biến" nên rất cần gặp được Tam Hóa để thành phản vi kỳ cách. Dĩ nhiên, để được như vậy rất cần hội tụ thêm các trung tinh phò trợ. Một mình Tam Hóa sẽ không làm nên chuyện, chỉ giảm bớt những cái xấu của Nhật hãm địa để đương số may mắn hơn, dễ chịu hơn.

 

Người có Thái Dương hãm địa tại Hợi thường rất thích việc nghiên cứu văn chương, nghệ thuật, sống trung thực và ghét sự giả dối, gian tà.

 

Cũng như trường hợp Nhật hãm tại Tuất, trường hợp Nhật hãm tại Hợi cũng rất cần gặp được Tuần, Triệt, Tam Hóa, Tam Minh để chiết giảm những cái xấu, không hay do Nhật hãm đem lại.

 

 

 

3. SAO THÁI ÂM:

 

1.3- CÁI NHÌN TỔNG THỂ VỀ SAO THÁI ÂM:

 

Thái Âm là biểu tượng cho Mặt Trăng, cho người mẹ, cho con mắt bên phải, tượng trưng cho văn chương, tiền bạc, cho lòng nhân hậu, dịu dàng của giới nữ. Thái Âm với Thái Dương gắn bó với nhau khăng khít để tạo nên một cái nhìn ban đầu sơ lược về cuộc đời đương số.

 

Thái Âm hóa khí là Lộc cho nên Thái Âm miếu vượng tốt nhất đóng ở cung Tài Bạch và Mệnh.

 

Thái Âm hóa ra đủ cả bốn Lộc - Quyền - Khoa - Kỵ, cho nên Thái Âm tượng trưng cả cho sự biến hóa không lường trước được.

 

Tử Vi cho rằng: Đàn ông có Thái Âm ở Mệnh là người rất mềm dẻo, khôn ngoan, giỏi lo làm giàu, thích văn chương nghệ thuật, còn đàn bà nếu có Thái Âm thủ Mệnh là người dịu dàng, tháo vát. Tuy nhiên, cũng cần phải lưu ý rằng: Những ý nghĩa đó sẽ trở nên tiêu cực, giảm ý nghĩa tốt đẹp khi Thái Âm hãm địa.

 

Về diện mạo người có Thái Âm thủ Mệnh thì Tử Vi (Thái Thứ Lang) cho rằng: Thái Âm sáng sủa thì thân hình to lớn, hơi cao, da trắng, mặt vuông (có sách chép là mặt tròn), mắt sáng, thần sắc tươi nhuận. Thái Âm hãm địa thì thân hình nhỏ, hơi cao, mặt dài, mắt kém, thần sắc u tối. Thực ra, các ý niệm về tướng mạo trong khoa Tử Vi rất nghèo nàn, thiếu rõ rệt, thường đưa ra những lời nhận xét rất chung chung, mơ hồ, phảng phất nét đẹp của cả hai phái, rất hiếm có sự phân biệt tướng mạo của riêng mỗi phái, vì thế khi xem số, lời luận giải về tướng mạo phụ thuộc khá nhiều vào sự linh hoạt và kinh nghiệm của tùy người giải đoán.

 

Vốn là sao Âm nên Thái Âm sẽ chính vị ở những cung Âm, hợp với người tuổi AAAm và phù trì mạnh cho những người sinh vào ban đêm, đặc biệt là những người sinh vào những đêm trăng thượng huyền (từ ngày 10 đến ngày 20). Nhưng có quan điểm lại cho rằng: Khi Thái Âm cư ở cung Âm thì mọi sự tốt đẹp, hay dở sẽ gia tăng so với cung Dương, chẳng hạn: Nếu tốt thì cái tốt ở cung Âm sẽ nhiều hơn khi Thái Âm cư ở cung dDương và ngược lại, khi đã xấu thì cái xấu ở cung Âm sẽ nhiều hơn khi Thái Âm cư ở cung Dương. Quan điểm này không thể chấp nhận bởi lẽ theo dịch lý thì Thái Âm là sao Âm, bao giờ cũng chính vị (và chính vị hơn) ở cung Âm (tất nhiên còn phải căn cứ vào Ngũ hành của cung và bản chất, Ngũ hành các sao đồng cung, phối chiếu mà Thái Âm cư trú), chỉ khi nào Thái Âm ở cung Dương hãm địa được Tam Minh cứu giúp thì Thái Âm mới sáng trở lại nhưng sự sáng trở lại đó cũng không được hoàn mỹ vì bản chất của Thái Âm nếu lạc hãm thì dù có được Tam Minh cứu giải cũng chỉ như một ngôi nhà được thay mái trong giông bão khi mà thực chất cái móng, cái nền ngôi nhà vẫn như cũ. Trường hợp Thái Âm lạc hãm ở cung Dương, được cả Tam Minh, Tam Hóa hội họp thì cực quý, được phản vi kỳ cách nhưng rất tiêc trường hợp này lại rất hiếm.

 

Trong khi Thái Dương là ánh sáng của lý trí, là biểu tượng của sức mạnh, không ngại đương đầu với khó khăn, cản trở, còn Thái Âm thì nhu hòa uyển chuyển, dễ dàng lùi bước để tiến lên về sau, vì thế mà Thái Âm sợ gặp Tuần - Triệt hơn là Thái Dương.

 

Ngay cả khi miếu, vượng nếu không có Xương, Khúc, Quang, Quý, Tả, Hữu đi cùng mà gặp Tuần, Triệt thì Thái Âm sẽ trở thành tối hãm, phá cách, cuộc đời bế tắc, còn khi Nguyệt hãm, gặp Tuần, Triệt thì sẽ giảm cái xấu của Thái Âm lạc hãm chứ không làm cho Thái Âm đẹp lên như đắc địa.

 

Không giống như Thái Dương cơ bản đều phù trợ cho tất cả các tuổi, dù ít hay nhiều nhưng Thái Âm chỉ thật sự phù trì cho người Mệnh Kim, Mệnh Thủy và Mệnh Mộc, còn người Mệnh Hỏa, Mệnh Thổ hầu như không nhận được sự phù trì, che chở của Thái Âm.

 

Dù ở vị trí miếu vượng, Thái Âm cũng không thể điều khiển được Hỏa, Linh trái lại còn tiềm ẩn những mối họa không nhỏ. Gặp Không, Kiếp, Kình, Đà sẽ trở thành phá cách.

 

Thái Âm sáng gặp Lộc Tồn thì giàu có, gặp Tam Hóa thì giàu sang, khoa bảng, gặp Xương, Khúc thì thông minh, gặp Tứ Linh thì hiển hách.

 

Thái Âm không sợ Hóa Kỵ khi miếu vượng, trái lại còn điều khiển được Hóa Kỵ làm cho Thái Âm thêm huy hoàng, tốt đẹp, nhất là khi Hóa Kỵ đồng cung tại Hợi sẽ thành kỳ cách, rất quý. Lúc này Hóa Kỵ mới thật sự xứng đáng được gọi là Mây Ngũ Sắc chầu Thái Âm. Tất nhiên, Thái Âm trong trường hợp này rất cần tránh xa Kình, Đà, Không, Kiếp, Hỏa, Linh thì Hóa Kỵ mới chịu sự điều khiển của Thái Âm để trở thành Mây Ngũ Sắc trang điểm cho Nguyệt thêm lộng lẫy..

 

Nếu Thái Âm đồng cung với Hóa Kỵ tại Sửu, Mùi cũng thật toàn mỹ vì lúc bấy giờ Hóa Kỵ phá thế tranh tối tranh sáng của Nhật - Nguyệt làm cho Nhật - Nguyệt đều sáng lên. Nhưng khi Nguyệt ở thế hãm địa, rất cần gặp các sao Tuần, Triệt, Thiên Không, Thiên Tài hay Tam Minh để Nguyệt sáng lên mà tối kỵ gặp Hóa Kỵ, vì Kỵ sẽ làm cho Nguyệt càng thêm tối hãm.

 

Thái Âm được cặp Tả Phù, Văn Khúc phò tá thì thật chẳng khác gì TỬ - PHỦ có Tả Hữu, Thái Dương có Hữu Bật, Văn Xương đi cùng.

 

Thái Âm đi với Văn Khúc thì con gái là người xinh đẹp lại có học thức, ăn nói nhẹ nhàng, dịu dàng, còn con trai là người trắng trẻo, tuấn tú, từ thiện, nhân ái.

 

Thái Âm dù đóng ở bất cứ vị trí nào cũng không nên có thêm Lục Sát Tinh tụ hội (nhất là Đà La). Trường hợp gặp Kình Dương cần có thêm Phượng, Giải, gặp Không, Kiếp cần có Quang, Quý để hóa giải phần nào...

 

Thái Âm hãm ngộ Đà La thì dù đóng bất cứ vị trí nào trên lá số thì cuộc đời vẫn buồn nhiều hơn vui, càng tệ hại hơn khi đó là nữ số.

 

Thái Âm đi với Hóa Khoa càng làm tôn lên vẻ tôn quý. Đi với Hóa Lộc thì giàu có, đi với Hóa Quyền là người hơi nóng nảy, nhưng ngoài mặt bao giờ cũng thể hiện sự ôn hòa.

 

Thái Âm, Thái Dương đều thích có Tam Minh, Tam Hóa, Tứ Linh đi cùng nhưng gặp được Tứ Linh sẽ tốt đẹp nhất vì Tứ Linh không chỉ làm cho Nhật Nguyệt sáng ra mà còn làm cho Nhật Nguyệt càng thêm cao quý. Khi đã có Tứ Linh phù trợ thì dù Nhật - Nguyệt có gặp Sát tinh cũng bớt xấu đi nhiều, ngay cả khi gặp Đà La là khắc tinh của Nhật - Nguyệt, Tứ Linh cũng làm cho bớt xấu nếu có thêm Hóa Khoa nữa thì Đà La chỉ còn gây họa vừa vừa thôi, không còn là phá cách nữa. Nếu đắc Tam Minh mà gặp Đà La vẫn là phá cách cho dù có gặp được đệ nhất cứu giải là Hóa Khoa đi cùng.

 

Dù đóng ở bất kỳ cung nào, khi Thái Âm đồng cung với Thiên Hình thì cũng là người bị thương tật ở mắt. Thái Âm càng nên tránh xa lũ Sát tinh, Tam ám nếu gặp những sao này, cuộc đời đương số sẽ nghèo hèn, đầy rẫy hung hoạ, phụ nữ có thể hiếm muộn con cái.

 

2.3- VỊ TRÍ ĐỨNG CỦA SAO THÁI ÂM TRÊN ĐỊA BÀN 12 CUNG:

 

Thái Âm ở Tý:

 

Tại Tý là nơi vượng địa, rất đẹp cho Thái Âm, lại đi cùng sao Thiên Đồng cũng vượng địa, nên Mệnh an tại đây là người nhân hậu từ thiện. Con trai là bậc quân sư tài giỏi, ăn nói nhẹ nhàng nhưng đanh thép. Còn con gái nếu hội thêm Tang, Hổ, Khốc, Hư, Riêu thì là người rất đẹp về nhan sắc nhưng là người bạc mệnh, chuyện tình duyên đầy trắc trở.

 

Nếu cung Phu Thê ở Tý có Thái Âm ngộ Văn Khúc chắc chắn cung Mệnh ở Dần có Cự - Nhật ngộ Văn Xương, nên con trai có cách này cũng có thể gọi là “Thiềm cung triết quế” lấy vợ là người tài năng xinh đẹp, thật là một đôi trai tài gái sắc. Nhưng nếu là nữ số có cách này sẽ không được gọi là “Thiềm cung triết quế”, tuy không được đẹp như trên nhưng cũng lấy được chồng giàu có, tình nghĩa. Nếu có thêm Kình Dương, rất cần thêm Phượng Các, Giải Thần để làm cho Kình Dương trở nên bớt hung hiểm. Vợ chồng tuy khắc khẩu nhưng vẫn sống với nhau tới đầu bạc răng long.

 

Nếu gặp thêm Đà La thì dẫu có Phượng Giải cũng không giải cứu được. Lúc này rất cần Quang Quý chiếu về hoặc Hóa Khoa đồng cung để giải bớt hung họa của Đà La. Dù có được thêm sự hội họp cứu giải của Quang Quý, Hóa Khoa thì tác hại của Đà La vẫn không mất hẳn.

 

Thái Âm ở Tý cùng với Thiên Đồng nếu ngộ thêm Tuần Triệt rất cần Văn Khúc, Tả Phù Quang Quý hội hợp chiếu về, thì sẽ chỉ trắc trở ban đầu, về sau vẫn tốt như thường. Đặc biệt sao Tuần, Triệt trong trường hợp này nếu có đủ Quang Quý Khúc Tả hội hợp về sẽ như cái phanh làm cho sao Thiên Đồng trở nên vững chãi hơn, không hay thay đổi.

 

Thái Âm ở Sửu:

 

(Xem Thái Dương ở Sửu)

 

Thái Âm ở Dần:

 

Khi cư tại Dần, Thái Âm tối hãm, rất nguy hại cho nữ Mệnh. Trường hợp này rất cần được Tam Minh, Long Phượng và Tam Hóa hội họp để phù trì, nếu không đời sẽ nhiều gian truân, hung họa.

 

Khi đồng cung với Thiên Cơ tại Dần, cả hai chính tinh đều hãm địa, nếu không được sự cứu giải của các trung tinh thì chắc chắn đương số là người bôn ba, lận đận, gặp nhiều tai nạn và đương nhiên tuổi thọ không cao. Nếu gặp thêm lũ sát tinh, Thiên Hình, Hóa Kỵ thì đương số là người cô độc, tật nguyền, tai họa và bệnh tật rất nặng, chắc chắn là người đoản mệnh.

 

Vốn dĩ là sao cơ mưu và nhân nghĩa nên khi Thiên Cơ hãm địa tại Dần, nếu hội họp thêm vài sao xấu như Thiên Hình, Hóa Kỵ thì cơ mưu và nhân nghĩa của Thiên Cơ dễ trở thành lưu manh, thủ đoạn, khiến mọi người khinh ghét.

 

Nếu gặp Xương, Riêu thì chắc chắn là người sa đọa, đĩ điếm, làm văn thơ dâm tình.

 

Dù trong bất kỳ trường hợp nào khi Cơ - Nguyệt đồng cung tại Dần rất cần có Tam Minh, Tam Hóa hội họp cùng các trung tinh khác để cứu giúp đương số giảm bớt cô đơn, nghèo nàn và tai họa.

 

Riêng phụ nữ, nếu gặp cách này còn thêm nghịch cảnh về chồng con, đau đớn vì tình, cuộc đời đong đầy nước mắt.

 

Thái Âm ở Mão:

 

Khi Thái Âm đơn thủ ở Mão tuy là hãm địa nhưng vì đóng tại cung Âm nên sự hung họa có phần được giảm bớt, vì thế mà đương số không phải chịu cảnh đói nghèo, khổ sở, hung họa như khi Thái Âm hãm địa tại các cung Dương. Dầu sao thì sự hiển đạt cũng chỉ ở mức trung bình, tuổi thọ cũng bị chiết giảm. Rất cần sự hội họp của các sao tốt đẹp như Tam Minh, Tam Hóa để được phù trì … và tránh xa lũ Sát tinh, Tam Ám để sự may mắn được tăng thêm, giảm thiểu bất hạnh về gia đạo, tuổi thọ.

 

Theo thiển ý của người viết, trong trường hợp này, dù Thái Âm cư Mão (hay Tỵ) là cung an Mệnh, Thân hay Quan, Phúc... thì đương số cũng là người phúc mỏng, lận đận về đường công danh, gia đình không được hòa thuận, bản thân cũng không được khỏe mạnh. Nếu có điều kiện nên sớm ly hương, tạo nhiều nghiệp thiện để giảm thiểu tai kiếp và được sống lâu hơn.

 

Thái Âm ở Thìn:

 

Khi Thái Âm đóng tại Thìn là vị trí lạc hãm, lại gặp Thái Dương cũng lạc hãm tại Tuất trực chiếu, cả hai nguồn ánh sáng này đều rất mờ nhạt, yếu ớt, trong khi Thìn lại là cung Dương nên Thái Âm ở đây càng xấu hơn, chỉ mang lại sự nghèo khổ, thất bại trên nhiều bình diện cho đương số.

 

Theo quan điểm của tác giả Hoàng Thương và Hàm Chương (Tử vi khảo luận) thì người có Thái Âm đơn thủ tại Thìn sẽ hưởng “phong lưu qua thăng trầm” và “mất mát nhà cửa” (trang 194, sách đã dẫn). Quan điểm này chưa thấy sánh nào đề cập tới nhưng vì mới, lạ nên người viết lưu ý để đọc giả cân nhắc khi tham khảo.

 

Dù sao thì khi Thái Âm đơn thủ tại Thìn, ở vị trí lạc hãm như thế chắc chắn sẽ là người bạc phúc, nghèo khổ, phải ly tổ mới mong tạo dựng được cơ nghiệp và đỡ phải lao tâm khổ xác.

 

Cũng như các trường hợp Thái Âm tối hãm khác, trường hợp này cũng rất cần xa lánh các Sát tinh, Tam Ám để cuộc đời giảm bớt đắng cay, khổ cực. Nếu được Tam Minh, Tam Hóa và các sao tốt đẹp khác hội họp cứu giải thì thật không gì bằng cho đương số.

 

(Xem thêm Thái Dương ở Tuất)

 

Thái Âm ở Tỵ:

 

Mặc dù Thái Âm ở Tỵ là chính vị (sao Âm cư cung Âm) nhưng Ngũ hành của Thái Âm và cung Tỵ là nước với lửa nên khi Thái Âm đơn thủ tại đây là rất xấu. Người có Thái Âm đơn thủ tại cung Tỵ thường là người nhu nhược, bạc phúc, chịu nhiều cay đắng, dù là đàn ông hay đàn bà thì chất nữ tính cũng rất nhiều.

 

Khi Thái Âm cư Tỵ sẽ gặp Cự - Nhật đều hãm địa ở Thân hợp chiếu (thế nhị hợp). Đây là cách rất xấu của Nhật - Nguyệt, rất cần gặp Tuần, Triệt án ngữ hoặc Thiên Không, Thiên Tài đồng cung để cứu giải. Tuy nhiên, người Âm nam, Âm nữ so với người Dương nam, Dương nữ sẽ được chiết giảm về tai ương, họa hại.

 

Thái Âm ở Ngọ:

 

Ngọ đã là nơi tối hãm nhất của Thái Âm, lại đồng cung với Thiên Đồng cũng hãm địa nên Đồng - Nguyệt tại đây chính là ở vị trí “Cùng tắc biến”. Đồng - Nguyệt trong trường hợp này phải HÓA được (thành Quyền, Lộc, Khoa, Kỵ) mới thành “Phản vi kỳ cách”. Nếu không, cuộc đời của đương số sẽ không còn gì phải bàn cãi: thất bại, họa hại triền miên và bế tắc.

 

Trường hợp này, nếu có thêm Kình Dương (Kình Dương thuộc Kim, cư nơi Dương Hỏa cực vượng, cho nên Kình bị hãm rất xấu, mới gọi là cách "Mã đầu đới kiếm") mà Thái Âm hóa ra được cả Khoa, Quyền, Lộc, Kỵ thì Thiên Đồng sẽ là hình ảnh tướng có thực tài, thực quyền cưỡi ngựa đi ra biên cương mà làm nên công trạng. Ngay trong trường hợp này vẫn rất cần có thêm Phượng Các, Giải Thần hóa giải để kìm hãm nguy hại còn rất lớn của Kình Dương hãm tại Ngọ. Tuy nhiên bắt buộc vẫn phải có Tam Hóa mới thành được “Phản vi kỳ cách”, nếu không có Tam Hóa thì dù Thái Âm có Hóa ra được cả bốn khí vẫn là tối hãm và nguy hại như thường.

 

Cũng nên lưu ý rằng: Đà La là khắc tinh của Nhật - Nguyệt nên khi Đồng - Nguyệt ở Ngọ gặp Đà La thì dù có được Tam Hóa và Phượng, Giải tụ hợp cũng là phá cách, cuộc đời vẫn vui nhiều buồn ít. Ngay cả khi gặp Hỏa, Linh, Không, Kiếp dù không xấu như gặp thêm Đà La nhưng cũng không thể gọi là “Phản vi kỳ cách” được.

 

Thái Âm ở Mùi:

 

(Xem Thái Dương ở Mùi)

 

Thái Âm ở Thân:

 

Khi Thái Âm ở Thân sẽ đồng cung với sao Thiên Cơ, ở vị trí này cả hai sao Thiên Cơ, Thái Âm đều được vượng địa nên con người có môi trường sống tốt, hay gặp may mắn, bản chất nhân từ, lương thiện, giàu có và hạnh phúc gia đình được xuôi chèo mát mái. Tuy nhiên, Cơ - Nguyệt ở Thân dù tốt đẹp đến đâu cũng là người cả nghĩ, hay ghen, vì thế rất cần có Ân Quang, Thiên Quý chiếu về mới có thể gọi là hoàn toàn tốt đẹp.

 

Nếu là nữ số, khi Thái Âm ở Thân ngộ Văn Khúc là người thông minh, xinh đẹp. Nếu Mệnh cư tại Thân thì cung Phu - Thê sẽ an tại Ngọ, có Thái Dương (miếu địa) ngộ Văn Xương sẽ lấy người chồng tài giỏi, bao bọc. Nếu cung Phu - Thê có nhiều cát tinh khác hội họp như Tam Hóa, Tam Minh, Long, Phượng … thì người chồng có thể làm đến bậc nguyên thủ Quốc gia. Nhưng trong trường hợp này nếu có thêm Linh, Hỏa hay Kình thì cái đẹp của Phu - Thê bị chiết giảm, vợ chồng hay khắc khẩu, nếu gặp Kiếp, Không càng xấu, gặp Đà La thì sẽ là phá cách.

 

Thái Âm ở Dậu:

 

Tại Dậu là vị trí miếu địa của Thái Âm, được Thái Dương miếu địa ở Tỵ, Thiên Lương đắc địa ở Sửu chiếu về tạo thành cách “Nhật Nguyệt tịnh minh” nên người có Thái Âm cư Dậu sống hiền lương, đức độ, giàu sang vinh hiển. Nếu được nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội họp như Xương, Khúc, Khôi, Việt, Tả, Hữu, Khoa, Quyền, Lộc, Đào, Hồng, Hỷ tất sẽ phú quý tột bực và nổi tiếng.

 

Trường hợp này, nếu cung Phu - Thê an tại Dậu thì cung Mệnh an tại Hợi có Cự Môn vượng địa độc thủ, được Thái Dương miếu địa tại Tỵ chính chiếu, tuy không còn là cách “Nhật Nguyệt tịnh minh” nhưng vẫn  được hưởng giàu sang, phú quý, vợ chồng sống hạnh phúc với nhau đến lúc mãn chiều.

 

Thái Âm ở Tuất:

 

Khi Thái Âm đóng tại Tuất sẽ được Thái Dương ở Thìn trực chiếu ánh sáng đẹp đẽ, tạo thành cách Nhật Nguyệt tranh huy. Mệnh cư Thìn nếu cung Tuất không nằm trong tam hợp Thái Tuế thì cũng được hưởng cả Âm Dương. Mệnh cư Tuất muốn hưởng được cả Thái Dương phải đứng trong tam hợp Thái Tuế. Trường hợp được hưởng cả cặp Âm Dương ở Thìn Tuất gặp Xương Khúc Tả Hữu Quang Quý là thượng cách, tối quý.

 

(Xem Thái Dương ở Thìn)

 

Thái Âm ở Hợi:

 

Thái Âm ở Hợi là Thái Âm miếu địa, được NHẬT - LƯƠNG ở Mão hợp chiếu, tạo thành cách “Nguyệt lãng Thiên Môn” rất đẹp, nếu cung Mệnh đóng ở đây thì thật đẹp. Càng đẹp hơn nếu có Hóa Kỵ đồng cung (chỉ có người tuổi Ất mới được hưởng cách này) sẽ là kỳ cách, cuộc đời sẽ giàu sang, phú quý, sự nghiệp rạng rỡ. Cung Mệnh cư ở đây dù là trai hay gái đều tối quý, miễn là mệnh Thủy, mệnh Kim.

 

Khi Thái Âm ở Hợi mà Mệnh cư Mùi sẽ là cách “Nhật Nguyệt tịnh minh”, người có cách này rất thông minh, phò tá cho bậc nguyên thủ quốc gia. Mệnh cư Mão thì cung Quan Lộc sẽ được Nhật Nguyệt Tịnh minh chiếu cũng rất đẹp.

 

*.

 

Hà Nội, xuân năm 2007

 

ĐặNG XUÂN XUYẾN

 

------------------

 

(Trích từ TỬ VI KIẾN GIẢI của Đặng Xuân Xuyến, Nhà xuất bản Thanh Hóa, xuất bản năm 2009)

READ MORE - VỊ TRÍ CỦA NHẬT - NGUYỆT TRÊN LÁ SỐ - Đặng Xuân Xuyến

Sunday, September 20, 2026

AUTUMN WITHIN A TENDER WORD / MÙA THU GIỮA MỘT LỜI THƯƠNG - Đồng tác giả: Thi Lan Anh Tran — Germany & Musharraf Hussain— India


 

AUTUMN WITHIN A TENDER WORD

Co-Authors:  

Thi Lan Anh Tran — Aschaffenburg, Germany

& Musharraf Hussain— Assam, India

 

Autumn gently leans beside my tousled hair,
A fleeting crimson blush warms the evening air.
I hide my tender shyness in the autumn glow,
While careless winds awaken longings soft and low.

 

That crimson is more than flowers, more than leaves;
It is the hue of longing my heart softly keeps.
A little tenderness carried by the breeze
Can make the earth and heavens suddenly find peace.

 

I never ask you why you think of me,
I only hear autumn breathing tenderly.
Some words of love are never given voice,
Yet still they stir the heart beyond all choice.

 

If you should chance to find that autumn there,
Please keep a little of my love with care.
Do not let autumn’s colors fade into the wind,
So my heart may stay warm when a new dawn begins.

 

I am still myself—the autumn of old,
Still fond of tenderness, still dreaming as before.
I only wish for one brief touch of kindred souls,
Enough to keep each passing season from growing cold.

 

Stay crimson, autumn; stay crimson, love,
Crimson with longing, crimson with the dawn above.
I send to you the fragrance of that autumn air—
A little hidden charm… a little loveliness.

 

© 2026 Thi Lan Anh Tran & Musharraf Hussain. All Rights Reserved.

 

&&&

 

MÙA THU GIỮA MỘT LỜI THƯƠNG

Đồng tác giả:  

Thi Lan Anh Tran — Aschaffenburg, Germany

& Musharraf Hussain— Assam, India 

 

Thu khẽ nghiêng mình bên tóc rối,
Hong chiều một thoáng sắc môi son.
Em giấu vào thu niềm e ấp,
Để gió vô tình chạm nhớ mong.

 

Đỏ ấy đâu chỉ màu hoa lá,
Mà màu thương nhớ ủ trong tim.
Một chút dịu dàng theo gió thoảng,
Cũng làm trời đất bỗng im lìm.

 

Em chẳng hỏi người vì sao nhớ,
Chỉ nghe thu thở giữa vai mềm.
Có những lời yêu không thành tiếng,
Mà sao lay động cả con tim.

 

Nếu người bắt gặp mùa thu ấy,
Xin giữ giùm em một chút tình.
Đừng để sắc thu phai theo gió,
Để lòng còn ấm một bình minh.

 

Em vẫn là em — mùa thu cũ,
Vẫn thích dịu dàng, vẫn mộng mơ.
Chỉ mong một thoáng tình tri kỷ,
Đủ để mùa sang chẳng hững hờ.

 

Đỏ nhé mùa thu, đỏ nhé tình,
Đỏ trong thương nhớ, đỏ bình minh.
Em xin gửi lại hương thu ấy,
Một chút duyên thầm… một chút xinh.

 

© 2026 Thi Lan Anh Tran & Musharraf Hussain. Bảo lưu mọi quyền.


&&&

From:

E- Mail: Wirtschaftskanzlei@Dipl-Kauffrau-Tran.de

Dipl.- Kauffrau Thi Lan Anh Tran

READ MORE - AUTUMN WITHIN A TENDER WORD / MÙA THU GIỮA MỘT LỜI THƯƠNG - Đồng tác giả: Thi Lan Anh Tran — Germany & Musharraf Hussain— India

Saturday, September 19, 2026

SÔNG VĨNH ĐỊNH: HỒN ĐẤT, TÌNH NGƯỜI VÀ KÝ ỨC QUẢNG TRỊ - Trương Thúy Hậu


Sông Vĩnh Định: 

Hồn Đất, Tình Người Và Ký Ức Quảng Trị

Trương Thúy Hậu

  


  

Sông Vĩnh Định (永定河) là một phụ lưu của sông Thạch Hãn, chảy theo hướng Đông Nam, từ làng Cổ Thành đến làng Xuân Viên, dài khoảng 20 km, rồi nhập vào sông Ô Lâu, đổ ra phá Tam Giang.

      Tài liệu lịch sử để lại không thấy ghi tên sông mãi cho đến năm 1825, vua Minh Mạng cho đào 7,5 km thẳng từ làng Câu Kênh cho đến làng Trung Đan và đặt tên là Vĩnh Định. Từ đó, dòng sông thiên nhiên này được mang tên là sông Vĩnh Định.

       Về địa lý, sông Vĩnh Định từ ngã ba làng Cổ Thành chảy qua 2.2 km đến Ba Bến,  sông chẻ giòng làm 2 :

     – Nhánh phụ dài khoảng 15 km từ Ba Bến chảy theo hướng tây bắc qua các xã thuộc huyện Triệu Phong: Triệu Thành,Triệu Hòa, Triệu Đại, Triệu Độ, nhập cùng sông Thạch Hãn (và sông Hiếu) đổ ra Cửa Việt .

     – Nhánh chính (xem không ảnh) chảy theo hướng đông nam. Từ Ba Bến sông chảy khoảng 2.3km thì gặp sông Nhùng từ phía Tây huyện Đa Krông đổ xuống tại làng Văn Vận( xã Hải Quy), chảy qua các làng Trà Trì, Phú Xuân, Trà Lộc, Duân Kinh, La Duy(xã Hải Xuân),Ngô Xá Đông, Xuân Dương, Tam Hữu (xã Triệu Trung), Phương Lang, Ba Du, Cổ Lũy, Đa Nghi(xã Hải Ba) đến Hội Yên(xã Hải Quế),qua các làng mạc giữa 2 huyện Triệu Phong và Hải Lăng (cập nhật bổ túc).

     Tại ngã 3 Hội Yên, sông Vĩnh Định lại chia 2 nhánh :

     – Nhánh mạn Đông là chính, chảy song song quốc lộ 49C và bờ biển, cách bờ  khoảng hơn 6km, đoạn sông này dài khoảng 6km từ làng Hội Yên chảy qua các làng Đơn Quế, Kim Long (xã Hải Quế) và Kim Giao, Diên Khánh, An Nhơn, Đông Dương, Xuân Viên (xã Hải Dương), đổ ra sông Ô Lâu, đi thuyền thêm khoảng 13km thì đến phá Tam Giang .

      – Nhánh mạn Tây dài khoảng 5 km chảy qua làng Trung Đơn, Kim Sanh, Phước Điền (xã Hải Thành)rồi cũng đổ ra sông Ô Lâu. Cũng tại hói Dét làng Trung Đơn, một nhánh nhỏ nối sông Ô Giang, phụ lưu sông Ô Lâu, chảy dọc theo ra tới xóm Càng. Cửa 2 nhánh sông mạn Tây này ở sông Ô Lâu cách nhau 3,2 km, ôm trọn ranh giới phía Nam xã Hải Thành.

          Sông Vĩnh Định là sông thiên nhiên từ bao đời, nhưng do bị bồi đắp hằng năm, nên qua lịch sử có ghi lại như sau:

     – Tháng 5 năm 1681, chúa Nguyễn Phúc Tần cho đào kênh Trung Đan, chúa đích thân ra xem.

     – Năm 1693, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu, lại cho đào kênh Trung Đan.

    – Năm 1819, vua Gia Long cho khảo sát đào sông Vĩnh Định; năm sau, vua băng hà (1820), phải đến 5 năm sau, vua Minh Mạng mới kịp cho đào.

           Tháng 3 năm 1825, vua Minh Mạng cho đào đoạn sông mới thẳng tắp 7.5 km (như con số 1) từ Câu Kênh (Duân Kênh) đến Trung Đan (hói Dét,Trung Đơn), qua các làng Lam Thủy, Thi Ông, Cu Hoan, Hội Yên. Chiều dài đoạn sông này là: Câu Kênh-Hội Yên 5.5km, và Hội Yên -Trung Đan 2km, nối sông Ô Giang (17 năm sau khi đào xong, năm 1842 vua Thiệu Trị tuần du ra Bắc, vào địa phận tỉnh Quảng Trị theo đoạn sông này, trạm đầu ghé lại nghỉ tại làng Trung Đan, và có bài thơ Trung Đan tọa lạc ngọ đình, bài thơ được khắc in trong Ngự chế Bắc tuần thi tập. Cùng theo vua Thiệu Trị, trong chuyến Bắc tuần này có quý phi Từ Dũ, mà con trai trưởng là  vua Tự Đức sau này tôn lên làm Hoàng thái hậu (1849).

           Lý do nhà Vua cho đào đoạn sông mới là vì, dòng sông cũ từ ngã ba làng Câu Kênh, La Duy, Ngô Xá Đông quật góc gần 90°, dòng sông khúc khuỷu (như con số 3) dài khoảng 5.5 km chảy qua các làng La Duy, Xuân Dương, Tam Hữu, Phương Lang, Ba Du, Cổ Lũy, Đa Nghi, Hội Yên bị bồi đắp, nước khó thoát, gây lũ lụt trầm trọng. Sau năm 1825, khi đã đào xong sông mới, thì đoạn sông cũ chảy qua các làng này được gọi là (xem không ảnh) Sông Vĩnh Định cũ hay Cựu Hà Vĩnh Định.

          Nguyên chú văn bia Ngự chế Quá Vĩnh Định hà đề dựng tại Cồn Đống, bên bờ sông Vĩnh Định viết:… 前後 三月零十八日始成命為永定河 …tiền hậu tam nguyệt linh thập bát nhật thủy thành, mệnh vi Vĩnh Định hà… Đào 3 tháng 18 ngày thì xong, bèn đặt tên là sông Vĩnh Định.

          Việc đào sông Vĩnh Định, Đại Nam Thống Nhất Chí ghi :

     …"Năm Ất Dậu Minh Mệnh thứ 6 (1825), sai Thống chế Phan Văn Thúy đốc dân phu khai đào từ xã Câu Kênh đến xã Trung Đan dài 1.720 trượng (một trượng bằng 4,7 m), ba tháng thì xong, bèn cho tên hiện nay. Năm thứ 17, xa giá đi tuần Quảng Trị, thuyền ngự đi qua sông này, có thơ ngự chế khắc vào đá và dựng nhà bia ở bờ phía nam sông; cùng năm ấy đúc Cửu Đỉnh, khắc hình sông vào Thuần Đỉnh. Năm Thiệu Trị thứ 2 (1844), xa giá Bắc tuần, có thơ ngự chế khắc vào bia dựng ở bờ sông”.

        Công tác đào sông do Phan Văn Thúy (1758-1833), người làng Đạo Đầu, một trong 13 danh tướng triều Nguyễn, đốc công chỉ huy và Nguyễn Hữu Thận (1757-1831),Thượng thư Bộ Hộ, người làng Đại Hòa, phủ Triệu Phong, phụ trách cung cấp tiền bạc, lương thực, thuốc men.

        Các Châu Bản Triều Nguyễn còn lưu trữ được các bản tấu về việc thi công như sau:

     – Phan Văn Thúy cùng các quan bản địa xem xét, điều tra địa thế,  đào thử vài đoạn khảo sát đất cát tầng đáy,  cắm tiêu ghi chú…chiều ngang 6 trượng, chiều sâu gần 1 trượng tùy chỗ, đốc công 2.000 dân phu Huế và 1.700 dân phu Quảng Trị, đào sông.

     – Nguyễn Hữu Thận, cấp tiền, gạo hàng tháng ngay tại công trường. Ngoài ra, Vua còn chỉ dụ việc cấp phát thuốc men, cử toán lương y chăm sóc dân phu tại chỗ.(hình phải) theo chỉ dụ của vua Minh Mệnh .

       Văn bia Ngự chế Quá Vĩnh Định hà đề, có ghi liệt kê tổng kinh phí đào sông:

      – Tiền: hơn 6 vạn 4 nghìn 6 trăm quan .

     – Thóc: hơn 2 vạn 9 nghìn 4 trăm phương.

       Cũng nên thêm là năm Ất Dậu 1825, vùng đất Quảng Trị, Thừa Thiên gặp thiên tai, nắng hạn, mất mùa, đói kém, dân không có việc làm nên việc đốc công đào sông gặp thuận lợi. Công dân phu được trả bằng thóc và tiền tại chỗ hàng tháng. Đất mặt bằng trưng dụng đào sông, nhà cửa, mồ mả nếu có, di dời được bồi thường thỏa đáng, dụng cụ cuốc xẻng xuất tiền công mua sắm, không đụng đến của dân. Nhà Vua viết: Từ vất vả khó nhọc một lần, để hưởng lợi muôn đời(Khởi đạn nhất thời lao, vụ kì vạn thế lợi).

     Tại xóm Cồn Đống, làng Cu Hoan hiện còn hai tấm bia cao 2m, rộng 1m tạc ghi :

     – Ngự chế Quá Vĩnh Định hà đề (御製過永定河題) của vua Minh Mệnh năm thứ 17 (1836) lược thuật quá trình đào sông và thơ của vua ca ngợi cảnh đẹp của sông (hình phải).

     – Quá Vĩnh Định hà cảm tác (過永定河感作) là thơ cảm tác của vua Thiệu Trị, năm thứ 2 (1842), khi tuần du qua sông.

        Đầu đời 2 triều Nguyễn (1802-1841), sau khi vua Gia Long thống nhất sơn hà, nước ta vốn thái bình thịnh trị, nhất là dưới triều vua Minh Mạng (1820- 1841),quân sự hùng manh, kinh tế phát triển, xã hội ổn đinh…Về mặt văn hóa mỹ thuật, năm 1835 nhà Vua cho đúc Cửu đỉnh, là 9 cái đỉnh bằng đồng, đặt ở trước sân Thế miếu trong Hoàng thành Huế, trong đó Thuần đỉnh  đúc nổi hình 2 con sông Thạch Hãn và Vĩnh Định (hình phải).

           Danh xưng đơn vị hành chính Quảng Trị thời gian này là doanh Quảng Trị, năm 1827 đổi thành Trấn, năm 1832 đổi thành Tỉnh và lập bản doanh tại làng Thạch Hãn. Tương truyền, trong thời gian này, vị thế ngã ba sông Vĩnh Định là La Duy-Duân Kênh-Ngô Xá Đông cũng là địa điểm tỉnh lỵ thứ nhì nằm trong dự tính của vua Minh Mạng.

          Sau khi đào sông xong (1825), thỉnh thoảng tiếp tục công tác nạo vét sông vẫn được tiếp tục thực hiện, Châu bản triều Nguyễn ghi chép :

     – Niên hiệu Thiệu Trị năm thứ 3 (1844), vua cho khai vét một vài đoạn trên sông.

     – 42 năm sau, năm 1867, vua Tự Đức thuận theo tờ tấu của Bộ Công, cho nạo vét lại dòng sông.

     – Niên hiệu Kiến Phúc năm thứ 1 (1884), Vua cho nạo vét giòng sông cũ (cựu Vĩnh Định hà) đoạn qua các làng Câu Hoan, An Thư, An Thái vì sông cũ bị bồi lấp nhiều, không khơi thì ruộng bị nước ngập, dân bốn tổng ấy xin xuất tài lực, thẳng khơi một đoạn ở hai xã Kim Lung, Kim Giao, lược vét một đoạn từ xã Kim Long đến xã Hội Yên đều cho phép làm để tiện việc cấy ruộng mùa.

    – Năm 1897, vua Thành Thái cho nạo vét lại sông, đoạn từ làng Đồng Dương, Diên Khánh, Kim Giao thuộc xã Hải Dương qua thôn Kim Long, Đơn Quế, Hội Yên thuộc xã Hải Quế, đến Đa Nghi, xã Hải Ba nhằm khai thông sinh thái và môi trường khu vực này, vốn bị thiệt hại sau hơn 70 năm từ khi có sông đào 7.5 km, như đã nêu trên.

       Tưởng cũng nên biết rằng trong số 8 con sông đào trong thời gian 30 năm đầu của ba triều vua nhà Nguyễn, có ba con sông được đặt tên đầu bằng chữ Vĩnh, ngụ ý mong muốn về lâu dài là:

     – Kênh Vĩnh Tế, dài 90 km, nối Châu Đốc và Hà Tiên, được đào năm 1819, thời cuối triều vua Gia Long.

     – Sông Vĩnh Điện dài 12 km từ đầu ngã sông (xem không ảnh) Thu Bồn đến cầu Tứ Câu, xã Điện Ngọc. Vua Minh Mạng cho đào vét, nới rộng 2 lần (1822, 1824), khơi thông dòng từ Câu Nhí đến Cẩm Sa, dài 1.647 trượng, tức khoảng 7.7 km, để thông nước 2 hệ thống sông Thu Bồn và sông Vu Gia.

      – và sông Vĩnh Định .

        Hiện tại trong các bài viết về tỉnh Quảng Trị, có tác giả Lê Quang Thái, trong bài "Quảng Trị ơi, đất sao đất lạ lùng" đăng trên tạp chí Cửa Việt (2014), viết:

      …”Tháng tư năm Ất Mùi, Minh Mạng năm thứ 16 (1835), nhà vua ngự từ kinh đô ra hành cung trong thành Quảng Trị bằng đường thủy. Từ Huế theo sông Hương, sông Gia Hội ra Phá Tam Giang rồi theo sông Vĩnh Định đến sông Thạch Hãn.

     Vua bảo với các quan hầu rằng: “Ngày trước ta đi thuyền đến địa phận xã Ngô Xá, trông thấy một người đàn bà già, sai hỏi tuổi thì người ấy nói rằng đã 117 tuổi, chưa biết có xác thực hay không, nhưng đại phàm người chỗ mạch đất núi sông thanh tú thì phần nhiều thọ, hoặc già cũng có lý đấy”…

     Nhân dịp này, nhà vua bèn sai đẩy xe đi xem tường thành mới xây đắp, thấy các kỳ lão thuộc hạt Quảng Trị đang đứng đón để chiêm bái. Các cụ già có người đi chậm không theo kịp, khiến các bậc quan phủ huyện phải cõng các bậc trưởng lão đi.

     Vua Minh Mạng có óc hài hước lại có tính hay giỡn như vua cha vậy. Nhà Vua liền cười duyên và nói rằng: “Lũ ấy ngày thường làm cha mẹ dân, nay cõng người già đến chiêm bái thì hầu như con của dân rồi!”

     Trong bối cảnh lịch sử kỳ thú này, thì có sự trùng phùng của “Dân chi phụ mẫu” với “Phụ mẫu chi dân” mà bình thường hay nhầm lẫn.”…

          Theo dòng lịch sử, các cuộc chiến trên dòng sông Vĩnh Định được ghi nhận như sau :

     – Năm 1470, vua Lê Thánh Tông mang quân chinh phạt Chiêm Thành, bị quân Chiêm Thành phục kích tại Cổ Lũy, thuộc cựu Vĩnh Định Hà.

     – Tương truyền, năm 1572, danh tướng nhà Mạc, Lập Bạo, bị chúa Nguyễn Hoàng lập kế bắt tại bờ sông Thạch Hãn, bên làng Ái Tử. Lập Bạo đã nhảy xuống sông, lặn từ đây đến làng Vân Trình, tỉnh Thừa Thiên, nhưng cũng không thoát khỏi bởi chim trảo trảo bay theo phát giác và bị bắt. Từ đó, Chúa cho lập miếu trảo trảo.

     –  Cuối bán thế kỷ vừa qua, sau cuộc hành quân Sauterelle năm 1952 (trận Thanh Hương) đến  Camargue của quân đội Pháp trong chiến tranh Đông Dương chống lại Trung đoàn 95/QT từ ngày 28 tháng 7 đến ngày 10 tháng 8 năm 1953 trên đoạn đường tỉnh lộ 68 cũ hay là quốc lộ 49C hiện nay, dọc theo sông Vĩnh Định dài khoảng 10km, bắt đầu từ làng Vân Trình, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên qua giao điểm quốc lộ 49B và 49C hiện nay, cho đến làng Cổ Lũy, xã Hải Ba và giao tranh dữ dội nhất là tại làng Đơn Quế, xã Hải Quế mà ký giả nổi tiếng Bernard Fall, khi đó là phóng viên chiến trường, đã đặt tên là Con Đường Buồn Thiu (La Rue Sans Joie), và cũng tại đây 14 năm sau, tháng 2 năm 1967, Bernard Fall  tử thương vì dẫm phải mìn trong cuộc hành quân Operation Chinook II của quân đội Mỹ.

     Con Đường Buồn Thiu (dài khoảng 10 km) năm 1953 và Đại Lộ Kinh Hoàng (Highway of Horrors) khoảng 9 km, từ cầu Trường Phước đến qua cầu Bến Đá năm 1972 là những nghiệt ngã trong chiến tranh Việt Nam mà dân Quảng Trị đã phải hứng chịu trên địa bàn của sông Vĩnh Định, sông Nhùng và sông Bến Đá.

      Các sự kiện diễn biến cuộc sống của cư dân trên vùng đất này là đề tài âm nhạc được sáng tác như, nhạc sĩ Nhật Ngân có viết bài  Con đường buồn thiu, là đoạn đường sinh tử, chết chóc,  đau buồn, trong chiến tranh Việt - Pháp năm 1953.

     Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ viết bài Đưa Em Xuống Thuyền (do Ái Vân, con dâu làng Xuân Dương, hát) theo lời kể của ông, mô tả đám cưới người anh của nhạc sĩ vào đầu thập niên 40 thế kỷ vừa qua, thuyền rước dâu trên dòng Vĩnh Định, từ làng Thi Ông, Hải Lăng đến làng Bích Khê, Triệu Phong.

      Hệ thống sông ngòi tỉnh Quảng Trị gồm 7 sông, nhưng quan trọng hơn cả là hệ thống sông “Bến Hải-Thạch Hãn-Ô Lâu” chạy dọc  theo chiều dài tỉnh từ sông Ô Lâu tới sông Sa Lung (huyện Vĩnh Linh). Các thế kỷ trước, là thủy lộ từ kinh đô Huế ra Bắc, ngắn và an toàn hơn đường biển.

       Sông Vĩnh Định nối sông Thạch Hãn và Ô Lâu chảy vô phá Tam Giang, nhánh phụ sông Vĩnh Định cũng nối sông Thạch Hãn(và sông Hiếu) đổ ra biển Cửa Việt, sông Cánh Hòm nối sông Hiếu và sông Bến Hải là thủy lộ thuận tiện hàng đầu từ thế kỷ 19 trở về trước, trục thị tứ sầm uất thời kỳ này là chợ phiên Cam Lộ, thị xã Quảng Tri, chợ Sãi, chợ Ngô Xá, rồi đến Chợ Sịa, chợ Bao Vinh thuộc tỉnh Thừa Thiên.

      Dĩ nhiên, so với sau này ở giữa thế kỷ 20, khi khoa học kỹ thuật phát triển, với xe hơi, xe lửa, đường hàng không, thì vai trò vận chuyển bằng đường thủy, trên sông ngòi khắp mọi miền đất nước trở nên yếu kém hơn, không riêng gì trên thủy lộ. Nhưng thử nghỉ, tự hằng trăm năm trước, cho đến khi Quốc lộ 1 được người Pháp cho làm từ năm 1918, thì con đường bộ Nam-Bắc là con đường Thiên lý, con đường cái quan nhỏ hẹp băng qua những vùng ít dân cư, lắm thú dữ, và chưa có xe cộ, thì rõ ràng vai trò vận chuyển trên đất liền bằng đường sông là chiếm ưu thế và tiện dụng.(Hình bên: Quốc lộ 1A trước năm 1918 khi chưa làm, chỉ là con đường cái quan thiên lý). Cũng vậy, đường xe lửa Bắc-Nam từ Hà Nội đến Sài Gòn dài 1.730 km, chạy dọc theo Quốc lộ 1, hoàn thành và được đưa vào sử dụng vào năm 1936.

      Sông Vĩnh Định không chỉ là nguồn nước chảy, mà còn mang theo cả tinh thần cuộc sống của cư dân hai bên bờ. Tiếng chuông chùa ngân nga buổi sáng, vang vọng kinh cầu buổi chiều tại các giáo đường, tiếng hát câu hò trên đò doc, hay tiếng đập loong coong xúc cá của vạn chài... là những kỷ niệm êm đềm vốn có và là tưởng niệm muôn đời của những ai đã từng sinh sống tại đây. Tính từ năm 1825 đến nay đã 196 năm, thế hệ Baby Boomers sinh sau Thế chiến thứ 2, đặc biệt được chứng kiến sinh hoạt cùng các cư dân, làng mạc dọc theo dòng sông Vĩnh Định rõ nét cùng hoài niệm dòng sông đã mất bởi công trình thủy lợi Nam Thạch Hãn, trong ngậm ngùi tiếc nuối một thời, một đời.

       Công trình dẫn thủy nhập điền đập Trấm năm 1977 rất đáng được ghi nhận, tuy thế, việc ngăn chặn dòng chảy của sông Vĩnh Định tại đập An Tiêm và Ba Bến là một thiếu sót khoa học kỹ thuật chuyên môn và công tác dẫn thủy nhập điền, trị thủy của gần nửa thế kỷ trước là do điều kiện khó khăn tạo nên như thế. Nay tình thế đã khác, thiết nghĩ cư dân hai bên bờ sông cùng chính quyền sở tại, nên có các cuộc thảo luận, trao đổi để đi đến quyết định chuyên môn là, điều chỉnh đập An Tiêm và Ba Bến, điều hòa lưu lượng nước, khơi thông giòng chảy, nạo vét giòng sông… giải quyết môi trường môi sinh khu vực, phát huy chức năng cũ của giòng sông về kinh tế, văn hóa, xã hội, y tế… tránh thảm họa lũ lụt, thoát khỏi  dịch bệnh do ô nhiễm, tái tạo sinh thái hai nhánh phụ và chính của sông Vĩnh Định với hơn 100.000 cư dân sinh sống tại đây. Vấn đề là kinh phí, nhưng có thể xin thêm các quỹ quốc tế tài trợ nếu tự túc còn thiếu và điều này không khó. Hạ một cây che bóng mát đã là một điều bất nhẫn, huống chi là ngăn chặn một dòng sông. Cứu lấy dòng sông là cứu lấy chúng ta.

        Và nếu được  như thế, hãy tưởng tưởng một ngày nào đó, thử ngồi thuyền máy theo tours du lịch Quảng Trị, đi từ mạn Nam tỉnh nhà tại làng Xuân Viên bên sông Ô Lâu, theo giòng Vĩnh Định, đổ qua sông Thạch Hãn, ra sông Hiếu, vượt sông Cánh Hòm, đến sông Bến Hải, theo giòng Sa Lung, dừng chân ở Hồ Xá, huyện lỵ Vĩnh Linh… chúng ta như được sống lại cùng tổ tiên từ hằng trăm năm về trươc, nhất là từ khi chúa Tiên Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất Thuận-Quảng  tại Ái Tử năm 1558, mở đầu công cuộc Nam tiến.

           Xin ghi chú thêm rằng, cùng mục đích bài viết này là, để điều chỉnh các sai lệch thuộc tài liệu về sông Vĩnh Định vốn có trong sách vở và trên internet, đặc biệt hiện nay, vì tam sao thất bổn trong suốt thời gian dài 196 năm, đồng thời  cũng là để tưởng nhớ những em bé bơi lội, các bà chị, bà mẹ giặt giủ bên sông, các bác nông phu ra đồng sau ngày cày cấy, ra bến sông tắm rữa, bầy trâu mẹp, làn hơi nước tỏa trên sông buổi sớm, âm vang tiếng hò lãng đảng trong đêm trăng… cứ thế, qua nhiều thế hệ xưa nay… từ đó, rất mong muốn được mọi người, mọi giới đặc biệt các sinh viên tỉnh nhà, nếu có dịp nên viết, làm luận văn tốt nghiệp về đề tài này, để xem xét lại, hoàn thiện và quy củ hơn chủ đề Khơi Lại Giòng Sông Vĩnh Định, bảo đảm môi trường môi sinh và sinh thái vùng đất của lòng người, trong lòng lịch sử, thì không có gì quý hơn. Đa tạ.

Boston, ngày 9 tháng 3 năm 2021

Trương Thúy Hậu


Chép từ FaceBook  Nguyễn Chơn Viễn

và thay đổi tên bài.


Ảnh: Dòng sông Vĩnh Định đoạn chảy qua xóm Miệu - làng Ngô Xá Đông- xã Triệu Trung- huyện Triệu Phong- tỉnh Quảng Trị (nay là làng Ngô Xá Đông- xã Triệu Cơ- tỉnh Quảng Trị). Nguyễn Chơn Viễn chớp năm 2021.


Đọc thêm: 

https://archives.org.vn/gioi-thieu-tai-lieu-nghiep-vu/song-vinh-dinh-%E2%80%93-qua-trinh-khoi-thong-dong-chay.htm


https://xanhx.vn/tin-tuc-noi-bat/vinh-dinh-dong-song-khong-chi-co-phu-sa-45794.html

 

READ MORE - SÔNG VĨNH ĐỊNH: HỒN ĐẤT, TÌNH NGƯỜI VÀ KÝ ỨC QUẢNG TRỊ - Trương Thúy Hậu