Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, May 27, 2022

THI CA & THI NHÂN NHÃ MY – Khanh Tương và Chu Vương Miện


Nhà thơ Nhã My

Tiểu sử sơ lược:
Tên thật Lâm Thị Ngọc Sương
Sinh năm 1953
Quê quán Bến Tre
Nhỏ học trường Trung Học Công Lập Kiến Hoà
Học đại Học Sư Phạm Cần Thơ và Văn Khoa SaiGon
Thời nhỏ ở bậc trung học có tập tành viết văn,làm thơ đăng trong báo thiếu nhi và báo văn nghệ ở Saigon với nhiều bút hiệu.
Sau năm 75 gặp nhiều biến cố gia đình và vì việc làm ăn sinh sống nên ngưng viết.
Xuất cảnh sang MỸ năm 1997 và tới năm 2010 viết trở lại trên blog cá nhân SuongLam yahoo .blog vói 2 bút danh Nhã My & Sương Lam.
Đã in:
KHUNG KỶ NIỆM (Thơ chung với bạn blog 2012)
KHƠI XA (Thơ 2014)
Có 75 bài thơ đã được phổ nhạc (do quý nhạc sĩ Phan Ni Tấn ,Trần Quang Lộc,Vĩnh Điện, Nguyễn Hữu Tân,Phạm Minh Cảnh, Thảo Nguyên,Bùi Tuấn Anh, Thanh Chương, Trần Nhàn, Thái Thành...)
Sau năm 2014 vì lý do sức khoẻ và công việc nên ngưng viết chỉ thỉnh thoảng xướng hoạ với bạn bè và đăng bài trên các trang văn nghệ mạng và vài tờ báo văn nghệ hải ngoại (Thư Quán Bản Thảo, Thế Giới Mới, Văn Học Mới..)
Hiện sinh sống ở Washington là chủ trang Blogspot của Nhã My và 2 trang riêng Thơ Văn Nhã My, Thơ Phổ Nhạc Nhã My.

 

 
NHÃ MY, THI CA & THI NHÂN
Khanh Tương và Chu Vương Miện thực hiện
 
“Khơi Xa” là thi phẩm đầu tay của nhà thơ nữ Nhã My, đựợc Nhà Xuất Bản Văn Học ấn hành vào ngày 30 tháng 12 năm 2014, phần mở đề giới thiệu tác phẩm là nhà thơ Nguyễn Khôi, vị thi nhân lão làng cuả thời hiện đại bây giờ, ông viết:
 
“Về nghệ thuật, Nhã My làm thơ thuộc diện “người có tuổi, nghệ có nghề, một thứ thơ bàng bạc, lãng đãng và một chút ly tao của một thoáng ‘trung niên thi sĩ’ Bùi Giáng của một lớp thi nhân đầy nữ tính, để cho tình mãi mãi không phai, sầu muộn mà không bi luỵ hồn thơ chân thật tình đời, lỡ tình nhưng không hận tình… tất cả chỉ còn ‘hoài niệm’ những nét vàng phai thương nhớ.
Thơ Nhã My ngôn ngữ tinh luỵện cổ phong với những hình tượng đẹp , thể loại đi với ý thơ luôn mới để tạo ra tứ lạ “ mỗi bài một kiểu  , một giọng điệu khác nhau “ nên đọc không nhàm chán.”
                                          
Góc thành Nam Hà Nội, 27 /08/ 2014                                     
Nguyễn Khôi                                                      
(Nhà văn Hà Nội)
 
Thi sĩ Bùi Khánh Đản trong giai phẩm Văn Hoá Ngày Nay của cố văn hào Nhất Linh xuất bản ở miền Nam khoảng năm 1958 có làm 2 câu thơ Đường Tàu tuyệt vời tả về Hoa “nhất là hoa lan”
 
Tụ kết tinh anh của gió sương
Muôn mầu muôn vẻ thoảng muôn hương
                                    (Bùi Khánh Đản)
 
Chỉ cần 2 câu thất ngôn mà diễn tả đầy đủ về các loài hoa không thừa và cũng không thiếu một chữ nào. Thơ của Nhã My có thể tạm chia ra làm hai loại “thơ Tình và thơ Thiền”, chuyện cũng không có gì là lạ, là con ngừơi thì đương nhiên là phải có tình, trước nhất là tình người, tình nam nữ, tình quê hương, tình nhân loại…
Chúng tôi tạm lược qua thơ “Khơi Xa” và trích những đoạn thơ tiêu biểu:
 
Em lạc mấy mùa trăng cố xứ
Hồn đi hoang lữ thứ xa đưa
Nhớ thương một mái nhà xưa
Bên hiên tiếng võng mẹ đưa trĩu lòng
 
Trời viễn xứ buồn trông quê cũ
Để nỗi buồn ủ rủ chiều mưa
Đâu rồi một tiếng gá trưa
Gáy bên hàng dậu lưa thưa bồi hồi
              (Trích Khơi Xa trang 32)
 
Lời thề buổi ấy còn mang nặng
Nhưng đủ buộc đời ta nhớ ta
Mười năm chẳng thể dài hơn nữa
Mà ngắn bao nhiêu ước mộng đầu
 
Ta gói thời gian trong lớp bụi
Đã màu rêu úa lạnh đời nhau 
(Trích Mười Năm trang 37-38)
 
Người đi một bóng bơ vơ
Người về nghẹn với câu thơ ngậm ngùi
Từng đêm đếm giọt buồn rơi
Từ xa độ ấy nửa trời ngóng trông
                  (Trích Nợ - trang 47)
 
Đời chia đôi ngả tình không hẹn
Một bến sông Tương nhớ não lòng
Mưa qua định mệnh buồn day dứt
Ta phụ nhau rồi em biết không …?
 
Người ở đầu sông ngóng cuối sông
Hẹn nhau mà có được tương phùng
Tóc xanh đã nhuốm mầu mây bạc
Và ánh mắt sầu tiếc mông lung
 
(Trích Ta Phụ Nhau Rồi cảm tác bài
Đêm Trắng của Hoàng Yên Linh trang 118)
 
Đọc đoạn thơ trên, ngừơi viết chợt nhớ tới bài thơ “Tình Sử 2” tác giả Vô Danh Thị trong Cổ Văn Quan Chỉ Trung Quốc có 4 câu như sau:
 
Quân tại Tương Giang đầu
Thiếp tại Tương Giang bán
Cùng nhậm thủy Tương Giang
Thiếp chàng cùng khố nạn
 
Tạm dịch:
 
Chàng ở đầu sông Tương
Thiếp ở giữa sông Tương
Cùng uống nước sông Tương
Cả hai cùng lạc bạn
(Bản dịch của M.Loan Hoa Sử)
 
Ôi cái nghề và cái nghiệp, cái Nghề thì còn kiếm ra tiền để nuôi thân và gia đình, còn cái Nghiệp thì chỉ báo hại báo đời, chả đựợc cái tích sự gì ? y như thơ cụ Tú Xương:
 
1 trà 1 rượu 1 đàn bà
3 cái lăng nhăng nó quấy ta
Chừa được thứ nào hay thứ ấy ?
có chăng chừa rượu với chừa trà
                 (Thơ Trần Tế Xương)
 
Nói về cái Nghiệp, chúng tôi xin kể một câu truyện ngắn của nhà văn Phan Văn Tạo, vị này viết rất khá, nhưng không có duyên với chữ nghĩa, nên rất ít ngừơi quan tâm và đề cập tới sự nghiệp viết lách của ông, cốt truyện như sau đây đã được đăng trên tờ Bách Khoa không rõ năm nào tháng nào và số nào ?
 
Có một vị trung niên không rõ là nhà giáo hay công chức, khi không dở chứng mần văn chương, ngoài giờ làm việc nhà nước, về nhà giải quyết ba cái linh tinh lang tang như tắm rửa cơm nước thì ngài vào phòng riêng  trứ tác ‘viết văn’, bà vợ thì rất trân trọng cái nghề viết lách cao quí này của ông chồng, nên khi thấy ông ngồi xuống bàn viết thì bà lo quạt cho ông mát , pha trà cùng cà phê, để ông bồi dưỡng , mua thuốc lá cùng bật diêm để ông hút thuốc, Lâu lâu còn đấm lưng cho ông ‘thư dãn nở’, bà có bổn phận chép tay lại bài truyện ngắn của ông, rồi đưa ông đọc lại, xong ông gật đầu thì bà theo địa chỉ tờ nguyệt san giá trị nhất thời bấy giờ là tờ Bách Khoa, rồi gửi bài đi, cả nửa năm không thấy đăng gì cả. Bà sốt ruột viết một bức tâm thư gửi cho ông chủ bút là nhà giáo Lê Ngộ Châu nội dung như sau:
 
“Thưa Ông chủ bút nguyệt san Bách Khoa, tôi là vợ của nhà văn chưa lừng danh và cũng chưa từng được đăng báo nào cả, ngày ngày ông chồng tôi viết văn thì tôi lo quạt cho ông mát, đấm lưng bóp chân, nấu nước pha trà cùng cà phê để ông uống. mua thuốc lá cho ông hút, nhưng những bài của ông sáng tác gửi đi các báo, chưa có tờ nào đăng cho cả, có một điều thực lòng xin được trình bày cùng ông chủ bút, nếu có gì sai phạm mong ông thứ lỗi cho, xin hỏi một Trang Quảng Cáo của quí báo giá là bao nhiêu ? một truyện ngắn của chồng tôi khoảng 10 trang, tôi xin bỏ tiền ra chịu chi phí ‘cứ coi như là đăng quảng cáo, cáo phó ma chay hiếu hỷ...’ Trân trọng kính chào ông chủ bút.”
 
Một tuần sau thì bà nhận được một thư hồi âm cùa toà báo:
 
“Tôi là chủ bút Lê Ngộ Châu trân trọng phúc dáp thư của bà đề ngày… chúng tôi rất cảm động cái chân tình của bà dành cho ông nhà, nhưng theo ý tòa soạn thì chính bà mới là nhà văn, nếu bà cho phép thì chúng tôi sẽ cho đăng bức thư của bà gửi cho chúng tôi, vì chính bà mới thực sự là nhà văn, còn ông thì chưa phải, nếu bà có bài đăng trên tạp chí của chúng tôi, chúng tôi sẽ gửi tiền nhuận bút đến bà.
 
Kính thư Lê Ngộ Châu”
 
Trở lại thơ thoát tục, thanh thoát bước đầu của thơ Thiền, xin điểm sơ qua những đoạn thơ này của Nhã My:
 
Vách trời mờ mây phủ
Lối nhỏ uốn lên đường
Em về chiều thu vắng
Chim vạc buồn kêu sương
 
Từng hàng cây trút lá
Vàng bay trong gió đưa
Cung đàn rơi huyền hoặc
Âm thầm vọng xa xưa
 
Lang thang chân em bước
Thinh lặng bóng chiều mưa
(Trích Chiều Thu trang 16)
 
Mai kia rồi cũng phù vân
Mây bay đầu núi tần ngần ngó theo
Gập ghềnh mấy nẻo cheo leo
Dốc đời lên xuống mộng treo lá vàng
 
Gió đưa một trận phũ phàng
Lá rơi hoa rụng sầu mang kiếp người
Thì thôi ôm lấy nụ cười
Chôn trong những lối cuộc đời mà vui
(Trích Phù Du trang 45 -Tặng chị Hạt Cát)
 
Sách nằm hờ hững trên tay
Lật trang nhân thế tháng ngày phù d
Gối tranh cát bãi sa mù
Trắng mây một cõi phù du đi về
(Trích Sách trang 58)
 
Biết còn gì nữa hôm nay
Đôi tay nào víu viễn hoài mông lung
Sóng đưa lớp lớp nghìn trùng
Hỏi người xa có tương phùng người xa 
(Trích Hư Không trang 59)
 
Cô liêu bãi vắng biển chiều
Xa xăm sóng vỗ đìu hiu cuối bờ
Hồn tôi hạt cát hoang sơ
Lời trăm năm đã bây giờ phôi phai
(Trích Đoản Khúc Cô Liêu – trang 73)
 
Chiều xa người đã đi rồi
Lòng tôi con nước cuối đời vẫn trôi
Em giờ bờ vắng đơn côi
Tình trăm năm có đắp bồi đủ không ?
(Trích Chiều Xa – trang 77)
 
Bên trời viễn xứ loay hoay
Mù xa cố lý trắng mây nghìn trùng
trông vời một cõi mông lung
biển xanh thuyền nhỏ chập chùng sóng đưa
nghe từ trong giấc mơ xưa
tiếng ru của mẹ giữa trưa giọng buồn
(Trích Cố Lý – trang 99)
 
Những bài thơ phần sau thơ Tình, mượt mà thanh thoát và âm điệu cũng du dương trầm bổng tư tưởng cũng thoáng đạt, ở đây bài “Thi Ca Thi Nhân” chúng tôi chỉ là M.C giới thiệu chung chung về tác giả thơ hoặc văn,  ca sĩ  với nhạc sĩ, trước quần chúng để những nghệ nhân này biểu diễn “hoặc trình bày” sự thành công bao nhiêu, là tuỳ mỗi nghệ nhân, quần chúng sẽ đánh giá thấp cao về chất lượng, chúng tôi không làm việc này, cho sự giới thiệu nhà thơ Nhã My được vô tư và công bằng.
 
Và để kết thúc bài viết này chúng tôi mượn lời Bạt của nhà thơ Kha Tiệm Ly:
 
“Tóm lại nếu gác ra ngoài dăm ba bài thơ chủ đề khác, thì Khơi Xa là một chuyện tình buồn. Nó mượn tay tác giả để thành những vần thơ ai oán não nùng !…. Lời Bạt này chúng tôi chỉ viết theo sự nhận xét kém cỏi của mình. Có điều gì không mãn ý, xin quý bạn đọc xem qua với lòng độ lượng”
 
Xếp tập thơ Khơi Xa của nhà thơ Nhã My lại, chúng tôi có nhận xét cá “thịt” nhân như sau:
 
“Phần vào đề thì nhà thơ lão làng Nguyễn Khôi và phần cuối tập thì nhà thơ cao ngạo Kha Tiệm Ly, hai cây bút đều thuộc vào loại “một cây xanh rờn” chỉ có thua Cọp.
 
Ôi cái văn nghệ văn gừng, là làm dâu trăm họ, ở cái cõi đời ô trọc này dễ gì kiếm được người tri âm “tri dương” tri kỷ, tài danh như vua cổ Thất Huyền Cầm Bá Nha mà cũng chỉ có  một người bạn tri âm là Chung Tư Kỳ, đến khi Chung Tử Kỳ qua đời thì Bá Nha đàn lần chót trước mộ Tử Kỳ rồi đập cây cổ cầm trên đá không bao giờ đàn nữa ?
 
Cuộc đời nước chảy huê trôi, vốn bạc bẽo, xe trước xe sau đều đi vào con đường cụt, vừa phù du vừa phù vân, nhưng đã là dòng sông thì phải chẩy thế thôi ?
 
Khanh Tương & Chu Vương Miện

 
PHỤ LỤC THƠ NHÃ MY

 
BUỒN
 
buồn, ngơ ngác thả theo chùm mây lạc
phố lên đèn những đóm đỏ, đóm vàng
tay run rẩy chạm từng vùng ký ức
thơ vụng về theo con chữ lang thang
 
mây thì trắng và hồn đau cũng trắng
gió trùng phương có ngừng lại nơi này ?
em huyền dịu ẩn chìm bờ mộng mị
ta vói tìm đau đáu mấy màu trăng
 
buồn, lặng lẽ dối mình như chẳng biết
em vô tình như con nước êm trôi
chiều tản mạn bến bờ xưa heo hút
nước vẫn trôi biền biệt nhánh sông đời
 
ta cứ hỏi biết em về phương ấy
lối mù xa còn đọng chút ân tình ?
hay cứ để dư âm lời thương nhớ
vọng tiếng buồn ta nghiêng ngả hư hao
 
 
HÔN PHỐI
 
Cuối cùng rồi cánh bướm cũng cắn xuống ngực hoa
Gió cuốn mênh mang sương mềm mỏng ướt
Trăng mơ màng soi nửa trời hẹn ước
Hoa bàng hoàng
Lời tình yêu mật ngọt
Trời đất chơi vơi
Ngày cõng bình minh sao trở về quá vội
 
 
NHAN SẮC
 
Đã chắc gì lụa mỏng hơn da em
Màu nguyệt bạch của trăng non vừa mới chiếu
Đã chắc gì hương cỏ hoa thơm hơn mái tóc mềm
Đã chắc gì những sắc màu hội họa
Khi người họa sĩ tài hoa dùng để vẽ nên bức tranh tố nữ
Thì màu xanh không bằng mắt em
Màu hồng không sánh được đôi má thẹn thùng ửng thắm
Màu đỏ không mộng bằng màu của đôi môi
Em hiển hiện
Trong tình yêu của anh
Là dung nhan hoàn mỹ nhứt
 
 
HẠNH PHÚC
 
Em xỏa tóc
Đùa mùa xuân gió nhẹ
Anh đêm về
Khẻ động giấc mơ hoang
Ai miên man trong tiếng nhạc thơ
Vòng tay ấm
Cho đông về bớt lạnh
Nghe rất khẽ
Ôi mùa yêu đang chậm
Ôi làn hương ngây ngất thoáng qua
Hương tình yêu vừa nở nụ hoa
Tình không đợi
Nghĩa là tình rất mới
Anh không chờ giữa cuộc đời đau
Em không ngờ tình đến với nhau
Như hạnh phúc bên bờ khát vọng
Em xa lạ
Và anh xa lạ
Hai cuộc đời chia mấy chờ mong
Hai cuộc đời hai nhánh của dòng sông
Bờ hạnh phúc nay nối về một bến.
 
 
TÌNH QUÊN (2)
 
Nghe loáng thoáng lời ru của gió
Chiều dịu dàng sau những cơn mưa
Tháng năm cũng lam nham mùa gặt dở
Ta tìm gì sau những cơn mơ
 
Đời lang bạt mấy vòng đua định mệnh
Tới rồi lui như những trò đùa
Bao ngày tháng trượt dài trên vội vả
Ta còn gì sau những cuộc vui
 
Đốt lửa lên tình chưa chịu cháy
Nhịp đập xa xưa trong trái tim buồn
Ta còn lại gì khi thời gian đã khép
Lời thề đong đưa trong cuộc tình quên...
 
 
VỌNG TÌNH
 
Sao rụng chờ bình minh đến
Sương còn mấy hạt rơi rơi
Cơn gió lay lay ngọn nến
Tình hồng sót lại chưa vơi
 
Vạt trăng khều lơi giấc ngủ
Mộng về phủ kín chăn đơn
Lá lay gọi hồn mùa cũ
Kèo nài nỗi nhớ xa hơn
 
Sợi tình theo mưa vừa rụng
Buồn tìm đoạn đứt mang theo
Không gian hốt nhiên đứng sụm
Bên trời mây lặng trăng treo
 
Đèn vẫn chong đêm đợi sáng
Lời ca da diết chưa ngừng
Lỡ mai tình nồng đã cạn
Vấn vương chiếc bóng lưng chừng
 
Bên hiên lao xao tiếng lá
Mơ màng dáng ngọc xa xưa
Thẹn thùng hỏi ai vàng đá
Ngàn năm tình vẫn như đùa
 
 
BÀI THƠ VIẾT LẠI
 
bốn mươi năm vẫn nhớ lời
câu thơ mùa cũ một thời dấu yêu
hoàng hôn nhuộm nước sông chiều
trên không gió giật cánh diều đã xa
bốn mươi năm cũng là ta
 nước xuôi, bèo dạt – nguồn xa chưa về
quê hương biền biệt phương trời
bâng khuâng một mảnh trăng thề gầy hao
bốn mươi năm tưởng ngày nào
tóc xanh đã bạc lạc vào bến mê
bóng mây trôi dạt chiều quê
cánh chim viễn xứ bốn bề bơ vơ...
 
 
BỎ
 
Rồi ta bỏ kiếp sống này
Bỏ thân ốc mượn bỏ đời trầm luân
Áó bay đã khuất tầm nhìn
Còn chăng kỷ niệm chút tình hợp tan
 
MỘNG
 
Đêm qua mộng bỗng bàng hoàng
Thấy em áo mỏng lụa vàng năm xưa
Thấy buồn em đứng trong mưa
Mắt nai khóc cuộc tình vừa đổi thay
 
 
XƯA
 
Chiều xưa áo ấy còn bay
Mà nay trăng khuyết đã thay bóng người
Chiêm bao nghe vọng tiếng cười
Nhớ liu xiu bóng khóc đời buồn tênh
 
 
SAY
 
Rượu sầu mà uống sao quên
Người đâu mà nhớ mà quên hỡi người
Say cho suốt một kiếp người
Cho tan hình bóng áo bay hảo huyền
 
 
VÔ ĐỀ
 
Vầng mây bay
nhẹ khối hồng
Bèo trôi theo nước
phiêu bồng phù sinh
Trăng tàn khuất nẻo bình minh
Cánh chim ước hẹn đăng trình ngàn xa
Biển dâu mọt kiếp ta bà
Vẫn nương tục luỵ
lơ là chân như
Giấc khuya nghiêng lắng
trầm tư
Quay lưng
trễ bước nhiệm từ vô biên!
                                 
READ MORE - THI CA & THI NHÂN NHÃ MY – Khanh Tương và Chu Vương Miện

CÕI LẶNG – Thơ Tịnh Bình


 
                 Nhà thơ Tịnh Bình


CÕI LẶNG
 
Im hơi cõi lặng mông mênh
Tiếng gà gọi sáng vang lên đỉnh ngày
Càn khôn như tỉnh như say
Công phu sớm... hồi chuông lay giấc thiền...
 
Nghe từng hơi thở uyên nguyên
Dẫn ta vào mộng như nhiên ban đầu
Vẳng trong tàng thức chìm sâu
Một bờ sương khói phơi màu trăng xưa
 
Đợi người... Người tỏ lối chưa?
Sông mê bao lượt đò đưa phận đò
Mùa đi lá rụng nằm co
Bay im một nắm tàn tro cuối chiều...
 
TỊNH BÌNH
(Tây Ninh)
 
READ MORE - CÕI LẶNG – Thơ Tịnh Bình

Thursday, May 26, 2022

BÊN ĐỒI CÁT HƯNG LONG - Chùm thơ Lê Thanh Hùng

Nhà thơ Lê Thanh Hùng

 

Bên đồi cát Hưng Long 


Khắc khoải nắng tràn qua đồi cát trắng

Rớt lại triền thung, tiếng cười trẻ trung

Mênh mông quá, một không gian tĩnh lặng

Em quay ngang vướng víu nét ngượng ngùng


Đôi chiền chiện giằng co em, tiếng hát

Lẫn khuất bóng chiều, đang chầm chậm rơi

Xa xa phía Bàu Tây, nhuôm nhuốm bạc

Rừng đã chuyển mùa, lá đổ chơi vơi


Vạt nắng chiếu trên mặt bàu lấp lóa

Một chấm đời, trong cát trắng mênh mông

Ngày đã cạn rồi, “này người tình nhỏ”

Phiêu lãng trôi mây nhắn gửi gì không?


Trời tháng sáu đã ướp hương ngày cũ

Trãi đường xa, hoa cỏ rợp non tơ

Mây tứ xứ chiều nay về hội tụ

Cho một người đứng ngắm, cười bâng quơ


Khu du lịch vẫn còn hoang sơ lắm

Bao phận đời đang lao nhọc mưu sinh

Em hồn nhiên trong bóng chiều đổ chậm

Trên quê hương đang từng bước chuyển mình



Một buổi chiều ở La Bá


Nơi này năm đó gặp em

Cây dầu ba chẽ nằm bên suối này

Suối to mùa lũ nước đầy

Mắt em dò hỏi, cầm tay qua cùng

Nước trôi chân ngã, tay run

Dìu nhau từng bước qua vùng nông sâu

Bây giờ em ở nơi đâu

Bâng khuâng tôi đứng giữa cầu mới xây

Ở đây cái lạnh, sương dày 

Níu lòng tôi, buổi chia tay năm nào

Còn đây con suối rì rào

Sao không nói một lời nào với tôi

Con chim gì, kêu xa xôi

Đong đưa thảng thốt, bên đồi vọng sang

Đánh rơi một chấm thời gian

Ngẩn ngơ trong nỗi đa mang lỡ bồi

Khu kinh tế khác xưa rồi

Trẻ trung như tiếng ai cười bên sân

                                                    7/86



Hết bệnh rồi, nhưng em không ra viện


Tình nguyện chăm sóc người cùng cảnh ngộ gieo neo

Dù không học nghề y, chưa một ngày làm hộ lý


Chỉ có lòng thương người khó khăn trong dịch bệnh ngặt nghèo

Em hiểu bệnh, bởi vì em đã bệnh

Bình tĩnh, dịu dàng theo từng tiếng chuông reo…



Dòng sông cạn miệt mài trôi mãi


Chiếc cầu cong, đứng đợi đã bao năm

Trôi đâu mất hương mùa con gái


Chiều đợi hoàng hôn sắc tối đã buông 

Biết có còn thương bờ nhớ bãi

Nhắn gởi gì không? ở phía đầu nguồn


Lê Thanh Hùng

    Bắc Bình, Bình Thuận

 thanhhungmtbb@yahoo.com.vn


READ MORE - BÊN ĐỒI CÁT HƯNG LONG - Chùm thơ Lê Thanh Hùng

NÓI VỚI BẠN - Thơ Đàm Ngọc Năm

Tác giả Đàm Ngọc Năm

 

 NÓI VỚI BẠN

 

Ta cùng  trèo lên đỉnh núi 

Nhìn cầu Hàm Rồng nối hai bờ sông 

Không phải nửa đục, nửa trong 

Màu nước vẫn xanh, nối đôi  bờ nam bắc.

Thời chúng ta, cả nước cùng đánh giặc 

Bom Mỹ liên hồi, pháo từ biển suốt ngày đêm.

Anh em  mình mới chớm tuổi thiếu niên 

Tuổi đến trường ê a tập đọc

Cô giáo dạy trò qua từng trang sách 

Nhớ yêu quê hương, yêu Tổ quốc mình.

Dẫu biết rằng 

Hàm Rồng ngắn hơn Bến Thuỷ, thành Vinh

Hơn trăm mét cũng ngày đêm khói lửa.

Tôi nhắc bạn nghe để nhớ về một thuở

Đất quê mình, miền Trung…

Gan dạ lắm bạn ơi !

      

Thuận An, ngày 24 - 5 - 2022                    

     Đàm Ngọc Năm

 

  

     

READ MORE - NÓI VỚI BẠN - Thơ Đàm Ngọc Năm

THONG DONG GIỮA MIỀN HOA CỎ - Hương Thu

 



Thong Dong Giữa Miền Hoa Cỏ
Hương Thu

 

Giới thiệu tập thơ: Cát Bụi và Mùa Hương

Tác giả: Mặc Phương Tử (Tuệ Như)

 

Nguồn: Hai Bờ Giấy  - haibogiay.net


 
Cuộc sống là một dòng trôi bất định, trong đó, con người là một vật thể luôn bị cuốn hút theo dòng trô đó một cách thụ động, tuy nhiên cũng có người biết cách tạo cho mình một điểm dừng bất chợt, để có thời gian chiêm nghiệm cuộc sống, nắm bắt những khoảnh khắc tuyệt vời hãn hữu để làm đẹp thêm cảm xúc của chính mình trước thiên nhiên và sự vật chung quanh, và tôi đã bắt gặp ở nhà thơ Mặc Phương Tử những khoảnh khắc rất đẹp ấy trong tập thơ “Cát Bụi và Mùa Hương”

Như một cuộc dạo chơi thật thư thái và thong dong giữa cõi ta bà, người khách thơ ấy không một chút vội vàng, người tiếp nhận thiên nhiên bằng một trái tim đầy cảm xúc, nhẹ nhàng và ấm áp.  Người lắng nghe từng giọt thinh không đông đầy trong từng giọt sương long lanh “thơm miền sinh diệt”, ngắm những đọt nắng mới gieo thanh bình xuống cõi nhân gian, trái tim người rung động theo từng nhịp thở của đất trời, cây cỏ…
“Chòm lên hương cổ thụ/ giọt sương mai thủy tinh/ bên thềm mây tĩnh tọa/ giữa trời đất thanh bình (Nắng Mới)

 Thiên nhiên trong  “Cát Bụi và Mùa Hương” dưới ngòi bút của Mặc Phương Tử là một không gian thật tinh khôi và êm ả, êm ả như chính tâm hồn của người thơ, dẫu dòng đời với biết bao bon chen xuôi ngược. Một “Ngôi nhà cũ” đã “Nhuốm bao mùa sương gió”, trải mấy cuộc bể dâu của cuộc đời, cuộc người…vậy nhưng, chỉ cần một “Cánh hoa đầu ngõ” đã đem cả “Hương trời qua đây”. Vậy mới biết, trái tim nhà thơ ấm áp và bao dung biết chừng nào!
““Nhuốm bao mùa sương gió/ Giữa cuộc bể dâu này/Chợt cánh hoa đầu ngõ/ thoảng hương trời qua đây” (Ngôi nhà cũ)

Cuộc sống, nói cho cùng chỉ là một cuộc dạo chơi đầy trải nghiệm, đau khổ hay hạnh phúc, theo tôi,không thuộc về định mệnh, nó phụ thuộc vào quan điểm sống của mỗi con người trong cuộc nhân sinh này. Chỉ cần ta biết cất đi cái gánh nặng trên vai, cuộc sống sẽ trở nên nhẹ nhàng biết bao, và tôi đã nhận thấy điều đó qua thơ Mặc Phương Tử : Mỗi ngày mặt trời lên/ Hương ngày theo nhịp bước/Giây phút lòng mông mênh/ Sá chi điều thua được (Được, thua) Vâng! / Sá chi điều thua được bởi cuộc sống vốn vô thường. vô thường đến cả từng sát na hơi thở! “Hạnh phúc -  trăm năm chợt thoáng/ Tình đời – trăm năm chưa khuây” vậy nên thé nhân mới “Mắt xanh loạn màu đâu bể/ Gối đầu lên cuộc tỉnh say”  và giữa cõi đời với bao chìm nổi đa đoan ấy, nhà thơ vẫn thản nhiên đi trên con đường an nhiên mình đã chọn: “Vẫn ta giữa đời đếm bước/ Vẫn ta giữa đời đục trong”.

Tập thơ với 150 bài thơ được nhà thơ viết theo tám chủ để: Mùa và Hương, Tự tình cát bụi, Dòng mộng, Đường mây, Phong nguyệt,  Mùa xuân và hoa cỏ, Thời gian, Theo về và cuối tập thơ là bài “Khép”.  Khép lại những đa đoan để mở ra một không gian đầy thong dong và tự tại: “Sớm chiều nghe chim hót/ Trong nắng vàng mỏng manh/ Sớm chiều xem hoa nở/ Bên bờ cỏ thơm lành..” (Khép)

Với tôi, 150 bài thơ trong “Cát Bụi và Mùa Hương” của Mặc Phương Tử là 150 tịnh khúc, được chắt lọc từ những “Cát bụi” của dòng đời để tạo nên một “Mùa hương” tinh khiết.
Xin trân trọng giới thiệu cùng quý bạn đọc.

Cuối thu 2021
HƯƠNG THU
Giám độc trung tâm UNESCO
Nghiên cứu Văn chương Việt Nam

READ MORE - THONG DONG GIỮA MIỀN HOA CỎ - Hương Thu

EM BIẾT! – Thơ Trần Mai Ngân


 


EM BIẾT!
 
Hơn ai hết em biết mình không thể
Không thể trở về không thể ngày xưa
Anh và em hai đường thẳng không chừa
Điểm gặp gỡ là chân trời vô định
 
Hơn ai hết em biết - đừng bịn rịn
Chuyện hôm qua lạ cả chuyện hôm nay
Chia tay đuôi con mắt nối đường dài
Buồn quá thể bởi bài thơ dang dở
 
Hơn ai hết em biết - đừng bỡ ngỡ
Anh bước đi em cũng phải quay về
Mưa tháng Sáu vô tình cứ mải mê
Phong toả kín mộng hoa không còn lối
 
Hơn ai hết em biết mùa hấp hối
Một tình yêu chuyện cổ tích đời xưa…
 
Trần Mai Ngân

READ MORE - EM BIẾT! – Thơ Trần Mai Ngân

Wednesday, May 25, 2022

GỌI ĐẤNG TỐI CAO TOÀN NĂNG CỦA HỒI GIÁO LÀ “THÁNH ALLAH” CÓ SAI KHÔNG? – La Thụy


Giáo lý của Nhà tiên tri Mohammed được đặt trên nền tảng là sự mặc khải về Cựu ước.


Một số người cho rằng gọi “Thánh Allah” là sai. Bởi vì Allah là  Thượng đế và là Đấng tối cao dĩ nhiên phải cao hơn Thánh. Tiêu biểu cho ý kiến này là học giả An Chi.
 
Trích từ bài viết của  An Chi:
 
“Allah không phải là thánh. Thế nhưng có rất nhiều người, kể cả các ‘nhà chuyên môn’, cứ gọi Ngài là thánh, ví dụ như: Người phụ nữ hét lên ‘Allahu akbar’ (Thánh Allah vĩ đại) khi tấn công hai người trong siêu thị bằng dao; Tin tức, hình ảnh, video clip mới nhất về Thánh Allah vĩ đại…
Chúng tôi từng thấy trên Facebook một nữ giảng viên đại học cũng gọi Allah là thánh!
Không, Allah không phải là thánh. Ngài là Thượng đế, là Đấng Toàn Năng”

                                                                 An Chi

https://thanhnien.vn/lat-leo-chu-nghia-can-dung-tu-cho-chinh-xac-post1461088.html

*
Chúng ta thử xem THÁNH trong các tôn giáo có vị trí như thế nào?
 
VỚI THIÊN CHÚA GIÁO:
 
Từ “THÁNH” thường dùng cho Thiên Chúa, ví dụ như: thánh đường, thánh ca, thánh giá, thánh lễ, thánh kinh, thánh hóa, dân thánh, chén thánh, khăn thánh, bàn thánh...
Các từ THÁNH THIÊNG, THÁNH LINH, CHÍ THÁNH chỉ dành cho Thiên Chúa. 
Trong tiếng Anh GOD có nghĩa là Thiên Chúa, Thánh, Thần
God's book: Kinh thánh (Kinh Thiên Chúa)
 
Trong KINH LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA có câu:
“Lạy Đấng Chí Thánh là Thiên Chúa Toàn Năng Hằng Hữu, xin thương xót chúng con và toàn thế giới...”
 
Người Do Thái giáo, Thiên Chúa giáo gọi Chúa Trời, gọi Chúa Jesus là THÁNH.  

TRÍCH:
 
Đấng Thánh: (Công 3:14; Thi-thiên 16:10)—Đấng Chist là THÁNH, cả trong thần tánh và trong bản tính con người, là nền tảng của sự thánh khiết cho dân sự của Ngài. Qua sự chết của Ngài, chúng ta đã được nên thánh và được trong sạch trước mặt Chúa Trời.
 
https://www.gotquestions.org/Viet/Chua-Gie-xu-ten.html
 
Hoặc:

Thi thiên 22:3: “Còn Chúa là THÁNH, Ngài là Đấng ngự giữa sự ngợi khen của dân Ysơraên”
Thi thiên 99:3,5,9: “Nguyện chúng tôi ngợi khen danh rất lớn, đáng sợ của Chúa. Ngài là THÁNH. Hãy tôn cao Giêhôva Chúa Trời chúng tôi và thờ lạy trên núi thánh Ngài, và Giêhôva Chúa Trời chúng tôi là thánh”. Thiết tưởng không nên giải thích gì, để lời của Chúa nói thẳng với lòng của chúng ta.
Êsai 6:3: “Các Sêraphin cùng nhau kêu lên rằng: Thánh thay, Thánh thay, Thánh thay là Giêhôva vạn quân. Khắp đất đầy dẫysự vinh hiển Ngài”. Ba lần Thánh thay, Thánh thay, Thánh thay cho ba ngôi Chúa Trời hiệp nhất.
I Phierơ1:15-16: “Nhưng, như Đấng gọi anh em là Thánh, thì anh em cũng phải Thánh trong mọi cách ăn ở mình, bởi có chép rằng: Hãy nên Thánh, vì Ta là THÁNH”. Chúa Trời là Đấng Thánh đòi hỏi mỗi người chúng ta phải Thánh trong mọi cách ăn ở của mình.
Giôsuê 24:19; Êsai 5:16; 57:15; Giăng 17:11 nói Chúa Trời là Đấng Thánh. Riêng sách tiên tri Êsai có khoảng 30 lần chép “Chúa Trời là Đấng Thánh của Ysơraên”
 
https://vietchristian.com/bhkt/reader.asp?pid=,src=/ntcb/GiaoLyCanBan.txt,name=Bai,enc=2,nl=1,id=8,max=0
 
VỚI PHẬT GIÁO:
 
THÁNH có thể có sáu loại thần thông (lục thông) như thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông, thần túc thông, thần cảnh thông, lậu tận thông. Phật Thích Ca là vị ĐẠI THÁNH có đủ mười danh hiệu: Như lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ – Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, PHẬT, THẾ TÔN.
 
Phật giáo chia quả thánh làm bốn cấp độ gọi là tứ thánh quả bao gồm sơ quả Tu-đà-hoàn, nhị quả Tư-đà-hàm, tam quả A-na-hàm, tứ quả A-la-hán. Trong đó A-la-hán là bậc thánh đã thoát khỏi sinh tử luân hồi, đạt cảnh giới niết bàn. Ba quả còn lại là Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm và A-na-hàm tuy chưa hoàn toàn thoát ly khỏi sinh tử luân hồi nhưng cũng không thể bị đọa vào ba đường ác (tam ác đạo) là súc sanh, ngạ quỷ và địa ngục.
 
https://dothogiadinh.vn/phan-biet-than-tien-thanh.html?
 
VỚI NHO GIÁO:

Theo sách Trung dung thì “Thánh nhân là hiện thân của Thượng Đế”, người có những phẩm chất, đức tính cao quý của Thượng Đế. Cũng có câu rằng “Trời là ông Thánh không nói; Lời Ông Thánh là Lời Trời nói”. “Trời có nói gì đâu mà 4 mùa cứ tiếp nối, vạn vật cứ sinh hoá. Trời có nói gì đâu”.

Chương 31: Thánh Nhân là hiện thân của Thượng Đế

https://khoahoctamlinh.vn/trung-dung-tan-khao-chuong-26-thanh-nhan-phoi-thien-3216.html

VỚI HỒI GIÁO:

Kinh Qur'an trở thành Thánh Kinh (The Holy Book) hoặc sách Mặc Khải (Book of Revelation) của Hồi Giáo.

Thánh Kinh là từ ngữ để chỉ các văn bản thiêng liêng của nhiều niềm tin khác nhau, nhưng thường là từ các tôn giáo khởi nguồn từ Abraham. Các văn bản này thường được viết trong giai đoạn hình thành của các niềm tin Do Thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo, những người lãnh đạo của các cộng đồng này tin đây là các sách được linh truyền từ Thiên Chúa để thể hiện lịch sử uy quyền của mối liên hệ giữa Thiên Chúa và dân của ngài.
Từ “Khải Huyền” (Revelation) do từ Hy-lạp “apokalupsis” (Apocalypse, tiếng Anh và Pháp), có nghĩa là “vén màn” cho thấy điều bí mật che khuất bên trong. Revelation còn được dịch là “Mặc khải” và Apocalypse còn được dịch là “Ngày Phán Xét Cuối Cùng”.
 
Kinh Qur'an là Thánh Kinh (The Holy Book) là sách được linh truyền từ Thiên Chúa để thể hiện lịch sử uy quyền của mối liên hệ giữa Thiên Chúa và dân của ngài

Về phương diện tâm linh, Kinh Qur'an là sự nối kết những dòng tư tưởng về một tôn giáo độc thần khởi đầu từ tổ phụ Abraham, qua Mai-sen (Moses) qua Jesus đến thiên sứ cuối cùng là Muhammad.

Trong 6219 câu của kinh Qur'an đã thể hiện nội dung của kinh Cựu Ước và Tân Ước. 

Vì đạo Hồi là đạo Thiên Chúa thứ ba, xuất hiện sau đạo Do Thái và đạo Ki Tô nên đạo Hồi đã in đậm những dấu ấn đức tin của hai đạo Thiên Chúa trước đó.

Người Do Thái giáo và Thiên Chúa giáo cũng được tín đồ Hồi giáo tương đối coi trọng và gọi là Giáo Dân Thánh Thư (People of The Book). Kinh Thánh Kitô giáo cũng là sách thiêng trong Hồi giáo, có điều người Hồi giáo coi nó không đầy đủ và hoàn thiện như Kinh Qur'an.
 
Từ 2000 năm trước Công Nguyên, những người Ả Rập đã biết đến Thiên Chúa của Abraham mà họ gọi là Allah. Điều đó có nghĩa là họ đã thờ Allah từ 27 thế kỷ trước khi có Muhammad và đạo Hồi. Qua nhiều thế kỷ tiếp xúc với văn hóa Do Thái, người Ả Rập đã rất quen thuộc với các nhân vật của kinh Thánh Cựu Ước. Từ thế kỷ 1 đến thế kỷ 7, người Ả Rập tiếp xúc với những người Ki Tô Giáo thuộc đế quốc Byzantine rộng lớn và từ những nước lân bang như Syria, Ai Cập và Ethiopia... Mặc dù rất ít người Ả Rập lúc đó theo Ki Tô Giáo nhưng cũng không cảm thấy xa lạ với Jesus và Gioan Baotixita.
 
Đọc kinh Kinh Qur'an, chúng ta sẽ thấy những nhân vật quan trọng của hai đạo Do Thái và Ki Tô được Muhammad thường xuyên nhắc tới. Kinh Qur'an là một tổng hợp những kiến thức tôn giáo đã tiềm tàng sẵn trong đại khối các dân tộc Ả Rập. Sự tổng hợp đó được gọi là Islam, có nghĩa là sự tuân phục tuyệt đối vào Thiên Chúa. (Islam means the absolute submission to God). Người Trung Quốc phiên âm “Islam” thành “Hui” (Hồi) và gọi đạo này là "Hui-jao" tức Hồi Giáo. Kinh Qur'an trở thành Thánh Kinh (The Holy Book) hoặc sách Mặc Khải (Book of Revelation) của Hồi Giáo.
 
Những chương đầu tiên của Kinh Qur'an nói về Thiên Chúa Allah với những đặc tính siêu việt của Ngài.  
Ngoài Thiên Chúa ra, Kinh Qur'an dạy phải tin có các thiên thần và ma quỉ (Satan), tin các sách Mặc Khải của đạo Do Thái và Ki Tô cùng các vị thiên sứ, tin có ngày tận thế và ngày phán xét cuối cùng, tin mọi kẻ chết đều được sống lại, tin có Thiên Đàng Hỏa Ngục, tin mọi việc do Thiên Chúa Allah tiền định nhưng mọi người có ý chí tự do.
 
Theo:
https://luatminhkhue.vn/kinh-coran-la-gi---tim-hieu-nhung-noi-dung-co-ban-cua-kinh-coran.aspx
 
Và:
https://sachhiem.net/index.php/index.php?content=showrecipe&id=266
 
*
Allah là danh từ tiêu chuẩn trong tiếng Ả Rập để chỉ định Thượng đế Đấng Toàn Năng. Tại châu Âu, châu Mỹ, Đông Á, Nam Á danh từ Allah được phần đông coi là dành riêng cho tín đồ Islam. Tuy nhiên, tại các xứ nói tiếng Ả Rập, Kitô hữu và Do Thái giáo cũng gọi Thiên Chúa là Allah. Danh từ Allah vốn đã có trong ngôn ngữ Ả Rập từ thời xa xưa, cả Do Thái giáo và Kitô giáo cũng đã được truyền vào bán đảo Ả Rập rất sớm. Cho nên, Kitô hữu người Ả Rập ngày nay không có danh từ nào khác để gọi Thiên Chúa, họ gọi chẳng hạn Chúa Cha là Allāh al-'Ab
 
Đại khái các ngôn ngữ đều gọi Allah theo lối phiên âm, hoặc dịch nghĩa. Các quyển Kinh Thánh tiếng Indonesia biên Thượng Đế hay Đấng Toàn Năng là Allah. Tín đồ Islam nói tiếng Trung Quốc cũng hay gọi Allah là Chân Chúa (真主) (Chúa thật).
Tại Việt Nam, một danh từ được người Chàm lslam ở Việt Nam dùng khá phổ biến trong cộng đồng tiếng Việt là Allah Đấng Toàn Năng, Đấng Tối cao, hay Đấng Độ Lượng vì lý do để thể hiện sự tôn trọng, do trong tiếng Việt, khi thể hiện sự tôn trọng thường gọi tên kèm các kính ngữ đứng trước Ngài. Tín đồ Chàm Islam nói tiếng Việt cũng hay thường gọi Allah là Thượng Đế khi giao tiếp với người của tôn giáo khác, hoặc đôi khi Thượng Đế Đấng Toàn Năng, Đấng Tối cao, hay Đấng Độ Lượng, trong các buổi hành lễ trong Samkhik (Nhà Nguyện) hay khi làm phép vào đạo Islam (Tamư bani Islam) cho một tín đồ mới.
 
Lời tuyên xưng đức tin (shahādah) mà một người được đưa vào cộng đồng Hồi giáo bao gồm sự khẳng định rằng không có thần thánh nào ngoài Allah và rằng Muhammad là sứ giả. Đối với những người Hồi giáo ngoan đạo, mọi hành động đều được mở đầu bằng một lời kêu gọi tên thần (basmalah). Công thức trong shāʾa Allāh, “nếu Allah muốn,” xuất hiện thường xuyên trong bài phát biểu hàng ngày. Công thức này là lời nhắc nhở về sự can thiệp của THẦN THÁNH luôn hiện hữu vào trật tự thế giới và hành động của con người. Người Hồi giáo tin rằng không có gì xảy ra và không có gì được thực hiện trừ khi đó là theo ý muốn hoặc lệnh truyền của Allah, mặc dù con người phải chịu trách nhiệm cá nhân về những lựa chọn đạo đức mà họ đưa ra vào bất kỳ thời điểm nào. Như được biểu thị bằng thuật ngữ Hồi giáo, thái độ cá nhân của một tín đồ Hồi giáo, do đó, là sự phục tùng có ý thức đối với Chúa. Sự phục tùng như vậy không phải là mù quáng và thụ động mà phải có mục đích và dựa trên sự hiểu biết về Chúa Trời và các điều răn của Ngài qua những điều mặc khải của Ngài.
 
https://www.duhoctrungquoc.vn/wiki/vi/Allah

Trong cuốn sách thiêng liêng của người Hồi giáo Kinh Qur'an. Được biết Allah 99 tên. Nhưng con số này không thể khẳng định. Bởi vì đó là Chúa, rằng Ngài có thể có vô hạn các tên.

99 tên Allah được mô tả trong kinh Qur'an của người Hồi giáo, nói chung để ca tụng Thiên Chúa là ĐẤNG CHÍ TÔN, ĐẤNG TOÀN NĂNG, ĐẤNG CHÍ THÁNH !

https://vi.delachieve.com/hoi-giao-99-ten-cua-allah-va-y-nghia-cua-chung/


*
Một số trang web dù biết rất rõ Allah là Thượng đế, là Đấng Toàn Năng, là Chúa Trời nhưng vẫn gọi là “Thánh Allah”:
 
Trong lịch sử, đạo Hồi ra đời vào thế kỷ 7 tại bán đảo Ả Rập, do Thiên sứ Muhammad nhận mặc khải của thượng đế truyền lại cho con người qua thiên thần Jibrael (Gabriel). Đạo Hồi chỉ tôn thờ Thánh Allah Đấng Tối cao. Đối với tín đồ, Muhammad là vị Thiên Sứ cuối cùng được Allah mặc khải Thiên Kinh Qur'an (còn viết là Koran) qua Thiên thần Jibrael.
 
https://www.facebook.com/111293721448513/posts/123450606899491/
 
Hay:
 
Cộng đồng người Chăm ở Nam Bộ nói chung, TP. Hồ Chí Minh nói riêng theo Hồi giáo hay còn gọi là đạo Islam. Hoạt động tín ngưỡng của cộng đồng Chăm theo Hồi giáo (Chăm Islam) chính thống chỉ tôn thờ THÁNH Allah.

https://baodantoc.vn/tin-nguong-cua-nguoi-cham-hoi-giao-tai-tp-ho-chi-minh-1633238711787.htm
 
Và:
 
“Thánh Allah.” Bách khoa toàn thư Britannica. 2007. Encyclopædia Britannica
 
Trích:
Quan điểm của người Hồi giáo về thiên tính
Trong Hồi giáo, Thiên Chúa (tiếng Ả Rập: Tiếng Ả Rập dịch. Allāh là Thần, là người tuyệt đối, là người cai trị toàn năng và toàn năng của vũ trụ và là người tạo ra mọi thứ trong sự tồn tại.
 
Các tôn giáo khởi nguồn từ Abraham, hay còn gọi là các tôn giáo Abraham (Abrahamic), là các tôn giáo độc thần (monotheistic) xuất phát từ Tây Á, tự coi là có sự tiếp nối từ các thực hành tôn giáo thờ Thiên Chúa của Abraham hoặc công nhận truyền thống tâm linh gắn với ông. Abraham được coi là một ngôn sứ, như được miêu tả trong Kinh Tanakh, Kinh Thánh và Kinh Qur'an.
 
Vào thế kỷ thứ 6, Hồi giáo đến từ các thành phố Mecca và Madinah xứ Ả Rập. Tuy nguyên thủy không phải là một nhánh ly khai từ Do Thái giáo hay Kitô giáo, Hồi giáo tự cho mình là sự tiếp nối và thay thế cho hai tôn giáo nói trên.
 
Người ta có thể tìm thấy trong Hồi giáo nhiều di sản từ Do Thái giáo và Kitô giáo như tín đồ Hồi giáo tin vào một dị bản của câu chuyện Sáng thế, họ cũng tin rằng người Ả Rập là dòng dõi của Abraham theo phổ hệ Ishmael, họ hoàn toàn không công nhận Kinh thánh Do Thái, vì họ cho rằng trong đó người ta đã xoá bỏ những phần đề cập đến sự xuất hiện của Muhamad. Dù vậy, họ vẫn tôn trọng bản kinh thánh này như là được soi dẫn bởi Thiên Chúa.

TÓM LẠI:
 
Tổng hợp những điều đã nêu ở phần trên và đọc những đoạn trích dẫn, chúng ta thấy:
 

- Với Phật giáo thì cấp độ tu hành cuối cùng của tứ thánh quả là A-la-hán. Và A-la-hán là bậc thánh đã thoát khỏi sinh tử luân hồi, đạt cảnh giới niết bàn. THÁNH có thể có sáu loại thần thông (lục thông) như thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông, thần túc thông, thần cảnh thông, lậu tận thông. Phật Thích Ca là vị ĐẠI THÁNH có đủ mười danh hiệu: Như lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ – Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, PHẬT, THẾ TÔN.


- Với Nho giáo, theo sách Trung dung thì “Thánh nhân là hiện thân của Thượng Đế”. Sách có câu “Trời là ông Thánh không nói; Lời Ông Thánh là Lời Trời nói”.
 
- Với các tôn giáo độc thần khởi đầu từ tổ phụ Abraham, qua Mai-sen (Moses), qua Jesus đến thiên sứ cuối cùng là Muhammad.


Từ “THÁNH” thường được dùng cho Thiên Chúa, ví dụ như: thánh đường, thánh ca, thánh giá, thánh lễ, thánh kinh, thánh hóa, dân thánh, chén thánh, khăn thánh, bàn thánh... (theo cách nói của tín hữu Thiên Chúa giáo)
Các từ THÁNH THIÊNG, THÁNH LINH, CHÍ THÁNH chỉ dành cho Thiên Chúa.
Trong Tiếng Anh GOD có nghĩa là Thiên Chúa, Thánh, Thần
God's book: Kinh thánh (sách Thiên Chúa)

CHÚA TRỜI được Do Thái Giáo, Thiên Chúa Giáo gọi là THÁNH. Với danh xưng Giêhôva (Jehovah), Giavê (Yahweh) trong Kinh thánh Cựu Ước và danh xưng Allah trong kinh Qur'an để chỉ “Chúa Trời” hay “Thiên Chúa”.  99 tên Allah được mô tả trong kinh Qur'an của người Hồi giáo, nói chung để ca tụng, tuyên xưng Thiên Chúa là ĐẤNG CHÍ TÔN, ĐẤNG TOÀN NĂNG, ĐẤNG CHÍ THÁNH!

Thánh kinh Thiên Chúa Giáo và Do Thái Giáo gọi Thiên Chúa là THÁNH như đã nêu ở phần trên. Trong 6219 câu của kinh Qur'an đã thể hiện nội dung của kinh Cựu Ước và Tân Ước. 
THÁNH là một danh xưng cao cả dành để tuyên xưng Đấng Chí Tôn, Đấng Toàn Năng. Vậy thì gọi Allah là THÁNH không sai.
 
Từ ngữ “Allahu akbar” (Thánh Allah vĩ đại), từ ngữ Thánh Allah được sử dụng khá phổ biến, khá lâu; cho đến nay chúng tôi chưa biết đến sự phản bác nào của các chức sắc Hồi giáo. Ở Việt Nam, chỉ có một số người cho rằng danh xưng “Thánh Allah” là sai, tiêu biểu như học giả An Chi như đã nêu ở trên.

Không những Allah là vị THÁNH cao cả, có thể nói theo cách khác Allah là một vị THẦN.

Hồi giáo là tôn giáo độc thần (monotheistic), Allah là vị THẦN tối cao, một vị THẦN Duy Nhất và Vĩnh Hằng, là Đấng Tạo Hóa đã tạo các tầng trời và Trái Đất. Allah là đấng chủ trì lẽ phải. Allah là đấng toàn tri, toàn năng, cũng là bậc đại nhân, đại từ. Ngoài Allah, không có thiên thần nào khác được thờ phượng, tuyên xưng và tuân phục. Lời tuyên xưng đức tin (shahādah) mà một người được đưa vào cộng đồng Hồi giáo bao gồm sự khẳng định rằng không có THẦN THÁNH nào ngoài Allah.
 
                                                             La Thụy         
READ MORE - GỌI ĐẤNG TỐI CAO TOÀN NĂNG CỦA HỒI GIÁO LÀ “THÁNH ALLAH” CÓ SAI KHÔNG? – La Thụy