Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, March 9, 2019

QUẺ DỊCH: CÁCH LẬP VÀ GIẢI ĐOÁN (bài cuối) - Nguyên Lạc


        


       QUẺ DỊCH: CÁCH LẬP VÀ GIẢI ĐOÁN
                                    (Bài cuối)

LẬP VÀ GIẢI QUẺ CHO VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN
                                                                       Nguyên Lạc 
Lời dẫn:
"Kinh Dịch là thứ sách vì hạng quân tử mà làm ra, không phải là của hạng tiểu nhân. Trương Hoành Cừ nói: “Kinh Dịch chỉ mưu tính cho quân tử, không mưu tính cho tiểu nhân”.
Kinh Dịch là thứ sách do sự hư không làm ra. Trước khi chưa có hào vạch, Dịch thì là một lẽ hồn nhiên, ở người ta là tấm lòng im lặng.  Đến khi đã có hào vạch, mới thấy hào ấy là thế nào, hào kia là thế nào. nhưng mà vẫn  theo những cái  rỗng,  tĩnh ấy  làm ra Tượng Số.  Vì vậy nó mới linh thiêng!.
Trong Kinh Dịch, đại khái Dương thì lành (tốt) mà Âm thì dữ (xấu). Đôi khi cũng có Dương dữ mà Âm lành! Tuy nhiên, vì có việc nên làm, cũng có việc không nên làm.  Nên làm mà không làm, không nên làm mà cứ làm, thì dù Dương cũng xấu. Trong Kinh Dịch, hào Dương phần nhiều lành, hào Âm phần nhiều dữ!  Tuy nhiên, cũng cần phải xem ngôi vị của chúng ra sao!
Trong Kinh D
ịch, chỉ có “trinh cát”, chưa có chỗ nào không “trinh” mà “cát”; chỉ nói “lợi trinh”, chứ chưa từng nói “lợi bất trinh”. Như quẻ Kiền (Càn) tốt lắm, nhưng mà ở dưới lại nói “lợi trinh”. Nghĩa là ngay thẳng, trung chính  thì lợi, không ngay thẳng, trung  chính thì không lợi.
Coi Dịch nên dựa chắc vào Tượng mà coi. Xét Tượng Số (Thoán tượng) đích đáng trước, sau đó mới nói Lý (Thoán truyện, Thoán từ). Nhờ vậy  mới khỏi sai lệch. Nếu không, việc không có thực chứng thì cái Lý suông dễ sai.
Kinh Dịch nên đọc lúc lòng mình trống rỗng, không nên giữ ý kiến riêng. Cần phải giữ cho lòng mình sáng sủa, êm ả, yên lặng, thì tự nhiên đạo lý lưu thông, mới bao quát được rất nhiều nghĩa lý.
Xem Kinh Dịch phải bốn ngày xem một quẻ:  một ngày xem lời Quẻ  (Thoán  Tượng, Thoán từ) , hai ngày xem sáu hào ( Hào từ) và một ngày xem tổng quan (gồm tất cả lại)  mới tinh tường!
Kinh Dịch đại khái muốn cho người ta tu tỉnh!. Học Kinh Dịch không phải đợi khi gặp việc mới xem, mới sợ! Ngay những lúc an bình, cũng nên nghiền ngẫm những đạo lý của nó , so với địa vị của mình hiện tại , suy ra nên hành xử thế nào cho thích đáng. Cho nên: “Lúc ở yên thì xem Tượng mà ngẫm Lời , lúc hành động thì xem sự biến đổi mà ngẫm lời chiêm đoán ”.(Kinh Dịch - Ngô Tất Tố)
Trên đây là những lời người xưa đã dặn dò, chúng ta nên thuộc nằm lòng khi nghiên cứu về Dịch.
                                                                                   
NƯỚC VIỆT CỦA CÂU TIỄN

Năm Tân Mùi 770 Tr.cn, nhà Chu ngày càng suy yếu, vua nhà Chu lúc bấy giờ là Chu Bình Vương dời đô sang Lạc Ấp, nội bộ cung đình thường xảy ra tranh chấp thế lực, . Vì vậy mà các nước chư hầu không chịu triều cống cho vua nhà Chu như thường lệ: 3 năm một lần triều cống lễ vật nhỏ, và 5 năm triều cống lễ vật lớn. Một số nước chư hầu còn cả gan lấn chiếm lãnh địa của nhà Chu.
Trong khi đó về phần các nước chư hầu thì ra sức củng cố thế lực, tiến hành chiến tranh thôn tính lẫn nhau rất ác liệt, và trong đó có 5 nước lớn là Tề, Tấn, Tần, Tống, Sở thôn tính nhiều nước nhỏ xung quanh và trở thành những nước mạnh nhất thời bấy giờ, mà sử thường gọi là thời kỳ “Ngũ bá” trong suốt cả một thời gian dài. Về sau còn thêm nước Ngô và nước Việt ở phía Nam sông Dương Tử, tạo nên thất hùng (7 nước hùng cường) một thời,.
Cuối thời Xuân Thu, vua nước Ngô là Hạp Lư dùng một vong thần của nước Sở là Ngũ Tử Tư, Ngũ Tử Tư làm tướng quốc của nước Ngô, vì có thù riêng với vua của nước Sở đã giết cha và anh trai của mình, cho nên Ngũ Tử Tư ra sức giúp vua Ngô là Hạp Lư, đem quân đánh nước Sở, giành được đại thắng, oai danh lừng lẫy. Sau khi đánh thắng nước Sở, Hạp Lư lại tiếp tục đem quân đi đánh nước Việt của Câu Tiễn (Câu Tiễn làm vua từ năm 502 Tr.cn – 462 Tr.cn) Câu Tiễn thân chinh đem quân ra chống đỡ, quân Ngô thua to, vua Hạp Lư chết.
Cháu đích tôn của Hạp Lư là Phù Sai lên nối ngôi, Phù Sai luôn luôn ghi nhớ mối thù với nước Việt, nên sai Ngữ Tử Tư và Bá Hỷ ngày đêm ráo riết luyện tập quân sỹ, chờ sau 3 năm hết tang của Hạp Lư, liền đem đại binh đến đánh nước Việt. Quân nước Việt bị thua to, Câu Tiễn xin giảng hòa với nước Ngô. Phù Sai đồng ý, nhưng bắt Câu Tiễn phải sang nước Ngô làm con tin. Vợ chồng Câu Tiễn và Phạm Lãi sang nước Ngô làm con tin, còn nước Ngô thì giao lại cho Văn Chủng trông coi.
Tròn đúng 10 năm sau, Phù Sai cảm động sự "trung nghĩa"của Câu Tiễn, như đã nếm phân trị bệnh cho mình, nên đã cho Câu Tiễn trở về làm vua nước Việt.
Nhớ hận thua trân và bị nhục, Câu Tiễn về nước ngày đêm huấn luyện binh sỹ chờ ngày phục hận. Trong khi đó Phù Sai suốt ngày chỉ lo ăn chơi hưởng lạc xa xỉ như cho xây dựng Cô Tô Đài.
Câu Tiễn còn tìm kiếm rất nhiều mỹ nữ ở trong nước để dâng cho Phù Sai hưởng lạc. Trongsố các mỹ nữ đó, có Tây Thi (người đầu tiên trong tứ đại mỹ nhân của Trung Quốc) và Trịnh Đán. Sau 3 năm huấn luyện, hai mỹ nhân đó đủ sức làm lung lay nước Ngô.
Từ khi có được người đẹp Tây Thi, Phù Sai suốt ngày mê mẩn người đẹp, chìm đắm trong tửu sắc, không còn chú ý đến việc triều chính nữa. Câu Tiễn thấy nước Ngô ngày càng lụn bại, nên quyết định mang quân sang tiêu diệt nước Ngô. Hai bên giao chiến, quân Phù Sai thua to. Sau Phù Sai  đâm cổ tự tử, nước Ngô bị nước Việt chiếm đóng.
Nước Việt của Câu Tiễn càng ngày hùng mạnh tung hoành khắp giải Giang – Hoài, các nước chư hầu đều thừa nhận nước Việt của Câu Tiễn là bá chủ.
Sau khi công thành doanh toại, Câu Tiễn bắt đầu kiêu ngạo, và có ý diệt trừ các công thần. Phạm Lãi là người biết nhìn xa trông rộng, biết được tâm địa hiểm độc của Câu Tiễn, vì vậy Phạm Lãi có khuyên Văn Chủng nên cùng mình bỏ nước Việt, nhưng Văn Chủng đã không nghe theo lời của Phạm Lãi. Phạm Lãi đã cáo quan và về sau đã trở thành một thương nhân nổi tiếng trong thời Chiến Quốc. Rất nhiều tướng giỏi, công thần của nước Việt bị Câu Tiễn sát hại, hoặc họ tìm cách trốn đi, cho nên nước Việt ngày càng suy yếu, và Câu Tiễn cũng không còn giữ dược địa vị bá chủ chư hầu.
Ngoại sử: Thấy Câu Tiễn đối xử tàn bạo với dân chúng, để khuyên ngăn, Văn Chủng giới thiệu Câu Tiễn một nhà bói Dịch nổi tiếng đến lập quẻ cho nước Việt, tìm cớ giải thích điều hay lẽ thiệt. Nhưng Câu Tiễn không nghe theo lời can gián. Cuối cùng Văn Chủng đã được Câu Tiễn ban cho thanh gươm để tự tử.
Năm 462 Tr.cn, Câu Tiễn chết, ngay sau đó nước Việt liền bị nước Sở tiêu diệt, và trở thành quận Giang Đông của nước Sở.
(Việt Câu Tiễn không là tổ tiên của Việt chúng ta. - Hà văn Thùy)

LẬP QUẺ DỊCH

Đây là kết quả lập và giải quẻ của nhà bói Dịch (tiến hành lập quẻ bằng 50 que cỏ thi) cho nước Việt của Câu Tiễn
Kết quả:
- Hào sơ (1) tổng số 3 lần là:    8
- Hào nhị (2) tổng số 3 lần là:   8
- Hào tam (3) tổng số 3 lần là:  8
- Hào tứ (4) tổng số 3 lần là:    7
- Hao ngủ (5) tổng số 3 lần là:  7
- Hào thượng (6) tổng số 3 lần là 7

Theo các bạn vẽ được các vạch như thế nào? Và quẻ (trùng) đó là quẻ gì?
Căn cứ vào Bảng Bói ở bài 3, ta biết được:  8 là thiếu âm (tĩnh) và 7 là thiếu dương (tĩnh), và sấp lần lượt từ dưới lên trên, từ 1 lên 6, ta được quẻ 12: THIÊN ĐỊA BĨ      

 
              (
Hình 1 quẻ THIÊN ĐỊA BĨ)    

 GIẢI QUẺ                              

Nhà bói Dịch giải đoán:
-- Đây là một quẻ xấu!

Tư
ợng:  Càn Dương  (trời) ở trên, Khôn Âm (đất) ở dưới.  Trời đất cách tuyệt, không giao với nhau, cho nên là bĩ. (Xét Quẻ phải xét từ Nội Quái lên Ngoại Quái: Đất đè trời! Nghịch lý - Nguyên Lạc)
Thoán từ: - Bĩ chi phỉ nhân. Bất lợi quân tử trinh, đại vãng tiểu lai.
D
ịch nghĩa. - Bĩ đấy (?) chẳng phải người. Chẳng lợi cho sự chính bền của đấng quân tử, lớn đi nhỏ lại.

GI
ẢI NGHĨA
Truy
ện của Trình Di. - Trời đất giao nhau mà muôn vật sinh ở bên trong, rồi sau mới đủ ba Tài. Trời đất không giao nhau, thì không sinh ra muôn vật, ấy là không có đạo người, cho nên nói là “phỉ nhân” ( không phải đạo người). Trên dưới phải giao thông, cứng mềm phải hoà hợp: đó là đạo đấng quân tử. Cuộc bĩ thì trái hẳn thế, cho nên không lợi cho người quân tử. Trinh tức là chính đạo của đấng quân tử, bị bĩ tắc mà không thực hành được, lớn đi nhỏ lại, tức là Dương đi mà Âm lại. Đó là tượng “đạo kẻ tiểu nhân lớn lên, đạo người quân tử tiêu đi”, cho nên là bĩ.

L
ỜI KINH
Thoán từ viết: Bĩ chi phỉ nhân, bất lợi quân tử trinh, đại vãng tiểu lai, tắc thị thiên địa bất giao nhi vạn vật bất thông dã; thượng hạ bất giao nhi thiên hạ vô bang dã, nội Âm nhi ngoại Dương, nội nhu nhi ngoại cương, nội tiểu nhân nhi ngoại quân tử, tiểu nhân đạo trưởng! Quân tử đạo tiêu dã.
D
ịch nghĩa: - Lời Thoán từ nói rằng: Bĩ đấy? Chẳng phải đạo người, chẳng lợi cho sự chính bền của đấng quân tử, lớn đi nhỏ lại, thì là trời đất không giao nhau mà muôn vật không thông vậy; trên dưới không giao nhau mà thiên hạ không có nước vậy; trong Âm mà ngoài Dương, trong mềm mà ngoài cứng, trong kẻ tiểu nhân mà ngoài đấng quân tử, ấy là đạo kẻ tiểu nhân lớn lên, đạo đấng quân tử tiêu đi vậy.
Truy
ện của Trình Di: - Khí của trời đất không giao nhau, thì muôn vật không có lẽ sinh thành; nghĩa của kẻ trên người dưới không giao nhau thì thiên hạ không có đạo an bang. Người trên thi hành chính sự để trị dân, dân nương  theo mệnh lệnh, trên dưới giao nhau là để làm việc chính trị. Nay trên dưới không giao nhau, ấy là thiên hạ không có đạo an bang. Âm mềm ở trong, Dương cương ở ngoài, đấng quân tử đi ở phía ngoài, kẻ tiểu nhân lại ở phía trong, đó là lúc đạo kẻ tiểu nhân lớn lên, đạo đấng quân tử tiêu đi.
Quẻ Bĩ ngược với quẻ Thái (sẽ xét ở dưới), quẻ Bĩ dương trên âm dưới, dương bay đi, âm xuống dưới, âm dương rời xa nhau là âm dương cách tuyệt. Giống như người sống còn ở dương gian, còn người chết về nơi âm phủ. Quẻ này đạo quân tử tiêu vong còn đạo tiểu nhân mạnh lên, đó là âm đang dần thắng.
Thường thì quẻ tĩnh ta thường xét Tượng Quẻ , Thoán Tử, ít xét tới Hào Từ; nhưng nếu có xét, thì ta thấy cặp 2-5 tương ứng cũng không tốt. Hào 2 là âm nhu, yếu mềm của người dưới không dám khuyên ngăn người trên nghiêm khắc, cứng rắn của Hảo 5 dương (xem lại sự tương ứng của các Hảo ở bài 2)

CHUYỂN ĐỔI QUẺ
I.
Lập quẻ cho đất nước mà gặp quẻ xấu, rất buồn.
Nhưng người xưa thường nói:  "Hết cơn bĩ cực tới hồi thới lai". Thới lai đó chinh là Quẻ 11: Địa Thiên THÁI
Thử xét Quẻ THÁI này xem sao!

11. ĐỊA THIÊN THÁI *

       (Hình 2 quẻ ĐỊA THIÊN THÁI)

Tượng:  Nó là quẻ Khôn (Âm) ở trên. Càn (Dương) ở dưới, khí của trời đất Âm Dương giao nhau mà dung hoà, thì muôn vật sinh thành, cho nên mới là thông thái. Thái tức là thông thái. (Xét Quẻ phải xét từ Nội Quái lên Ngoại Quái: Trời phủ đất: Thuận lý -  Nguyên Lạc)
Thoán từ: - Thái, tiểu vãng, đại lai, cát hanh.
D
ịch nghĩa: - Quẻ Thái, nhỏ đi, lớn lại, lành tốt hanh thông.

GI
ẢI NGHĨA
Truy
ện của Trình Di: - Nhỏ là Âm, lớn là Dương, “đi” là đi ra ngoài, “lại” là ở bên trong, khí Âm hạ xuống, khí Dương bốc lên, tức là giao nhau. Âm Dương lợi xướng thì muôn vật được sống thỏa , ấy là trời đất thông thái. Nói về việc người, thì lớn là đấng quân thượng, nhỏ là kẻ thần hạ. Vua thành thật  dùng kẻ dưới, bề tôi hết lòng thành thật để thờ vua, chí của kẻ trên người dưới thông nhau, ấy là cuộc thái của triều đình. Dương là quân tử, Âm là tiểu nhân, quân tử lại ở bên trong, tiểu nhân đi ở bên ngoài; quân tử được ngôi, tiểu nhân ở dưới, ấy là cuộc thái của thiên hạ. Đó là đạo của cuộc thái, tốt mà lại hanh thông.

II.
Từ quẻ BĨ (xấu) muốn biến thành quẻ THÁI (tốt) thì cả Nội Quái và Ngoại Quái của quẻ BĨ phải cùng nhau biến:
- Khôn (Nội Quái) biến thành Càn
-  Càn (Ngoại Quái) biến thành Khôn
Trên và dưới bắt buộc phải biến nếu muốn thành Quẻ tốt.
Nói rộng ra, đấng quân thượng (người cầm quyền: trên) và kẻ thần hạ (người dân: dưới) phải biến để được cuộc thái của thiên hạ , đất nước được thái bình, an lành thịnh vượng. Chữ BIẾN bây giờ thường được gọi với ngôn ngữ hiện tại là Cải Cách, Cách Mạng . Biển có thể tự thân, tự mình (bên trong) hoặc do bên ngoài tác động. Thường tự bên trong thì tốt hơn, it xảy ra việc tiêu cực.
Có hai trường hợp trung gian có thể xảy ra:
- Nội Quái biến nhưng Ngoại Quái không biến
- Nội Quái không biến nhưng Ngoại Quái biến
Hãy lần lượt xét:
1. Nội Quái biến nhưng Ngoại Quái không biến:
Nội Quái Khôn âm khi biến sẽ thành Càn dương, lúc đó Quẻ Bĩ biến ra thành quẻ 1: Thuần Càn.

1. THUẦN CÀN *   

  
              (Hình 3 quẻ THUẦN CÀN)

Tượng của quẻ Càn là trời,
Thoán từ: càn nguyên, hanh, lợi, trinh
Dịch nghĩa: quẻ Càn đầu cả, hanh thông, lợi tốt , chính bền.

GIẢI NGHĨA: Văn Vương cho rằng, bói được quẻ này thì tốt. Hanh thông có lợi và tất
giữ cho được tới cùng, nhưng cần phải chính bền vững. Quẻ Càn có tượng của người
quân tử có năm đức tính lớn. Đó là: Nhân-Lễ-Nghĩa-Trí-Tín.
Quẻ Càn là quẻ tốt, tuy không bằng quẻ Thái
Như ta đã biết ở bài 2: Cặp hào ứng 2‐5 quan trọng nhất, hai hào đều đắc trung cả, mà hào 5  lại ở vào địa vị cao nhất.  Nếu hào 5 là âm (nhu), hào 2 là dương (cương) thì tốt (Thí dụ quê Thái) Nếu hai hào ứng mà thể giống nhau (cùng dương hoặc cùng âm cả) thì có khi kỵ nhau chứ không giúp nhau. Trong trường hợp quẻ Thuần Càn nảy, cả hai đều dương (cương), nên sự va chạm tiêu cực sẽ xảy ra. Kẻ thần hạ: Nội Quái (người dân: dưới) biến mà đấng quân thượng: Ngoại Quái (người cầm quyền: trên) không chịu biến thì đương nhiên sự va chạm phải xảy ra thôi. Nội Quái, là gốc, sẽ thắng ngọn Ngoại Quái, để tiến tới trùng quẻ Thái đúng theo tinh thần của Dịch, không lâu thì mau thôi. Tuy nhiên những va chạm tiêu cực sẽ xảy ra rất đáng tiếc.

2. Nội Quái không biến nhưng Ngoại Quái biến
Ngoại Quái Càn dương khi biến sẽ thành Khôn âm, lúc đó Quẻ Bĩ biến thành quẻ 2: Thuần Khôn.

2.THU
ẦN KHÔN *

  
               (Hình 4 quẻ THUẦN KHÔN)

Tượng của quẻ Khôn là đất. Có trời có đất rồi vạn vật mới sinh, trời là vô hình, đất là hữu hình.
Thoán từ: - Khôn nguyên hanh, lợi tẫn mã chi trinh. Quân tử hữu du vãng. Tiên mê, hậu đắc, chủ lợi. Tây Nam đắc bằng, Đông Bắc táng bằng, an trinh, cát.
Dịch nghĩa: - Quẻ Khôn: đầu cả, hanh thông, lợi về nết trinh của ngựa cái. Quân tử có sự đi. Trước mê, sau được. Chủ về lợi. Phía tây nam được bạn, phía Đông Bắc mất bạn. Yên phận giữ nết trinh thì tốt.

GI
ẢI NGHĨA
Truy
ện của Trình Di. - Khôn là quẻ đối nhau với Càn, bốn đức tính giống nhau, mà về thể “trinh” thì khác nhau. Càn lấy chính bền còn Khôn thì mềm thuận là trinh. Ngựa cái là giống có đức mềm thuận mà sức đi khỏe, cho nên dùng tượng của nó, gọi là “nết trinh của ngựa cái”. Việc làm của đấng quân tử mềm thuận mà lợi và trinh, đó là hợp với đức tính của Khôn. Âm phải theo Dương, phải  đợi xướng rồi mới họa theo. Âm đi trước Dương tức là mê lẫn, phải ở sau Dương mới đúng lẽ thường. Chủ về lợi, nghĩa là lợi cho muốn vật đều chủ ở Khôn. Vì cuộc sinh thành đều là công của đất cả. Đạo bầy tôi cũng vậy, vua sai tôi làm, vất vả làm là cái chức trách của kẻ làm tôi. Công của Khôn cũng lớn như Càn, chỉ có Khôn phải sau Càn, phụ thuộc vào Càn. Người quân tử thế thiên hành đạo, khi vào địa vị của quẻ Khôn thi phải tuỳ thuộc vào người trên mà làm việc, không nên khởi xướng để tránh lầm lẫn, như thế ắt thành công.Tây Nam là phương Âm, Đông Bắc là phương Dương. Âm phải theo Dương, lìa bỏ bầy loại của nó mới có thể làm nên công cuộc hoá dục, mà được cái tốt trong việc yên phận giữ nết trinh. Nghĩa là đúng với lẽ thường thì yên, yên với lẽ thường thì trinh, cho nên mới tốt.
Quẻ Thuần Khôn này cũng là quẻ tốt như quẻ Thuần Càn. Cặp hào ứng 2‐5 vì cùng âm (nhu), cũng có va chạm, nhưng vì là nhu nên sự tiêu cực không mạnh lắm. Đấng quân thượng: Ngoại Quái (người cầm quyền: trên) dương cương trong quẻ Bĩ tự biến thành âm nhu (trong quẻ Khôn), biết thay đổi và lắng nghe kẻ dưới; dù kẻ dưới có âm nhu thì rồi cả hai cùng thuận hòa, dịch chuyển theo tinh thần của Dịch.
Xét kỹ, chúng ta thấy rõ ràng là hai trường hợp trung gian này cũng tốt hơn rất nhiều so với tình trạng của quẻ Bĩ.
Nhưng chúng ta ai ai cũng mong muốn được quẻ THÁI, an lành thịnh vượng! Muốn thế cả hai Nội Quái và Ngoại Quái, người trên và kẻ dưới phải cùng nhau biến, thay đổi (Cải Cách, Cách Mạng nếu ta gọi theo từ hiện đại). Mong lắm thay!

LỜI KẾT
Qua sáu bài Quẻ Dịch, Nguyên Lạc tôi đã chia sẻ với các bạn những gì mình đã học từ các thầy, các bậc cao minh về Dịch, mong các bạn tìm thấy được ít nhiều điều hữu ích. Nếu không, coi như " Mua vui cũng được một vài trống canh" 
Chào thân ái với lời chúc tốt đẹp nhất cho đất nước và các bạn!

Nguyên Lạc     
     
...................

Tham Khảo: 
Nguyễn Hiến Lê, Ngô Tất Tố, Richard Wilhelm, Kiều Xuân Dũng, Đông A Sáng,
Wu Wei, Internet, Facebook...
* Nếu vi trục trặc in ấn, các hình Quẻ trông không rõ, xin các bạn tham khảo lại hình tại:  "Danh sách 64 quẻ trong Kinh Dịch" ở bài 2 hoặc bài 3.

READ MORE - QUẺ DỊCH: CÁCH LẬP VÀ GIẢI ĐOÁN (bài cuối) - Nguyên Lạc

ĐỌC “RÉT BÂN NHỚ MẸ”, NGÀY 8 THÁNG 3 - Đặng Xuân Xuyến


   
                   Nhà thơ Hạt Cát Diệu Sinh Bùi Cửu Trường


ĐỌC “RÉT BÂN NHỚ MẸ” - NGÀY 8 THÁNG 3


RÉT BÂN NHỚ MẸ

Rét Bân vương má con hạt mưa
Kiểu mưa Bân này dễ ho, mẹ ạ
Chân mẹ ấm không / rét Đài sương giá?
Tay mẹ cóng không / rét Lộc buốt tê?

Mẹ ơi!
Từ hồi Mẹ đi
quanh con hơ hoác trống.

Mưa Bân chắt lọc
từ li ti hương xuân rất trong
Tình mẹ ấm nồng
gom nhặt từ tháng ngày vất vả
tháng ngày ngược xuôi tất tả
lần hồi mẹ áo nâu sờn...

Mưa Bân rất tròn
mỏng dày xếp giọt
Trời thương Nàng Bân, Trời ban rét ngọt
Con xin Trời cho con nắng tươi
cho con thấy nụ cười
nhóng nhánh hạt na đen của mẹ.

Rét Bân rất nhẹ
Đủ lùa thông thống tháng ba.
Đủ cuốn tuổi đông con
về Mẹ chốn bao la
Tìm hơi ấm Mẹ.

Hà Nội, 08 tháng 03.2019
BÙI CỬU TRƯỜNG




LỜI BÌNH:

Sáng ngày 8 tháng 3, tôi được đọc một bài thơ tự sự, viết về MẸ của nhà thơ, bác sĩ Bùi Cửu Trường.
Bài thơ có tựa đề: RÉT BÂN NHỚ MẸ.
Tôi ấn tượng với bài thơ ở ngay những câu đầu:

"Rét Bân vương tay con hạt mưa
Kiểu mưa Bân này dễ ho mẹ ạ
Mẹ đủ ấm không / khi trời lạnh giá?
Mẹ đủ ấm không / khi đất buốt tê?"

Những câu thơ tự sự giản dị, mộc mạc, trĩu nặng nỗi niềm, từ hạt mưa vương vào tay, gợi nên nỗi lo dịu dàng thường trực: "Kiểu mưa Bân này dễ ho mẹ ạ", rồi đột nhiên thay đổi tâm trạng, từ dàn trải tâm sự sang dồn nén những lo lắng:

"Mẹ đủ ấm không/ khi trời lạnh giá?
Mẹ đủ ấm không/ khi đất buốt tê?"

Khiến người đọc sững lại, rồi trầm lặng khá lâu trước sức ám ảnh của những hình ảnh xuất hiện trong những thước phim rất ngắn. Đến đây, người đọc mới vừa thốt lên lời đồng cảm cùng tâm trạng xót thương của người con hiếu đễ với người Mẹ đã khuất, thì lại vỡ òa cảm xúc bằng những câu tự sự lắng đầy nước mắt. Sự nhớ thương trong đau xót, cút côi được dồn nén đến tận cùng bởi những câu thơ ngấn lệ, trầm buồn:

“Mẹ ơi
Từ hồi Mẹ đi
quanh con hơ hoác trống.”

3 chữ “hơ hoác trống” đã diễn tả tất cả sự nhớ thương - mất mát - cút côi của người con khi mất Mẹ.

Tôi thích 4 câu thơ:

"Rét Bân vương tay con hạt mưa
Kiểu mưa Bân này dễ ho mẹ ạ
Mẹ đủ ấm không / khi trời lạnh giá?
Mẹ đủ ấm không / khi đất buốt tê?"

được viết ban đầu hơn so với 4 câu đã được nhà thơ chỉnh sửa.

Bởi theo cảm nhận của riêng tôi thì 4 câu chưa chỉnh sửa rất gợi cảm xúc với người đọc. Câu “Rét Bân vương tay con hạt mưa” gợi tâm trạng chông chênh, chới với của người con giữa trời mưa rét khi cô đơn, vắng (mất) Mẹ. Sự lặp lại cụm từ 4 chữ: “Mẹ đủ ấm không” ở 2 câu cuối khổ thơ: “Mẹ đủ ấm không / khi trời lạnh giá?” - “Mẹ đủ ấm không / khi đất buốt tê?” nghe chân chất, mộc mạc, như tự nhiên bật ra trong tâm thức nhà thơ trước cái lạnh giá của tiết trời và chính sự lặp lại cụm từ 4 chữ ấy đã làm câu thơ thêm day dứt, xót xa. Câu thơ lấy nước mắt người đọc bởi sự tự nhiên, chân chất ấy. Nhưng với 2 câu thơ đã chỉnh sửa: “Chân mẹ ấm không / rét Đài sương giá?” - “Tay mẹ cóng không / rét Lộc buốt tê?” thì sự cẩn thận về kiến thức, sự cầu toàn về ý thức tay nghề đã lấy đi nét mộc mạc, dung dị, khiến câu thơ trở nên thiếu nhựa. Sự rành mạch "rét Đài" - "rét Lộc" - “rét Bân” vì sự cầu toàn... ở 2 câu thơ trên là không cần thiết, bởi theo thiển nghĩ của người viết, sự rành rẽ câu chữ như thế khiến bạn đọc khó “phiêu” cùng bài thơ để khám phá và cảm thụ bài thơ, cũng vì thế mà làm bài thơ bớt hay.

Là kẻ lười đọc thơ nhưng tôi lại thích đọc thơ Bùi Cửu Trường, có lẽ vì cách dùng từ ngữ của bà khá độc đáo, sáng tạo nhưng vẫn giữ được chất dân dã, chân quê. Những câu: “Từ ngày mẹ đi/ quanh con hơ hoắc trống”, “lần hồi mẹ áo nâu sờn...”/ “Nhóng nhánh hạt na đen của Mẹ” hay: “Rét Bân rất nhẹ/ đủ lùa thông thống tháng ba/ đủ cuốn tuổi Đông con” trong RÉT BÂN NHỚ MẸ, tuy chưa phải là những câu thơ thật hay, những câu thơ tài hoa nhưng những câu thơ đậm dấu ấn rất riêng của Bùi Cửu Trường như thế thì không phải dễ làm, không phải cứ muốn là viết được.

Hà Nội, chiều 08 tháng 03.2019
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

READ MORE - ĐỌC “RÉT BÂN NHỚ MẸ”, NGÀY 8 THÁNG 3 - Đặng Xuân Xuyến

SAY CỐ NHÂN - Thơ Trần Mai Ngân




SAY CỐ NHÂN

Rót một ly gọi nhau cố nhân
Một ly xin lỗi hết ân cần
Con đường thẳng tắp xa nhau mãi
Mùa hạ cháy nồng hay xuân phai

Rót một ly ta say, ta say
Bóng em trong đáy cốc hay ai
Chiều nay giăng tím chiều hôm ấy
Em đến bên trời ta mơ hoa

Rót một ly xin lỗi nhạt nhoà
Ký ức bây giờ như vệt tro
Rải trên sông lạnh làm tang chế
Khóc một thời yêu "dáng hoa" xưa...

Rót một ly uống hết không chừa
Nỗi đau, nỗi nghẹn bình rượu đắng
Khứa nát linh hồn ta như dao
Nhớ em ta uống cạn nghìn sau...

Cứ thế ta uống cùng gió sương
Tình em... xin nợ một vết thuơng
Rót thêm ly nữa sầu cô quạnh
Em biết gì không... sao xa nhau !

Em biết vì sao ta xa nhau
Em biết gì không sao xa nhau !

                       Trần Mai Ngân
                           9-3-2019

READ MORE - SAY CỐ NHÂN - Thơ Trần Mai Ngân

Chùm ảnh LAN ĐẤT - Chu Vương Miện






READ MORE - Chùm ảnh LAN ĐẤT - Chu Vương Miện

NGƯỜI ĐÀN BÀ TRONG EM BẬT KHÓC - Chùm thơ Lê Thanh Hùng

Tác giả Lê Thanh Hùng

Người đàn bà trong em bật khóc
Sao ta đối xử với nhau như người dưng
Như chưa hề đã làm người đàn bà trong em bật khóc
Trong buổi tàn chiều, ngồi một mình cô độc
Nhìn chiều đi, từng vết ngập ngừng
                     *
Ta đã từng, những năm tháng bên nhau
Đi qua bao mùa mưa nắng
Qua những chiều trong, đường xa vắng lặng
Bên góc phố thân quen rực rỡ sắc màu
                    *
Trong hạnh phúc dâng tràn choáng ngợp đắm say
Có những lúc, buông chiều ngã ngớn
Sắc thu không dường đẩy đưa lợn cợn
Vương vãi rơi, mờ tỏ bóng ngày
                    *
Ta đến với nhau, chầm chậm một góc đời
Rồi bất chợt, rời xa trong chớp mắt
Sao vẫn còn lẽo đẽo buông lơi những điều áp đặt
Giấc mơ xa, ngày cũ đã hao vơi
                    *
Thời gian nào, trôi lãng đãng một vòng tay
Tử tế với yêu thương, trở chiều bóng bẩy
Khi hết yêu thương, sao lắt lay như vậy
Ngang bóng chiều đi, nắng quái đổ đầy ...
Lê Thanh Hùng


Gió qua làng chài bên cửa Ông Trang
Chiều rong tiếng gió khua tàu lá
Dật dờ trôi, trắng nuốt vầng trăng
Chòi canh Đáy, cuối mùa tơi tả
Rung rinh theo nhịp gió Nồm săn
                    *
Anh, con triều biển Tây rón rén
Vịn bờ kè ra cửa Ông Trang
Ngắm dáng em bên chồ, bẽn lẽn
Trôi nghiêng dòng, nước đổ khẻ khàng
                    *
Mênh mông sóng đổ bờ bãi vắng
Lớp bùn non lấp lóa mặt người
Trong vắt sông trôi chiều phẳng lặng
Vạch ngang trời ráng đỏ thắm tươi
                      *
Thương vạt áo ngấm phèn khô quạch
Nắng đồng sâu đủng đỉnh qua làng
Bóng lén dọi má hồng bên vách
Bâng quơ cười, ngượng ngập quay ngang
                     *
Ơi đất Mũi, cứ trẻ trung như vậy!
Như vạt mắm cuối bờ, mãi tơ non
Chắn bão giông, lụi tàn đâu ai thấy
Lớp lớp phù sa, khuất lấp lối mòn ...
Lê Thanh Hùng


Dấu đêm
Đêm trống vắng, ánh sao sa
Khẽ khàng tiếng vọng, là đà sương giăng
Chìm trong vệt nứt, vết hằn
Mờ xưa dấu cũ, cong quăn sợi tình ...
Lê Thanh Hùng

   Bắc Bình, Bình Thuận

READ MORE - NGƯỜI ĐÀN BÀ TRONG EM BẬT KHÓC - Chùm thơ Lê Thanh Hùng