Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, December 14, 2021

THỔ LỖ PHỒN | RỐI CẠN & RỐI NƯỚC - Thơ Chu Vương Miện



THỔ LỖ PHỒN

Thơ Chu Vương Miện

-


Là 1 dân tộc sống ở cao nguyên

Cao chót vót tót vời

Trên đỉnh Hymalaya 

Tính theo mặt nước biẻn

Từ 4000m đến 15.000m  trở lên

Từ thế kỷ thứ 9

Lý Nguyên Hiệu 1 bối lạc “tù trưởng “

Đã tách 1 phần đất đai 

Đẻ thành lập một vương quốc

Có tên là Tây Hạ phiá trên tỉnh Thiểm Tây 

Trung Quốc

“Xin lệ thuộc làm phiên dậu nhà Đại Đường“

Một đất nước hùng cường

Đến thời Ngũ Đại qua nhà Tống

Tây Hạ là một quốc gia 

Oanh oanh liệt liệt

Cùng với các nước khác xâm lăng đại Tống

Sau bị đầu đời nhà Nguyên xoá sổ

Giết hết trơn hết trọi cả triệu ngừơi

Lẫn lộn với heo gà chó má

Không còn sống sót kẻ cả cỏ

1 phần đất đai lẻ tẻ còn lại ven biên Trung Quốc

Mất dần và sát nhập vào các tỉnh 

Thanh Hải, Cam Túc, Tứ Xuyên và Vân Nam

Mất 2 tỉnh do Ấn Độ chiếm

Phần còn lại là Thổ Phồn hay Tay Thượng

 “Tây Tạng” Tyber.

Sau năm 1949 là vùng đất tự trị

Tên là Xizăng  Zizhiqu


Cuả Hoa Lục "Trung Quốc“

Thuộc quốc thứ 32 dân tộc miền cao

Ít người

Năm 1959 Hoạt Phật Đại La Lạt Ma

Cùng khoảng 200.000 người chạy theo

Tỵ nạn tại Ấn

Dân số Tyber khoảng 3 triệu 

¼  dân số ở nội đia đi tu

¼ dân số tỵ nạn cũng đi tu

Nước bị chiếm ? “bị xoá“

Trên 70 năm

Mà thanh niên đa số trốn vào chùa 

Cạo đầu đi tu đêm ngày tụng kinh gõ mõ

Thì tới tết Công go “*”

Mới quang phục được

Tất cả các đại cường trên thế giới

Thấy Trung Quốc chiếm nuốt trọn Thổ Phồn

đều bằng chân như vại

coi như là chuyện đương nhiên

thank you


“*” Công Gô không bao giờ có tết Âm Lịch

-


RỐI CẠN & RỐI NƯỚC


Có  2 loại trên cạn là rối cạn

dưới nước là rối nước

trên cạn thì diễn ở rạp hay công viên

dưới nước thì diễn trên ao hồ

trên cạn thì giản đơn

con rối có thể là người khoác da thú

làm các con vật như khỉ chó ….

Và nếu bằng gỗ thì có 

ngừời nghệ nhân cầm giây điều khiển

và có thuyết minh

còn rối nước thì rất là giản kép

đa đoan phức tạp nhạp hơn nhiều

phải thiết kế nhiều đạo cụ dưới nước 

phải có dàn cây sắt ròng rọc …

và rất đòi hỏỉ kỹ thuật về cơ khí

trình diễn rất là tung hoành tráng

quy tụ tập trung nhiều thuyền bè 

cá rồng quân lính “thuỷ đánh bộ“

tất cả đều dấu ngầm dứới nước 

chỉ có các con rối là xuất hiện mà thôi

tuy nhiên theo cảm quan của người xem

thì trên cạn hay dưới nước

cũng toàn là rối cả?


Chu Vương Miện



READ MORE - THỔ LỖ PHỒN | RỐI CẠN & RỐI NƯỚC - Thơ Chu Vương Miện

MÙA BẤC CŨ, NGÀY ĐÔNG CHÍ, VẪN LỜI ĐIỀM NHIÊN – Thơ Tịnh Bình


            Nhà thơ Tịnh Bình
 

MÙA BẤC CŨ
 
Vương vấn bờ rào hoa đậu biếc
Giọng gà eo óc gáy vào trưa
Cánh bướm chập chờn không nỡ đậu
Kẽo kẹt hiên nhà tiếng võng đưa
 
Ta như trở lại ngày thân ái
Dưới mái nhà xưa rộn nói cười
Bập bùng bếp lửa ngày đông ấm
Bên mẹ bên bà ngóng cơm sôi
 
Chiều vương bóng nắng rơi thềm cũ
Tiếng chim lơ đãng gợi chút gì
Lá khô tình tự lời rêu biếc
Đông xưa mùa bấc có quay về
 
Ta mãi hoài vọng mùa xa ngái
Cánh diều thơ dại lạc nơi đâu
Con thuyền giấy trôi vào cổ tích
Phập phồng bong bóng dưới sân ngâu...
 
 
NGÀY ĐÔNG CHÍ
 
Mỗi bận sớm mai...
Cúc trắng li ti xếp tinh khôi ngoài ô cửa
Vạt gió bấc se se đẫm hơi sương
Chút lành lạnh mơn trớn mắt môi người
Thoáng chốc mà đông cũng sắp già rồi
 
Mẹ bày cỗ rước ngày đông chí
Chén chè ngũ sắc
Ấm gừng cay viên ỷ mè nheo
Con hít hà vờ cay sóng mũi
Mùa đông lạnh thêm nữa đi mà...
 
Ừ thì chẳng thể sưởi ấm lòng bởi màu cúc trắng quá đi thôi
Mở cửa sớm mai âm thanh nào rớt xuống
Chú sẻ nhỏ hôm nào ríu ran
Nay giọng hót cũng đã già rồi
Lục tìm chén chè ngũ sắc
Cũ mờ gác bếp ngày xưa...
 
Khép lại sớm mai
Thôi đừng nhớ mùa đông đã cũ
Bài thơ ngơ ngác chẳng cất nỗi thành lời
Đâu ngọn bấc
Đâu mưa phùn
Nỗi niềm gì bầy chữ cứ run run...
 
 
VẪN LỜI ĐIỀM NHIÊN
 
Vẫn là lối cũ đường xưa
Mùa đi trên lối mưa thưa nắng tàn
Trầm mê một cuộc chưa tan
Bước chân phiêu hốt đôi đàng tỉnh say
 
Lỡ rồi khóc mướn thương vay
Phù du thoáng chốc hình hài rong chơi
Kìa là mây trắng chơi vơi
Kìa là giọt nước xuôi nơi mưa nguồn
 
Đỉnh trời rơi vỡ phiến chuông
Đêm hoang lành lạnh mảnh gương soi lòng
Chập chờn mộng giữa sắc không
Giấc mơ phủ dụ người không thấy người
 
Giật mình giữa tiếng lá rơi
Đôi chim sẻ nhỏ vẫn lời điềm nhiên...
 
TỊNH BÌNH
(Tây Ninh)

READ MORE - MÙA BẤC CŨ, NGÀY ĐÔNG CHÍ, VẪN LỜI ĐIỀM NHIÊN – Thơ Tịnh Bình

CHÉN TRÀ THU – Thơ Nguyên Lạc



 
CHÉN TRÀ THU
 
Thu phong lá đỏ rơi đầy
Lời thu ru khẽ hồn người tha phương
Sáng nay trà chẳng bình thường
Hình như có chút mùi hương thuở nào
Nhớ quê thương kiểng nôn nao
Nhớ tiếng mời chào hàng quán sớm hôm
Nhớ người mời chén trà thơm
Bao năm rồi đó vẫn còn hương xưa
 
Nguyên Lạc

READ MORE - CHÉN TRÀ THU – Thơ Nguyên Lạc

Sunday, December 12, 2021

GÁNH BÚN XÁO PHƯỜNG ĐỆ TỨ - Đinh Hoa Lư

 


GÁNH BÚN XÁO PHƯỜNG ĐỆ TỨ

Đinh Hoa Lư

 

 

 Gánh bún xáo hay triêng bún xáo là hình ảnh quen thuộc cho khách ăn hàng vặt. Bữa sáng hay bữa chiều đều có gánh bún xáo, do các o gánh đi bán rong dọc theo mấy con phố hay đầu thôn cuối kiệt ở những vùng ngoại ô.

 

Người Huế thân quen với gánh bún xáo, người Quảng Trị cũng chẳng lạ lùng chi cái cảnh mấy o, mấy chị vừa chạy lúp xúp vừa rao ...

 

 -Ai...bún?

 

Tiếng rao bị o rút gọn bớt vì rằng nghe tiếng o là khách ăn biết ngay thôi.

 

Lạ một điều, khó diễn tả cái động tác o gánh 'triêng' bún xáo? Cũng không phải chạy, nhưng đi lại không phải đi. Thứ động tác của hai chân o bán bún gánh, làm sao cho chiếc đòn gánh cong cong vẫy nhịp thật đều theo bước chân o để nhẹ bớt sức nặng lên vai o. Một điều phải nói lại cho rõ, rằng o không trở vai lúc đang gánh. Chỉ có khách là o đặt gánh bún xuống thôi. Thời gian bán hàng là lúc đôi vai o được nghỉ.

 

 Không bao giờ chúng ta thấy mấy o người Huế và ngay cả Quảng Trị bận áo cụt; các o luôn bận áo dài. Những chiếc áo dài bạc màu, sờn rách theo năm tháng o ruổi rong theo 'cơm gạo áo tiền' nuôi sống gia đình.

 

Những tô bún bình dân, đáy nhỏ miệng to ngày xưa chúng ta thường thấy. Khách ăn hàng đủ hạng người. Người hào sảng, có tiền thì ăn tô 5 đồng; người bình dân thì ăn tô 3 đồng, thậm chí con nít o cũng bán cho 'chút chút' tô 2 đồng! Gánh hay triêng bún xáo của o bán đủ loại giá; o không hề than vản, và khách ăn chẳng ai nề hà chi. 

 

Những thứ thịt bò loại rẻ tiền, bạng nhạng 'nhiều mỡ ít nạc'. O chỉ ư mua về loại hai, loại ba này thôi. Vừa có đồng lời vừa hợp với một thứ ăn gọi là 'bún xáo'. O cho rằng: thịt bạng nhạng, có xen gân mới làm bún xáo ngon nhất. Còn thịt quá tốt, tạm gọi là thượng hạng chỉ dành cho món bí tết, tiệc tùng loại sang, bữa ăn thịnh soạn không có 'chỗ đứng' trong nghề bún xáo của mấy o.

 

Đưa tô bún nho nhỏ, vừa tay, lên miệng; khách ăn sẽ ngửi ngay mùi thơm nước xáo đúng 'gu' người Trung nấu không lầm vào đâu.  Thoang thoảng mùi rau răm, tiêu và miếng bún "nức mùi xáo" vào miệng.  Khách sẽ nhận ra được lát thịt bò sần-sật giòn, bùi bùi, xen một lát huyết đậm đà, beo béo. Người thưởng thức, vừa nhai vừa cắn miếng ớt chìa vôi thơm, cay nồng xông lên tận hốc mũi...

 

 Cái 'đói, thèm' càng tăng khi gánh bún của o còn mãi đàng xa do đang bận khách. Chiều chiều, ai cũng chờ, cũng trông gánh bún o đi qua. Dọc phố, các chị  các mệ cũng đợi gánh bún các o đi ngang.

 

Có mấy o là có bữa sáng tới rồi!

 

 Mùi bún xáo phố Huế hay phố Quảng nào cũng giống nhau. Khách ăn của mấy o không bao giờ chê, chẳng bao giờ ngán mới lạ làm sao.

 

Có phải huơng vị cùng hình ảnh gánh bún xáo mấy o mấy chị ngày xưa đã đi vào văn hoá ẩm thực của người Trung bao đời nay chăng? Người ta chẳng hề quan tâm, chỉ một tâm lý vắng gánh bún xáo ngày đó thì nhớ và thèm đó thôi.

 

Cái nồi tròn nhôm một đầu, đầu kia là tô, đũa hay những thứ linh tinh, lỉnh kỉnh. Mọi thứ đều cũ kỹ trước mắt khách đợi. Khi nắp nồi xáo được o giở lên, cái vá nhẹ nhàng, chính xác chi ly o chan từng thứ lên tô bún; mùi thơm của nước xáo không lầm lẫn vói bất cứ loại món ăn nào làm khách ăn nhớ đòi.

 

    Một thời, khi cái từ "kéo ghế' đặc biệt dành cho những buổi đi vào tiệm ăn; nó hiếm hoi hơn những gánh hàng rong thân quen cho thực khách miền trung. Trong những gánh hàng rong đó, những gánh bún xáo dường như đã trở thành 'bất tử' trong lòng chúng ta, phải thế không các bạn?

 

Gánh Bún Xáo O Đức phường (thôn) tôi

 

Khi tôi viết về triêng bún xáo bán rao (rong) là lúc tôi nhớ về hình ảnh o Đức. Tôi kêu o do trong xóm tôi hay gọi tiếng o, thực ra o Đức phải xấp xỉ bằng tuổi ngoại tôi là ít. Ngày ngày, độ xế trưa là lúc o gánh bán từ đầu phường cho tới cuối phường Đệ Tứ.

 


Chiếc áo dài đen, phai ố theo tháng ngày tần tảo đó là hình ảnh o bán bún xáo tại bến xe An Cựu, xa xa là chiếc xe hàng Nam Lộc từ Đà Nẵng mới ra. Tuy vậy cũng tạm thay cho hình ảnh o Đức bán bún xáo trong phường chúng tôi vào thập niên 1960. Như bạn đọc thấy trong hình cái nồi tròn đen ở một đầu gióng là loại nồi nhôm độc đáo sau này. Miệng nồi nhỏ lại có thể giữ cho nồi xáo nóng lâu hơn. Lớp màng màu đỏ của ớt phi, vài lát huyết nổi lềnh bềnh trên đó thì làm gì đến nỗi phải lầm với các loại món ăn khác được. Chuyện đáng nói về chiếc nồi nhôm tròn này, có thể dành riêng cho các gánh hàng rong, dọc theo các con phố miền Trung.

 

Cảnh cũ ngày xưa giờ không còn nữa, nhưng mỗi lần tôi ngửi lại mùi xáo bún bò chinh là lúc tôi nhớ về triêng bún xáo ngày đó. Hương vị của một món ăn mang tên là bún xáo, là đơn sơ mộc mạc, là bình dị quê mùa. Lạ thay, nó chất đầy nỗi nhớ trong hồn người xa xứ? Chính những lúc này, nó không là cái ăn đơn thuần mà là tình cảm, là nỗi nhớ bâng khuâng, như cánh mây chiều lãng đãng bay về chóp núi hay chân trời nào đó? Không ai định nghĩa hay để tâm vào chúng ngoại trừ những người xa quê đang ngồi nhớ lại hương vị tô bún năm xưa.

 

                                                       Đinh Hoa Lư


Nguồn:
Website của tác giả Đinh Hoa Lư
READ MORE - GÁNH BÚN XÁO PHƯỜNG ĐỆ TỨ - Đinh Hoa Lư

NHỚ QUẢNG TRỊ - Nhạc và lời: Hoàng Lương - Ca sĩ: Vân Khánh - Hình ảnh từ tập sách: QUẢNG TRỊ ĐI NHỚ VỀ THƯƠNG của Phạm Đình Quát - Slide show: Nguyễn Khắc Phước

READ MORE - NHỚ QUẢNG TRỊ - Nhạc và lời: Hoàng Lương - Ca sĩ: Vân Khánh - Hình ảnh từ tập sách: QUẢNG TRỊ ĐI NHỚ VỀ THƯƠNG của Phạm Đình Quát - Slide show: Nguyễn Khắc Phước

SAO KHÔNG LÀ LOÀI ĐỐI KHÁNG NÀO KHÁC – Thơ Khaly Chàm


 
                    Nhà thơ Khaly Chàm


sao không là loài đối kháng nào khác
 
giấy dán tường màu đất nung nham nhở
trong đốm rách dường như con chữ phúc âm ẩn náu
mắt ứa máu hoàn hảo sự nhễu giọt vi âm
tín hiệu cuối cùng thản nhiên di chuyển trong mạch máu não
nhân danh cận tử định dạng cắt rời linh cảm
 
dịch chuyển hay ngồi im vẫn thế
chiêm nghiệm tiếng chó sủa vang thông thốc vào hẻm phố
lần lượt những bóng ma xát muối vào những vết thương
thị dân chổng mông lên cảm nhận hơi thở đồ tể dịu mát
tôi tự biết mình không trọng lượng để định hướng rơi
bám tay nắm khóa cửa mùi tử khí chớp sáng lân tinh
 
em dùng lửa tim đốt cháy niềm thống khổ
chờ hóa sinh những bàn tay biết dạo chơi tìm màu bóng tối
phủ trùm lên những hình hài ngủ mơ trên chóp lửa
có thể những linh quang nhìn thấy phật, chúa hiện
sặc sụa tôi ngửi mùi tro bụi muội khói thơm lừng 
có phải chúng ta thích thú hình bóng mình trong gương
nỗi khát sống từng thời khắc hồn nhiên chờ ngày hóa đá
hãy nhìn con người như một bầy cừu an phận chỉ biết cúi đầu gặm cỏ
tôi và em mãi thinh lặng sao không là loài đối kháng nào khác
hôm nay, không một tiếng rên rỉ hay thở dài trước giờ được khai tử
hiện tại, sáo ngữ chửi từng ngày sao dịch cứ tăng
 
khaly chàm
tptayninh 12/2021
 
READ MORE - SAO KHÔNG LÀ LOÀI ĐỐI KHÁNG NÀO KHÁC – Thơ Khaly Chàm

Saturday, December 11, 2021

ĐÃNG TRÍ - Thơ Trần Mai Ngân

 
 

 
ĐÃNG TRÍ
 
Tháng Mười Hai em gọi là chiêm bao
Tháng Mười Hai em ôm hết ngọt ngào
Của anh, của em và cả Sài Gòn
Của trời cao, của gió lộng mây mưa...
 
Tháng Mười Hai ôm hết... lòng sao vừa
Để mộng lành say buổi trưa hôm ấy
Trời Sài Gòn bỗng sao mà cao vậy
Cứ xanh lơ cứ vời vợi trên cùng...
 
Tháng Mười Hai nắng nhạt... trời lạnh lùng
Ai sẽ khóc sẽ cười khi chia cách
Nghe lá và hoa ngồi lê đôi mách
Rằng chúng mình tại sao phải chia tay...
 
Tháng Mười Hai nhàn nhạt những men cay
Cứ rót mãi vị đời còn đắm đuối
Chuyện sau trước buồn vui xin cất giữ
Đem theo mình về chín suối ngàn sau...
 
Tháng Mười Hai ơi xin hãy qua mau
Không quên nhớ một tình yêu đãng trí!
                            
Trần Mai Ngân

READ MORE - ĐÃNG TRÍ - Thơ Trần Mai Ngân

Friday, December 10, 2021

CHÙM THƠ TRỞ VỀ QUẢNG TRỊ - Châu Thạch

 
 
              Nhà thơ Châu Thạch

 
TRỞ VỀ QUẢNG TRỊ 
 
Khi tôi trở về Quảng Trị
Nhìn lệ đá trên rêu Cổ Thành
Bờ sông Thạch lẳng lơ nền gạch mới
Đường Gia Long quán cóc thế cây xanh.
 
Tôi lạc lõng nhìn phố yêu xa lạ
Nhạt nhòa hương tha thiết của một thời
-Đâu bờ cỏ màu bông lau trắng xóa,
Cổ thụ dài nghiêng bóng, gió vi vu ?
 
Nhìn bờ bắc Nhan Biều xưa cẩm tú
Tưởng trong lòng hoa bắp, cải lung lay
Nay án ngữ những vồng cao đất đỏ
Đỏ mắt nhìn, đỏ nỗi nhớ như say.
 
Chẳng một chuyến đò ngang nào qua lại
Không còn ai áo trắng nép bên hoa
Em, linh hồn của cả một thời xa
Không để lại một chút màu thu thảo.
 
Tôi bật khóc quay về trong ảo não
Chiều đang lên bóng tối xóa đôi bờ
Cảnh đâu còn hồn cũ, hóa bơ vơ
Đêm săp xuống chốn xưa, người ngơ ngác
 
 
TÔI TRỞ VỀ
                 
Tôi trở về loanh quanh vòng thị xã
Nhẩm tên đường nhớ tên bạn ngày xưa
Đo bước đi tìm lại chút hương thừa
Những dư vị trong mơ hồ kỷ niệm.
 
Tôi trở về chốn yêu thương để kiếm
Ánh mắt trong còn sót đọng không gian
Âm thanh xưa còn vọng cõi mơ màng
Mùi thân ái còn vương trong nắng mới.
 
Tôi trở về con sông xưa vẫn đợi
Dòng nước kia thổn thức chảy qua chân
Bến đò ngang đi lại biết bao lần
Em áo trăng nay chỉ còn trong mộng.
 
Tôi trở về mái trường xưa, gió lộng
Màu thời gian xóa sạch chốn tôi ngồi
Trường bây giờ còn lại vách tường vôi
Thầy, cô, bạn có còn đâu để thấy.
 
Tôi trở về đi tìm tôi ngày ấy
Ngẫm lại đời sau năm tháng đua chen
Mình thấy mình vừa lạ lại vừa quen
Thởi gian hỡi, đau lòng tôi trở lại !
 
Châu Thạch

READ MORE - CHÙM THƠ TRỞ VỀ QUẢNG TRỊ - Châu Thạch

Thursday, December 9, 2021

CÓ GÌ ĐÂU – Thơ Nguyên Lạc


 


CÓ GÌ ĐÂU
 
1.
Có gì đâu chỉ là chiếc lá
Úa vàng chao nhè nhẹ gió lay
Sao se sắt hồn người xa xứ
Ôi thì ra thu đến không hay!
 
Có gì đâu nhung huyền tóc rối
Ôm gầy vai chiều hoa nắng rơi
Em áo lụa biếc màu hoa cúc
Hồng đôi môi chết ngất tim người
 
Có gì đâu mà nhớ tôi ơi
Tình đã đến đã đi sao biết?
Nhớ làm chi những lời vĩnh biệt?
Nhớ làm chi hương ngải môi ai?
 
Có gì đâu vàng lá thở dài
Có gì đâu thu phong tức tưởi
Nhớ làm chi buồn lòng cô lữ
Có gì đâu dĩ vãng đã xa
 
2.
Có gì đâu chỉ là tiếng lá
Sao trong tôi động cả ngàn thu
Có gì đâu tím chiều phong lữ
Hồn tha hương mờ phủ sương mù
 
Cố nhân ơi chiều thu lữ thứ
Nhớ vườn xưa son đỏ môi hương
Thời đã qua ai người níu được?
Sao thu về vẫn nỗi thê lương
Tình đã qua làm sao giữ được?
Thu về chi ru khúc đoạn trường
 
Thu về chi vỡ bung ngăn nhớ
Bay mùi hương một thuở đam mê
Còn gì đâu rã rời phế phủ
Còn gì đâu bạc tóc não nề!
 
Nguyên Lạc
 
READ MORE - CÓ GÌ ĐÂU – Thơ Nguyên Lạc

Tuesday, December 7, 2021

HOA THỦY MAI - Chu Vương Miện

 






READ MORE - HOA THỦY MAI - Chu Vương Miện

Monday, December 6, 2021

GÁNH - Thơ Trần Đức Phổ

 


Gánh
 
Trần Đức Phổ

Một đôi quang gánh trên vai
Mẹ tôi đi suốt đường dài trần gian
Gánh bao nhiêu nỗi cơ hàn
Của thời bé dại lầm than, nhọc nhằn
Gánh đắng cay lúc tuổi xuân
Gánh niềm bất hạnh, gian truân góa chồng
Gánh đàn con dại thêm đông
Chiến tranh lìa xứ nhà không có nhà
Gánh bao mưa nắng xót xa
Bó rau hạt gạo quả cà nuôi con
Gánh luôn buồn bã, héo hon
Nửa đêm khuya khoắt Mẹ còn vá may
Còng lưng gánh gió heo may
Để con có được tháng ngày ấm êm. 
 
2/12/2021

tranducpho
 ducphot946@gmail.com
READ MORE - GÁNH - Thơ Trần Đức Phổ

LẮNG NGHE LỜI GIÓ HÁT - Nguyễn Thị Thu Thủy giới thiệu tập thơ của Hồ Sĩ Bình

 


LẮNG NGHE LỜI GIÓ HÁT *


“Thơ đối với tôi khởi nguồn từ ám ảnh về nỗi buồn cần được khỏa lấp và nuôi dưỡng. Thơ là ngôi nhà mà ở đó tôi tìm thấy sự bình yên, hạnh phúc và tự do”. Đó cũng là những tâm sự thực lòng của nhà thơ Hồ Sĩ Bình, người đã từng làm “bà đỡ” cho khá nhiều đầu sách (Hồ Sĩ Bình công tác ở NXB Hội nhà văn - Chi nhánh miền Trung & Tây Nguyên). Từ lâu nay, người đọc vốn quen tiếp xúc với những trang tiểu luận và bút ký của Hồ Sĩ Bình cùng một cái Tôi phiêu lãng, mê đắm kết đúc từ những chuyến đi đầy trải nghiệm. Ba năm trở lại đây, từ Mưa nắng lưng đèo (2018) cho đến Ngày sinh của gió (2021), những suy tư của anh như đã lặm trong câu từ và thơ ca khởi phát từ đó: “Khi vui nước mắt lại cười/ khi buồn cúi mặt một trời vô ngôn” (Lục lạc đường quê).

 Trưởng thành từ giảng đường sư phạm, Hồ Sĩ Bình khăn gói vào tận Tây Nguyên nơi mảnh đất Gia Nghĩa xa xôi, đem con chữ đến bao đàn em thân yêu. Chí tang bồng của đời trai giục giã anh tạm xếp lại trang giáo án, tìm trải nghiệm mới trong con đường sáng tạo nghệ thuật. Những chuyến đi qua mọi miền đất nước đã tạo sinh tâm hồn “thật sự linh diệu với những khoảnh khắc bất chợt” (HSB), nuôi dưỡng cảm xúc mãnh liệt cùng niềm khát khao sáng tác nơi Hồ Sĩ Bình.

Nếu ở Mưa nắng lưng đèo hiện rõ một cái Tôi nặng nợ quê hương, xứ sở thì Ngày sinh của Gió, thơ Hồ Sĩ Bình vừa tiếp nối nguồn mạch nền tảng, vừa chất chứa bao nỗi trăn trở về thế sự và thi ca. Thơ anh mênh mang nỗi buồn, niềm cô đơn nhưng mang nặng những chiêm nghiệm, suy ngẫm. Đi dọc 60 bài trong tập sách vừa trình làng của anh, ta rong ruổi cùng những bước chân của Gió; Gió sinh ra từ đại ngàn mênh mông, tồn tại song hành cùng người lữ khách đơn côi Hồ Sĩ Bình. Và cũng chính vì lẽ đó, Hồ Sĩ Bình đã ưu ái lấy sự xuất hiện của thi ảnh Gió để đặt tên cho những đứa con tinh thần của mình: Ngày sinh của Gió, Gió đã tang bồng, Gió vội Sa Kỳ, Mùa quên Gió… Song hành cùng Gió, thơ Hồ Sĩ Bình vừa có chút phiêu diêu tự tại vừa ngang tàng, phóng khoáng, bay bổng: “Dừng bước thị thành đêm trở gió/ nghe lộng phù vân lạc mất nhau” (Nhiều khi).

Qua thi ảnh Gió, tập thơ sáng lên một cái Tôi thật cô đơn lẻ loi giữa trận trận hàn: “Như con chim ướt sũng giữa mưa ngàn/ thương cho mình/ bóng lạc giữa sương tan”. Ý thơ còn là nỗi xót xa cho thân phận mình và bao kiếp đời “muốn bay không cất nỗi mình mà bay”; dù đã cố hết sức nhưng cánh chim giữa đại ngàn ấy đôi lúc không vượt qua bão táp cuộc đời, để rồi phải chấp nhận “lạc giữa sương tan”. Đó là nỗi đau, là bi kịch cô độc trong sáng tạo; bởi cái mới có bao giờ được những suy nghĩ cũ kĩ, cái cực đoan dung hòa? Gió chỉ có thể là chính mình khi được tung mình giữa thiên nhiên rộng lớn. Và phải chăng đó cũng là lí do những rừng rú, đèo núi, đại ngàn, biểu tượng cho không gian bao la và cao cả, xuất hiện khá đậm đặc trong nhiều bài thơ của tập sách: Uống rượu giữa rừng, Quán nhỏ lưng đèo, Miền thẳm, Cuối năm lại giữa rừng, Ngùi thương hoa gạo, Mưa ngoài ngàn, Bài thơ viết giữa rừng… Càng đến với những khoảng vô tận ấy, Hồ Sĩ Bình càng bừng thức những nỗi niềm, khát vọng được chinh phục những cung đường. Đi nhiều với anh không phải là nguôi quên mà để trở về, về với những khoảng lặng cùng kí ức xa xưa: “Mai về ngồi với gió ngàn/đem hong vạt áo võ vàng dấu chân/ rót thêm một chén rượu tàn/ một mình ngồi lại giữa ngàn sương lay” (Đã rày mộng xa).

Là người thơ tha hương, nỗi vọng quê luôn thao thiết chảy trong trái tim Hồ Sĩ Bình. Anh khao khát được trở về bên mẹ, thèm được “nương mình nhánh sông xa”; chốn ấy giúp anh buông xả hết mọi hỉ nộ ái ố của cuộc đời: “Ta về trời đất nghiêng nghiêng nhớ/ đăm đắm nhìn sông chợt thật thà/ đôi khi muốn quên đời nhiễu sự/ tìm lại nương mình nhánh sông xa”. Người con xa quê sống trầm tĩnh nhưng đầy nội tâm ấy đã lặng người trước di ảnh mẹ ngun ngút khói hương: “Chiều cuối năm xa quá không về được/ nén nhang buồn biết gửi lại cho ai/ ngày mẹ mất mới biết mình mất mẹ/ trần gian ơi côi cút một góc trời” (Đêm ba mươi ngồi nhớ). Đọc những câu thơ giản dị ấy, mắt ta cay cay, lòng ta quặn thắt bởi chất đời ngời ngợi; là người con, mỗi ai trong chúng ta không từng trải qua những nỗi niềm như thế. Hồ Sĩ Bình nhớ về mẹ với bao nỗi ân hận, xót đắng thì nỗi “ám ảnh thừa truyền” luôn dâng tràn mỗi khi anh nghĩ về cha nơi ngôi nhà cũ, “ngoài vườn gió vẫn lao xao vương vấn nỗi niềm chưa thể bình yên”. Đó cũng là dạng thức của một cái Tôi - Hồ Sĩ Bình gắn bó với nguồn cội, bởi quê hương là nơi chốn để ta quay về sau bao giông tố cuộc đời: “Bóng đời nghe đã phù vân/ lao xao tiếng vọng bâng khuâng buổi về” (Cửa Tùng).  

Qua thi ảnh Gió xuất hiện xuyên suốt tập thơ, cái Tôi ý thức về nghiệp viết ở người thơ Hồ Sĩ Bình càng dần hiện rõ. Với anh, hạnh phúc nhất của người cầm bút là giữ được mình trước bao cạm bẫy: “Làm sao tôi níu lại/ giọng gầy mùa thu xa” (Gió vội Sa Kỳ). Người sáng tác phải tự nhận thức con đường mình dấn thân, tự ý thức cái mòn, cái cũ bởi nghệ thuật bao giờ cũng cần cái mới; sự sáng tạo như dòng sông vượt qua bao đổi thay để gạn lọc phần trong thanh dâng về cho biển cả: “Gió không bay qua được chiếc bóng của mình/ gió không qua hết đường làng/ làm sao mà bay vào trời rộng” (Ngày sinh của Gió).

Thật đáng sợ nếu người sáng tác “đóng khung” cảm xúc, câu từ ý tứ vay mượn, nhợt nhạt, bằng phẳng, thiếu hẳn sinh khí; và khi đó thơ sẽ như “những con chim bách thanh/ không có tiếng hót của riêng mình/ rao giảng những điều không thật” (Mưa ngoài ngàn). “Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép” và thật vậy, người thơ ấy đã tan hòa vào thiên nhiên để rồi giật mình thức tỉnh: “những gì cũ rích chẳng làm nên trò trống gì”; “sự hèn yếu, vô tích sự/ những câu thơ lạc lõng/ thẹn thùng vứt qua ngoài cửa sổ” (Hãy…). Những suy nghiệm đầy day dứt về nghiệp viết, được chuyên chở qua tứ thơ về đề tài cây cỏ, lá hoa xung quanh, nếu đọc lướt thơ Hồ Sĩ Bình, ta dễ dàng bỏ qua. Hãy đọc thật chậm rãi, để nhận ra sức sống dạt dào của thơ khi người viết biết “refresh” lại mình “mùa xuân đã về chớm nụ/ như cỏ hoa phương thảo tự làm mới mình/ gửi lại tin yêu sau những cửa sổ mệt mỏi khép kín mùa băng giá” (Hương xuân).

Để thi ca luôn tươi mới, là nguồn mạch ngọt ngào cho tâm hồn độc giả, mỗi nhà thơ phải là “con ong rừng siêng năng” đi hút mật, dâng cho đời phần tinh túy nhất. Và khi nhận biết “ngọn đèn dầu đã hết lửa”, con người luôn tha thiết với thi ca ấy đối diện với chiếc bóng của chính mình để truy vấn lương tâm, “tự thương mình chạm mặt đêm đêm/ đuổi hình bắt bóng/những câu thơ hai mặt/ không thuộc về mình/ ném vào khoảng vắng” (Bài thơ viết giữa rừng). Thơ Hồ Sĩ Bình chuyển tải những gửi gắm, suy nghiệm về cuộc đời và thơ ca qua việc vận dụng tối đa vốn sống từ những chuyến rong ruổi. Anh tìm tòi những cách biểu đạt riêng biệt qua việc đa dạng bút pháp, thể thơ; giọng điệu phiêu bồng, lãng đãng; song ngôn từ thơ đâu đó còn chút dư vị cổ xưa của một hiệp khách “mỏi vó tang bồng”.

“Những câu thơ lẫn khuất/ mọc góc xa của rừng” (CLV), tiếp xúc với những vần thơ của Hồ Sĩ Bình ở tập sách Ngày sinh của Gió, mỗi người đọc sẽ hiểu thêm chiều sâu nội tâm của một người thơ sống trầm lặng, kín đáo nhưng luôn đăm đắm với khát vọng sáng tạo, khao khát vượt lên những ràng buộc hệ lụy để dâng đời những đứa con tinh thần đầy ý nghĩa; mặc dù “đôi khi ngại những con đường/ không đi hết mê say” .

 

                                                                        

*Nhân đọc Ngày sinh của gió, tập thơ của Hồ Sĩ Bình, NXB Hội nhà văn tháng 10/2021. Giải thưởng của Hội Nhà văn Đà Nẵng năm 2021

**Câu thơ của Hồ Sĩ Bình trong tập Ngày sinh của Gió

 

Nguồn: BAOVANNGHE.COM.VN

 

READ MORE - LẮNG NGHE LỜI GIÓ HÁT - Nguyễn Thị Thu Thủy giới thiệu tập thơ của Hồ Sĩ Bình

Sunday, December 5, 2021

VỀ QUÊ – Thơ Khaly Chàm


                               Nhà thơ Khaly Chàm


về quê
(kính tặng Đồng Nai quê ngoại)
 
tết năm nay mình về quê nghe em
dòng sông tuổi thơ hoa lục bình trổ tím
nhớ một thuở mẹ anh trầm mình dưới nước
mẹ chắt chiu từng hạt cát vàng đổi gạo nuôi anh lớn khôn
 
chắc chắn là phải về thăm quê hương
cứ nói hoài nhưng chưa lần nào thực hiện
hơn hai mươi năm ngày ra đi biền biệt
lập nghiệp xứ người - manh áo chén cơm
 
bờ bãi phù sa bưởi chín ngọt như đường
mùa nước nổi mẹ chèo xuồng vớt củi
tháng giêng hai cánh diều bay chấp chới
chao xuống hồn nỗi nhớ đến khôn nguôi
 
tạm gác chuyện nhà mình về quê em ơi!
nhìn lại trường xưa hàng cây phượng vĩ
nắng lung linh trên cành hoa hoa rực lửa
bướm trắng hồn nhiên giục giã mùa thi
 
về quê nghe em - như con chim từ quy
viếng mộ tổ tiên thăm họ hàng chất phác
dáng ngoại còng lưng còn hằn trong kí ức
bước chậm trên đường… ngày ta quen nhau
 
khaly chàm
 
READ MORE - VỀ QUÊ – Thơ Khaly Chàm