Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, August 17, 2018

ĐỌC L.T. ĐÔNG PHƯƠNG - Lê Văn Trạch

ĐỌC L.T. ĐÔNG PHƯƠNG
Lê Văn Trạch


http://oi59.tinypic.com/6hnc5u.jpg
Nhà thơ L.T. Đông  Phương

Chưa có dịp diện kiến, nhưng ai sống gần hoặc tiếp xúc với chị đều cho rằng chị là người hồn nhiên, cởi mở, vui tính...  Những hôm lễ, tết, chị rất điệu với tà áo dài tha thướt, dáng nét trẻ trung... Trong một lần nói chuyện, chị kể vừa đi dự đám cưới tổ chức ngoài trời trong không gian thông thoáng với cảnh quan hài hòa, thơ mộng, nghĩ rằng về nhà ít ra cũng làm được một vài bài thơ, nhưng khi ngồi xuống, giấy bút sẵn sàng thì không ghi được chữ nào. Tôi bảo: Đúng rồi, bởi vì “nguồn thơ” của chị không khởi đi từ những hình tướng với sắc màu kiều diễm như thế!

Những biểu hiện bên ngoài chỉ là lối hành xử đời thường để hòa theo dòng người mà sống. Đằng sau ấy là tấm lòng đầy ắp sự xúc cảm, ngổn ngang trăm mối, như cây đàn nhiều sợi tơ, chỉ cần chạm nhẹ là rung lên theo cung bậc. Trong cuộc sống thỉnh thoảng có những tâm hồn như thế và chị là một – đó là nhà thơ L.T. Đông Phương, người gốc Diên Sanh, huyện Hải Lăng tỉnh Quảng Trị. Hiện nay chị đang cư ngụ tại San Jose – Cali.

Từ rất sớm, ở góc làng quê, tâm hồn thơ ngây trong trắng của "cô bé" L.T. Đông Phương dường như gặp sự va chạm tình cảm thật mạnh, làm dao động và tạo dấu ấn thật sâu, dai dẳng.. Có thể do nguyên cớ ấy kết hợp với những yếu tố khác đưa đẩy, chị đành phải ngậm ngùi lìa xa nơi một thời gắn bó. Hai nỗi buồn quyện lại hình thành một khối đớn đau dung chứa bao mất mát, cô đơn... Những phân tử ấy gặp nhau tạo thành những phản ứng dây chuyền và cộng hưởng với những âm thanh tác động, dẫn dắt tâm hồn chị đến mọi ngõ ngách trong khoảng tối cuộc đời. Những điều ấy dường như tụ ở điểm gãy của cây Gió, theo năm tháng hình thành một thứ trầm kỳ, ngát hương quý giá...
http://oi63.tinypic.com/2w4k9vo.jpg
Tình yêu, đề tài muôn thuở của nhân loại và giai đoạn kiếm tìm, khai mở hò hẹn là thời kỳ đẹp nhất với bao niềm vui, dệt mộng ước mơ, cứ tưởng muôn đời nắm giữ:

Từ đó tình anh em ấp ủ
Bao lần gương lược thấy em tươi
Trên nương dưới rẫy em thầm nguyện
Muối mặn gừng cay chỉ một lời

Bằng một tình yêu mãnh liệt với lời thề nguyền kết dính, nàng chủ quan, độc quyền chiếm hữu:

Tóc thề buông vấn vít trái tim anh
Em trói chặt một đời anh phiêu lãng

Nhưng sự đời vốn không tròn trịa như ta tưởng, chẳng mấy chốc nắng sớm, mưa chiều, chàng đành đoạn quay lưng để nàng một mình tàn phai nhan sắc với bao điều phiền muộn:

Xơ xác tóc xanh ngày nắng hạn
Vàng phai má thắm lạnh tàn đông
……
Vò võ sớm chiều em ngóng đợi
Ai ngờ câu muối mặn, gừng chua!
……
Chân bước qua dòng sông cạn nước
Nhớ lời thề thốt ruột bầm đau
Bờ sông con nhái đừng kêu nữa
Ta trĩu đôi vai một gánh sầu!


Người phụ nữ vốn giỏi chịu đựng và thủy chung, trước nghịch cảnh ngăn cách, nhưng vẫn luôn hoài niệm về người tình với những ước hẹn ngày xưa:

Em yêu người từ thuở tuổi vành khuyên
Vai áo mỏng nặng nề câu vàng đá
Nắng sớm mưa mai chăm chút hương nguyền

Nàng trân quý tình yêu đầu đời, nên vẫn còn chút niềm tin, mong manh đợi chờ ngày trở lại:

Đợi chờ người, ướp thơm tà áo lụa
Bằng trầm hương tôi ngậm ngải đi tìm
Bằng mê đắm khi tay lần mở cửa
Thấy mặt trời chợt sáng chói trong đêm

Nàng bước đi với muôn người theo vòng quay của đất trời, nhưng vẫn canh cánh bóng hình người xưa cũ, mỏi mòn qua bao mùa lá rụng:

Vẫn đợi người đêm mịt mùng bóng tối
Trăng phai rồi, trắng xóa cõi hồng hoang
Nghe giục giã những hồi chuông thống thiết
Nghe trong em năm tháng đã phai tàn

Hiếm có người con gái nào gìn giữ, chắt chiu cuộc tình như thế, cho dù mai này xác thân cạn kiệt, lặng yên vẫn đợi chàng về trong phút cuối:

Đợi người về đốt que diêm cuối
Có tôi ngồi im vắng suốt đêm thâu
Người nhớ khẽ lay tôi bằng tiếng gọi
Biết đâu chừng tôi hóa đá từ lâu

Tình yêu của L.T. Đông Phương là vậy, không giăng đèn kết hoa hay êm xuôi đằm thắm, mà đầy nghiệt ngã, có thể đôi khi pha chút giằng xé giữa mộng và thực, nhưng đó là chất liệu để “nàng thơ” nhả những sợi tơ mượt mà óng ánh.

Ngoài Tình yêu với quay quắt nhớ thương ấy, trong thơ chị, dòng chảy của kỷ niệm từ tình mẹ cưu mang con trẻ đến tình quê hiền hậu như củ khoai, củ sắn, như những chắt chiu hình ảnh xóm làng, dòng sông đã quyện lẫn nhau. Chị đã đem trao hết nỗi lòng đau đáu nhớ thương ấy thả xuống dòng thơ - để dẫu tất cả là nỗi niềm xưa nhưng sẽ sống mãi trong hồn chị, như một chút gì bàng bạc của cánh buồm xa đợi gió nồm đưa về lại bến cũ.

Và tình quê trong chị, do thời cuộc chị đã phải rời xa quê hương mình, cho dù bởi lý do nào đi chăng nữa, thì phút chia tay là khoảnh khắc ảm đạm, dấy lên bao nỗi niềm trong lòng người đi kẻ ở. Nhất là với tuổi thơ, một quãng thời măng sữa quẩn quanh trong nếp nhà nhỏ, khu vườn xinh xắn, đường đi lối lại cùng những khuôn mặt gần gũi, thân thương bỗng chốc phải bỏ lại để đến một nơi nào đó lạ lẫm xa xôi...


L.T. Đông Phương cũng ra đi trong tâm trạng như thế, lòng đau như có vết dao cắt:

Mùa xuân ấy ra đi không trở lại
Xa quê hương như lá phải xa cành
Còn đâu nữa một thời yêu dấu cũ
........
Có đợi ta không con đường ngày cũ
Quê hương ơi tha thiết gọi tên người
Những sáng, những chiều không biết sao vơi

Lòng quặn thắt nhưng phải đành đoạn và ai ngờ một lần đi là biền biệt, có khoảnh khắc nhung nhớ là "ruột đau chín chiều":

Đời chia trăm hướng người muôn ngả
Tan nát lòng theo những bước đi
Chốn cũ ai về cho nhắn gởi
Quê người xuân đến giữa phân ly
....
Nghẹn ngào dõi mắt về quê cũ
Chỉ thấy trời mây xám một màu

Khung trời quê hương cách xa ngàn dặm, những lúc bâng khuâng nhớ về bóng dáng mẹ lúc nào cũng hiện ra và từng chi tiết của những chăm sóc trìu mến, những khổ nhọc từ ngày đầu con hiện hữu:

Những khi buồn vẫn nhớ lời mẹ kể
Góp mặt đời con chẳng có gì vui
Xót thương mẹ những chuỗi ngày khốn khó
Tràn ngập tim con thương nhớ ngậm ngùi

Cả đời mẹ chỉ lo cho con suốt ngày đông tháng hạ, vất vả khôn nguôi. Thế mà khi mới lớn con bỏ mẹ mà đi, chẳng có một lần chăm sóc, bây giờ có bao nhiêu lời trần tình cũng không thể nào bù đắp được.

Ra đi cũng tưởng sẽ có ngày trở lại, nhưng thế sự đưa đẩy dập dồn ùn tắc, đưa con đi xa hơn, đến lúc cha già, bè bạn nằm xuống cũng không có mặt để nhìn lần cuối, đi sau quan tài đến nơi an nghỉ:

Đưa em về thắp nén hương muộn trễ
Nhớ cha xưa từng vất vả đồng sâu
Đời buồn thiu tóc mẹ trắng mái đầu
Nấm mộ nhỏ phủ xương tàn bè bạn

Và nữa, những ngày theo mẹ về ngoại có lẽ là những lúc êm đềm nhất, nhưng khi nhớ về thì không là như thế mà hình dung ra bóng ngoại hiu hắt, quạnh quẽ:

Khi chợt tỉnh, bóng ngoại buồn in vách
Con lớn lên rẽ đường đi hướng khác
Đời nổi trôi sóng nước chốn quê người
Vinh nhục bao lần cười khóc đầy vơi
Mưa bão trong đời mình con nhận đủ
Trong tâm tưởng vẫn ghi hình ảnh cũ

Nỗi quay quắt tận cùng vẫn là mẹ. Con theo năm tháng nổi trôi, mẹ tuổi già còm cõi, đến lúc cuối đời con vẫn ở nơi xa xôi, không nắm được tay mẹ để giữ hơi lần cuối:

Đau lòng con biết mấy
Thương nhớ làm sao nguôi
Thầm gọi mẹ hiền ơi
Tuôn trào dòng lệ chảy

Bằng những mất mát, cách xa, cứ tưởng như thế là đủ theo quy luật thừa trừ có phần châm chước cho phận má hồng. Nhưng không! Thử thách cứ theo chân trên bước đường lưu lạc:

Nhớ xưa áo lụa vàng trong gió
Xây đắp lâu đài giữa mộng mơ
Đâu biết cuộc đời như trái đắng
Tháng năm nếm trải đến không ngờ

Để từ một cô gái quê chân chất, đôn hậu, muốn hòa vào vòng quay nhân thế, nàng phải hóa trang thành khuôn mặt khác tạo sự đối kháng nội tâm, hành hạ thân xác mình, biết thế nhưng phải chấp nhận vì không có sự lựa chọn nào khác:

Ta lạc lõng theo dòng đời cuốn hút
Lòng rất thật phải nói điều không thật
Gắng gượng ngọt ngào để thế nhân vui
Ta dấu buồn sau những nụ cười tươi
Đem cay đắng chôn sâu vào lồng ngực

Sự đối kháng nội tâm cùng những nghịch lý luôn rình rập trên từng bước chân đi, đôi khi nàng muốn xa lánh tất cả tự mình gậm nhấm nỗi đau:

Đừng ví mình như một cách chim
Chim bay tôi biết nẻo đâu tìm
Gánh sầu tôi chạy quanh trời đất
Chỉ một mình tôi với bóng đêm

Nhưng như thế vẫn không yên, chính khi thu mình trong cô đơn, bão lòng lại nổi lên, quặn thắt, chới với... tưởng như mấp mé bên bờ tuyệt vọng:

Tôi về trong một căn phòng vắng
Mưa gió muôn phương kéo lạnh về
Có cả một vầng trăng góa bụa
Theo tìm trong suốt những cơn mê

Cứ ngỡ bằng những đớn đau khổ lụy như giông tố phủ lên cả cuộc đời sẽ làm chai lì, thui chột mọi cảm nhận; ngược lại, nó như kim cương mài dũa, cảm xúc thêm sắc sảo, nhạy bén... Xã hội đảo điên, nhiều phận đời khốn đốn, bị đẩy vào những cảnh đắng cay... Đó là chuyện thường tình, nhưng đối với chị, không thế...  Tình cờ gặp người em xóm nhỏ, một thời "Đơn sơ áo trắng lòng trong trắng, Em dệt bao nhiêu ước mộng đời" nay đang thấp thoáng trong ánh đèn mờ ảo "Son phấn vùi chôn dấu vết đời" làm chị ngỡ ngàng, quặn thắt:

Lơi lả em cười quên đắng cay
Đèn mờ nhuộm tím tuổi thơ ngây
Quán đêm gặp lại người năm cũ
Đau xót lòng tôi em có hay...

Cơn hồng thủy năm ấy làm đảo lộn tất cả vị trí trong xã hội, mọi người đều ở tận cùng một giai cấp để ... kiếm ăn, đang tần tảo ngược xuôi nuôi đàn con dại, gặp thầy: “Oằn vai vì cơm gạo - Thầy gò lưng đạp xe - Mồ hôi tuôn ướt áo - Đón đưa khách đi về”
Chị nghẹn ngào, ray rứt:

Đời không như sách vở
Chữ nghĩa chẳng no lòng
Em nhìn thầy rưng lệ
Thầy nhìn em ngại ngùng

Và cuối cùng, một chữ tình cứ làm đắng lòng chị:

Người hẹn cùng tôi phơi tóc bạc,
Dệt thơ trăng sáng tỏa lưng đồi

Nhưng người không giữ lời hẹn ước, nửa chừng quay lưng... Chị hụt hẫng như vết chém ngang đời, nhức nhối, mung mủ, di căn qua từng cơ phận khác, bệnh hoạn cả châu thân... nhưng không bỏ cuộc, tự mình chẩn đoán, đứng dậy tìm phương cách:

Đành lên núi thẳm tìm cây thuốc
Về dựa lều tranh xoa vết thương

Cây thuốc là chữ nghĩa thoát ra thành vần điệu, giải tỏa mọi ức chế.
http://oi63.tinypic.com/2w4k9vo.jpg
Tôi đã đọc những gì chị viết trên diễn đàn, kỷ yếu, tạp chí, đặc san... phần nào nắm bắt được nguồn thơ và cảm được hồn thơ của chị: Chị gom phụ bạc, chia ly, nhung nhớ, phủ phàng, thất bại... nói chung là nỗi khổ niềm đau vào nồi chưng, để cất, chắt lọc thành hương hoa rất riêng trao cho đời.

Có ai đó nói rằng:"Người nghệ sĩ sáng tạo thơ văn là thượng đế", bởi vì dưới ngòi bút, họ cho những nhân vật biến hóa khôn lường. Riêng tôi lại nghĩ rằng nhà thơ là sứ giả của thượng đế, được phái xuống trần gian với thiên chức nghe, nhìn, cảm nhận những gì ẩn sâu trong tâm thức con người, rồi diễn bày ra, qua ngôn ngữ, kết hợp với nhịp điệu cá biệt của mình để đánh động trở lại.... Lúc đó không còn là tâm sự cá nhân mà hoá thành tiếng lòng chung thổn thức... như cây hương được đốt, lan tỏa vào không gian... Có lần chia sẻ chuyện văn chương, tôi mạnh miệng bảo là sự nghiệp thi ca của chị được chất chứa trong hai câu thơ… Không đợi cho tôi nói tiếp, chị đọc:

Biết về hái hết rừng sim chín
Uống cạn dòng sông chẳng thấy người

Nhân gian chỉ cần "ăn nửa trái sim, uống lưng bát nước" là đủ để tìm thấy "người thương", thế mà... Chị băng qua khu đồi trơ lá, chân chạm nhẹ vùng cát khô mịn ở đáy sông, cứ thế mải miết bước đi, không chỉ tìm duy nhất… một con người, nhưng là đi tìm tất cả hoài bão để bù đắp bao điều mà ý thơ đã gói ghém, ẩn dấu như khát vọng cả đời chị cưu mang....

LÊ VĂN TRẠCH
READ MORE - ĐỌC L.T. ĐÔNG PHƯƠNG - Lê Văn Trạch

ĐƯA CHÂU GIA XUÔI NAM - Thơ Lang Trương



        Châu Thạch và Lang Trương



ĐƯA CHÂU GIA XUÔI NAM

(ta không yêu đâu, thơ bình thanh
sao người chê ta đồ quê mùa
ừ, thì ta yêu mùi hương đồng
nồng nàn vương hoài trên môi em.)

Đà thành ngày sang thu
Đưa người ra sân ga
Lên tàu xuôi phương nam
Buồn vương hơi heo may.

Người đi mang theo trăng
Tìm vui chiều thu vàng
Còi tàu vang xa xa
Mênh mang bờ sông Hàn.

Ta đưa người đi xa
Nhìn mây trôi phiêu du
Lời người vang trong tai:
Hôn em giùm cho ta!

Lang Trương

READ MORE - ĐƯA CHÂU GIA XUÔI NAM - Thơ Lang Trương

Chùm ảnh CẢNH ĐẸP QUÊ HƯƠNG - Hồ Phú







READ MORE - Chùm ảnh CẢNH ĐẸP QUÊ HƯƠNG - Hồ Phú

CHÚ MÙI - Truyện ngắn - Chế Cẩm Đình

Tác giả Chế Cẩm Đình


CHÚ MÙI
Truyện ngắn
CHẾ CẨM ĐÌNH


(Viết truyện ngắn đầu tay này qua vụ nổ hầm cầu ở Bình Dương làm cho thầy Thành Việt Bùi nhớ đến chú Mùi ngày xưa của một thế hệ bọn mình).

Thời bao cấp, chú Mùi nằm trong ban quản lý chợ Đông Hà với chức danh là tổ trưởng tổ vệ sinh chợ. Gọi là tổ trưởng cho oai chứ thực ra tổ vệ sinh chỉ có mấy cô lao công lớn tuổi, với chú Mùi là nam giới duy nhất trong tổ.
Khu vực thường trực của chú là khu hàng cá ngay dưới chân cầu cũ, sát mép sông Hiếu. Mỗi sáng đi học, mới ngang giữa cầu nhìn vói xuống đã thấy chú Mùi với bộ dạng rất chỉnh tề trong bộ đồ lao công xanh mực, chiếc mũ kếp cũng xanh mực nhưng đôi ống chân thì cắm vào đôi ủng trắng là hàng viện trợ từ Ba Lan XHCN xa xôi rất chất lượng. Hai cánh tay chú luôn cầm một công cụ dụng cụ gì đó, lúc thì cái chổi rành cùn tơi tả, lúc thì cái khay hốt rác bằng tồn cũng sắp bay mấy con tán kêu lóc xóc mỗi khi xúc rác lên. Chú cứ đi quanh khu vực ấy một cách mẫn cán, thấy có rác là hốt liền, thấy nước đọng là quét ngay. Mấy mụ bán hàng hay xả đồ bừa bãi là chú nhắc nhỡ, gặp những mụ già mồm thích vặc lại thì chú rập bốt xoay người nhứ nhứ "ưng chết à, ưng chết à", thế là mấy mụ kia im ngay không dám hó hé. Ra ngoài góc chợ, chú tự thưởng ngay cho mình một điếu Mai không đót, rít mấy hơi thật dài, ngấc mặt phà khói một cách sáng khoái mừng thắng lợi với đám con mụ lắm mồm kia.
Đầu khu hàng cá cặp đường 1 ngay lưng dốc cầu là dãy cầu tiêu tự hoại kiểu hầm nổi, tức là muốn đi vệ sinh phải leo tam cấp chừng một mét. Vì là cầu tiêu công cộng ở chợ, lại phục vụ cho cả một khu xóm rất đông đúc kẹp giữa hai con đường chạy xuống chợ từ phía đường 9A nên rất bẩn thỉu và hôi hám. Chú Mùi cũng phải bao sạch luôn dãy cầu tiêu đó một cách rất vất vả. Bù lại, chú có quyền thu tiền phí đi ỉa hoặc đi đái, cứ vài hào bạc, mấy cũng được, cho mỗi lần xê đít vào cửa giải buồn của bất cứ ai.
Một ngày như mọi ngày, chú Mùi vừa dọn cầu tiêu vừa nghêu ngao cất tiếng hát "đất nước Việt yêu ơi ta đã trao cho người một mảnh đất linh thiêng", chả là thời buổi chống quân bành trướng Trung Quốc nên ai cũng vừa hăng say lao động vừa cất lời ca yêu nước. Rồi tự nhiên chú thấy thèm hút thuốc, thèm kinh khủng, nên dừng tay moi hộp diêm Thống Nhất ra châm điếu thuốc Mai như thường lệ. Đánh đầu diêm cái xoẹt, thì một tiếng nổ ùm như tiếng đánh bộc phá vang lên, cả cái chợ nháo nhác vứt đồ chạy tán loạn không hiểu chuyện gì. Định thần, mọi người tiến về hướng phát ra tiếng nổ là dãy cầu tiêu nơi chú Mùi tổ trưởng đang ngất lịm dưới bể phốt, cứt ngập lút người. Có mấy bác xe thồ lơn lớn không sợ bẩn hò dô nhau kéo lên thấy chú vẫn còn thở, bèn lấy nước xối qua cho đỡ hôi thối rồi chở đi cấp cứu ở bệnh viện bên kia cầu Đông Hà.
Nằm viện dễ đến ba tháng mới giữ được cái mạng.
Nhưng chú dị dạng luôn từ đó, với khuôn mặt méo xệch, chiếc cằm chìa ra như chiếc lưỡi cày, cặp mắt đổ lé mại, muốn nhìn ai thì phải xoay cần cổ đến bốn lăm độ và phải rướn hơi lắm mới rụt rịt được đôi ba từ một cách chơt chớt, về sau thì có cải thiện được rõ tiếng hơn.
Chân tổ trưởng lao công ở chợ tọt thẳng vào tay lão anh vợ của thằng cha trưởng ban quản lý chợ trong thời gian chú nằm viện. Nên chú phải bắt đầu lại từ chân lao công viên. Tay tổ trưởng mới này cậy có ô dù nên bắt chẹt bất cứ ai dưới quyền, và chú Mùi dù là cựu tổ trưởng thì cũng chả là cái thá gì trong con mắt của hắn. Ngày đầu tiên đi làm trở lại, chú Mùi chỉ được phân công quét dọn hàng cá và cả khu hàng xén dài thượt qua bến đò, chứ chân giữ cửa hầm cầu (mới xây lại) béo bở thì đã mất toi.
Làm lụng cực nhọc, sổ gạo không đủ cho cả nhà. Mùa lạnh, phải đứng ngay bờ sông quét rác dưới trời mưa phùn gió bấc, vết thương cũ phát ra đau nhức chịu không thấu. Xin đổi vào khu đình bánh kẹo cho ấm hơn mãi không được, vì cái thằng cha tổ trưởng muốn vòi vỉn mấy mét vải phin hoặc chục cân đường mà chú cũng không lo nổi cho hắn.
Nhiễm lạnh và ốm đau mãi nên chú phải nghỉ công việc lao công ngoài chợ. Thầy Trinh hiệu trưởng trường 1A ở gần nhà chú trên khu Tây Trì biết chuyện, mới thương tình sắp xếp cho chú một chân bảo vệ ban ngày tại trường. Thế là có thêm ít đồng cho gia đình ngoài cái sổ gạo chưa kịp bị cắt vì nghỉ công việc cũ.
Đồng phục bảo vệ ở trường của chú là bộ áo quần nhà binh không hiệu quân màu cỏ úa, tất nhiên là vẫn có chiếc mũ kếp kèm theo nhưng giờ thì đội hơi lệch một bên theo khuôn mặt bị méo, dưới chân thôi xỏ ủng mà thửa một đôi bata Thượng Đình mới cứng, đi dọc hành lang qua các lớp học cứ kêu ót a ót ét rất oai. Vẫn như lúc ở chợ, chú làm việc rất có trách nhiệm và nhiệt tình. Mở cổng, đóng cổng, vệ sinh sân trường, sắp xếp lại xe đạp riêng cho các thầy cô giáo, lau chùi bảng tin sạch sẽ mỗi khi cô Hóa tổng phụ trách đội yêu cầu. Rồi chú được tín nhiệm giao giữ luôn đùi trống, đánh trống tiết một cách đều đặn theo cái đồng hồ dây cót có chuông ở phòng giám hiệu.
Bộ tướng của chú hơi kỳ kỳ trong mắt đám học sinh của trường, nhưng cũng không có đứa nào biết lý do vì sao, chỉ nghĩ là bẩm sinh chú ấy như vậy rồi nên không ai tò mò làm gì. Thì một bữa thằng Hai Tị, là đứa ngỗ ngáo ngoài xóm chợ bị trễ học nên không vào trường được, nên nó đạp vào cổng kêu chú Mùi ra mở nhưng chú còn bận gì đó chưa ra kịp. Thế là nó quăng quyển vở nhét đít vào trước rồi đu hàng rào nhảy vào. Chú Mùi thấy vậy chạy ra định túm lại nhưng nó nhanh chân phóc đi mất. Giờ ra chơi nó kéo thêm thằng Dũng Vồ cùng xóm của nó tới chọc chú Mùi vì nó biết chuyện nổ hầm cầu năm trước. Hai thằng đầu bươu cứ lại gần rồi kêu ê ê rớt hầm cứt, ê ê rớt hầm cứt làm chú Mùi tức giận lắm, sực lên đuổi bắt chúng nó nhưng không thể đuổi kịp. Thế là cả trường biết chuyện nổ hầm cầu của chú Mùi, làm cho học trò đứa nào đi qua cũng cứ nhìn chú một cách vừa ngạc nhiên vừa xoi mói. Chú báo lại sự việc trêu chọc đó với giáo viên chủ nhiệm của nó và cũng báo luôn cho nhà trường. Thứ hai đầu tuần, cô Hóa kêu thằng Hai Tị lên véo tai và cho nó đứng dưới cột cờ cả buổi, nhưng nó không biết sợ, vẫn cứ nghên nghên cái mặt với cái sẹo bên màng tang nó giựt giựt, hai con mắt vằn lên hai tia máu đe đứa nào dám nhìn vào nó!
Thằng Bảy Xì Dầu cách nhà thằng Hai Tị một con đường ở xóm chợ, cũng là một đứa quỷ quái hết cỡ. Đã bỏ học rồi nhưng nó cứ chuyên nhảy hàng rào vào trường rồi leo lên cửa sổ các lớp ngồi vắt vẻo nhái lại thầy cô đang đứng dạy mà chẳng ai dám hó hé. Lớp nào kên lại nó thì nó chẳng nói gì, chỉ ngăm ngăm rồi nhảy xuống bỏ đi. Chờ đến xâm xẩm tối hoặc giờ trưa giữa hai buổi học là lẻn vào lớp lật bàn học xuống rặn ỉa ngay vào hộc bàn. Thì buổi học kế đó cả lớp phải đi dọn cứt cho nó, tức điên.
Chọc thầy chọc lớp chán, nó quay sang quậy chú Mùi, bắt chú đuổi chạy miết, vừa chạy thất thểu, vừa huơ huơ tay, miệng cứ ú ớ không ra hơi "ứng ại, ứng ại, mi ứng ại tau coi nờ"!
Một bữa, nó nhảy bờ tường vào đứng vạch chim trêu ngươi giữa sân trường, kêu to ê ê Mùi mốốc, ê ê Mùi mốốc. Nó lừa cho chú đuổi chạy tận qua góc cổng sau nhà cô Bỉnh rồi thình lình lẻn trốn đâu mất. Tìm nó không ra, lại sực nhớ sắp hết tiết, chú bèn quay lại để đánh trống thì mất tiêu đâu cái đùi. Tìm hoài khắp nơi không thấy, lo đồng hồ điểm chuông mà không có đùi trống thì chết mất, mồ hôi toát ra ròng ròng sau lưng áo. Loay quay loay quay tìm, rồi nhìn ra thì thấy thằng Bảy Xì Dầu đứng ngoài sân tự bao giờ, nó nhởn cái miệng lên cười chọc tức, lại thấy thu thu cái gì sau lưng, à, cái đùi trống chứ cái gì nữa!
Nhìn đồng hồ thấy chỉ còn độ dăm phút nữa thôi là phải điểm trống rồi. Mà nếu trễ trống thì có thể bị kỷ luật và mất luôn công việc ở đây. Biết làm sao bây giờ hở trời, cái thằng oắt con này thật quái ác, tổ cha hắn, không lẽ giơ tay đấm trống, hay kiếm cục đá gõ thay cái đùi, nhưng gõ ra tiếng trống khác thường thì cũng chết. Nước mắt gần như chực trào quanh hai con mắt lúc này đã chuyển qua lé chằng vì tức giận, nhìn ra thằng Xì Dầu vừa rất căm hờn vừa như van lơn, thiếu đường chực quỳ xuống xin nó, thì hình như nó cũng thấu cảm được và còn chút gì nhân tính trong con người của một đứa trẻ ngỗ ngược bất chợt trỗi dậy, nó liền liệng ngay cái đùi trống vô cho chú Mùi. Nhặt đùi trống rồi ngẩng lên nhìn nó mà cứ trân người ra, miệng ú ớ như muốn nói lời biết ơn với cái thằng nhóc quái quỷ vừa hành hạ mình xong mà cứ mắc nghẹn rặn không ra được từ nào, thì nó đã vụt chạy mất. Đúng ngay lúc đó, tiếng chuông đồng hồ reo báo hết tiết, chú xoay người lấy hết sức bình sinh mà nện vào mặt trống thùng, thùng, thùng rồi thả người ngồi phịt xuống mà òa lên khóc nức nở một cách như vừa tủi lại vừa mừng sau một chiến công mới lập được.
Giờ thì hình chú đã là người thiên cổ, phải không chú Mùi ơi!
27/2/2017
Chế Cẩm Đình

READ MORE - CHÚ MÙI - Truyện ngắn - Chế Cẩm Đình