Hồn Đất, Tình Người Và Ký Ức Quảng Trị
Trương Thúy Hậu
Sông Vĩnh Định (永定河) là
một phụ lưu của sông Thạch Hãn, chảy theo hướng Đông Nam, từ làng Cổ Thành đến
làng Xuân Viên, dài khoảng 20 km, rồi nhập vào sông Ô Lâu, đổ ra phá Tam Giang.
Tài liệu lịch
sử để lại không thấy ghi tên sông mãi cho đến năm 1825, vua Minh Mạng cho đào 7,5 km thẳng từ làng Câu Kênh cho đến làng Trung Đan và đặt tên là Vĩnh Định. Từ
đó, dòng sông thiên nhiên này được mang tên là sông Vĩnh Định.
Về địa
lý, sông Vĩnh Định từ ngã ba làng Cổ Thành chảy qua 2.2 km đến Ba Bến,
sông chẻ giòng làm 2 :
– Nhánh phụ dài
khoảng 15 km từ Ba Bến chảy theo hướng tây bắc qua các xã thuộc huyện Triệu
Phong: Triệu Thành,Triệu Hòa, Triệu Đại, Triệu Độ, nhập cùng sông Thạch Hãn (và
sông Hiếu) đổ ra Cửa Việt .
– Nhánh chính
(xem không ảnh) chảy theo hướng đông nam. Từ Ba Bến sông chảy khoảng 2.3km thì
gặp sông Nhùng từ phía Tây huyện Đa Krông đổ xuống tại làng Văn Vận( xã Hải
Quy), chảy qua các làng Trà Trì, Phú Xuân, Trà Lộc, Duân Kinh, La Duy(xã Hải
Xuân),Ngô Xá Đông, Xuân Dương, Tam Hữu (xã Triệu Trung), Phương Lang, Ba Du, Cổ
Lũy, Đa Nghi(xã Hải Ba) đến Hội Yên(xã Hải Quế),qua các làng mạc giữa 2 huyện
Triệu Phong và Hải Lăng (cập nhật bổ túc).
Tại ngã 3 Hội Yên, sông Vĩnh Định lại chia 2 nhánh :
– Nhánh mạn
Đông là chính, chảy song song quốc lộ 49C và bờ biển, cách bờ khoảng hơn
6km, đoạn sông này dài khoảng 6km từ làng Hội Yên chảy qua các làng Đơn Quế,
Kim Long (xã Hải Quế) và Kim Giao, Diên Khánh, An Nhơn, Đông Dương, Xuân Viên
(xã Hải Dương), đổ ra sông Ô Lâu, đi thuyền thêm khoảng 13km thì đến phá Tam
Giang .
– Nhánh mạn
Tây dài khoảng 5 km chảy qua làng Trung Đơn, Kim Sanh, Phước Điền (xã Hải
Thành)rồi cũng đổ ra sông Ô Lâu. Cũng tại hói Dét làng Trung Đơn, một nhánh nhỏ
nối sông Ô Giang, phụ lưu sông Ô Lâu, chảy dọc theo ra tới xóm Càng. Cửa 2 nhánh
sông mạn Tây này ở sông Ô Lâu cách nhau 3,2 km, ôm trọn ranh giới phía Nam xã Hải
Thành.
Sông Vĩnh Định là sông thiên nhiên từ bao đời, nhưng do bị bồi đắp hằng năm,
nên qua lịch sử có ghi lại như sau:
– Tháng 5 năm
1681, chúa Nguyễn Phúc Tần cho đào kênh Trung Đan, chúa đích thân ra xem.
– Năm 1693, dưới
thời chúa Nguyễn Phúc Chu, lại cho đào kênh Trung Đan.
– Năm 1819, vua Gia Long cho khảo sát đào sông Vĩnh Định; năm sau, vua băng hà (1820), phải đến 5 năm sau, vua Minh Mạng mới kịp cho đào.
Tháng 3 năm 1825, vua Minh Mạng cho đào đoạn sông mới thẳng tắp 7.5 km (như
con số 1) từ Câu Kênh (Duân Kênh) đến Trung Đan (hói Dét,Trung Đơn), qua
các làng Lam Thủy, Thi Ông, Cu Hoan, Hội Yên. Chiều dài đoạn sông này là: Câu
Kênh-Hội Yên 5.5km, và Hội Yên -Trung Đan 2km, nối sông Ô Giang (17 năm sau khi
đào xong, năm 1842 vua Thiệu Trị tuần du ra Bắc, vào địa phận tỉnh Quảng Trị
theo đoạn sông này, trạm đầu ghé lại nghỉ tại làng Trung Đan, và có bài thơ
Trung Đan tọa lạc ngọ đình, bài thơ được khắc in trong Ngự chế Bắc tuần thi tập.
Cùng theo vua Thiệu Trị, trong chuyến Bắc tuần này có quý phi Từ Dũ, mà con trai
trưởng là vua Tự Đức sau này tôn lên làm Hoàng thái hậu (1849).
Lý do nhà Vua cho đào đoạn sông mới là vì, dòng sông cũ từ ngã ba làng
Câu Kênh, La Duy, Ngô Xá Đông quật góc gần 90°, dòng sông khúc khuỷu (như con số
3) dài khoảng 5.5 km chảy qua các làng La Duy, Xuân Dương, Tam Hữu, Phương Lang,
Ba Du, Cổ Lũy, Đa Nghi, Hội Yên bị bồi đắp, nước khó thoát, gây lũ lụt trầm trọng. Sau năm 1825, khi đã đào xong sông mới, thì đoạn sông cũ chảy qua các làng này được gọi là (xem không ảnh) Sông Vĩnh Định cũ hay Cựu Hà Vĩnh Định.
Nguyên chú văn bia Ngự chế Quá Vĩnh Định hà đề dựng tại Cồn Đống, bên bờ sông
Vĩnh Định viết:… 前後 三月零十八日始成命為永定河 …tiền hậu tam nguyệt linh thập bát nhật thủy
thành, mệnh vi Vĩnh Định hà… Đào 3 tháng 18 ngày thì xong, bèn đặt tên là
sông Vĩnh Định.
Việc đào sông Vĩnh Định, Đại Nam Thống Nhất Chí ghi :
…"Năm Ất Dậu
Minh Mệnh thứ 6 (1825), sai Thống chế Phan Văn Thúy đốc dân phu khai đào từ xã
Câu Kênh đến xã Trung Đan dài 1.720 trượng (một trượng bằng 4,7 m), ba tháng thì
xong, bèn cho tên hiện nay. Năm thứ 17, xa giá đi tuần Quảng Trị, thuyền ngự đi
qua sông này, có thơ ngự chế khắc vào đá và dựng nhà bia ở bờ phía nam sông;
cùng năm ấy đúc Cửu Đỉnh, khắc hình sông vào Thuần Đỉnh. Năm Thiệu Trị thứ 2
(1844), xa giá Bắc tuần, có thơ ngự chế khắc vào bia dựng ở bờ sông”.
Công tác đào sông do Phan Văn Thúy (1758-1833), người làng Đạo Đầu, một trong
13 danh tướng triều Nguyễn, đốc công chỉ huy và Nguyễn Hữu Thận (1757-1831),Thượng
thư Bộ Hộ, người làng Đại Hòa, phủ Triệu Phong, phụ trách cung cấp tiền bạc,
lương thực, thuốc men.
Các Châu
Bản Triều Nguyễn còn lưu trữ được các bản tấu về việc thi công như sau:
– Phan Văn Thúy
cùng các quan bản địa xem xét, điều tra địa thế, đào thử vài đoạn khảo
sát đất cát tầng đáy, cắm tiêu ghi chú…chiều ngang 6 trượng, chiều sâu gần
1 trượng tùy chỗ, đốc công 2.000 dân phu Huế và 1.700 dân phu Quảng Trị, đào
sông.
– Nguyễn Hữu Thận,
cấp tiền, gạo hàng tháng ngay tại công trường. Ngoài ra, Vua còn chỉ dụ việc cấp
phát thuốc men, cử toán lương y chăm sóc dân phu tại chỗ.(hình phải) theo chỉ dụ
của vua Minh Mệnh .
Văn bia
Ngự chế Quá Vĩnh Định hà đề, có ghi liệt kê tổng kinh phí đào sông:
– Tiền: hơn 6
vạn 4 nghìn 6 trăm quan .
– Thóc: hơn 2 vạn
9 nghìn 4 trăm phương.
Cũng nên
thêm là năm Ất Dậu 1825, vùng đất Quảng Trị, Thừa Thiên gặp thiên tai, nắng hạn,
mất mùa, đói kém, dân không có việc làm nên việc đốc công đào sông gặp thuận lợi.
Công dân phu được trả bằng thóc và tiền tại chỗ hàng tháng. Đất mặt bằng trưng
dụng đào sông, nhà cửa, mồ mả nếu có, di dời được bồi thường thỏa đáng, dụng cụ
cuốc xẻng xuất tiền công mua sắm, không đụng đến của dân. Nhà Vua viết: Từ vất
vả khó nhọc một lần, để hưởng lợi muôn đời(Khởi đạn nhất thời lao, vụ kì vạn thế
lợi).
Tại
xóm Cồn Đống, làng Cu Hoan hiện còn hai tấm bia cao 2m, rộng 1m tạc ghi :
– Ngự chế Quá
Vĩnh Định hà đề (御製過永定河題) của vua Minh Mệnh năm thứ 17 (1836) lược thuật quá
trình đào sông và thơ của vua ca ngợi cảnh đẹp của sông (hình phải).
– Quá Vĩnh Định
hà cảm tác (過永定河感作) là thơ cảm tác của vua Thiệu Trị, năm thứ 2 (1842), khi tuần du qua sông.
Đầu đời
2 triều Nguyễn (1802-1841), sau khi vua Gia Long thống nhất sơn hà, nước ta vốn
thái bình thịnh trị, nhất là dưới triều vua Minh Mạng (1820- 1841),quân sự hùng
manh, kinh tế phát triển, xã hội ổn đinh…Về mặt văn hóa mỹ thuật, năm 1835 nhà
Vua cho đúc Cửu đỉnh, là 9 cái đỉnh bằng đồng, đặt ở trước sân Thế miếu trong
Hoàng thành Huế, trong đó Thuần đỉnh đúc nổi hình 2 con sông Thạch Hãn và
Vĩnh Định (hình phải).
Danh xưng đơn vị hành chính Quảng Trị thời gian này là doanh Quảng Trị,
năm 1827 đổi thành Trấn, năm 1832 đổi thành Tỉnh và lập bản doanh tại làng Thạch
Hãn. Tương truyền, trong thời gian này, vị thế ngã ba sông Vĩnh Định là La
Duy-Duân Kênh-Ngô Xá Đông cũng là địa điểm tỉnh lỵ thứ nhì nằm trong dự tính của
vua Minh Mạng.
Sau khi đào sông xong (1825), thỉnh thoảng tiếp tục công tác nạo vét sông vẫn được
tiếp tục thực hiện, Châu bản triều Nguyễn ghi chép :
– Niên hiệu Thiệu
Trị năm thứ 3 (1844), vua cho khai vét một vài đoạn trên sông.
– 42 năm sau,
năm 1867, vua Tự Đức thuận theo tờ tấu của Bộ Công, cho nạo vét lại dòng sông.
– Niên hiệu Kiến
Phúc năm thứ 1 (1884), Vua cho nạo vét giòng sông cũ (cựu Vĩnh Định hà) đoạn qua
các làng Câu Hoan, An Thư, An Thái vì sông cũ bị bồi lấp nhiều, không
khơi thì ruộng bị nước ngập, dân bốn tổng ấy xin xuất tài lực, thẳng khơi một
đoạn ở hai xã Kim Lung, Kim Giao, lược vét một đoạn từ xã Kim Long đến xã Hội
Yên đều cho phép làm để tiện việc cấy ruộng mùa.
– Năm 1897, vua Thành
Thái cho nạo vét lại sông, đoạn từ làng Đồng Dương, Diên Khánh, Kim Giao thuộc
xã Hải Dương qua thôn Kim Long, Đơn Quế, Hội Yên thuộc xã Hải Quế, đến Đa Nghi,
xã Hải Ba nhằm khai thông sinh thái và môi trường khu vực này, vốn bị thiệt hại
sau hơn 70 năm từ khi có sông đào 7.5 km, như đã nêu trên.
Tưởng
cũng nên biết rằng trong số 8 con sông đào trong thời gian 30 năm đầu của ba triều
vua nhà Nguyễn, có ba con sông được đặt tên đầu bằng chữ Vĩnh, ngụ ý mong muốn về
lâu dài là:
– Kênh Vĩnh Tế, dài 90 km, nối Châu Đốc và Hà Tiên, được đào năm 1819, thời cuối triều vua Gia Long.
– Sông Vĩnh Điện
dài 12 km từ đầu ngã sông (xem không ảnh) Thu Bồn đến cầu Tứ Câu, xã Điện Ngọc.
Vua Minh Mạng cho đào vét, nới rộng 2 lần (1822, 1824), khơi thông dòng từ Câu
Nhí đến Cẩm Sa, dài 1.647 trượng, tức khoảng 7.7 km, để thông nước 2 hệ thống
sông Thu Bồn và sông Vu Gia.
– và sông Vĩnh
Định .
Hiện tại
trong các bài viết về tỉnh Quảng Trị, có tác giả Lê Quang Thái, trong bài "Quảng
Trị ơi, đất sao đất lạ lùng" đăng trên tạp chí Cửa Việt (2014), viết:
…”Tháng tư năm
Ất Mùi, Minh Mạng năm thứ 16 (1835), nhà vua ngự từ kinh đô ra hành cung trong
thành Quảng Trị bằng đường thủy. Từ Huế theo sông Hương, sông Gia Hội ra Phá
Tam Giang rồi theo sông Vĩnh Định đến sông Thạch Hãn.
Vua bảo với các
quan hầu rằng: “Ngày trước ta đi thuyền đến địa phận xã Ngô Xá, trông thấy một
người đàn bà già, sai hỏi tuổi thì người ấy nói rằng đã 117 tuổi, chưa biết có
xác thực hay không, nhưng đại phàm người chỗ mạch đất núi sông thanh tú thì phần
nhiều thọ, hoặc già cũng có lý đấy”…
Nhân dịp này, nhà vua bèn sai đẩy xe đi xem tường thành mới xây đắp, thấy các kỳ lão thuộc hạt
Quảng Trị đang đứng đón để chiêm bái. Các cụ già có người đi chậm không theo kịp,
khiến các bậc quan phủ huyện phải cõng các bậc trưởng lão đi.
Vua Minh Mạng
có óc hài hước lại có tính hay giỡn như vua cha vậy. Nhà Vua liền cười duyên và
nói rằng: “Lũ ấy ngày thường làm cha mẹ dân, nay cõng người già đến chiêm bái
thì hầu như con của dân rồi!”
Trong bối cảnh
lịch sử kỳ thú này, thì có sự trùng phùng của “Dân chi phụ mẫu” với “Phụ mẫu
chi dân” mà bình thường hay nhầm lẫn.”…
Theo dòng lịch sử, các cuộc chiến trên dòng sông Vĩnh Định được ghi nhận như
sau :
– Năm 1470, vua
Lê Thánh Tông mang quân chinh phạt Chiêm Thành, bị quân Chiêm Thành phục kích tại
Cổ Lũy, thuộc cựu Vĩnh Định Hà.
– Tương truyền, năm 1572, danh tướng nhà Mạc, Lập Bạo, bị chúa Nguyễn Hoàng lập kế bắt tại bờ sông Thạch Hãn, bên làng Ái Tử. Lập Bạo đã nhảy xuống sông, lặn từ đây đến làng Vân Trình, tỉnh Thừa Thiên, nhưng cũng không thoát khỏi bởi chim trảo trảo bay theo phát giác và bị bắt. Từ đó, Chúa cho lập miếu trảo trảo.
– Cuối
bán thế kỷ vừa qua, sau cuộc hành quân Sauterelle năm 1952 (trận Thanh Hương) đến
Camargue của quân đội Pháp trong chiến tranh Đông Dương chống lại Trung đoàn
95/QT từ ngày 28 tháng 7 đến ngày 10 tháng 8 năm 1953 trên đoạn đường tỉnh lộ
68 cũ hay là quốc lộ 49C hiện nay, dọc theo sông Vĩnh Định dài khoảng 10km, bắt
đầu từ làng Vân Trình, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên qua giao điểm quốc lộ
49B và 49C hiện nay, cho đến làng Cổ Lũy, xã Hải Ba và giao tranh dữ dội nhất
là tại làng Đơn Quế, xã Hải Quế mà ký giả nổi tiếng Bernard Fall, khi đó
là phóng viên chiến trường, đã đặt tên là Con Đường Buồn Thiu (La Rue Sans Joie), và cũng tại đây 14 năm sau, tháng 2 năm 1967, Bernard Fall tử thương vì dẫm
phải mìn trong cuộc hành quân Operation Chinook II của quân đội Mỹ.
Con Đường Buồn Thiu (dài khoảng 10 km) năm 1953 và Đại Lộ Kinh Hoàng (Highway of Horrors) khoảng 9 km, từ cầu Trường Phước đến qua cầu Bến Đá năm 1972 là những nghiệt ngã trong chiến tranh Việt Nam mà dân Quảng Trị đã phải hứng chịu trên địa bàn của sông Vĩnh Định, sông Nhùng và sông Bến Đá.
Các sự kiện diễn
biến cuộc sống của cư dân trên vùng đất này là đề tài âm nhạc được sáng tác như, nhạc
sĩ Nhật Ngân có viết bài Con đường buồn thiu, là đoạn đường sinh tử, chết
chóc, đau buồn, trong chiến tranh Việt - Pháp năm 1953.
Nhạc sĩ Hoàng
Thi Thơ viết bài Đưa Em Xuống Thuyền (do Ái Vân, con dâu làng Xuân Dương, hát)
theo lời kể của ông, mô tả đám cưới người anh của nhạc sĩ vào đầu thập niên 40
thế kỷ vừa qua, thuyền rước dâu trên dòng Vĩnh Định, từ làng Thi Ông, Hải Lăng
đến làng Bích Khê, Triệu Phong.
Hệ thống sông ngòi tỉnh Quảng Trị gồm 7 sông, nhưng quan trọng hơn cả là hệ thống
sông “Bến Hải-Thạch Hãn-Ô Lâu” chạy dọc theo chiều dài tỉnh từ sông Ô Lâu
tới sông Sa Lung (huyện Vĩnh Linh). Các thế kỷ trước, là thủy lộ từ kinh đô Huế
ra Bắc, ngắn và an toàn hơn đường biển.
Sông Vĩnh Định nối sông Thạch Hãn và Ô Lâu chảy vô phá Tam Giang,
nhánh phụ sông Vĩnh Định cũng nối sông Thạch Hãn(và sông Hiếu) đổ ra biển Cửa
Việt, sông Cánh Hòm nối sông Hiếu và sông Bến Hải là thủy lộ thuận tiện hàng đầu
từ thế kỷ 19 trở về trước, trục thị tứ sầm uất thời kỳ này là chợ phiên Cam Lộ,
thị xã Quảng Tri, chợ Sãi, chợ Ngô Xá, rồi đến Chợ Sịa, chợ Bao Vinh thuộc tỉnh
Thừa Thiên.
Dĩ nhiên, so với sau này ở giữa thế kỷ 20, khi khoa học kỹ thuật phát triển,
với xe hơi, xe lửa, đường hàng không, thì vai trò vận chuyển bằng đường thủy,
trên sông ngòi khắp mọi miền đất nước trở nên yếu kém hơn, không riêng gì trên
thủy lộ. Nhưng thử nghỉ, tự hằng trăm năm trước, cho đến khi Quốc lộ 1 được người
Pháp cho làm từ năm 1918, thì con đường bộ Nam-Bắc là con đường Thiên lý, con
đường cái quan nhỏ hẹp băng qua những vùng ít dân cư, lắm thú dữ, và chưa có xe
cộ, thì rõ ràng vai trò vận chuyển trên đất liền bằng đường sông là chiếm ưu thế
và tiện dụng.(Hình bên: Quốc lộ 1A trước năm 1918 khi chưa làm, chỉ là con đường
cái quan thiên lý). Cũng vậy, đường xe lửa Bắc-Nam từ Hà Nội đến Sài Gòn dài 1.730 km, chạy dọc theo Quốc lộ 1, hoàn thành và được đưa vào sử dụng vào năm 1936.
Sông Vĩnh Định không chỉ là nguồn nước chảy, mà còn mang theo cả tinh thần cuộc sống của cư dân hai bên bờ. Tiếng chuông chùa ngân nga buổi
sáng, vang vọng kinh cầu buổi chiều tại các giáo đường, tiếng hát câu hò trên
đò doc, hay tiếng đập loong coong xúc cá của vạn chài... là những kỷ niệm êm đềm
vốn có và là tưởng niệm muôn đời của những ai đã từng sinh sống tại đây. Tính từ năm 1825 đến nay đã 196 năm, thế hệ Baby Boomers sinh sau Thế chiến thứ 2, đặc biệt được chứng kiến sinh hoạt cùng các cư dân, làng mạc dọc theo dòng sông Vĩnh Định rõ nét cùng hoài niệm dòng sông đã mất bởi công trình thủy lợi Nam Thạch Hãn, trong ngậm ngùi tiếc nuối một thời, một đời.
Công trình dẫn thủy nhập điền đập Trấm năm 1977 rất đáng được ghi nhận, tuy thế, việc ngăn chặn dòng chảy của sông Vĩnh Định tại đập An Tiêm và Ba Bến là một thiếu sót khoa học kỹ thuật chuyên môn và công tác dẫn thủy nhập điền, trị thủy của gần nửa thế kỷ trước là do điều kiện khó khăn tạo nên như thế. Nay
tình thế đã khác, thiết nghĩ cư dân hai bên bờ sông cùng chính quyền sở tại, nên
có các cuộc thảo luận, trao đổi để đi đến quyết định chuyên môn là, điều chỉnh đập An Tiêm và Ba Bến, điều hòa lưu lượng nước, khơi thông giòng chảy, nạo vét
giòng sông… giải quyết môi trường môi sinh khu vực, phát huy chức năng cũ của
giòng sông về kinh tế, văn hóa, xã hội, y tế… tránh thảm họa lũ lụt, thoát khỏi
dịch bệnh do ô nhiễm, tái tạo sinh thái hai nhánh phụ và chính của sông Vĩnh Định
với hơn 100.000 cư dân sinh sống tại đây. Vấn đề là kinh phí, nhưng có thể xin
thêm các quỹ quốc tế tài trợ nếu tự túc còn thiếu và điều này không khó. Hạ một cây che bóng mát đã là một điều bất nhẫn, huống chi là ngăn chặn một dòng sông. Cứu
lấy dòng sông là cứu lấy chúng ta.
Và nếu
được như thế, hãy tưởng tưởng một ngày nào đó, thử ngồi thuyền máy theo
tours du lịch Quảng Trị, đi từ mạn Nam tỉnh nhà tại làng Xuân Viên bên sông Ô
Lâu, theo giòng Vĩnh Định, đổ qua sông Thạch Hãn, ra sông Hiếu, vượt sông Cánh
Hòm, đến sông Bến Hải, theo giòng Sa Lung, dừng chân ở Hồ Xá, huyện lỵ Vĩnh
Linh… chúng ta như được sống lại cùng tổ tiên từ hằng trăm năm về trươc, nhất
là từ khi chúa Tiên Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất Thuận-Quảng tại Ái Tử
năm 1558, mở đầu công cuộc Nam tiến.
Xin ghi chú thêm rằng, cùng mục đích bài viết này là, để điều chỉnh các
sai lệch thuộc tài liệu về sông Vĩnh Định vốn có trong sách vở và trên
internet, đặc biệt hiện nay, vì tam sao thất bổn trong suốt thời gian dài 196
năm, đồng thời cũng là để tưởng nhớ những em bé bơi lội, các bà chị, bà mẹ
giặt giủ bên sông, các bác nông phu ra đồng sau ngày cày cấy, ra bến sông tắm rữa,
bầy trâu mẹp, làn hơi nước tỏa trên sông buổi sớm, âm vang tiếng hò lãng đảng
trong đêm trăng… cứ thế, qua nhiều thế hệ xưa nay… từ đó, rất mong muốn được mọi
người, mọi giới đặc biệt các sinh viên tỉnh nhà, nếu có dịp nên viết, làm luận
văn tốt nghiệp về đề tài này, để xem xét lại, hoàn thiện và quy củ hơn chủ đề
Khơi Lại Giòng Sông Vĩnh Định, bảo đảm môi trường môi sinh và sinh thái vùng đất
của lòng người, trong lòng lịch sử, thì không có gì quý hơn. Đa tạ.
Boston, ngày 9 tháng 3 năm 2021
Trương Thúy Hậu
Chép từ FaceBook Nguyễn Chơn Viễn
và thay đổi tên bài.
Ảnh: Dòng sông Vĩnh Định đoạn chảy
qua xóm Miệu - làng Ngô Xá Đông- xã Triệu Trung- huyện Triệu Phong- tỉnh Quảng Trị
(nay là làng Ngô Xá Đông- xã Triệu Cơ- tỉnh Quảng Trị). Nguyễn Chơn Viễn chớp
năm 2021.
Đọc thêm:
https://xanhx.vn/tin-tuc-noi-bat/vinh-dinh-dong-song-khong-chi-co-phu-sa-45794.html

No comments:
Post a Comment