Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, July 15, 2019

CHUYỆN TÌNH VÙNG U MINH NAM BỘ QUÊ TÔI (I) - Nguyên Lạc



                              (U Minh-Diệc)

CHUYỆN TÌNH VÙNG U MINH  NAM BỘ QUÊ TÔI (I)


Phần I:   

VÙNG U MINH 

BÀI THƠ, NHẠC VỀ RỪNG U MINH


Trước khi vào bài, mời các bạn đọc bài thơ và nghe bài nhạc phổ bài thơ này. Bài thơ liên quan đến vùng U Minh. Bài nhạc phổ thơ này theo cảm xúc riêng tôi rất hay, nhưng không biết sao nó không được phổ biến bằng các bài nhạc phổ thơ cùng thời, cùng nhạc sĩ Phạm Duy như bài: "Thà Như Giọt Mưa", "Kỷ Vật Cho Em" "Chuyện Tình Buồn"... Chắc vì nó không đề cập đến thành phố, trường đại học, quán nhạc đèn vàng... mà chỉ nói về nơi chốn chân chất, quê mùa?


Rừng U Minh Ta Không Thấy Em 

[Thơ Nguyễn Tiến Cung] 

Ta không thấy em từ bấy lâu nay

Mùa mưa làm rừng đước dâng đầy
Trên cao gió hát mây như tóc
Tràm đứng như em một dáng gầy

Ta không thấy em một lần đi

Nước phèn vàng nhuộm quần trây-di *
Đạn nổ lùng bùng trong nòng ướt
Tình đã xa rồi thôi nhớ chi

Mỗi con lạch là mỗi xót xa

Mỗi giòng sông là mỗi tuổi già
Thành phố đâu đây hình mất dạng
Cuộc chiến già nua theo tiếng ca…
........
* Treillis: loại quần bằng vải khaki của quân đội, thường có hoa văn màu xanh thẫm để ngụy trang 

Mời nghe nhạc:

Rừng U Minh Ta Không Thấy Em - nhạc Phạm Duy - Khánh Ly
https://youtu.be/Cd7H_ieM85k

RỪNG U MINH


Rừng U Minh nằm sát Vịnh Thái Lan, thuộc hai tỉnh Kiên Giang và tỉnh Cà Mau. Rừng U Minh là kiểu rừng rất đặc thù, được xếp hạng độc đáo và quý hiếm trên thế giới, gồm phần trên là U Minh Thượng, phần dưới là U Minh Hạ. Giữa U Minh Thượng và U Minh Hạ là sông Trẹm và sông Cái Tàu, nơi đây thiên nhiên rất hùng vĩ và hoang sơ.

Rừng U Minh được coi là nơi có giá trị sinh khối cao nhất so với các kiểu rừng khác với khoảng 250 loài thực vật, chủ yếu là cây tràm mọc ở khắp nơi, hơn 180 loài chim, hơn 20 loài bò sát... 
                                                                                (Wikipedia)

Sao gọi là U Minh? Theo các nhà văn viết sử dân dã chính xứ U Minh cho biết:  U Minh là u ám, mù mịt, như cõi địa ngục. Tên khu vực từ xa xưa được hiểu là xứ đen tối, mù mịt. 

Theo từ điển Hán Việt 
U: Âm u, tối tăm, thăm thẳm 
Minh có nghĩa là tối tăm, mù mịt: 暝 hay 冥 (bộ Mịch), không phải 明 là sáng.
Cõi U Minh ám chỉ địa ngục, là nơi tối tăm u ám.


                          (hình Rừng tràm)

1. Rừng U Minh Hạ 


-- U Minh Hạ có diện tích rộng khoảng 82,86 km². Cách thành phố Cà Mau 40km, nó năm trên địa phận xã Khánh Lâm, Khánh An của huyện U Minh và xã Trần Hợi, Khánh Bình Tây Bắc của huyện Trần Văn Thới. Rừng quốc gia U Minh Hạ là một trong ba vùng lõi của Khu dự trữ sinh quyển Mũi Cà Mau, được UNESCO đưa vào danh sách các khu dự trữ sinh quyển của thế giới. Đây là khu vực có hệ sinh thái mang nét độc đáo của vùng đất ngập nước trên lớp than bùn. Thực vật ở đây đặc trưng nhất là cây tràm và các loại dây leo. Hệ động vật tương đối phong phú với các loài cá đồng, trăn, rắn, khỉ, nai, cheo, heo rừng…  hứa hẹn sẽ là một địa điểm rất lý tưởng cho những người đam mê "du lịch bụi" và ưa khám phá mạo hiểm.

-- U Minh Hạ lắm chuyện ly kỳ, rùng rợn từ thuở người đi mở đất Phương Nam về heo rừng, bắt cọp, bắt cá sấu như Sơn Nam đã viết trong "Hương Rừng Cà Mau" . Mặc dù con cọp cuối cùng đã biến mất ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long từ lâu, cá sấu cũng không còn nằm vắt vẻo trên bờ dưới sình như xưa nữa (giờ sấu hay châu chấu cũng bị người làm đặc sản ăn hết sạch cả rồi), nhưng U Minh Hạ vẫn còn đó với những câu chuyện rùng rợn về rắn khổng lồ nặng hàng tạ, dài cả chục mét. Ở miền rừng, dường như con gì cũng thành tinh. Đến giống lươn hiền lành cũng nặng tới... 2kg, mình to bằng cổ tay, da trơn nhẵn bóng. Chuột đồng ngót hơn cân thịt, không rõ đã sống lâu bao tuổi, người yếu bóng vía chẳng dám ăn. Có đoàn tình nguyện viên quốc tế đến U Minh Hạ vài ngày, khi về bị con muỗi rừng đốt sưng vù cả mặt, vết cắn u to bằng quả mận, vài tháng sau vẫn còn vết thâm. Xưa đã có câu ca dao về vùng đất này: “Cà Mau là xứ quê mùa/Muỗi bằng gà mái, cọp tùa bằng trâu”.
Muỗi mòng vùng U Minh đã đi vào ca dao dân gian:

"Xứ đâu như xứ Cạnh Đền

Muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lềnh tựa bánh canh"
                                   (Ca dao Tây nam bộ)

Từ hai câu ca dao này đưa đến bài hát Em Về Miệt Thứ ca sĩ Hương Lan thường ca:


Từ ngày xa đất Tiền Giang

Em theo anh về xứ Cạnh Đền
Muỗi kêu mà như sáo thổi
Đĩa lềnh tựa bánh canh
Em yêu anh nên đành xa xứ
Xuôi ghe chèo Miệt Thứ Cà Mau.
(Lời nhạc: Em Về Miệt Thứ)

Mời nghe nhạc Em Về Miệt Thứ - ca sĩ Hương Lan

https://youtu.be/ZBD_j_kf8nQ

Về chuyện muỗi mòng, xin trích đoạn truyện vui sau đây của nhà văn Sơn Nam. (Phần trong ngoặc là của tác giả bài viết ghi thêm cho rõ) 


[... Má ơi ! Đừng gả con xa.

Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu
Câu chuyện xảy ra tại rạch Bình Thủy, làng Long Tuyền, tỉnh Cần Thơ, đâu cũng vào khoảng năm 1939 hoặc 1940 gì đó.
...
-- Dạ, vợ chồng cậu Quỳnh mạnh khỏe (Khách từ U Minh lên Bình Thủy nhắn lời cô Út thăm hỏi ông bà Cả - Cha mẹ cô Út, vợ Quỳnh - trả lời). Nhờ trời sanh được sáu đứa con. Bốn đứa sau đều là con trai.
Bà Cả mừng quýnh :
- Úy ! Bộ con Út đẻ năm một sao ? Con nhỏ đó thiệt...
Khách trả lời :
- Dạ, đẻ năm một. Đứa ăn thôi nôi, đứa lôi đầy tháng. Mẹ tròn con vuông. Hồi tôi đi đây, cô Út gần nằm chỗ một lần nữa. Thưa ông bà, "miệt dưới" ai cũng vậy. Như vợ chồng cháu đây có tám đứa con.
- Sao vậy cà ? Sao vậy cà ? Ở dưới cỡ này ra sao mà thiên hạ đẻ nhiều quá vậy ?
Khách ngượng nghịu... chập sau mới nói :
- Dạ ở miệt dưới muỗi dữ lắm; chạng vạng là cả nhà, vợ chồng con cái rút vô mùng... nói chuyện. Ít ai đi đâu.
Ai nấy phá lên cười to. Đến lúc bấy giờ, ông Cả bà Cả mới hiểu thêm một sự bí mật quan trọng của tiếng "muỗi kêu như sáo thổi" ở Cạnh Đền. Nó làm hại sức khỏe con người. Nhưng nó gắn bó mối tình chồng vợ hơn ở xứ không có muỗi... ] 
                                                     [Cô Út về rừng - Sơn Nam]

-- Những sự đa dạng về sinh vật ở rừng U Minh Hạ như sau:

- Rừng U Minh Hạ mang nét đặc trưng tiêu biểu của rừng ngập mặn miền Nam. Cây rừng ở u Minh chủ yếu là loại tràm ngập mặn, năn, sậy và các loại dây leo cùng với hệ động vật đa dạng như các loại cá nước ngọt, heo rừng, nai, khỉ, sóc, kỳ đà, trăn, rắn, rùa… nhiều loại quý hiếm khác.
Và đặc biệt, mật ong rừng U Minh:
[... Nơi đây đặc biệt, dưới tán rừng tràm, loài ong quanh  năm cần mẫn đi hút mật hoa tràm về xây tổ và cho sản lượng mật lớn. Mật ong rừng U Minh nguyên chất trong và vàng tươi, những giọt mật được chắt lọc kỹ càng, hoàn toàn được lấy vào mùa hoa tràm nở rộ. Mật ong rừng U Minh không bị pha trộn, để lâu năm không đổi màu, không biến chất, có hương vị đặc biệt của hoa tràm, mùi thơm nhẹ và có rất nhiều công dụng trong y học, chăm sóc sức khỏe. 
Vào mùa “ăn ong”, từ khoảng Tết cho đến tháng 6, đi du lịch U Minh Hạ, du khách sẽ được theo chân những người thợ gác kèo ong vào rừng cùng ăn ong, lấy mật. Tại đây, du khách được thưởng thức món ăn từ ong non vừa được cắt xuống, chấm thêm tí mật của hương rừng tràm U Minh cảm nhận vị ngọt thanh, thơm ngát của ong rừng. Ngoài mật ong, ong rừng U Minh còn chế biến được nhiều món khác nhau, như nhộng ong xào, nhộng ong nấu cháo, nhộng ong kho khô, hay xúc bánh tráng…
Ngoài những món ăn quen thuộc từ nhộng ong, người dân vùng U Minh còn chế biến một món ăn rất đặc biệt từ nhộng ong, đó là mắm ong. Mắm ong, đặc sản rừng U Minh với nhiều người nghe có vẻ xa lạ, nhưng với người dân vùng U Minh đây là một món ăn rất dân dã.
Món đặc sản rừng U Minh này có thể ăn kèm với các loại rau rừng cùng lá cóc, chuối chát, dưa leo… Vị mềm béo và thơm của ong, vị chua nhẹ của mắm và lá cóc, chát chát của chuối, giòn giòn của dưa leo… cùng mùi thơm đặc trưng của thính lan tỏa khiến bạn ăn hoài không chán. Nếu thích, bạn có thể trộn mắm ong với thịt ba chỉ luộc nước dừa thêm vài lát ớt sừng cùng ngò rí vậy là bữa ăn giữa bạt ngàn tràm U Minh đã trở nên thịnh soạn rồi... ] 
                                                          [Tùy Phong – Mytour.vn]

2. Rừng U Minh Thượng 


U Minh Thượng có diện tích rộng khoảng 80,53 km² thuộc địa phận của huyện An Biên, An Minh, Vĩnh Thuận thuộc tỉnh Kiên Giang và bán đảo Cà Mau.

Những sự đa dạng về sinh vật ở rừng U Minh Thượng như sau:
- Không khí trong lành cùng với không gian khoáng đãng
- Nhiều chim muông, thú rừng, các loài động thực vật như mảng chim, mảng dơi quạ, tràm nguyên sinh, nhiều quần thể rái cá, heo rừng, kỳ đà. Đây còn là nơi cư trú của một số loài hoang dã vùng rừng ngập như Sóc mun Viverra:  Viverra megaspila.


                             (hình U Minh thượng) 

GIỚI THIỆU VÀI LOẠI THỰC VẬT ĐẶC BIỆT

Xin được giới thiệu đến các bạn thực vật đặc biệt của vùng U Minh, Cà Mau nói riêng và Nam bộ quê tôi nói chung.

Bài thơ được phổ nhạc nhạc trên có nói đến tràm và đước, ta lần lượt tìm hiểu 2 loại thực vật này trước.
Rừng tràm và rừng đước nối tiếp vây quanh mũi Cà Mau từ Đông sang Tây, rừng Cà Mau đứng thứ nhì trên thế giới về tầm quan trọng và diện tích, sau rừng ngập mặn ở cửa sông Amazon của châu Mỹ La Tinh. Cà Mau có hai khu rừng lớn nổi tiếng trong cả nước và trên thế giới. Khi nói đến rừng U Minh người ta liên tưởng đến loài cây phổ biến là cây tràm, cây đước tạo nên rừng bạt ngàn ở Năm Căn. 

1. Cây Tràm

-- Tràm (Melaleuca cajuputi) là một trong 10 loài thuộc chi Tràm (Melaleuca L.) Cây gỗ nhỏ hay trung bình, thường xanh, cao 10-15m (đôi khi tới 20-25m), và đường kính có thể đạt 50-60cm. Đôi khi là cây bụi, cao 0,5-2m, nếu mọc ở vùng đồi cằn cỗi Thân thường không thẳng; vỏ ngoài mỏng, xốp, màu trắng xám, thường bong thành nhiều lớp. Hệ rễ phát triển mạnh. Lá đơn, mọc so le; phiến lá hình mác hay hình trái xoan hẹp, thường không cân đối, kích thước 4-8 (-10)x1-2,0 (¬2,5)cm; đầu nhọn hoặc tù, gốc tròn hoặc hơi hình nêm; dày; lúc non có lông mềm màu trắng bạc, sau nhẵn, màu xanh lục; gân chính 5 (đôi khi 6), hình cung; cuống lá ngắn, có lông.
Cụm hoa bông mọc ở đầu cành hay nách lá. Hoa nhỏ, màu trắng, trắng xanh nhạt, trắng vàng nhạt hoặc trắng kem; đài hợp ở gốc thành ống hình trụ hay hình trứng, 5 thuỳ đài rất ngắn; cánh tràng 5, có móng rất ngắn (các thuỳ đài và cánh tràng đều sớm rụng); nhị nhiều, hợp thành 5 bó, xếp đối diện với thuỳ đài; đĩa mật chia thuỳ, có lông mềm; bầu ẩn trong ống đài, 3 ô.
Quả nang gần hình chén hoặc hình bán cầu hoặc hình cầu, kích thước 3¬3,5x3,5-4mm, khi chín nứt thành 3 mảnh. Hạt hình nêm hoặc hình trứng. Sau khi hoa nở, tạo quả; trục cụm hoa tiếp tục sinh trưởng, phát triển tạo thành từng đoạn mang hoa quả và mang lá xen kẽ nhau.


                   (Hình cây tràm- Cô gái )

-- Tràm lá dài (cây tràm gió) hay Cừ tràm là loại cây thân gỗ, có vỏ mềm xốp, khi cao 3-5 mét thì vỏ cây nứt ra từng miếng mảng dễ bị tróc. Lá cây tràm có mày xanh, mọc so le, hình trứng hay mũi mác, dài 1 – 25 cm và rộng 0,5 – 7 cm, mép lá nhẵn, màu xanh lục sẫm hay xanh xám. 

-- Công dụng của tràm:
Cây tràm được dùng làm củi, cừ tràm trong xây dựng. Vỏ tràm dùng để trám ghe, thùng.
- Trong lá và cành non của cây tràm có tinh dầu tràm có tính sát trùng dùng để xức trị bệnh hô hấp. Tinh dầu tràm có tác dụng thay đổi sự bài tiết của khí quản và làm lỏng đờm.
Dầu tràm gió là một loại dầu gió được chiết xuất từ lá của cây tràm lá dài (Melaleuca leucadendra), cũng có thể chiết xuất từ các cây khác thuộc chi Tràm. Loại dầu này có hương thơm và mùi vị dễ chịu nên được dùng trong nhiều loại thuốc ho, nước súc miệng, thuốc sát khuẩn và nấm đặc hiệu dưới hai dạng sử dụng bôi thoa trực tiếp hay dạng hít ngửi bay hơi. Từ lâu dầu tràm đã được sử dụng rất rộng rãi trong cộng đồng ở Việt Nam để phòng ngừa cảm mạo, gió máy cho người già, người bệnh, sản phụ, trẻ em, kể cả trẻ sơ sinh 
- Đặc biệt thân cây tràm sử dụng rất nhiều trong các công trình xây dựng, các công trình bờ kè giữ đất. Cừ tràm sau khi trông khoảng 5-6 năm trở lên có thể khai thác để sử dụng gia cố nền móng cho các công trình xây dựng vừa và nhỏ. Thường sử dụng loại cừ tràm có chiều dài từ 3,7 – 4,5 mét và có đường kính gốc 8 – 12 cm, đường kính ngọn từ 3 – 4,5 cm. Cừ tràm có độ bền khá cao nếu ở trong điều kiện thích hợp. Điều kiện thích hợp của cừ tràm là ngập nước hoặc độ ẩm cao. Ngoài ra cừ tràm còn được kết hợp với phên tre sử dụng để gia cố cho các bờ kênh, bờ kè, các thành hố đào,… chống sạt lở đất.

2. Cây đước 

Cây đước quá quen thuộc vùng Nam bộ qua ca dao. Thí dụ:

Hổng thương em hổng có cần

Trầm hương khó kiếm chớ đước, bần thiếu chi

Ta thử tìm hiểu cây đước:

-- Cây đước (Đước đôi) có tên khoa học là (Rhizophora apiculata B.L). Ở Việt Nam, đước phân bố tự nhiên trên diện rộng từ Quảng Trị đến đồng bằng sông Cửu Long, nhưng phát triển mạnh nhất ở Cà Mau. Là loài cây gỗ ngập mặn. Gỗ cây màu trắng hồng, cứng, nặng có công dụng làm củi, làm vật liệu xây dựng, đốt than. Than đước Cà Mau là chất đốt rất cần thiết thời trước.
Đước là loài cây sinh sống tại nơi đặc biệt, ngập mặn nên có bộ rễ được cấu tạo đặc biệt.
Rễ cây đước phân ra thành 2 bộ là rễ cọc và rễ phụ
- Rễ cọc nhỏ, kém phát triển, cắm sâu xuống lòng đất.
- Rễ phụ lại phát triển, mọc ra từ phần thân xung quanh gốc cây, bán chặt vào vùng bùn nhão xung quanh, giúp cho cây được vững vàng.
Trung bình mỗi cây đước có từ 8 đến 12 rễ phụ.
Rễ cây đước có nhiệm vụ hút và vận chuyển nước, cùng các chất dinh dưỡng đi nuôi cây.
Ngoài ra còn có rễ thở, có chức năng hô hấp, mọc trực tiếp trên thân cây, tại những nơi không bị ngập nước.


                           (Hình cây đước 2)

-- Đặc điểm sinh sản của cây đước

Không giống hầu hết các loài thực vật khác, đước có một hình thức sinh sản khá đặc biệt đó là “thực vật thai sinh”. Vào mùa tháng 4, tháng 5 hàng năm đước ra hoa và kết quả. Thời gian quả chín từ tháng bảy đến tháng mười hàng năm.  Khi quả đước chín, hạt sẽ nảy mầm, hấp thụ chất dinh dưỡng luôn trong phần thịt quả. Thời gian từ khi ra hoa đến khi phôi chín khoảng tầm 6 tháng.
Khi phôi chín sẽ tách khỏi cơ thể cây mẹ và rơi xuống nước, trôi dạt khắp nơi. Quả nào gặp bùn sẽ bám trụ lại, mọc ra rễ con bám vào bùn và phát triển thành cây, quả nào không gặp bùn thì sẽ tiếp tục trôi dạt đến nơi khác. Thời gian từ lúc quả đước bám rễ vào trong đất đến lúc mọc ra được chồi non là khoảng 20 đến 25 ngày. Sẽ mất khoảng 20 năm để cây đước phát triển từ mầm cây bé lên được thành cây lớn có thể khai thác gỗ.
Một số loài đước - mangrove - có gỗ thích hợp cho các công trình xây dựng dưới nước hoặc để làm cọc, cột. Tanin thu được từ vỏ cây để thuộc da. Các rừng đước ngập mặn tạo thành một phần của hệ sinh thái đất ngập mặn, có vai trò quan trọng trong sự phát triển và đa dạng hóa của động vật thân mềm. 
Ai chưa đến Cà Mau thường nghĩ đến nơi đây là vùng đất của những tán đước xanh rờn. Cây đước dường như trở thành một loài cây biểu tượng của vùng đất biển. Người ta thường biết đến cây đước Cà Mau qua những lời ca tiếng hát ân tình “Anh đến quê em đất biển Cà Mau/ Có thấy xanh tươi đước rừng bát ngát” (Đất Mũi Cà Mau); “Rằng quê Minh Hải mình đây/ Đồng xanh thẳng cánh chim bay/Chang đước vươn ra xa khơi” (Trên quê hương Minh Hải),… Thế nhưng có một loài cây vẫn thầm lặng sinh sôi vun trồng những hạt giống của mình cho vùng đất bồi ngày đêm vươn mình lấn biển: Đó chính là cây mắm.


                                 (hình Hoa đước)

3. Cây mắm

-- Cây mắm có tên khoa học là Avicennia marina. Có nhiều loài mắm như mắm trắng, mắm đen, mắm ổi, mắm biển, mắm lưỡi đồng… Cây con mọc thành bụi, thấp, khi lớn nó thân gỗ cao đến 15 m đôi khi đến 30 m. Hoa có màu vàng cam đến vàng chanh. Vỏ cây trơn màu lục bẩn đền xám tối, có các vết nứt. .
- Mắm đen hay mắm lưỡi đòng (danh pháp hai phần: Avicennia officinalis) là một loài thuộc thực vật ngập mặn. Cây con mọc thành bụi, thấp, khi trưởng thành nó thân gỗ cao đến 15 m đôi khi đến 30 m. Các lá xanh bóng dài 10 cm, rộng 5 cm. Có hoa lớn nhất trong chi Mắm, với đường kính từ 6 đến 10 mm khi nở. Hoa có mày vàng cam đến vàng chanh. Vỏ cây trơn màu lục bẩn đền xám tối, có các vết nứt.
- Cây mắm biển là một cây đặc trưng của hệ sinh thái rừng ngập mặn. Loại cây này có chức năng quan trọng trong việc ngăn chặn sự xâm lấn biển, làm tăng thủy triều và biến đổi khí hậu. Cây mắm biển có thể được dùng để làm củi đun, xây nhà, làm xuồng… Có rất nhiều nhà khoa học cho biết rằng cây mắm biển cũng có thể được sử dụng trong công việc điều chế dược liệu.


                      (Hình Cây mắm- Trái)

Cây mắm biển trắng hay còn được gọi với pháp danh: Avicennia marina Vierh

Lá mặt trên nhẵn, mặt dưới lông trắng.Đất phù hợp cho việc sinh sôi và phát triển của cây là nơi đất bùn và có thủy triều lên xuống.
Cây mắm biển đen có pháp danh khoa học là Avicennia Marina (Forsk.) 
Mặt trên của lá màu lục sáng, không có lông. Mắt dưới lá màu xanh xám. Cây mắm biển đen là loài ưa sáng, chịu mặn giỏi. Chúng có thể sống được môi trường nước mặn, lợ. Tuy nhiên chúng thường định cư tại bãi lầy. Hoa để nuôi ong hút mật còn thân cây dùng để đun củi
Cây mắm biển còn được dân miền Nam nước ta dùng để đuổi muỗi. Cây mắm còn là mồi nhử những đàn cá dứa bơi từ biển về các cửa sông.

-- Đặc điểm của cây mắm là loại cây dễ bén rễ ở vùng đất bồi, cắm bộ rễ tua tủa trên phần đất bùn tại bãi bồi, những phần rễ mắm mọc ngược trở lên và tiếp tục giữ lại những lượng phù sa bị sóng đánh vào bãi. Đến khi mảnh đất chỗ đó dần dần nổi lên khỏi mặt nước, mặt đất bắt đầu săn lại thì cũng là thời điểm mắm cho quả. Vào khoảng tháng tư hàng năm là thời điểm cây mắm bị sâu phá hoại trầm trọng. Thời điểm này cây đước từ phía đất liền bắt đầu lấn chiếm ra phía bãi mắm. Do phải tập trung nhiều vào bộ rễ để giữ đất nên phần thân và tán mắm bị sâu phá hoại trầm trọng chẳng thể nào cạnh tranh lại với đước. Cây đước hưởng phù sa đất mới nên phát triển xanh tốt và lấn át cây mắm. Đước vươn cao đón hết những ánh mặt trời, tán đước che lấp toàn bộ loài mắm, thấp bé hơn bên dưới. Mắm chết dần và trước khi chết, mắm vẫn còn kịp ra hoa, kết trái và tung trái, vung hạt về phía chút đất non còn hoà với nước biển. Những hạt mầm lại tiếp tục sinh sôi để giữ đất và đất từ đó lại tiếp tục mở ra. Đó là lý do vì sao người dân Cà Mau hay nói “Mắm trước, đước sau,...” là như thế. (Theo Dương Kim Chuyển)


-- Phân biệt cây đước và cây mắm:


Đặc điểm nhận dạng của cây mắm là bộ rể không chỉ đâm xuống mà còn đâm ngược trở lên khỏi mặt đất để lấy không khí như đã nói.

[... Trên bãi bồi phù sa màu mỡ, đâm lên tua tủa những ngọn rễ cây mọc ngược như một rừng chông dày đặc. Đó chính là rễ cây mắm, loại cây tiên phong cư ngụ sớm nhất tại bãi bồi. Thoạt nhìn cây mắm tương tự như cây đước, nhưng đuôi lá tròn, màu lá xanh nhạt hơn lá đước, thường chỉ dễ phân biệt nhau bằng bộ rễ. Trái mắm từng chùm cỡ lóng tay, trong ruột lõm màu xanh nhỏ bằng hột bí, như trái tim, có vị đắng, nên cần luộc nhiều lần mới ăn được. Đất bùn phù sa săn dần đi nhờ cây mắm rút bớt nước, chỉ một hai năm sau, cây mắm đã trổ bông, đậu trái, rồi lại tung hạt mắm bay đến những bãi bồi mới. Họ mắm gồm nhiều loại, như mắm đen, mắm trắng, mắm biển, mắm lưỡi đồng… 
Khi đất tương đối chắc, cây đước bèn đến cắm dùi. Họ nhà đước đông đảo không kém, như vẹt dù, vẹt tách, dà vôi, dà quánh… Lá đước mọc đối xứng, xanh đậm, chuôi lá nhọn, búp lá màu đỏ và đặc biệt bộ rễ um tùm vươn ra ôm chầm lấy đất. Chàng đước vội ra chiêu quy hoạch cải tạo đất, chàng vừa bảo vệ, vừa phục hóa đất chua, mở đường cho thảm thực vật phong phú phát triển. Một thời Bạc Liêu, Cà Mau đốn sạch đước để đào hầm nuôi tôm, được vài ba vụ, tôm chết hàng loạt, vì bị ô nhiễm. Đến bây giờ nông dân mới ngộ ra nhiệm vụ cao cả của cây đước. Không chỉ có nhiệm vụ giữ đất, mà cây đước còn phát triển nhiều vi sinh hữu ích làm sạch môi trường, nhất là môi trường chuyên nuôi tôm, cá… 
Nhưng khi chàng đước chen chân đến định cư, thì nàng mắm đành phải dứt áo ra bãi bồi mới, theo đúng quy luật thiên nhiên từ xưa đến nay, để bảo đảm cho hệ sinh thái bền vững. 
Cây mắm đầu sóng ngọn gió. Cây đước biến phù sa thành đất phì nhiêu Cây mắm rừng Cà mâu tưởng không ích gì, làm củi thì khói, làm gỗ gia dụng thì không được; nhưng chính cây mắm nầy giữ đất phù sa lại, kết dính đất phù sa với nhau, trở nên mầu mỡ tốt tươi, và nhờ đó mũi Ca Mâu ngày một mở rộng dần...]
                                                           (Theo Lâm Bích)

- Cây mắm mọc quanh rừng ngập mặn Mũi Cà Mau như một lá chắn giúp bảo vệ bờ biển trước nguy cơ sạt lở do biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Đây có thể nói là một trong những loài cây có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành lên rừng ngập mặn. Như chúng ta biết, bãi bồi Mũi Cà Mau được hình thành từ sự lắng đọng phù sa của hai con sông lớn là sông Cửa Lớn và sông Bảy Háp. Mắm là cây tiên phong của vùng đất bồi ven biển. Mỗi năm Mũi Cà Mau vươn ra biển được gần 80 - 100m cũng một phần nhờ loài cây mắm.



                                (Hình Cây mắm 2)

Xin được trích ra đây đoạn liên quan đến cây đước trong truyện ngắn nổi tiếng của nhà văn, nhà biên khảo Bình Nguyên Lộc: "Rừng Mắm"

.[... Xa, xa lắm, có những cây mọc lẻ tẻ như những tên lính xung phong mau bước tiến tới để hãm thành lập công.
– Nhìn xuống gốc cây! Ông nội bảo.
– Nước chưa lớn hẳn, để lộ bùn đen dưới gốc cây ra. Bùn đen từng nơi lại trắng xóa những đóa hoa năm cánh, hai màu đối chọi trông rất đẹp.
– Cây gì mà lạ vậy ông nội? Trổ bông ngay dưới gốc.
Bông trổ trên đầu những cái rễ ăn lên mà người ta gọi là rễ gió. Cây này là cây mắm, đây là rừng mắm đấy.
– Cây mắm? Sao tui không nghe nói đến cây ấy bao giờ.
– Con không nghe, vì cây ấy không dùng được để làm gì cả cho đến làm củi chụm cũng không được.
– Vậy chớ trời sanh nó ra làm chi mà vô ích dữ vậy ông nội, lại sanh hằng hà sa số như là cây cỏ ấy.
– Bờ biển này mỗi năm được phù sa bồi thêm cho rộng ra hàng mấy ngàn thước. Phù sa là đất bùn mềm lủng và không bao giờ thành đất thịt được để ta hưởng, nếu không có rừng mắm mọc trên đó cho chắc đất. Một khi kia mắm sẽ ngã rạp. Giống tràm lại nối ngôi nó. Rồi sau mấy đời tràm, đất thuần, cây ăn trái mới mọc được.
Thấy thằng cháu nội ngơ ngác chưa hiểu, ông cụ vịn vai nó mà tiếp:
– Ông với lại tía con là cây mắm, chơn giầm trong bùn. Đời con là đời tràm, chơn vẫn còn lấm bùn chút ít, nhưng đất đã gần thuần rồi. Con cháu của con sẽ là xoài mít, dừa cau.
Đời mắm tuy vô ích, nhưng không uổng, như là lính ngoài mặt trận vậy mà. Họ đã ngã gục cho kẻ khác là con cháu họ hưởng.
Con, con sắp được hưởng rồi, sao lại muốn bỏ mà đi. Vả lại con không thích hy sinh chút ít cho con cháu của con hưởng sao?
(Đoạn trên thằng Cộc đã nói: – Ở đây mình có ruộng, nhưng cũng khổ cả đời. Tui muốn đi quá, đi đâu cũng được, miễn là ở đó có làng xóm, có người ta- NL) ...] 
                                  [Rừng Mắm - Bình Nguyên Lộc]

4. Cây Bần

--  Cây bần, còn gọi là thuỷ liễu, là loại cây to mọc dựa bờ nước, lá nhiều. Cây thuộc loài thân gổ đại mộc có thể cao đến 20m và có đường kính đến 50 cm. Loại cây này có nhiều cành, cành non màu đỏ, 4 cạnh, có đốt phình to. Gổ xốp, bở, vỏ thân chứa nhiều tanin
– Bần gốc to, khỏe, rễ mọc sâu trong đất bùn. Đặc biệt từ rễ mọc ra nhiều "rễ thở" thành từng khóm quanh gốc.
– Lá đơn, mọc đối, dày, giòn, hơi mọng nước, hình bầu dục hoặc trái xoan ngược hay trái xoan thuôn, thon hẹp thành cuống ở góc, cụt hay tròn ở chóp, dai, dài 5-10cm, rộng 35-45mm. Cuống và một phần gân chính màu đỏ, gân giữa nổi rõ ở cả 2 mặt, cuống dài 0,5 – 1,5cm.
–  Hoa trắng, cụm hoa ở đầu cành, có 2-3 hoa, rộng 5cm, có cuống hoa ngắn. Đài hợp ở gốc, có 6 thùy dày và dai, mặt ngoài màu lục, mặt trong màu tím hồng. Cánh tràng 6, màu trắng đục, hình dải, thuôn về hai đầu. Nhị có chỉ hình sợi, bao phấn hình thận. Bầu hình cầu dẹt, vòi dài, đầu hơi tròn.
– Trái tròn dẹp, có đài dầy, mọng nước, đường kính 5-10 cm, cao 2-3 cm, gốc có thùy đài xòe ra. Trái khi còn non thì cứng, giòn ăn chua và chát, nhưng khi chín thì mọng, thịt quả mềm Nhiều hạt có hình dẹt
Xuất phát từ cái tên bần đồng âm với sự nghèo túng, bần cùng, mà người Nam bộ đã đặt câu đố về nó:

Giống chi toàn là giống đực

Thiếu tứ bề cam cực chung thân ?

Giống đực là bởi ở loài cây này, luôn có một phần của rễ mọc ngoi lên mặt đất để hút dưỡng khí, dân gian gọi là “cặc bần”. Từ đó, người ta cho rằng bần không có giống ... cái !


Bần ơi, ơi hỡi cây bần

Lá xanh bông trắng lại gần không thơm

Hình dáng của cây bần đã thể hiện khá rõ nét qua câu ca dân dã ấy.



                 (Hình cây bần - Dừa nước)

Sự Tích Cây Bần 


Truyện kể dân gian đại khái như sau:                                   

Xưa kia có một gia đình nông dân rất nghèo khó, áo chẳng được lành, cơm chẳng đủ no. Chẳng ai biết vợ chồng anh ta tên gì, chỉ dựa vào gia cảnh mà gọi anh là Bần. Hết cày thuê đến cuốc mướn mà nhà Bần vẫn vẫn không sao có đủ gạo ăn. Người vợ ngày ngày phải lặn lội tìm thêm trái rừng, lá cây mọc hoang hái về ăn đỡ dạ.
Năm ấy, trời lụt, nước dâng cao ghê lắm. Cảnh nghèo như Bần càng thêm khốn khổ. Vợ chồng Bần biết vậy nên bồng bế nhau đi khỏi xóm, đến vùng đất ở cửa sông để cắm câu, xúc tép, mong sanh tồn qua cơn thắt ngặt.
Nhưng sức mỏn hơi mòn, Bần đã gục ngã bên bãi đất bồi ven sông. Chồng chết, vợ Bần than khóc thảm thiết rồi cũng qua đời sau đó không lâu.
Thời gian trôi qua, trời hết lụt, cuộc sống trở lại bình thường, mọi người nhớ đến Bần ra cửa sông tìm thì chẳng còn ai thấy bóng dáng của hai vợ chồng nghèo khổ ấy nữa. Tìm mãi, họ phát hiện hai cây lạ mà trước nay vùng đất này chưa từng có. Một loại cây mọc ven sông, to tàn rậm lá, hoa nở tim tím, trái hình tròn dẹp, ăn vừa chua vừa chát. Họ gọi đó là cây bần. Một loại cây khác mọc gần đấy cũng cho trái hai màu tím và trắng như bông cây bần nhưng ăn có vị mặn. Người gọi đó là cây Mắm. Họ tin rằng đấy là hai loại cây do vợ chồng Bần hoá thành, hai thứ cây này thường mọc gần nhau, chúng có đời sống rất đơn giản mọc trên vùng đất cằn cỗi hay bùn hoang, giống như tình cảnh của hai vợ chồng chàng trai nghèo khó ngày trước 
                                                                     (Sưu tầm)                                                                                                                                

Tại sao gọi là thuỷ liễu?

Giai thoại kể rằng khi vua Gia Long bôn tẩu đến cửa sông Hàm Luông, tỉnh Bến Tre đã ăn món cây bần chua chấm mắm và đặt cho loài cây này cái tên trang trọng hơn là “thủy liễu”, nghĩa là cây liễu nước (sống ở bùn nước, cành rủ xuống như cây liễu).
Đây là giai thoại:
"Cây bần gắn liền với cái tên thuỷ liễu đầy thơ mộng bởi một giai thoại liên quan đến vua Gia Long trong những ngày gian khó. Dân gian miệt cù lao Bến Tre kể : Khi chạy lánh Tây Sơn, có lần thuyền chúa Nguyễn lạc vào rạch Ụ, Cái Mít (thuộc Hàm Luông ngày nay), phải nhờ gia đình ông Trần Văn Hạc, là cai việc trong làng « bữa cơm ». Tình thế bất ngờ, lại phải “bảo mật”, chúa Nguyễn nói với gia chủ :
- Tôi chỉ muốn xin bữa cơm đạm bạc, có gì ăn nấy vì tôi phải đi thật gấp !
Ông cai Hạc suy nghĩ : nếu làm thịt gà, thịt vịt thì tốn thời giờ. Giết heo lại càng lâu lắc và lộ bí mật. Đích thân ông Cai vào bếp, giở hũ mắm sống rồi ra ngoài bãi hái mấy trái bần mới vừa chín cây.
Có lẽ, đó là lần đầu tiên và cũng là duy nhất Nguyễn Ánh được thưởng thức món ăn như vậy. Mùa vị vừa chua, vừa chát của bần, mùi vị đặc trưng của mắm và có lẽ quan trọng nhất là bụng đói cồn cào sau bao ngày chạy loạn, khiến vị vua cảm thấy thích thú :
- Trái chi mà ngon vậy ?
Cai Hạc kính cẩn thưa :
- Muôn tâu, tên trái ấy nghe dân dã quá, kẻ bề tôi chưa tiện thưa qua ạ !
- Cứ nói, đừng sợ chi cả !
- Thưa, trái bần ạ !
Nghe xong, Nguyễn Ánh cười, bảo :
- Trong lúc gian truân này ta mới hiểu trái bần thật ngon lành, nó chẳng kém gì cam quýt, nhãn, hồng
Vừa nói, vị vua thuở hàn vi liếc mắt nhìn rặng cây bần mọc hoang trung trùng điệp điệp trước nhà, lá bần xanh mượt gờn gợn thật thơ mộng. Hơn thế, từng chùm bông bần đung đưa, khoe nhuỵ trắng hồng vương bay theo gió.
Vua bèn phán :
- Cây này giống như cây liễu, trong Đường thi, Tống phú. Cây liễu ở Trung Hoa mọc trên đất cao, cây liễu xứ ta mọc trên bãi bùn, dầm chân trong nước mặn mà lá vẫn tươi xanh. Từ nay, ta gọi nó là thuỷ liễu, tức cây liễu mọc dưới nước nhé!" 
                                                       (Theo Trần Minh Phương)

Vậy là, từ đó bần có một loài tên không kém phần vương giả 


Đóm đeo thủy liễu đôi chùm

Biết ai nhơn đạo chỉ giùm làm ơn.


                                (hình Bần- Trái)

Miếu Ông Bần Quỳ 

Ở hạ lưu sông Vàm Cỏ Tây (huyện Vàm Cỏ, Long An) có miếu thờ ông Mai Công Hương, dân gian quen gọi là " miếu Ông Bần Quỳ ". Theo Huỳnh Ngọc Trảng trong "Ngàn năm bia miệng" (Sở Văn hoá và Thông tin Long An, in năm 1984), thì từ khi Mai Công Hương (người sau đó được triều đình nhà Nguyễn phong làm « vị quốc tử nghĩa thần ») tử tiết (khi đánh với quân Nặc Thâm, năm 1705) thì tất cả “bần” mọc hai bên bờ sông đều “quỳ” xuống như muốn tỏ phục hành động nghĩa báo của ông. Có dị bản khác thì cho rằng sau khi Phan Thanh Giản tuẫn tiết năm 1867, bần ở vùng ngã ba sông Vàm Cỏ và sông Tra hàng loạt bần quỳ xuống ... chịu tang người trung liệt. Từ đó, dân gian gọi ngả ba này là Ngã ba Bần Quỳ.

Cũng theo Huỳnh Ngọc Trảng giải thích thì “hiện tượng bần quỳ là do nước sông xói mòn làm cây cối ở mé sông ngả nghiêng ...
Khi nước ngập một phần lớn của rễ bần, nếu nước chảy mạnh, rễ bần thường ngã qua xuyên lại. Do đó, dân gian miền quê Cửu Long có một câu đối khá độc đáo về rễ bần như sau:

Nước chảy cặc bần run bây bẩy

Gió đưa dái mít giãy tê tê

Công dụng của cây bần


-- Trái bần lúc còn sống thì chua và chát. Trái bần chín có vị chua và mùi thơm rất đặc trưng nhưng hoa bần thì lại không thơm. Do vậy mà ca dao có câu:


“Cây bần ơi, hỡi cây bần

Lá xanh bông trắng lại gần không thơm.” 

Đơn giản nhất là hái trái bần... ăn chơi. Bần chín rụng xuống người ta lượm về hoặc hái trái chua còn trên cây ăn chơi lúc rãnh rang, vị vừa chua chúa, chát, lại mằn mặn của muối ...

Như ở phần giai thoại lý giải tên thuỷ liễu chúng tôi đã nói đến món mắm sống với bần được mang đãi cả vua. Ca dao có câu:

Muốn ăn mắm sặc bần chua

Chờ mùa nước nổi ăn cho đã thèm

Mắm sống (mắm cá sặc, cá rô, cá chốt, cá trê vàng ...), giở ra, xắt chuối chát, kèm ít rau rừng như lá cách, cơm nguội, đọt sộp, lá lụa, vài trái ớt hiểm xanh... thêm trái bần chua nữa, ăn cớm với cơm nóng thì quả thật sướng đến... đã đời. Cơm hết nồi cũng chưa thấy no, chưa muốn nghỉ !

Khi ăn cơm, người ta có thể dầm bần chín với cá kho, mắm kho, để chấm rau sống, hoặc chấm ngay bằng gỏi bông bần. Bông bần được hái về bóp với dấm chua, làm gỏi ...
Trong số các món ăn mà bần góp mặt, cầu kỳ nhất có lẽ là canh chua bần và đọt bần xào chuột.                                          
Canh chua bần thì ngon nhất là nấu với cá bống sao. Đồ bổi (rau) để nấu canh chua bần cá bống sao thì không thể thiếu cọng môn (có thể là thân loại môn trồng lấy củ, hoặc thân môn ngọt, chỉ để ăn cọng) và ngò gai.
Cọng môn cắt về, tước sạch vỏ bọc bên ngoài, xắt thành hình thoi. Ngò gai xắt sợi, cá bống sao làm sạch để ráo nước. Bắc nước sôi cho trái bần chín vào nấu rã, dùng rổ lược vớt bỏ hột. Nêm nếm vừa chua, đổ bổi vào nấu. Sau đó, cho cá bống vào để vài phút rắc ngò gai và ít cọng bông bần lên trên tô canh, ăn ngay khi canh nóng ... nếu để lâu thịt cá sẽ nát và mất ngon. Nước chầm là muối, ớt chín dầm nát và bọt ngọt, đường cát ...
Mùi chua của bần, mùi ngọt của cá, cọng màu xanh của môn, ngò , sắc tím lẫn trắng của bông bần gợi nên tình quê đậm đà sâu nặng ...
Ở món chuột đồng xào đọt bần, thì chuột cơm ngoài đồng ruộng béo tròn (ngon nhất là chuột no lúa mùa từ tháng mười đến tháng chạp hàng năm), đào hang bắt chúng về làm sạch, để ráo nước, rồi đem bằm thật nhuyễn. Hái đọt bần non rửa sạch, để ráo nước xắt sơ qua. Bắc chảo lên bếp cho nóng, phi tỏi mỡ cho thịt chuột đã băm nhuyễn vào xào cho thịt chín đều thịt có màu trắng đục, rồi tiếp tục cho đọt bần vào. Khi đọt bần đã chín, cho chút gia vị bột ngọt, đường, nước mắm, ớt bằm nhỏ, trộn đều cho thấm. Nhắc xuống ăn nóng, chấm với nước mắm tỏi, ớt ...
Vị chua chua, chan chát của đọt bần, trộn lẫn cùng vị béo ngọt của thịt chuột làm thành món ăn độc đáo miền quê.
                                           (Theo Trần Minh Phương)

-- Trong dân gian, người ta thường dùng cây bần như một vị thuốc nam

Bần chua và bần ổi để cầm máu (dùng vỏ và lá),
Làm tan các vết bầm tím do đụng dập (dùng lá)
Tiêu viêm, giải nhiệt, giảm đau (dùng quả)
Điều trị nhức mỏi (dùng rễ và thân)
Ngăn chặn xuất huyết (lên men dịch quả để làm thuốc)
Điều trị ung thư vòm họng (dùng trái bần non)
Điều trị sỏi thận (rễ bần sao thủy thổ)

-- Bần đã đi vào địa danh như Rạch Bần (Cần Thơ), Cây Bần (Bạc Liêu, Sóc Trăng), Ngã Ba Bần Quỳ (Long An) ...


Bần là loài cây tạp ít giá trị kinh tế nhưng chức năng giữ đất trước sự xâm lấn của sóng biển thì thật đáng nể. Bần mọc đến đâu đất dai bền vững đến đó. Có được điều này vì bộ rễ của nó phát triển khá vững chắc và chiếm một không gian rộng lớn ...

Câu thành ngữ “Cặc bần nhét nút chai” quá quen thuộc đối với người dân miền Tây sông nước. Nội dung của nó liên quan trực tiếp đến rễ của cây bần. (Các nút chai đựng rượu thường được làm từ cặc bần) Rễ bần có hai phần:  Phần ẩn dưới đất và phần mọc từ dưới bùn chĩa lên trời để hút dưỡng khí.  Rễ khí này lớn hơn ngón tay cái, dân miền Tây Nam Bộ thường gọi nó một tên rất đặc biệt: "Cặc bần".
 Theo Việt Nam tự điển (Lê Văn Đức – Lê Ngọc Trục, Khai Trí, Sài Gòn in năm 1970) giải thích, Cặc bần (danh từ, thực vật) : Rễ cây bần, rễ cứng đuôi nhọn đâm ngược và ngay lên chôm chổm khỏi mặt đất từ 20 đến 40 cm .
Theo dân gian, cặc bần còn được chặt nhỏ phơi khô nấu nước uống để chữa một số bệnh của phụ nữ.
Thân cây bần to có thể cưa ván, nhưng đây chỉ là ván tạp, không chắc, xài chỉ được đôi ba năm. Người nghèo dùng ván bần để làm ngựa (một loại phản, kê để ngồi) xài trong nhà. Người nghèo chết thì chôn hòm bằng ván bần... Các loại nhánh, thâ ... còn dùng làm củi nấu ăn ...
                                          (Theo Trần Minh Phương)

Cây bần trong ca dao


Xin ghi ra đây vài câu ca dao có liên quan đến cây bần:

--  Mở đầu bằng một câu ca dao lịch sử :

Bần gie đóm đậu sáng ngời

Rạch Gầm Xoài Mút muôn đời oai linh

- Rạch Gầm - Xoài Mút 

Câu ca dao này gắn liền với trận thủy chiến Rạch Gầm - Xoài Mút của Đại tướng quân Nguyễn Huệ, ông phá tan quân Xiêm xâm lược nước ta năm 1785. tại Rạch Gầm - Xoài Mút, Khúc sông Mỹ Tho, cách Mỹ Tho khoảng 12 km
Để hun đúc tinh thần yêu nước, chống ngoại xâm, tôi xin trich ra đây diễn tiến của trận đánh:

[ ... Theo hầu hết các tài liệu sử Việt thì sau khi nhận lời giúp Nguyễn Ánh, tháng 4 năm 1784 vua Xiêm Rama I sai cháu là Chiêu Tăng làm chủ tướng và Chiêu Sương, làm tướng tiên phong, thống lĩnh 2 vạn quân thủy và 300 chiến thuyền, từ Vọng Các vượt vịnh Xiêm La, qua ngả Kiên Giang sang giúp. Ước tính lực lượng liên quân Xiêm - quân Chúa Nguyễn - quân Chân Lạp (gồm 5.000 quân của Chao Phraya Abhaya Bhubet -sử Việt chép là Chiêu Thùy Biện - một người Chân Lạp làm quan cho Xiêm) tổng cộng quân số khoảng hơn 2 vạn.

Quân Xiêm tự do cướp giật, cưỡng hiếp phụ nữ, cướp bóc tài sản, giết bừa không tha già trẻ Việt Nam
Sau khi bí mật cho quân và tàu chiến ẩn náu ở các nơi hiểm yếu, Nguyễn Huệ lệnh cho quân đến khiêu khích. Lập tức, Chiêu Tăng giao Sạ Uyển ở lại giữ đại bản doanh, cử Lục Cổn dẫn bộ binh men theo tả ngạn sông Tiền để cùng phối hợp; còn ông cùng với tướng tiên phong là Chiêu Sương, dẫn hàng trăm thuyền chiến tiến xuống Mỹ Tho, nơi đặt đại bản doanh của Tây Sơn.
Đêm ngày 18 tháng 1 năm 1785 (ngày 8 tháng Chạp năm Giáp Thìn), lợi dụng con nước đang xuôi, cả hai đạo thủy bộ quân Xiêm cùng rầm rộ tấn công.
Đến khoảng đầu canh năm ngày 19 tháng 1 năm 1785, đoàn thuyền chiến của địch lọt vào trận địa mai phục của quân Tây Sơn ở Rạch Gầm-Xoài Mút, tức thì pháo lệnh tấn công của Tây Sơn nổ vang. Mở đầu trận đánh, hai đội thủy binh Tây Sơn từ Rạch Gầm, Xoài Mút bất ngờ lao ra, chặn đánh hai đầu, dồn quân địch vào vòng vây đã bố trí sẵn. Đồng thời, từ hai bờ sông Tiền (đoạn Rạch Gầm-Xoài Mút) và dọc bờ cù lao Thới Sơn, bãi Tôn, cồn Bà Kiểu, Rừng Dừa... các đại bác cùng pháo hỏa hổ của bộ binh Tây Sơn bắn ra dữ dội vào khúc giữa đoàn thuyền địch lúc bây giờ đang bị ùn lại.
Đồng loạt, đoàn thuyền Tây Sơn từ Rạch Gầm, Xoài Mút, trong những nhánh rạch nhỏ chảy quanh các cồn bãi, nhanh chóng kéo ra chặn đánh đầu. Một đoàn thuyền Tây Sơn khác ẩn náu sau cù lao Thới Sơn, xông ra đánh mạnh vào hông (nhằm chia cắt đội hình) và đánh chặn đường lui, dồn đoàn thuyền của đối phương vào thế tiến thoái lưỡng nan. Cùng lúc ấy, quân Tây Sơn, cho những thuyền nhẹ chở đầy những vật liệu dễ cháy đâm thẳng vào những chiến thuyền đang rối loạn làm cho số bị chìm, số bị cháy...
Quân Tây Sơn, thủy bộ phối hợp với nhau, khép chặt vòng vây, tiêu diệt quân địch hết mảng này đến mảng khác. Dưới sự chỉ huy và đốc chiến của Nguyễn Huệ, quân Tây Sơn lao vào cuộc chiến đấu quyết liệt. Một viên tướng quân Nguyễn về Long Hồ kể cho Mạc Tử Sinh biết: "Nguyễn Huệ đốc chiến ở phía sau, ra lệnh liều chết đánh, quân sĩ nào không quyết chiến thì chém ngay để làm răn. Vì thế các tướng sĩ đều liều, không nghĩ gì đến tính mệnh... tiến công rất là mãnh liệt"
Trời vừa rạng sáng, thì chiến cuộc cũng vừa dứt. Kết quả là 300 chiến thuyền và 2 vạn thủy binh của Xiêm cùng một số quân của chúa Nguyễn, không đầy một ngày, đã bị quân Tây Sơn phá tan. Hai tướng Chiêu Tăng, Chiêu Sương chạy trốn về Sa Đéc, bị truy kích, lại hối hả cùng Sa Uyển dẫn vài nghìn tàn quân chạy bộ sang Chân Lạp rồi về Xiêm...]
(Trận Rạch Gầm – Xoài Mút năm 1785 - Người Kể Sử)

Diễn tiến trận ta thấy giống y như trận Xích Bích, quân Đông Ngô của Chu Du đốt cháy toàn bộ chiến thuyền của Tào Tháo thời Tam Quốc.


- Bần gie đóm đậu 


Tôi xin nói thêm vài hàng về "Bần gie đóm đậu", "Đóm đeo thủy liễu", về ánh sáng nhấp nháy của đom đóm :

Đối diện giữa sông Hậu, nhìn từ Đại Ngãi/ Vàm Tấn quê tôi,  bên phải là cù lao Dung chạy dài ra tới cửa biển Đông, bên trái là nhiều cồn nhỏ nổi song song nhau với những bờ cây bần chạy dọc theo bãi bùn, giữa là khe nước chảy êm đềm (Dải đất nổi giữa dòng sông, lớn gọi là Cù Lao, nhỏ gọi là Cồn). Những đêm không trăng, trời mờ ảo, triệu triệu đóm sáng nhấp nháy, chớp tắt nhịp nhàng của đom đóm cái gọi tình trong đêm, trên những hàng bần rũ. Thả thuyền xuôi giòng, trong khe nước giữa hai hàng bần; cùng bạn tri âm, tri kỷ nâng ly lặng ngắm cảnh trời. Dường như thuyền lạc vào cõi thiên thai! Vẳng đâu đây tiếng cá đớp bông, trái bần chín rụng.
Chỉ có đom đóm cái mới nhấp nháy ánh sáng gọi tình, đom đóm đực thì không. Xin được dẫn ra đây những điều lý thú về đom đóm cái:
Trong cuốn sách nói về đom đóm "Fireflies", tác giả Walker đã giải thích về sự nhấp nháy ánh sáng tình ái đó như sau: Trong bóng đêm, những con đom đóm đực thường bay ở trên chập chờn như ma trơi. Trong lúc đó thì những con đom đóm cái đậu trên lá cây ngọn cỏ chờ đom đóm đực. Đom đóm cái phải quan sát rất kỹ xem con đom đóm đực có phải cùng loại không (có khoảng 2000 loại đom đóm khác nhau). Nếu thấy là cùng loại, thì đom đóm cái sẽ nháy đèn ánh sáng tình ái, làm hiệu cho đom đóm đực biết để bay xuống làm tình! Điều thú vị là đom đóm cái có thể bắt chước điệu nhấp nháy của những đom đóm cái không cùng loại khác. Khi đom đóm đực không cùng loại xà xuống tưởng sẽ được làm tình, "chàng" sẽ bị đom đóm cái ăn tươi nuốt sống. Thế là đom đóm đực đã bị giống cái lừa một cách thảm thương. Đây có thể gọi là một thứ quyến rũ chết người.
                   (Câu Chuyện Hai Dòng Sông - Nguyên Lạc)


                             (hình Bần- Hoa)

-- Vài câu ca dao hài hước có liên quan đến cây bần:


Tuổi thân con khỉ ăn bần

Chuyền cây hái trái lọt ùm xuống sông.

Cây bần gie cây bần ngả cây bần quỳ

Cảm thương con khỉ đột lấy gì mà ăn.

Anh kia trốn bụi bần non

Không lo chài lưới, lo dòm các cô

Phụ mẫu đánh anh quặt quà quặt quại,

Đem anh treo tại nhánh bần
Rủi đứt dây mà rớt xuống,
Anh cũng lần mò kiếm em.

Hổng thương em hổng có cần

Trầm hương khó kiếm chớ đước, bần thiếu chi

Trèo lên chót vót cây bần

Vái anh đi cưới vợ, cho sóng thần nhận ghe

Ba bốn nơi sang cả, phụ mẫu em muốn gả

Em chấp tay : khoan đã, chưa tới duyên phần
Phụ mẫu nói em bất tôn giáo hoá
Em trèo lên cây bần cho kiến nó bu 

-- Truyện tiếu lâm về cây bần:


Danh ngôn Hán Việt có câu:


Bần cư náo thị vô nhân vấn 

Phú tại thâm sơn hữu viễn thân (khách tầm)

 (Nghèo ở chợ đông không đứa hỏi

 Giàu nơi núi thẳm lắm người thăm)

Trong các tiệc rượu được các "ông thần ve chai" sửa lại như sau:

Bần cưa ván ngựa đen như sắn 

Mọc cặp mé sông đứng chết trân

Hay:

Bần cưa khúc bự vô phương vác
Cú tại màng tang đứng chết trân

- Đúng là ông này ngớ ngẩn, cưa thành nhiều khúc nhỏ thì vác được chứ gì, phải không?


Hoặc:


Bần cưa ván ngựa vô phương đóng

Cú tại màng tang đứng chết trân"

- Câu này được giải thích lý thú như sau:

"Bần cưa ván ngựa vô phương đóng": Chúng ta ai cũng biết bần là loại cây sống trong môi trường bùn nước, có rễ phụ mọc nhô lên, có chức năng giữ đất rất tốt. Theo kinh nghiệm dân gian thì thân cây bần to có thể cưa ván, nhưng đây chỉ là ván tạp, không chắc, xài chỉ được đôi ba năm. Gỗ bỡ nên ván bần chỉ dùng đóng những đồ dùng nhỏ xài trong nhà như ngựa, phản. Chỉ người nghèo mới dùng ván bần làm hòm. Bột gỗ bần chế biến theo phương pháp sulphat hóa, có thể dùng làm nguyên liệu chế tạo giấy thô. Cành bần khô dùng chất chà nhử cá và làm củi đun. Gỗ bần dùng làm củi đốt, tuy tạo nhiệt lượng cao nhưng nhiều tro và muối. Rễ có tên bình dân là c... bần dùng làm nút chai và làm phao cho lưới đánh cá.
Gỗ bần chống được hà và sâu bọ nên có thể dùng làm ván thuyền, vật liệu xây dựng, cột nhà; tuy nhiên lại ăn mòn các kim loại khác do chứa lượng muối khoáng cao nên khi cưa bần, xẻ ván để đóng đồ dùng, nguời ta chỉ dùng mộng gỗ để ghép mà không đóng đinh. 
                                       [Theo Blog Tống Phước Hiệp]

5. Cây Mù U

Quê hương tôi không có mùa thu

Biết lấy chi mơ thu sương mù?
Dòng Hậu giang lặng lờ soi bóng
Đưa tiễn người. rụng trái mù u!
(Quê Hương Tôi Không Có Mùa Thu - Nguyên Lạc )


                         (Hình cây mù u-trái)

Cây mù u tên khoa-học là  Balsamia Inophyllum Loureillo, còn gọi là cây Hồ đồng.Theo tài liệu Cây cỏ rừng ngập mặn của  chuyên gia lâm-học xứ Cà Mau. Cây mù u có thân gổ lớn, có thể cao đến 20m, và đường kính 80cm, dáng đẹp và tàng xanh lục, có mủ (oleoresin) xanh dợt. VN  có 2 loại mù u tía và mù u trắng. Lá đơn, mọc đối, phiến nguyên, hình trứng, láng và dầy. Hoa trắng pha vàng cam, thơm, tạo thành chùm 6-10 hoa, ở nách lá, đầu cành.

Trái có nhân cứng, tròn, đường kính 2,5cm,1 hột, có mầm lớn, chứa nhiều dầu, không phôi nhủ. Ở VN,cây mọc những vùng ven biển từ Kiến-An, Quảng-Ninh, đến Quảng-Bình, Huế, Đồng-Nai, Miền tây,.Tại U-Minh, cây trồng 55 năm , đường kính thân đến 55cm. 
Trong dân gian cây mù u được nhắc nhiều trong ca dao, tiếng hò, tiếng ru, hay  câu đùa  dí  dỏm: 

Cây mù u lá mù u

Vợ chồng cắng đắng thằng cu làm hòa.  
  
Hay:

Chày mù u cối mù 

Vợ chồng oánh lộn thằng cu giảng hòa

Trận chiến mù u


-- Có giai thoại về "Trận chiến mù u" liên quan đến trái mù u như sau:

Dưới thời vua Tự Ðức để lại chiến công hiển hách, quân Pháp từ Thuận An tiến về Kinh thành Huế, bị quân triều đình mai phục bất thình lình đổ trái mù u ra mặt đường, giặc Pháp bị bất ngờ đạp trên trái mù u té, phục quân đổ ra đánh chém, giặc Pháp thua chạy dài, các hàng cây mù u xanh tươi của Xã Tắc còn đó, gợi lại niềm tự hào dân tộc đã chiến thắng quân xâm lược.
  
Văn Thánh trồng thông
Võ Thánh trồng bàng
Ngó vô Xã Tắc hai hàng mù u.

-- Theo ông Võ Quang Yến thật sự như sau:


"Người Huế hay tự hào về một chuyện đánh thắng Tây thời Tự Đức. Thấy quân Pháp, trong các cuộc duyệt binh, khi bước không co chân, tưởng họ không có đầu gối, vậy chỉ việc kiếm cách đánh ngã xuống đất thì họ không đứng lên lại được! Cũng như ta đã tưởng nước miếng của họ có hồ vì chỉ liếm vào là dán được tem. Nhà học giả Đông phương Thái Văn Kiểm dựa lên truyến thuyết kể chiến thắng nầy :"Khi quân Pháp đổ bộ lên cửa Thuận An, kéo binh vào thành Huế, quân ta mai phục hai bên đường vào đàn Xã tắc, bèn lấy trái mù u, đổ ra đầy đường. Quân Pháp đi giày da, đạp lên mù u, nhào té đảo điên. Quân ta thừa thế nhảy ra đánh áp la cà làm cho quân Pháp phải chạy tán loạn. Vì vậy mới gọi là trận giặc mù u. Ngày nay, hai bên đường Xã tắc, còn hai hàng mù u cao ngất nghễu thỉnh thoảng rụng trái trên vai người đi đường, như để nhắc nhở một trang sử oanh liệt." . Một người quê gốc Huế, anh Võ Hương An, rất am hiểu những sự tích ở chốn Thần kinh, tìm hiểu sâu rộng thì nhận ra chuyện vậy mà không phải vậy (4a). Tối hôm 22 tháng 5 năm Ất Dậu tức là ngày 04.07.1885, hai vị đại thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết thật muốn tấn công quân Pháp ở Trấn Bình Đài tức Mang Cá, không quên cho rải trước đồn những trái bàng và mù u. Suốt đêm, trước pháo đạn của ta, quân Pháp bình tĩnh thế thủ trong hầm, đợi đến rạng ngày 23 mới phản công. Quân ta ít thuốc đạn, thiếu tổ chức, tán loạn bỏ chạy, đạp lên các trái bàng và mù u, té ngã, chà đạp lên nhau, rất nhiều người chết. Thì ra gậy ông đập lại lưng ông! Và không có chuyện đánh thắng Tây, cũng không phải ở đàn Xã tắc. Theo nhà văn Pierre Loti, tức trung úy hải quân Julien Viaud, thì quân Pháp chỉ đánh chiếm Thuận An rồi thương thuyết để đặt nền bảo hộ lên nước ta nên không có chuyện quân Pháp từ Thuận An lên đánh thành Huế."

                             (Trận chiến mù u - Võ Quang Yến)


                           (Hình cây mù u-hoa)

Vài câu Lý, ca dao liên quan đến mù u:


“Trăng đã lên chơi vơi rường ơ 

Mù u đã chín ơ
Soi bóng trong khoang ghe rường ơ
Mù u đã rơi…. “ 
(Lý Mù U)

“Bướm vàng đã đậu cây mù u rồi 

Lấy chồng sớm làm gì, để lời ru thêm buồn “ 
(Sao Em Nỡ Vội Lấy Chồng)

Công dụng cây Mù U

Ở thôn quê, mù u thường mọc theo bờ sông, rạch. Có lẽ từ một bờ rạch nào đó một trái mù u rụng xuống nước rồi theo dòng sông trôi đến đây nẩy mầm, mọc rễ. 

Thân cây mù u cũng chứa nhiều mủ màu xanh thường thấy rịn ra ở vỏ. cũng nhờ thân cây mù u có nhiều dầu nên gỗ mù u khó thấm nước và do đó được dùng để đóng ghe, xuồng.
Ngoài ra trái mù u còn để làm một món đồ thực dụng: cái gáo nhỏ dùng để múc nước, múc nước mắm... Gáo mù u giống hệt gáo dừa thường dùng để múc nước nhưng nhỏ xíu trông rất dễ thương. 
Ngoài công dụng làm đồ chơi và gáo, mù u rất thông dụng ở nhà quê vì người ta dùng dầu mù u để thắp đèn (đèn dầu mù u). Muốn lấy dầu mù u người ta phải phơi mù u khô rồi đập lấy ruột ép để lấy dầu bằng hai khúc gỗ. Cây đèn dầu mù u rất giản dị: Một cái chén hay một cái dĩa đựng dầu có cọng tim nằm vắt thòng ra vành miệng để đốt. Cây đèn mù u có khói xanh bốc lên bay khắp nơi làm không khí đục mờ, trông rất nghèo khổ. Ngoài cách đốt dièn bằng dầu, người ta còn có thể làm những cây rọi để đốt (đuốc). Mù u ép xong, lấy xác còn lại trộn với bông gòn, tẩm vào một chút dầu mù u rồi quấn quanh cọng tre như một cây nhang lớn, thế là được một cây rọi. Đèn dầu mù u sạch sẽ hơn cây rọi, nhưng đốt cây rọi người ta được một mùi thơm nhè nhẹ dễ chịu của trái mù u.
Song song với việc dùng để đốt lấy ánh sáng, dầu mù u còn được dùng để xức các loại ghẻ, nhọt, mụn u. Đốt trái mù u cho cháy thành than, xong tán thanh cho nhuyễn và trộn vào một chút dầu mù u là có được một thứ thuốc xức ghẻ hay tuyệt. Nhựa mù u có thể dùng để làm thuốc cầm máu vết thương rất hay và thông dụng.

- Đây là ký ức tuổi thơ của Nguyên Hạnh:


[... Ngoại tôi thì hàng ngày lấy rổ ra những con khém, con rạch vớt mù u về đem làm rọi thắp sáng thay đèn dầu.

Mù u vớt về phơi khô rồi đập phần vỏ lấy nhân đem ủ trong các lu, khạp sành khoảng 4- 5 ngày, sau đó đem ra quết chung với bông gòn rồi nắn vào cọng trúc, cọng tre vót nhỏ dài khoảng 5 tấc, phía dưới chừa khoảng 1 tấc để cắm.
Sau khi nắn xong đem phới 2- 3 nắng là khô đốt cháy rất bền bỉ đến khi hết mới thôi. Để làm đồ cắm rọi, ngoại tôi nắn cục đất khối vuông, hình chữ nhật, hình thang có chứa lỗ ở giữa.
Mỗi đêm chỉ cần khoảng 10 cây là đủ cho cả nhà xài. Lúc còn nhỏ, chị em chúng tôi đêm đêm học bài cũng nhờ ánh sáng từ những cây rọi mù u của ngoại.
Đó là trò chơi các trẻ nhỏ nông thôn. Nhựa cây mù u thì chúng tôi làm dụng cụ bắt ve sầu. Lấy nhựa cây mù u rất đơn giản, chỉ cần dùng dao chặt một vết phần phần da cây, chờ khoảng 10 phút, nhựa chảy ra, dùng cọng lá dừa quẹt một chút nhựa, gắn cọng dừa vào dầu cây trúc, vậy là đã được dụng cụ bắt ve. Những chú ve sầu mãi kêu gọi bạn, chúng tôi nhè nhẹ chấm đầu cọng dừa có nhựa mù u vào cánh ve, thế là chúng khó thoát...] [Cây mù u và tuổi thơ tôi - Nguyên Hạnh ]

- Hồi nhỏ thì tôi dùng nhựa mù u, để chấm bắt chuồn chuồn, rồi dùng chuồn chuồn cắn rún mình để cho biết bơi vì bị người lớn "dụ" rằng cho nó cắn rún thì sẽ bơi được. Ôi đau và bị uống nước!


Thò tay ngắt trái mồng tơi

Bậu thoa môi tím nhìn tôi bậu cười
Chuồn chuồn cắn rún tập bơi
Trên bờ dừa nước bậu cười dòn tan
( Môi Tím Mồng Tơi - Nguyên Lạc)

6. Cây Sứ cùi 


Trong bài thơ TRUYỆN TÌNH VÙNG U MINH ở dưới có nói cô gái nép dựa  bên cây Sứ cùi, nên xin giải thích sư lược về cây hoa này.

Đại cương :
Cây sứ cùi thuộc họ trúc đào Apocynacesae, có tên khoa học là Plumeria, cây có nguồn gốc từ Mehico, Trung Mỹ. 
Cây Sứ cùi: tiếng Anh Frangipani, Pháp gọi Frangipanier tên khoa học Plumeria rubra, họ Apocynaceae (Trúc Đào) đã trở nên là một cây ở tư gia của Châu Mỹ nhiệt đới và Châu Phi Trồng để trang trí vì có hoa đẹp, có lá xanh tươi gần như quanh năm. 
Theo Giáo sư Phạm Hoàng Hộ (1993), ở Việt Nam có 3 loài thuộc chi Plumeria được gây trồng nhiều nơi. Đó là loài Plumeria alba – Sứ cùi, Đại trắng; loài Plumeria obtusa – Sứ (Đại) lá tù; và Plumeria rubra – Sứ (Đại) đỏ. Trong số đó, Plumeria rubra có 4 dạng khác nhau: (1) dạng hoa trắng tâm vàng, đôi khi phớt hồng – P. rubra form. acutifolia, (2) dạng hoa vàng, đôi khi phớt hồng – P. rubra form. lutea, (3) dạng hoa đỏ, tâm vàng – P. rubra form. rubra và dạng hoa trắng, bìa hồng, tâm vàng – P. rubra form. tricolor.
Cây Sứ Frangipani - Plumeria rubra L.cv. Acutifolia gồm nhiều loại như là cây màu trắng, màu đỏ. Loài Sứ, phát triển lan rộng nhờ hệ thống cây trồng. Đồng thời cũng là nguồn gốc của nhiều giống lai và giống trồng. Cây Sứ Cùi còn có tên gọi khác là Cây Sứ Đại, Cây Sứ Ấn Độ...
Lá tập trung ở đầu cành, lá rụng hết vào mùa đông, để lại nhiều sẹo to, trên đều cành trụi lũi giống như bàn tay cùi nên được gọi là sứ cùi, có người cho là xấu nên được gọi là cây đại. Cây sứ rất siêng hoa, nở gần như quanh năm. Cành hoa trên một cuống mập dài, thân ra nhiều nhánh hoa nhỏ. Hoa tập trung ở đỉnh, màu đỏ tím. Vào mùa đông, lá rụng hết, trên cây còn lại toàn hoa nở đầy cành đỏ rực, làm cảnh hay trang trí rất đẹp.
Cây rất dễ trồng bằng giâm cành, ít tưới nước, úng nước cây sẽ thối chết, nhưng khi sống mạnh cây cần nhiều nước.  Cây được biết đến nhờ sự chịu đựng một thời gian dài hạn hán. Một cây thiếu nước sẽ rụng lá, thân cây nhăn nhún nhưng cây vẫn tiếp tục sống và trở lại bình thường nếu được tưới ở lần đầu.


                                  (Hình Sứ vàng)

Tại sao gọi là Sứ cùi?

Tại Việt Nam, tên gọi cây Sứ cùi, theo hình dạng của cây, giống như tay chân của người bị bệnh cùi, và cũng để phân biệt với những giống cây Sứ khác như Sứ ngọc lan, Sứ chúa    

Vì cây Sứ cùi mỗi lần rụng lá đổi mùa, các cành cây hình trụ đầu tròn, chu chú vài chồi lá nhỏ trông tựa ngón tay của người mắc bệnh phong hủi (bệnh cùi). Cách gọi này là một lối so sánh đối chứng, xem đây là một loài cây có hoa thơm như hoa Sứ (Michelia champaca) nhưng cành nhánh bị cùi hủi. Cách đặt tên kiểu này cũng tương tự như cách đặt tên của người Australia , họ gọi cây Sứ cùi là “dead man’s fingers tree” (cây ngón tay người chết).
                                                                                                                                                             
Thực vật và môi trường :

Cây Sứ Frangipanier là một cây tiểu mộc nhỏ, lá rụng, khoảng 3 đến 7 m chiều cao, thân cây cong queo, bên ngoài thân láng và bóng, thân thịt mềm , với những chất dính dồi dào, có mủ trắng.

Thân cây tròn mập, phân cành nhánh nhiều, dài, khẳng khiu cong queo, xù xì. Ví thế, Tán cây Sứ Cùi rộng và dày. Vỏ cây có màu trắng xám và có nhiều sẹo trên thân do rụng lá để lại, cây có nhựa mủ.Gổ trắng ngà hơi vàng và mềm.
Những nhánh rậm nhiều, dày thịt, phù lên và ửng màu xanh lá cây ở những điểm.
Lá cây Sứ Cùi thuôn dài có hình bầu dục, rộng ở giữa và hẹp lại ở cả 2 đầu. Lá có màu xanh bóng, nhẵn ở mặt trên, lớp lông mịn cùng với gân chính màu trắng nằm ở mặt và các gân viền ở mép nổi rõ ở mặt dưới lá. Lá xếp sát nhau thành vòng ở ngọn cành, khi rụng để lại sẹo lớn ở cành.
Cây sứ cùi là cây bóng mát có hoa đẹp. Cây sứ cùi có nhiều loại khác nhau; tuy nhiên những loại đang được ưa chuộng hiện nay bao gồm: cây sứ hoa trắng; cây sứ hoa vàng; cây sứ hoa hồng.
Cây có lá to và tán lá rộng. Vì thế thường trồng làm cây bóng mát, tạo cảnh quan cho đô thị, các khu công nghiệp, công viên cây xanh, các khu di tích.Không chỉ vậy, cây sứ đại còn có hoa đẹp và có mùi thơm dịu nên được nhiều người chọn trồng để tạo cảnh quan sân vườn đem lại cho con người ta cảm giác an nhiên.Bởi vì hình dáng cây độc đáo, có nhiều cành nhánh tạo vẻ cổ kính nên cây sứ đại được trồng khá nhiều trong các đình, đền, lăng, tẩm để tăng thêm vẻ trang nghiêm cho những nơi này.

Công dụng

-- Sứ cùi thường được trồng ở các đền đài, và dùng hoa của nó để thờ cúng. Nicaragua và Lào là hai nước lấy cây Sứ cùi làm quốc hoa, ở đó nó được gọi với cái tên là Sacuajoche ( Nicaragua ) và Champa (Lào). Sứ cùi có tên tiếng Anh là frangipani, xuất phát từ tên dòng họ Frangipani của một gia đình hầu tước đã nghĩ ra cách tạo một loại nước hoa có mùi của hoa Sứ cùi.
-- Cây sứ cùi còn có tác dụng chữa bệnh như một cây thuốc thảo dược, theo y học dân gian, điều trị nhiều bệnh như:  Nhuận tràng, xổ ra giun. Hoa của cây sứ đại có thể trị sốt, chữa ho và tiêu đờm. Lá của cây sứ đại còn có thể nấu thành cao, đắp vào chỗ da bị trầy chảy máu sẽ giúp cầm máu và vết thương sẽ mau lành.
Hoa của các loài trong chi Plumeria thường được dùng trong các trường hợp:  Phòng say nóng; Chữa viêm ruột, lỵ; Trị chứng khó tiêu, kém hấp thu ở trẻ em;  Chữa nhiểm khuẩn viêm gan; Chữa viêm phế quản, ho…
Nhựa cũng được dùng như vỏ, chữa chai chân, sưng tấy, mụt nhọt. Lá cũng được dùng chữa bong gân, sai khớp, mụn nhọt. Nhiều người còn dùng vỏ cây ngâm rượu để ngậm chữa chứng nhức răng do viêm lợi. 
                                             (Theo Đỗ Xuân Cẩm)

(Còn tiếp phần II: Chuyện Tình)


                                                           Nguyên Lạc


READ MORE - CHUYỆN TÌNH VÙNG U MINH NAM BỘ QUÊ TÔI (I) - Nguyên Lạc

TÌNH CẦM - Thơ Trần Mai Ngân





TÌNH CẦM

Tình cầm lạc nẻo thiên tai
Ta từ xưa cũ chia hai lối tình
Ta về dung rũi một mình
Còn Mình nơi ấy nhớ hình bóng xưa?

Muôn trùng lạc bước muôn trùng
Dáng Hoa xa khuất... đã từng dấu yêu
Còn đâu cười nói những điều
Còn đâu mà bảo thật nhiều nhớ mong...

Cầm bằng nước chảy qua sông
Hai bờ bồi lở duyên hồng gãy đôi
Cầm bằng hờ hững chắc rồi
Xin trời lượng thứ mây trôi vô tình!

Cầm bằng ta với gọi Mình
Thinh không trả lại chữ tình trăm năm! 

                                   Trần Mai Ngân
                                      12-7-2019

READ MORE - TÌNH CẦM - Thơ Trần Mai Ngân

ĐÊM VÀO HỘI..., NHỚ..., KHÚC MỘNG - Thơ Tịnh Đàm


 
                    Nhà thơ Tịnh Đàm



        ĐÊM VÀO HỘI...

Dịu dàng,
Mười ngón tay tiên
Tóc huyền em vấn
Làm duyên với đời.

Đêm xôn xao,
Cả đất trời
Bồi hồi tay nắm...
Trong lời hẹn nhau.


NHỚ...

Nhớ người,
Qua bóng hoa rơi
Chiều đi rất nhẹ
Bên lời gió đưa.

Ru đời,
Vào giấc mơ xưa
Lòng nghe xao xuyến...
Như vừa gặp đây.


KHÚC MỘNG

Em là hương
Dậy men đời
Để môi thơm ngọt
Hát lời tình yêu.

Hồn tôi,
Cánh gió phiêu diêu
Thả bao mơ ước...
Cho chiều lên xanh.

TỊNH ĐÀM
(TP. HCM)

READ MORE - ĐÊM VÀO HỘI..., NHỚ..., KHÚC MỘNG - Thơ Tịnh Đàm

VỞ KỊCH - Truyện ngắn - Lê Hứa Huyền Trân

Tác giả Lê Hứa Huyền Trân



VỞ KỊCH
Truyện ngắn
Lê Hứa Huyền Trân

Cái ngày mà tôi lên phố, như mọi khi, ba rít một hơi thuốc dài, tôi dỗi:
“Ba đã hứa bỏ thuốc rồi mà cứ tiếp là sao?”
Ba khề khà:
“Cha mi! Ba chỉ hút thuốc khi có quá nhiều nỗi lo mà thôi.”
Đến đó, tôi ước chừng mình không nên nói nữa. Trên cái chõng tre ở miền quê nghèo nắng cháy, đương buổi đêm, có hai cái bóng đang ngồi yên lặng. Thứ duy nhất khắc họa trong bức tranh giữa đêm đó là bóng đen của một cây cau bên sân nhà cao chót vót, tưởng chừng ở một góc nhìn nào đó che lấp cả ánh trăng. Tiếng róc rách của cái lu nước bên nhà mà má đương đổ nấu vội canh nước vối, và tiếng muỗi vo ve thi thoảng ba lại phe phẩy cái quạt để đuổi. Bóng đêm mang trong mình uy lực đến độ chẳng ai buồn cất tiếng khi nó kéo tới, những ngôi nhà trong xóm chỉ còn những ánh đèn hột vịt, tiếng nói tắt hẳn, có chăng chỉ là tiếng thở khi đã quá mệt mỏi buổi sáng ngày. Tôi và ba ngồi im lặng cho đến khi ba rít một hơi thuốc dài rồi dụi lửa.
“Con đi rồi ba đừng có ở nhà mà hút thuốc miết. Cái phổi đã không khỏe rồi. Nhỏ với má lo.”
Ba lúc lắc đầu. Kì này tôi quyết định lên phố lập nghiệp, ba không ưng nhưng cũng không ngăn cản hoài bão của con. Cả gia đình sớm tối bên nhau, việc tôi đi gần nghĩa với sự chia cắt trong ba nên ba mới buồn, mới lo, rồi sanh hút thuốc. Từ hồi con nhỏ, sanh trưởng với gốc tre làng, cái lí của người dân quê hay cho phố thị là chốn bộn bề đầy nguy hiểm, ba vẫn lo cho tôi học hành đầy đủ nhưng cuối cùng khi tôi lên đại học vẫn chỉ là chốn trường làng. Cứ như cố gắng bảo vệ được đến đâu hay đến đó, nhưng rồi cuối cùng, học xong tôi vẫn quyết đi, vì nhà tôi có biến, mảnh đất quê không đủ nuôi sống cả gia đình. Ba không cản tôi, gương mặt ông hằn lên sự bất lực, chỉ dặn vội vài cái rồi chui vô mùng vờ ngủ. Má vật vờ khóc trắng cả đêm…
***
  Vậy mà tôi lên phố dễ cũng đã đến dăm năm, chưa một lần cất bước về thăm quê cũ. Ba má có nhớ, có thương thì tay đùm tay gói lặn lội lên thăm, nhưng cũng chỉ ở năm thuở mười thì rồi lại túc tắc về quê bởi không quen với mùi khói xe, mùi bề bộn và mùi của những bon chen tính toán. Dăm năm trên phố, nhiều thứ cũng đã trải qua, công việc dần ổn định khiến tôi không muốn dứt bỏ, thời gian nghỉ phép thì ít, mà đường về quê thì dài nên hầu như cứ mỗi lần nhớ quê da diết định về thì tôi lại lấy đúng ra số tiền dự định bỏ vào ống heo gửi về cho ba má. Chẳng mấy chốc con heo đất cứ đầy dần lên thì tôi lại đem đi gửi, số tiền đầy lên cứ như số lần tôi nhớ quê, nhớ ba má nhưng đành im lặng, tôi như chôn vùi nỗi nhớ thương vào lòng để dành tiền cải thiện cuộc sống gia đình họa chăng sẽ tốt hơn.
Tôi chơi thân với Mỹ, cô bạn cùng chỗ làm. Mỹ lớn hơn tôi một tuổi nhưng chúng tôi xem nhau như những người bạn. Nó và tôi làm ở hai mảng khác nhau trên công ty nhưng trong công việc luôn bổ trợ cho nhau, chẳng thế hai đứa đều là phận gái quê lên tỉnh, ở cùng phòng trọ nên ngày càng thân thiết. Ngày mới vô làm, hai đứa chật vật dữ lắm, nhà trọ thì xa mà giờ đi làm thì quá sớm, tối lại còn đi làm thêm, sáng có bận ngủ dậy trễ, lên sếp mắng không còn gì. Tôi không khóc mà Mỹ cũng không, vì chúng tôi nuốt nước mắt vào lòng chứ không thích để nó rơi mà mang lại nụ cười trên bờ môi người khác. Cứ thế chúng tôi bảo bọc nhau mà sống. Cứ chiều chiều, có những bận quên nấu cơm, thèm ốc thế nào hai đứa lại đèo nhau trên chiếc xe cọc cạch tìm khắp các quán, phố thì rộng mà quán nhỏ thì lại cứ nằm trong hóc hẻm, cứ như không đủ để bon chen. Đến khi kiếm được, hai đứa cùng ăn rồi húp nước ốc xì xụp, cay nồng ấm nóng, tự nhiên hai đứa òa khóc. Chị chủ cứ nghĩ hai đứa bị ớt làm cay:
“Tao nhớ nhà quá mày ơi. Ngày nhỏ toàn đi bắt ốc như giờ nuôi thằng Típ mà lớn.”
“Tao cũng nhớ tới đám lục bình ở nhà, nhớ đám cua, nhớ nồi riêu má tao nấu…”
Thế nhưng cuộc sống nó cũng thật vô thường, nó mang trong mình sức mạnh bẻ cong con người đến sợ.
Ngày chi nhánh tôi và Mỹ làm sáp nhập chung với chi nhánh chính, mọi công việc của chúng tôi đổi khác. Dù vẫn là công ty cũ nhưng chúng tôi phải chuyển qua chỗ làm mới, với những con người mới và cọ xát được nhiều cách làm việc mới. Lúc đó, cách nhìn cuộc đời của tôi và Mỹ cũng có khá nhiều biến chuyển.
Ở chỗ làm mới, Ngọc gần như là trưởng phòng. Ngang tuổi tôi, cao ráo, không xinh gái lắm nhưng được cái mau miệng, và điều đặc biệt, là tình nhân bí mật của sếp. Dường như năng lực hay ngoại hình gần như hoàn toàn thua kém so với cái chức danh “tình nhân của sếp” trên một người dưới vạn người của Ngọc. Ngay từ lúc mới vô làm tôi và Ngọc đã có sự tranh cãi nảy lửa, tính tôi thì thẳng, mà tính Ngọc thì thích kể công nên chúng tôi chẳng ưa nhau, và ngay giây phút đó, tôi đã trở thành người được sếp lưu ý. Nhiều đêm, đi làm về mệt nhoài, Mỹ hay ôm tôi:
“Sao mày cứ gây sự với con Ngọc chi vậy? Nó được sếp cưng lắm đó.”
“Cưng thì sao mày? Nó hách dịch, nó làm sai, oang oang toàn được cái miệng, tao chịu không thấu… Mà, còn mày nữa, giờ mày sao vậy? Mày sợ đó à?”
“Tao thấy tệ, vì tao không ngờ giờ xã hội nó thế. Mày thấy cái đám bu quanh con Ngọc không? Trời ạ, ca tụng nó như thần tiên.”
Thế mà chỉ dăm bữa sau mọi thứ thay đổi, trong đám người ấy nay có cả Mỹ. Từ lúc nào Mỹ thân với Ngọc hơn, công việc cũng ngày càng thăng tiến hơn, còn tôi, gần như ngày nào cũng gục với đống hồ sơ chất cao như núi. Đêm về, tôi và Mỹ không còn giành thời gian cho nhau nữa, chúng tôi im lặng quay mặt vào góc tường. Được ít bữa Mỹ cũng chuyển đi và sau lần đó tôi và nó không còn nói chuyện, để rồi nhiều đêm khi ngồi nhớ về những kỉ niệm đã có tôi chỉ biết rơi lệ, kí ức trắng hơn cả mảng tường.
Rồi biến tới, lũ về cướp sạch cá của những dòng sông, thậm chí chúng còn ngửa bụng bạc thếch đầy ngoài ruộng. Lúa ẻo lả gục ngả vàng đồng, hạt bị dập nảy mầm tơi tả. Tiếng ỉ ôi vang một góc trời. Tôi ứng lương trước, công ty ai cũng biết tôi đang khó, những người thân cũng gom góp chút ít cho tôi chuẩn bị về quê. Thế mà đùng một cái công ty mất đi một khoản tiền, với công ty chỉ là nhỏ thôi nhưng với tôi khi ấy nó là cả một mảnh đất sống, số tiền ấy nhỏ đến độ chẳng ai cần quan tâm tìm ra thủ phạm nhưng nó cũng đủ quyết định nhân cách của một con người. Chẳng hiểu vì lẽ gì Ngọc lại đề xướng tìm bằng được người lấy cắp, và tự nhiên chỉ qua một ngày như bao ngày bình thường mọi ánh mắt đổ dồn vào tôi. Thậm chí Ngọc còn nói thẳng với tôi:
“Nếu ai đó có khó thì nói, chứ dở chứng mà sinh ăn cắp thì thực là không tốt.”
Tôi bị sự ghẻ lạnh của cả công ty, tất cả mọi người nhìn tôi bằng ánh mắt khác. Thậm chí giờ ăn trưa, khi tôi đến gần Mỹ, để tâm sự, Mỹ cũng nhìn tôi bằng ánh mắt dè chừng và lấm lét, đến độ nó bật ra thành tiếng:
“Mày đừng có lại gần tao giờ, mất công mấy đứa nghĩ mày chia tiền với tao nữa.”
Trưa, tôi ở lại trong công ty một mình mà nước mắt đổ rơi tuôn thành suối. Đi ngang qua máy cái máy tính có khung chat, tôi còn thấy đoạn chat của Ngọc và Mỹ: ”Chắc là con Huyền nó lấy chứ ai, ai đâu vô, mày ở cùng phòng với nó năm năm không lẽ không hiểu”. ”Tao cũng nghi là nó, nó đang khó nữa, đường cùng quá làm liều.”  Thậm chí vì biết tôi ngồi cạnh Ngọc, sợ tôi nhìn thấy hai người chat, Mỹ còn dặn: ”Mày bật khung chat nhỏ nhỏ thôi, chứ mắc công người ngồi bên cạnh thấy.”  “Tao sợ đếch gì nó.”  Tôi cảm thấy như đất trời quay cuồng , Mỹ, cô bạn cùng phòng ngày nào giờ nói về tôi như thế. Dù có thể không còn có thể đi cùng nhau tiếp tục trên quãng đường đời cũng không thể bảo vệ tôi lấy một lần ư? Lại còn giờ khi tôi đang khốn cùng quay vào đổ lỗi cho tôi. Năm năm ấy, có lẽ tôi đã quá tệ? Tôi sống trong ánh mắt kì thị của mọi người và nỗi lo về chốn quê nhà lam lũ. Nhiều lúc tôi muốn bật khóc vì những gì đã diễn ra nhưng rồi câm lặng. Cái cảm giác khi tất cả đều quay lưng với tội lỗi mình không có, nó uất ức hơn rất nhiều. Và cái cảm giác bị phản bội nó ngập tràn trong tôi, thi thoảng cứ mỗi sáng tôi lại thấy Mỹ, đứng trong đám đó, khoanh tay, dè bỉu và xúc xỉa tôi, chẳng hiểu sao tôi bất chợt mỉm cười:  “Năm năm”.
  Thế nhưng không ai như những người trong cuộc kể cả Ngọc nghĩ mọi việc lớn tới thế khi sếp tổng cũng bắt đầu truy tìm ai là thủ phạm. Thật bất ngờ khi đó là Mỹ, cả Ngọc cũng choáng về việc đó, Mỹ bị đuổi việc ngay sau đó, nhất là sau khi biết Mỹ và Ngọc còn hùa thêm nhân viên khác đổ lỗi cho tôi. Ngày Mỹ dọn đồ đi, tôi không nói gì cũng không nhìn nó, nó có gửi tin nhắn xin lỗi tôi nhưng tôi xóa ngay sau đó. Tôi không đủ cao thượng như trong câu chuyện kể để nói lời tha thứ, nhưng như lẽ luân thường tôi chấp nhận cách Mỹ ra đi. Được ít lâu, tôi về nhà thăm quê, bên mâm cơm, tôi thấy mặn chát, kể lại tất cả những gì đã qua, cả Mỹ. Ba im lặng:
“Đó là những gì mi sẽ gặp phải trên đường đời. Ba đã cố bảo bọc mi, ba sợ có ngày mi sẽ tổn thương, nhưng ba vẫn để mi đi, vì ba muốn mi hiểu, trên cuộc đời này có rất nhiều vở kịch mà con người phải xem qua.”
Tôi gật đầu cười tươi:
“Đến giờ phút này con đã mất môt người bạn nhưng con có nhiều người bạn khác. Và con không hối hận khi xem được vở kịch đầu tiên của cuộc đời. Vì cái cuối cùng con thấy được đó là một bài học, phải không ba?”
“Con gái ba nay lớn rồi đó.”
Sau đợt nghỉ này tôi sẽ lại đi làm, sẽ tiếp tục cuộc sống của mình, và chắc chắn trên cuộc đời này tôi sẽ tiếp tục xem nhiều vở kịch khác. Nhưng không hiểu sao, tôi lại thấy vô cùng hứng thú, bởi sau những tổn thương nó giúp tôi lớn lên và nhận ra được nhiều thứ đến với mình hơn. Cuộc sống không phải lúc nào cũng hoàn hảo và ta không thể cứ trốn chui nhủi trong vỏ bọc để bào vệ mình. Như cách ba đã để tôi đi ngày trước, ra đời để lớn lên.

Tác giả: Lê Hứa Huyền Trân
Hội viên Hội VHNT tỉnh Bình Định


READ MORE - VỞ KỊCH - Truyện ngắn - Lê Hứa Huyền Trân

NGHE ĐỒN RẰNG - Thơ: Quách Như Nguyệt - Nhạc: Văn Sơn Trường - Ca sĩ: Thúy Hiền

READ MORE - NGHE ĐỒN RẰNG - Thơ: Quách Như Nguyệt - Nhạc: Văn Sơn Trường - Ca sĩ: Thúy Hiền

YÊU DẤU - Thơ Quách Như Nguyệt



Yêu Dấu

Em muốn gọi anh, nói lời yêu dấu
Gọi cho anh, em nói em yêu anh
Để rồi nghe anh nói anh yêu em
Mình nói mãi, nói hoài… không biết chán

Em muốn gọi anh, mỗi ngày… nghe anh nói
Nghe tiếng anh, để vui cả một ngày
Giọng ấm áp, em nghe hoài ..ngây ngất!
Tim rộn ràng, mê tiếng nói, mê say!

Em muốn gọi, không cần chờ anh gọi
Hồi hộp chờ… nghe anh nói “hello cưng”
Tim đập tưng tưng, em vui quá chừng chừng!
Đời sống đẹp nhờ có anh yêu dấu

Em muốn gọi, muốn gọi anh yêu lắm!
Nỗi đam mê… ngày một lớn dần!
Nhớ mắt nhìn, nhớ bờ môi thương thân
Ôi nhớ quá! Muốn gần anh yêu dấu!

Mình gọi phone cho nhau hằng ngày
Mình gặp nhau ba, bốn lần trong tuần
Vẫn thấy nhớ, nhớ từng giờ từng phút!
Tình chúng mình hạnh phúc, chẳng gian truân

Rồi vô thường kéo tới, tình tàn úa dần dần
Sóng gió nổi lên, ta mỗi ngày một bận
Hết chuyện nầy xẩy ra đến chuyện kia
Hai chúng ta càng ngày càng xa cách

Rồi có lúc, em cố tình lẫn tránh
Cắt đứt tình, đau khổ nói xa anh
Chẳng nhẫn tâm đâu, em không còn chọn lựa
Muốn chúng ta thành đôi bạn tốt lành
Giờ thì anh nằm yên nơi huyệt lạnh
Tình yêu xưa như làn khói mong manh
Những bài thơ em làm bay theo gió
Chẳng còn anh, ai thông cảm nỗi niềm?

Vĩnh biệt anh, người em yêu dấu
Vĩnh biệt môi hôn, vĩnh biệt nụ cười
Vĩnh biệt quãng đời xa tít tắp mù khơi
Quá khứ ơi, tình xưa ơi…. Vĩnh biệt!

Quách Như Nguyệt
June 19th, 2019

READ MORE - YÊU DẤU - Thơ Quách Như Nguyệt

Saturday, July 13, 2019

TRÊN CÀNH TUYẾT SƯƠNG | Thơ Mặc Phương Tử




TRÊN CÀNH TUYẾT SƯƠNG

Sáng nay khách viếng vườn chùa
Cành hoa sứ nở giữa mùa thu rơi.
Bên thềm mây trắng đương trôi,
Tách trà hương thoảng
Nghe lời Sắc-Không.


Thì hoa,
Thì khách,
Thì lòng...
Tình hoa, bước khách, 
Tim hồng mười phương.
Trần tâm một thoáng vô thường,
Nẻo về bước ngọc, đoá tường vân xinh.


Bên trời chim hót lời Kinh
Nắng soi bóng nước 
Tỏ hình dặm xưa.
Thời gian xanh chiếc lá đưa,
Dòng trong xanh ngọn mây lùa qua non.


Phải đâu từ buổi hoàng hôn
Buông làn tóc trắng bên cồn tử sinh.
Ngày về 
Chợt thoáng qua nhanh,
Mắt đời còn đọng trên cành tuyết sương!


                           MẶC PHƯƠNG TỬ
READ MORE - TRÊN CÀNH TUYẾT SƯƠNG | Thơ Mặc Phương Tử

THẦY MẪN TỬ KIÊN | TRONG CHẬU | CHẲNG THAM - Chùm thơ Chu Vương Miện

Tác giả Chu Vương Miện
THẦY MẪN TỬ KIÊN
Chu Vương Miện
-
là 1 trong "thất thập nhị hiền"
của Đức Vạn Thế Sư Khổng Tử
thủa nhỏ mẹ mất sớm
thân phụ tục huyền
người kế mẫu có con riêng
phân biệt đối xử
xếp Mẫn Tử Kiên vào hạng tôi tớ
ăn cơm thừa canh cặn
ngủ dưới bếp
ngày ngày kéo xe tay chở thân phụ
đến công đường làm thư lại
sáng chở đi chiều chở về
một sáng mùa đông
lạnh cắt thịt
mưa phùn lất phất
đất lầy ướt lại thêm đói
thầy hụt chân làmchiếc xe lăn kềnh
hai cha con lăn đùng xuống ruộng
khi đứng lên người cha định đánh
1 tay cầm tóc
1 tay cầm gậy
nhưng nhìn vào thân hinh người con
gầy còm ốm yếu thiếu ăn ?
không nỡ đành hỏi
........................
như chợt hiểu
ông bố ứa nước mắt
buổi tối về nhà ông gọi bà vợ kế lên làm việc
2 bên trao đôỉ 
con là con chung? bà phân biệt đối xử
con bà là người?  mà con tôi là nô lệ?
vậy bà suy nghĩ lại
nếu ở thì phải thay đổi 
còn muốn đi thì nhà cửa chia làm 2
bà muốn lấy cáí gì thi tự do
không cần suy nghĩ 
phu nhân quỳ xụp ngay xuống chân chồng
tạ lỗi
-
 TRONG CHẬU
o cá
trong lồng o chim
trứng gà o trống
o nở ra con
trong thơ o có ghệ
o ai thèm nhòm
o ai thèm đọc
vô duyên như loài chim cánh cụt
o bay
chỉ bơi
ôi thơ chung chung
o ghệ buồn nản vô chừng
ghệ là tim
là trung tâm vũ trụ
là tô đậu hủ
uống vào mùa hè
thơ o ghệ
chán phè?
-
CHẲNG THAM
ruộng cả ao liền
chỉ tham cái bút cái nghiên anh đồ
lấy ai chớ lấy học trò
dài lưng tốn vải ăn no lại nằm
"ca dao kèo"
dăm 3 chữ chi hồ giả giã
nghêu ngao trích cú tầm chương
nhai văn nhá chữ
nói thì nhiều ngang ve sầu tháng hạ
trói gà o chặt gà chạy mất
việc nhà thì nhác
việc chú bác thì siêng
toàn chuyện vác ngà voi
ở o làm toàn chuyện thừa
quay đi quẩn lại 

toàn 1 lũ sĩ phu nói phét

cvm
READ MORE - THẦY MẪN TỬ KIÊN | TRONG CHẬU | CHẲNG THAM - Chùm thơ Chu Vương Miện