Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, May 3, 2017

ĐỌC THƠ HAY: “CHẤP CHỚI” CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN VÀ “THÁNG TƯ ƠI” CỦA BÙI THỊ QUÍ - Châu Thạch


    
                Nhà thơ Châu Thạch



ĐỌC THƠ HAY: “CHẤP CHỚI” CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN VÀ “THÁNG TƯ ƠI” CỦA BÙI THỊ QUÍ  
                                                                    Châu Thạch

BÌNH NGẮN

Dầu tác giả Đỗ Anh Tuyến đã viết một bài bình cho bài thơ nầy và nhận xét “Chấp Chới chưa phải là một bài thơ hay, mà chỉ là một bài thơ khá, trên mức trung bình” thì tôi vẫn đánh giá nó là một bài thơ hay vì nó đã là “một bài thơ khá, trên mức trung bình” thì phải là một bài thơ hay rồi. Tôi đã viết nhiều bài cảm nhận về thơ Đặng Xuân Xuyến nên tôi không muốn viết nữa về anh. Thế nhưng đọc “Chấp Chới” xong thì  trí óc tôi cứ ngứa ngáy như thơ anh có chất gì gây ngứa cho tôi. Ngứa thì phải gải, không gải thì nó cứ ngứa. Vậy nên tôi phải viết đây là viết cho tôi, như mình tự gải cho đả ngứa mình, chớ không phải viết cho nhà thơ chút nào.
Khổ thơ thứ nhất vào đề cho ta liên tưởng đến hình ảnh xa xưa cúa cái thời hát dân ca thịnh hành ở các miền quê Bắc bộ.

Có người líu ríu theo chồng
Buông lơi lời hát
Bỏ ngày xuân ngăn ngắt
Thúc nhịp trống dồn...

Các cụm từ “líu ríu theo chồng” cho ta nghĩ đến một đám cưới ép duyên. Rồi các câu thơ “Buông lơi câu hát/ Bỏ ngày xuân ngăn ngắt/ Thúc nhịp trống dồn” khiến ta liên nghĩ đến vô vàn hội hè, đình đám gọi là “văn hoá phi vật thể” của cái thời mà nông thôn còn nguyên bản sắc của nó. Ngày nay các hội hè đó được lập lại một cách giả tạo mà nếu đưa vào thơ thì nó trở thành nhạt nhẽo cho thơ. Vậy nên đọc bốn câu thơ trên ta phải nghĩ về quá khứ thì mới thấy rung động bởi vàng son của một thời và bởi niềm đau của người phụ nữ trong thời lạc hậu xa xưa mà ngày nay rất ít xảy ra.
Vậy khổ thơ hay chỗ nào? Hay ở chỗ nói cụt ngủn mà lại diễn đạt tràn lan. Ta đọc thơ, hiểu được tánh cách cô gái, thấy được làng quê yên bình, cảm nhận được dáng dấp cô gái bị ép theo chồng, và tất cả tâm hồn ta như đứng giữa cái khung cảnh yêu thương, gắn bó, cộng với nỗi buồn điểm xuyết, làm cho thi vị trong tâm hồn được thắm thiết thêm.
Vế thơ thứ hai diễn tả cái gì? -Thất tình và đi tìm kỷ niệm:

Se sắt buồn
Ơi người “xe chỉ luồn kim”
Ơi người nhớn nhác đi tìm
Đầu ghềnh cuối bãi
Lời xưa có còn mê mải...

 Người “xe chỉ luồn kim” là người vợ. Câu thơ cho ta biết cô gái “líu ríu theo chồng” đã thành người “xe chỉ luồn kim” cũng buồn “se sắt”. Còn người ở lại thì lang thang đầu ghềnh và mê mải trong tâm đi tìm quá khứ.
Khổ thơ với những vần thơ có thể gọi là “cà giựt”, nghĩa là nó ngắt khúc từng ý thơ và tứ thơ không dính dáng gì nhau, nhưng chính cái “cà giựt” đó  làm cho tiếng thơ trở nên dập dồn, kích thích người đọc, làm căng thẳng cảm xúc và trọn vẹn gói vào đó niềm đau của đôi trai gái thất tình.
Qua khổ thơ thứ ba tác gỉả dùng từ ngữ như những nhát búa đập liên tục vào điểm yếu của con tim, làm cho đau đớn, làm cho rỉ máu, làm cho nghẹn ngào, uất ức:

Tìm ai...
Kìa ai...
Lừng chừng câu hát
Gió gằn ràn rạt
Trời mưa...
Chấp chới cánh diều.

Cuối cùng, tác giả dùng câu thơ “Chấp chới cánh diều” để hình tượng cho bài thơ “Chấp Chới” của mình. Đó là một kết luận tuyệt hảo diễn đạt toàn bộ sự chao đảo, nỗi cô đơn và vẻ đẹp lung linh của mối tình như cánh diều chấp chới giữa bầu trời.

“Chấp chới” là một bài thơ vô cùng “chấp chới”. Nó đúng như là cánh diều vút lên rồi chao lượn trên nền trời. Nó làm người xem cứ ồ lên tán thán vì nhìn đã con mắt, bởi chính nó là một cánh diều vừa lạ lại vừa tung hoành lả lướt nhờ sự gọn nhẹ vô cùng của nó ./.
                                                                   Châu Thạch




CHẤP CHỚI
                 
Có người líu ríu theo chồng
Buông lơi lời hát
Bỏ ngày xuân ngăn ngắt
Thúc nhịp trống dồn...

Se sắt buồn
Ơi người “xe chỉ luồn kim”
Ơi người nhớn nhác đi tìm
Đầu ghềnh cuối bãi
Lời xưa có còn mê mải...

Tìm ai...
Kìa ai...
Lừng chừng câu hát
Gió gằn ràn rạt
Trời mưa...
Chấp chới cánh diều.

Đặng Xuân Xuyến




                               Bùi Thị Qúy


THÁNG TƯ ƠI!
                
Em chờ gì?!!!
Người đi đâu có hứa.?!!!
Sẽ trở về cùng Thành phố và Em.
Em đợi gì?!!!
Để năm tháng mỏi mòn
Cho nhan sắc tàn phai cùng năm tháng.
Em vẫn đợi chờ,!
Dù người đi không hẹn.
Lại một tháng Tư buồn
Gặm nhấm trái tim Em.
Tháng Tư ơi!
Sao nhớ mãi không nguôi.
Cuộc hội ngộ....
Ôi! Nghìn trùng xa cách.
Em vẫn đợi chờ...
Dù biết không có thật.
Mơ về Anh ...
với ngày tháng miệt mài.
Saigon và Em
Nỗi nhớ mãi không phai...

               Bùi Thị Qúy
               24-4-2017


BÌNH NGẮN:

Thơ về tháng tư thì nhiều. Thơ của hai phía. Phía vui thì thật vui, phía buồn thì thật buồn. Tôi tình cờ đọc được bài thơ “ Tháng Tư Ơi” tác giả Bùi Thị Quý mà tôi đoán có lẽ không ở phía nào. Bài thơ nhẹ như những chiếc lá làm biểu tượng của những nỗi buồn đang chao đảo. Ta nhìn những chiếc lá vàng bay đẹp làm sao thì bài thơ cũng đẹp như thế ấy. Lá bay nhẹ quá, chạm vào ai cũng chẳng hệ gì, nhưng chính lòng nó đang đau và rơi vào cõi chết. Bài thơ cũng thế, không động chạm phía nào nhưng tự nó chất chứa cô đơn, trông chờ, ưu tư và da diết. Chỉ hai câu thơ đầu thôi với hai dấu hỏi và sáu dấu than cũng đã cho ta thấm sự khắc khỏai ở trong lòng ai đó:

Em chờ gì?!!!
Người đi đâu có hứa.?!!!

Tiếp nối bài thơ tác giả dùng nhiều điệp khúc tháng tư. Tháng tư của người đi và tháng tư người đợi. Tháng tư của nghìn trùng xa cách, tháng tư của ước mơ hội ngộ, tháng tư của Sài Gòn và em với nỗi nhớ không phai. Tháng tư trong thơ trở thành biểu tượng: Biểu tượng của chia ly, biểu tượng của chung thuỷ đợi chờ, biểu tượng của nỗi nhớ triền miên và biểu tượng của ngang trái giữa cuộc đời. Bài thơ ngắn, từng câu thơ êm ái nhưng tiếng thơ dồn dập tâm tư, hồn thơ quặn thắt nỗi bi thương.
Toàn bộ bài thơ không có ý thơ cao siêu, không có tứ thơ nào mới lạ, nhưng toàn bộ bài thơ là một bức tranh hài hoà, ẩn chứa trong đó biến cố thời đại, sự kiện tiêu biểu làm đau lòng người.
 Thơ là tiếng nói của tâm tư: tâm tư  mình, tâm tư của tha nhân và tâm tư của thời đại. Bài thơ “Tháng Tư Ơi” đã làm được điều ấy với vần thơ như những cánh bồ câu bay trên bầu trời buồn thì rất buồn nhưng đẹp thì cũng rất tuyệt vời./.

                                                                   Châu Thạch

READ MORE - ĐỌC THƠ HAY: “CHẤP CHỚI” CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN VÀ “THÁNG TƯ ƠI” CỦA BÙI THỊ QUÍ - Châu Thạch

NHỮNG THÀNH NGỮ CÓ XUẤT XỨ TỪ THƠ CỔ ĐIỂN VÀ ĐIỂN CỐ (KỲ 17) - Nguyễn Ngọc Kiên


             

               NHỮNG THÀNH NGỮ CÓ XUẤT XỨ TỪ 
                  THƠ CỔ ĐIỂN VÀ ĐIỂN CỐ (KỲ 17)
                                             Nguyễn Ngọc Kiên

(47) 一箭双雕[Nhất tiễn song điêu] (một mũi tên hạ hai con chim)
Nguyên ý của câu thành ngữ này là chỉ một mũi tên bắn trúng hai con chim Kền kền, nay thường dùng để ví về làm một việc đạt hai hiệu quả.
Câu thành ngữ này có xuất xứ từ "Bắc sử- truyện Trường Tôn Thịnh".
Thời Nam Bắc Triều, nước Bắc Chu có một võ tướng võ nghệ cao cường tên là Trương Tôn Thịnh. Nhằm giao lưu hữu hảo với các dân tộc Đột Quyết, vua Bắc Chu quyết định gả công chúa cho vua Đột Quyết Nhiếp Đồ.
Thời bấy giờ chiến tranh xảy ra liên miên, hơn nữa đường xá xa xôi, muốn đưa công chúa đến Đột Quyết một cách an toàn là việc hết sức khó khăn. Vua Bắc Chu qua cân nhắc kỹ lưỡng, cuối cùng cử ái tướng Trương Tôn Thịnh dẫn quân đi hộ tống.
Trương Tôn Thịnh cùng các tướng sĩ trải qua muôn vàn khó khăn, cuối cùng đã đưa công chúa đến nước Đột Quyết. Vua Đột Quyết vô cùng cảm động liền bày tiệc linh đình tiếp đãi. Khi rượu qua ba tuần, người Đột Quyết theo tập tục mở hội thi võ. Nhà vua sai đưa cho Trương Tôn Thịnh một cây cung bắn bia cách đó trăm bước. Trương Tôn Thịnh ung dung bắn một phát trúng đích, mọi người thấy vậy đều vỗ tay khen ngợi rồi lưu họ ở lại một năm. Một hôm, vua Nhiếp Đồ trong khi săn bắn nhìn thấy hai con chim Kền kền đang tranh mồi trên bầu trời, liền gọi thị vệ đưa cho Trương Tôn Thịnh hai mũi tên, nhưng Trương Tôn Thịnh chỉ nhận một mũi tên rồi bắn sâu chuỗi hai con chim Kền kền rơi xuống đất. Do đó mới có câu thành ngữ Nhất tiễn song điêu.
                               (Theo Maxreading)
Mọi dân tộc tư duy thì giống nhau nhưng văn hóa và ngôn ngữ khác nhau nên cách biểu  đạt cũng khác nhau. Để diễn đạt ý này, người Anh nói: “one stone kills two birds” (một hòn đá giết chết hai con chim); trong khi đó người Việt nói “một quả đấm hạ hai quân thù” hoặc: “một viên đạn / mũi tên hạ hai con chim”.

     (48) 亡羊补牢 [ mất bò mới lo làm chuồng]
              ‘’Mất bò mới lo làm chuồng’’ là câu tục ngữ có nghĩa “không biết lo liệu đề phòng trước, để việc đã xảy ra rồi mới đối phó’’. Cùng nghĩa này có thể kể thêm một số câu tục ngữ của các dân tộc trong cộng đồng việt nam như: Hổ vồ lợn mới lo làm chuồng; Mất dê rồi mới sữa chuồng; Mất trộm mới rào giậu…Ý của câu trên rõ ràng có nghĩa ‘’chê’’, muốn nhắc nhở mọi người phải biết tiên liệu trước một sự việc gì để mà lo toan, đối phó, tình trạng xảy ra sự việc, gây hậu quả rồi mới có biện pháp sửa sai.
Tục ngữ Trung Quốc cũng có một câu tương đồng, nhưng mà nghĩa thì khác, đó là “Vong dương bổ lao”-vong: mất, dương:con dê, bổ: sửa, lao: cái chuồng - dịch nghĩa: Mất dê sửa chuồng - được hiểu là: Mất dê sửa chuồng chưa trễ, hiểu rộng ra: Công việc có sai lầm, nếu kịp thời tìm cách sửa,vẫn chưa muộn.Vậy, câu tục ngữ trên lại không có ý “chê’’ mà ngược lại.
Câu tục ngữ này của Trung Quốc bắt nguồn từ một chuyện kể lại trong Chiến Quốc sách:
Thời Chiến Quốc, vua nước Sở là Sở Tương Vương chỉ mải ăn chơi, tin dùng bọn gian thần, nước ngày một suy. Nước Tần bèn khởi binh đánh, chiếm được kinh đô Sở, Sở Tương Vương chạy trốn đến Thành Dương và cảm thấy hối lỗi. Trang Thân thấy vậy bèn kể câu chuyện: ngày xưa, có một người nuôi được một đàng dê, buổi sáng hôm đó thấy thiếu một con, sau khi xem xét thấy chuồng có một lỗ hổng, chó sói đã chui vào tha mất một con dê. Người hàng xóm thấy vậy khuyên anh ta hãy sửa lại chuồng.Anh này không nghe, nói: “Dê đã mất rồi thì hà tất phải sửa lại chuồng?’’
Sáng hôm sau, lại mất một con nữa. Bấy giờ, anh ta mới hối hận và nhanh chóng sửa lại chuồng, chó sói không chui vào được nữa.
 Sau khi kể xong chuyện, Trang Thân phân tích tình thế, khuyên Sở Vương sửa lỗi lầm. Vua Sở nghe bèn làm theo lời của Trang Thân, quả nhiên cơn nguy biến qua đi và chấn hưng được đất nước.

(49)  望梅止渴 [vọng mai chỉ khát] (nhìn mơ đỡ khát)
   Trong sách Thế thuyết tân ngữ  (世说新语) có chép:
魏武行役, 失汲道, 军皆渴, 乃令曰: “前有大梅林, 饶子, 甘酸, 可以解渴.” 士卒闻之, 口皆出水, 乘此得及前源. 
         [Nguỵ Vũ hành dịch, thất cấp đạo, quân giai khát, nãi lệnh viết: “Tiền hữu đại mai lâm, nhiêu tử, cam toan, khả dĩ giải khát.” Sĩ tốt văn chi, khẩu giai xuất thuỷ, thừa thử đắc cập tiền nguyên. ]
Tạm dịch:    
NHÌN HƯỚNG VỀ RỪNG MAI MÀ HẾT KHÁT
          Nguỵ Vũ Đế (Tào Tháo) dẫn binh hành quân, tìm không được nguồn nước, quân sĩ đều khát, Nguỵ Vũ Đế liền truyền lệnh rằng: “Phía trước có một rừng mai lớn, quả rất nhiều, vừa ngọt vừa chua, có thể giải khát được.” Quân sĩ nghe qua, miệng người nào cũng ứa nước bọt, cảm thấy đỡ khát. Nhân cơ hội đó, cuối cùng tìm được nguồn nước. 
Dùng ảo tưởng, ảo giác để tự an ủi.
                                                             

(50) 落花流水 [lạc hoa lưu thủy] (tan tác tả tơi)
Đây là thành ngữ tiếng Trung Quốc có nguồn gốc từ baì thơ Lãng Đào sa của Lí Dục đời Bắc Tống. Nguyên văn bài thơ:
浪淘沙其一 
簾外雨潺潺, 
春意闌珊, 
羅裳不耐五更寒。 
夢裏不知身是客, 
一晌貪歡。 

獨自莫憑欄, 
無限江山, 
別時容易見時難。 
流水落花春去也, 
天上人間。

Phiên âm:
Lãng đào sa kỳ 1 
Liêm ngoại vũ sàn sàn, 
Xuân ý lan san, 
La thường bất nại ngũ canh hàn. 
Mộng lý bất tri thân thị khách, 
Nhất hướng tham hoan. 

Độc tự mạc bằng lan, 
Vô hạn giang san, 
Biệt thời dung dị kiến thời nan. 
Lưu thuỷ lạc hoa xuân khứ dã, 
Thiên thượng nhân gian.

Dịch thơ:
Bản dịch của Nguyễn Chí Viễn
Ngoài cửa gió mưa ràn 
Xuân ý điêu tàn 
Năm canh lạnh ngắt thấu chăn đơn 
Giấc mộng bỗng quên mình tác khách 
Một phút truy hoan 

Đừng có tựa lan can 
Man mác giang san 
Khó khăn hội ngộ dễ lìa tan 
Nước chảy hoa trôi xuân bặt nẻo 
Thượng giới nhân gian

Nguồn: Tuyển tập từ Trung Hoa - Nhật Bản, Nguyễn Chí Viễn, NXB Văn hoá - Thông tin, 1996

                                                           Nguyễn Ngọc Kiên

READ MORE - NHỮNG THÀNH NGỮ CÓ XUẤT XỨ TỪ THƠ CỔ ĐIỂN VÀ ĐIỂN CỐ (KỲ 17) - Nguyễn Ngọc Kiên

HƯƠNG XƯA CÒN ĐÓ - Sách mới của Kha Tiệm Ly

Nhà thơ Kha Tiệm Ly vừa gửi email đến VNQT giới thiệu sách mới xuất bản!




 Tập tản văn HƯƠNG XƯA CÒN ĐÓ của Kha Tiệm Ly gồm 172 trang, giá bìa 90.000đ/ cuốn. TS Nguyễn Xuân Diện, Viện Hán Nôm viết lời tựa.
Sách gồm 28 bài nói về những vấn đề xa xưa như : Hồi xưa xài mỹ phẩm như thế nào ? Hồi xưa làm ra hột gạo ra sao? Sơn Đông mãi võ; Cà phê hồi xưa; Giải trí ngày xưa, Thầy trò ngày xưa; Hồi xưa hò cấy lúa; Còn đâu tiếng quết bánh phồng; Ngày xưa đi học; Hồi xưa người ta tẩy nhuộm quần áo thế nào? v..v,.....; đặc biệt ít người biết là câu cá phải dùng mồi nào cho cá thích (Cá nào mồi đó). Tất cả được ghi chép bằng sự va chạm, kinh nghiệm thực tế ngoài đời với độ chính xác 100% mà KHÓ TÌM TRONG MỌI TƯ LIỆU! Rất cần cho những bạn thích tìm tòi, tu bổ kiến thức.

KTL tha thiết mong quý bạn nhiệt tình ủng hộ, cứ coi như "trước mua vui sau làm nghĩa", gọi là giúp cho một người bạn chuyên sống bằng nghề viết chân chính đang thời mạt vận!

Đăng ký trên FB với nick khatiemly haohan (khung nhắn tin) hay Email: khatiemly@gmail.com

Chi phí gởi về:

1. Thái Quốc Tế
Địa chỉ: 99/5 Đinh Bộ Lĩnh, Phường 2, tp Mỹ Tho, Tiền Giang.
Điện thoại: 098 770 1952

Hoặc:

2. Thái Quốc Tế
Số tài khoản: 07000 132 6587
Ngân Hàng Sacombank, chi nhánh Tiền Giang

Chú ý:

1/. Quý bạn nhớ đề tên người nhận là Thái Quốc Tế, đừng đề tên Kha Tiệm Ly; bưu điện, ngân hàng sẽ không cho nhận.
2/. Quý bạn ghi bút danh và tên thật cùng địa chỉ rõ ràng cùng số ĐT, để tránh KTL phải gởi đi gởi lại nhiều lần như lần trước.

Trân trọng cám ơn
Kha Tiệm Ly

READ MORE - HƯƠNG XƯA CÒN ĐÓ - Sách mới của Kha Tiệm Ly

CƠN LỐC XOÁY - Truyện ngắn của Hoàng Hữu Chiểu

VNQT trân trọng giới thiệu truyện ngắn do bạn  Hoàng Hữu Chiểu, con trai thầy Hoàng Đằng viết.




              CƠN LỐC XOÁY
                      Truyện ngắn của Hoàng Hữu Chiểu

Nồi cháo loãng trên mâm còn đang bốc khói nghi ngút. Nồi cháo chẳng có gì, chỉ một ít gạo nấu với mớ rau dền hắn hái ở vườn sau nhà; thế mà hắn và thằng em ăn ngon lành.
Lần này không phải là lần đầu tiên hai anh em hắn rau cháo qua bữa, mà đã rất nhiều lần như thế rồi.

Từ ngày mẹ mất, mới 16 tuổi, hắn trở thành trụ cột trong cái gia đình có hai nhân khẩu. Thằng em đã bước sang tuổi 12 mà thân hình như đứa trẻ lên bảy, mắc bệnh teo cơ bẩm sinh, chỉ biết lết lui tới trong ngôi nhà ọp ẹp. Gọi là nhà cho oai vậy thôi chứ có gì đâu! Vài ba miếng tôn fi-bờ-rô xi-măng làm mái, mấy cái cột gỗ bạch đàn sắp mục; chỉ cần một cơn gió hơi mạnh một tí là có thể đẩy cái gọi là nhà ấy đi tong.
Bữa trước, hắn có đi xin vào làm thử ở các khu công nghiệp trong tỉnh, nhưng người ta không nhận; lý do là hắn chưa đủ sức khỏe cộng thêm hắn không biết chữ. Hồi nhỏ, hắn có đi học hết lớp 3 trường làng, sau đó, hoàn cảnh khó khăn, hắn phải bỏ học. Hắn tái mù chữ dần theo thời gian.
Rồi hắn ra chợ xin làm một tay sai vặt cho các quán ăn; hắn bưng dọn tô, chén, đũa, muỗng ... cho các quầy trên tầng hai của chợ. Thu nhập đã ít ỏi lại không ổn định, tùy lòng tốt của chủ mướn – nhiều lắm cũng chỉ vài ba chục ngàn đồng mỗi ngày.
Hắn chẳng có người thân ở đây; lai lịch của hắn phức tạp lắm. Hai người thân duy nhất trên đời đều bỏ hai anh em hắn đi rồi; bố hắn mất vì sốt xuất huyết cách đây mấy năm; mẹ hắn cũng mất do căn bệnh quái ác - ung thư vú - gần đây thôi.
       
Qua lời kể của mẹ, hắn có gốc gác ngoài Bắc. Những năm sau đất nước giải phóng, mẹ hắn tham gia đoàn thanh niên xung phong đi kinh tế mới vào Nam, khai hoang đồi núi, lập ra những nông trường; mỗi nông trường được giao một vùng đất nhất định. Nông trường của mẹ hắn chuyên trồng hồ tiêu, nằm ở miền Tây một tỉnh nhỏ. Trong nông trường, có một số nam thanh niên làm cán bộ nòng cốt.
Năm xảy ra chiến tranh biên giới phía Bắc và biên giới Tây Nam, số nam thanh niên ấy phải cầm súng, lên đường, người thì ra lại miền Bắc, người thì vào Tây Nam chiến đấu; thành ra số nữ thanh niên ở lại, trong đó có mẹ hắn, khó lấy được chồng. Những lá thư của ông ngoại hắn từ ngoài quê gửi vào không bao giờ thiếu mấy chữ: “ Khi nào cô cho bà con ngoài này ăn trầu đây, lớn rồi còn gì? Định làm bà cô chắc!”. Những dòng chữ ấy mẹ hắn cảm nhận như một áp lực.
Rồi mẹ hắn gặp một thanh niên cũng quê ngoài Bắc vào đây trốn lính. Gã không có nghề gì ổn định cả, vạ vật ở các khu chợ quanh vùng, “đầu trộm đuôi cướp”, dân địa phương thường gọi nghề này là nghề “cà lê”. Với vẻ bên ngoài coi được - cao ráo, điểm nét phong trần, gã đã giáng xuống mẹ hắn cú sét ái tình nhanh lẹ dù chỉ mới gặp nhau đôi ba bữa, chưa đủ thời gian tìm hiểu ngọn nguồn. Hai người làm lễ cưới; lễ cưới chỉ có họ nhà nữ, không có họ nhà nam; gã nói dối là mồ côi, chẳng còn ai ngoài quê cả.
Vài tháng sau, mẹ hắn mới biết gã là một tên lưu manh; mẹ hắn cũng đành nhắm mắt chấp nhận tất cả; biết làm sao giờ! Đời như một cơn lốc xoáy; đã lọt vào tâm của vùng xoáy đó, người ta khó mà thoát ra nếu không được trang bị đủ bản lĩnh …
Rồi chẳng bao lâu mẹ hắn cũng theo cái nghề của gã, duyên nợ kiếp trước chăng? Ngày này qua ngày khác, hai người cùng nhau hành nghề từ chợ này sang chợ khác, khi thì kiếm được chút đỉnh, khi thì về không. Ít lần toàn thân hai người bê bết máu, mặt mũi tím tái bầm giập, ấy là do bị người ta bắt được và đánh.
Ở nơi cư trú, dù thằng em hắn tật nguyền cộng thêm gia sản chẳng có gì - vuờn tược không, nương rẫy cũng không, nhà cửa chả ra gì, chính quyền cũng không xếp hộ hắn nằm vào diện hộ nghèo. Người ta bảo: “Nghèo gì mà nghèo, nghèo thì phải lo quyết chí làm ăn, ai đời cứ đi ăn trộm, ăn cắp; khi nào bỏ nghề, mới xét duyệt cho hộ nghèo.” Nghe vậy, ba mẹ hắn cũng suy nghĩ dữ lắm, nghiệt nỗi không bỏ nghề “cà lê” được! Họ đã thử tìm công ăn việc làm hướng thiện - chuyển qua bán bánh mỳ ở đầu chợ nhưng chẳng có khách ghé mua. Nhiều người đi qua còn ngoái đầu lại, ánh mắt coi khinh, dè bỉu: “Eng ả này hoàn lương chắc? Ai dám cược  ngày nay có “bão” không?” Chắc họ tởm lợm cái quá khứ của ba mẹ hắn. Cuối ngày, ba mẹ hắn đành thu dọn hàng, chất lên xe, đẩy về nhà; thế là cả nhà phải ăn bánh mỳ trừ bữa, không những một bữa mà nhiều bữa.
      
Mẹ hắn mang bệnh nằm hấp hối trên giường rên rỉ - cơn đau đang dày vò thân thể từng ngày; ngoài trời, mùa đông đang đến gần, gió thổi từng cơn tung tấm phên rách che cửa. Ếch nhái, côn trùng thi nhau kêu râm ran. Một mùa đông dự báo cho anh em hắn những điều chẳng lành. Thằng em chẳng hiểu chuyện gì, cứ lết đến bên mẹ đòi kẹo như một thói quen; ngày chưa mắc bệnh, dù túng thiếu, mỗi lần đi chợ về, mẹ hắn không bao giờ quên mua cho 2 anh em hắn khi thì vài cái kẹo mút, khi thì vài gói bánh ram giòn vàng rộm.
Giờ này, mẹ hắn nằm đó, lim dim mắt, thằng em chưa đủ nhận thức để hiểu ra vấn đề. Chỉ có hắn đã rõ; hắn biết mẹ không thể sống với anh em hắn lâu nữa. Hắn thương mẹ vô cùng. Một viễn cảnh xấu xa đang dần vẽ ra trước mắt hắn. Hắn như con chim bị tổn thương trong cơn bão lớn. Bầu trời trước mắt hắn tối sầm lại; có lẽ nay mai, con chim ấy chẳng biết bay về đâu giữa không trung mênh mông, và mênh mông!
- Mẹ đau chỗ nào, hở mẹ? Chắc mẹ mệt lắm, phải không? Con phải làm gì đây, hả mẹ?
Mẹ hắn nằm im, chẳng nói chẳng rằng; hai hàng nước mắt tuôn dài trên hai gò má xương xẩu. Bên ngoài, trời có mưa; bỗng mẹ hắn nói trong hơi thở hổn hển: “Hai anh em đến đây mẹ dặn!” Khi anh em hắn đến gần, mẹ hắn nói, dáng cố hết sức, giọng đứt quãng: “Các con ơi! Ba mẹ có lỗi với các con nhiều lắm. Sinh các con ra mà không lo được cho các con như người ta, để các con sống kham khổ, không học, không hành gì cả; không chỉ thế, ba mẹ còn để lại cho con “điều tiếng” với thiên hạ nữa. Mẹ thật xấu hổ với các con.”. Rồi mẹ hắn nhìn chăm chăm vào hắn, nói tiếp: “Con phải cố gắng lên nhé! Đứa em tật nguyền của con quá tội nghiệp; con hứa với mẹ là đừng làm cái nghề như ba mẹ, nghe con! Hãy kiếm một cái nghề gì đó lương thiện mà làm để nuôi em con thay mẹ và ba.” Rồi mẹ hắn nấc lên từng tiếng: “Hứa với mẹ đi, con… Con hứa với mẹ đi, con!”
Hắn ôm choàng lấy mẹ, khóc toáng lên: “Mẹ ơi! Đừng bỏ con đi! Con hứa với mẹ, con hứa với mẹ.”
Hắn quỳ xuống bên chiếc giường ọp ẹp. Mẹ hắn nằm bất động, hai mắt nhắm chưa khít.
Mẹ hắn ra đi mang theo một ước mong mà ai trên đời này cũng ước: con cái sẽ sống lương thiện, được xã hội yêu thương. Trời vẫn mưa bên ngoài, hình như càng lúc càng nặng hạt.
      
Thời gian cứ trôi. Cuộc sống của hai anh em hắn lẩn quẩn, không lối ra. Nghe theo lời mẹ dặn, hắn cố xoay xở mua một chiếc xe máy, chạy xe ôm. Được đồng nào, hắn phải trang trải nhiều chi tiêu, nào là cơm gạo, nào là thuốc men cho thằng em tật nguyền; “tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống”.
Mấy hôm nay, thằng em lại ốm, chẳng nuốt được muỗng cháo nào. Hồi sáng, thằng em tự dưng đòi ăn phở. Hắn ra đầu đường mua một tô phở hai mươi nghìn, với lại, ghé tiệm thuốc tây mua một vỉ thuốc ba mươi nghìn. Túi sạch trơn, hắn nghĩ chiều xách xe tới đầu ngõ, chờ khách, chạy, chắc cũng kiếm được chút đỉnh. Ai ngờ cơn đau của thằng em trở nặng, đành chịu! Thằng em bất ngờ nói với hắn một câu mà như dao cứa vào tim gan: “Bây giờ ba mẹ ở chốn nào, hở anh? Sau này, em chết có được gặp ba mẹ không, hở anh?”.Hắn đe: “Bậy nào, ngày mai anh sẽ đưa em đi bệnh viện, mà bệnh viện trung ương hẳn hoi. Ở đó, bác sĩ giỏi lắm, sẽ chữa cho em lành bệnh. Về nhà, em tha hồ chạy nhảy, nô đùa với đám bạn nhé!”. Em hắn thoi thóp cự nự: “Em có bạn đâu!”.Hắn ngớ ra; hắn quên là thằng em chưa hề lết ra khỏi căn nhà, thành ra, không có đứa bạn nào từ khi sinh ra đến giờ.
Đôi ba lần kẹt tiền trước đây, hắn đã thử đi “vay nóng”; nhưng chẳng ai cho vay dù là một cắc. Thấy hoàn cảnh của hắn, người ta sợ sau này hắn không trả nổi.
Ngồi ở góc nhà, hắn thở dài ... ngao ngán. Hắn biết thằng em hắn  ốm đợt này nặng rồi. Hắn nhìn quanh coi cái gì bán được không, chẳng có cái gì ngoài chiếc xe máy - đồ nghề mưu sinh của hắn. Hắn cảm thấy xấu hổ với thằng em, câu nói hồi nãy vô tình như một lời hứa của hắn với thằng em đang co ro như con mắm lẹp mà e không giữ được.
Làm sao bây giờ? Bây giờ và ngày mai, thời gian chỉ còn mấy tiếng đồng hồ nữa thôi, tiền đâu đem em đi bệnh viện đây? Hắn chắp hai tay sau lưng, đi lui đi lại, vẻ suy nghĩ. Hắn quay mặt đi để đưa tay lên quệt nước mắt vì sợ thằng em nhìn thấy.
Hắn nảy ra một ý định táo bạo trong đầu. Rồihắn đốt một bó hương to cắm lên bàn thờ của ba mẹ, miệng lẩm bẩm: “Con xin lỗi ba mẹ, con chỉ làm một lần này thôi! Con hứa với ba mẹ là chỉ một lần này thôi. Bây giờ, con không còn cách nào để cứu em con cả. Ở chin suối, ba mẹ tha thứ cho con.” Hắn vừa khấn xong, trời bắt đầu tối. Trời hình như giúp hắn một tay, đổ mưa to, sấm chớp lia lịa, gió thổi ào ào. Thời tiết thế này dễ làm cho thiên hạ ngồi yên trong nhà, không dám ra ngoài; hắn bước ra ngôi nhà nhỏ, đi như một kẻ mộng du, không chủ định về một hướng nào cả. Hắn cứ đi, cứ đi như thế một hồi lâu; những ngôi nhà xung quanh có vẻ yên lặng, hắn dừng lại ở một ngã ba lúc nào không hay, nhìn qua bên kia đường, ở đó ngoài sân một ngôi nhà cấp bốn đã cũ, một chiếc xe đạp điện đang dựng; nhìn thấy, hắn thắc mắc: không biết gia chủ quên đem vào hay đó là một thói quen. Hắn tiến lại gần. Ồ, hay quá! Cổng nhà không khóa. Hắn đi lom khom về phía một gốc tiêu rậm, nấp sát vào, quan sát, lắng nghe; chỉ có tiếng côn trùng kêu rả rích. Hắn bước nhẹ đến chiếc xe đạp điện, một tiếng nói đàn ông làm hắn giật thót người. Tiếng nói không to, không nhỏ đủ cho hắn nghe rõ mồn một:
- Mẹ nó coi sắp xếp ngày mai đem con nhỏ đi viện chứ nó sốt cao lắm, không tiền thì qua hỏi mụ Năm béo mà vay một ít; đem đi chứ để ở nhà lâu không ổn.
Tiếng người đàn bà đáp lại, thất vọng:
- Tui đã thử vay rồi mà không được; cái món cũ mình đã trả đâu mà đòi vay nữa. Mà giả sử họ cho vay thì được mấy đồng đây? Bệnh tim bẩm sinh phải mổ mới lành được, mổ tốn vài chục triệu chứ ít đâu!
- Thế thì làm sao bây giờ?” Tiếng đàn ông hét to, hỏi vặn.
- Ơ hay, ông nạt ai vậy? Để từ từ tôi tính!
Như một luồng điện cao thế chạy khắp cơ thể gầy guộc, hắn cảm thấy nặng cái đầu với một mớ suy nghĩ lông bông - hành động ngay hay dừng lại; một mớ âm thanh hỗn tạp, chen nhau, xô đẩy qua lại làm cho hắn mệt nhừ: “Thằng kia, không được hành động, phải dừng lại ngay”; “hành động đi, thằng em mày cũng sắp chết ở nhà kìa!”.
Trong trạng thái vô thức, hắn vùng chạy, chạy không định hướng như khi đi; con đường sao gồ ghề quá, hắn bước thấp, bước cao; sấm chớp bỗng lóe lên liên hồi, mưa vẫn không ngớt.
       
Sáng hôm sau, nhà hắn vang lên thứ âm thanh mà chẳng ai muốn nghe - tiếng búa đóng đinh vào gỗ va vào nhau lốc cốc. Thằng em hắn đã qua đời trong đêm. Chiếc quan tài, nghe đâu, có được nhờ ông thôn trưởng vận động một nhà hảo tâm cùng huyện. Cũng có một vài người hàng xóm qua giúp hắn, họ bảo nhau: “Nghĩa tử là nghĩa tận mà!”.
Từ rày, hắn trở thành người cô đơn đúng nghĩa.
Trời vào đông, từng cơn mưa, từng luồng gió như mang về hơi lạnh hơn.

                                                           Hoàng Hữu Chiểu
                                                                 23/04/2017

READ MORE - CƠN LỐC XOÁY - Truyện ngắn của Hoàng Hữu Chiểu

PHỐ CHỢ - Thơ: Nhã My - Nhạc & hoà âm: Trần Nhàn - Trình bày: Ca sĩ Minh Vũ





Nhà thơ Nhã My


READ MORE - PHỐ CHỢ - Thơ: Nhã My - Nhạc & hoà âm: Trần Nhàn - Trình bày: Ca sĩ Minh Vũ

PHƯƠNG ÁO TRẮNG - thơ Châu Thạch


Tranh của Họa sĩ Đặng Can.
(Internet)


PHƯƠNG ÁO TRẮNG                   

Anh cứ mơ về thời quá khứ
Mái trường xưa thành gạch vụn lâu rồi
Áo trắng xưa bay về phương trời áo trắng
Bỏ Cổ Thành loang lỗ một vầng trăng.

Anh cứ mơ về thời quá khứ
Bụi cỏ xôn xao dưới gót ngọc sân trường
Áo trắng bồng bềnh phố nhỏ mờ sương
Em cứ đi, đi về phương trời áo trắng.

Phương áo trắng mờ trong dĩ vãng
Bóng em nhoà thành cả một chân trời
Chăn chiếu anh nằm gánh hết chơi vơi
Đêm choàng tỉnh, đêm lạnh lùng cô quạnh.

Có một bửa anh thấy đời hết lạnh
Ngày hội cựu học trò ta được đứng bên nhau
Bốn mươi năm áo trắng đã thay màu
Em âu yếm nhìn anh đầu bạc trắng.

Rồi em đi bỏ lại anh khoảng lặng
Con đường xưa lau trắng ngập trong mơ
Anh lại lang thang tháng đợi năm chờ
Những đêm mộng anh đi về phương trời áo trắng.


                                    Châu Thạch
READ MORE - PHƯƠNG ÁO TRẮNG - thơ Châu Thạch

VĂN THÙY "DỊ NHÂN" - Thơ Đặng Xuân Xuyến





Văn Thùy "dị nhân"
- Cảm tác khi đọc 2 tác giả: Nguyễn Khôi,
Nguyễn Bàng viết về Văn Thùy "dị nhân".

Cuống quýt với thơ
Lử đử cùng thơ
Say thơ như điếu đổ.

Cả đời
Đánh đổi
Được gì?
- Dăm ba bài thơ dán tem "thơ bụi'. (1)

Thiếu vợ
Thiếu con
Đâu phải Kép Tư Bền
Sao cứ bắt miệng cười tim héo.

Đời lắt léo
Phận eo sèo
Thây kệ thế gian úp mở.

Giả ngố
Mượn chữ bày trò
Vác thơ
Tưng tửng.


                                
(1): Chữ dùng của nhà thơ Nguyễn Khôi.



Ân Thi, đêm 22 tháng 04.2017

ĐẶNG XUÂN XUYẾN
READ MORE - VĂN THÙY "DỊ NHÂN" - Thơ Đặng Xuân Xuyến

Tuesday, May 2, 2017

ĐẬU / RƠI - Thơ Trường Hải Lê Văn Đông

Tác giả Trường Hải Lê Văn Đông
  










ĐẬU

   Mùa hoa nở rộ cành nghiêng
   Hoa đậu thành quả an nhiên không nhiều.
   Nhân loại nhiều biết bao nhiêu
   Mấy ai đậu mãi kính yêu lòng người?
   Mây bay gió thổi trên trời
   Chơi vơi phiêu lãng chẳng nơi đậu dừng.

                        
   Trường Hải Lê Văn Đông


     RƠI

      Ngôi sao rơi cuối trời xa,
      Sau bao thiên kỉ sáng lòa không trung.
      Cánh hoa khoe sắc tưng bừng
      Phút giây rời rã hương cùng thoảng bay.
      Niềm tin một chút vơi đầy
      Rơi theo năm tháng thơ ngây đời mình.
      Ngày rơi kéo ánh bình minh
      Đêm rơi hố thẳm vô hình bủa vây.
      Gió ơi đừng có rung cây
      Lá ơi đừng có rơi bay giữa mùa.
      Thời gian chẳng thiếu chẳng thừa
      Đủ lưu hình ảnh bốn mùa rơi... rơi.
      Đến khi một mảnh hình tôi
      Về miền Lạc Thổ, dòng đời vẫn… rơi!

      Trường Hải Lê Văn Đông

  
    
READ MORE - ĐẬU / RƠI - Thơ Trường Hải Lê Văn Đông

TÓC MAI - Chùm thơ Lê Thanh Hùng

Tác giả Lê Thanh Hùng

Chùm thơ Lê Thanh Hùng
Tóc mai
Ngập ngừng giấu, nắng vờn quanh
Đong đưa, từng sợi để giành cho nhau
Cũng trong cử nắng năm nào
Em buông thả tóc buột vào hồn ai?
LTH

Tuổi thơ trong mùa nắng hạn

Trăng mười bốn, buông lơi bãi vắng
Ngày hè trôi trong tiếng ve ngân
Mùa nắng hạn, thời gian ngưng lặng
Nắng vàng đâu? cỏ úa đầy sân
                      *
Tuổi thơ giờ không như xưa nữa
Cũng khẳng khiu trong gió trên đồng
Cánh đồng khát, nỗi niềm chan chứa
Trắng một màu, bạc thếch, mênh mông
                      *
Cánh diều đứt, treo ngang nỗi nhớ
Bập bùng bay, lả tả bến sông
Trống hoang hoác, phất phơ dây nhợ
Dòng sông khô, bức bối oi nồng
                      *
Nhặt phân bò, kéo lê bao nhựa
Tuổi thơ em, chia sớt cái nghèo
Của mẹ cha một đời chất chứa
Năm mất mùa, cây trái quắt queo
                      *
Trăng mười bốn, sáng màu cỏ úa
Sáng đồng xa, kỳ vọng vụ mùa
Năm mới, bớt nhọc nhằn trầy trụa
Dân nghèo, thôi may rủi, được thua ...
LTH



Một chiều xa ở Sông Mao

Chiều Sông Mao xanh trong mắt em
Trôi lãng đãng, nghiêng lòng phố chợ
Nghe váng vất, đắm chìm nỗi nhớ
Một chiều xưa đằm thắm dịu êm
                      *
Anh hình dung nơi đó có em
Thảng thốt đợi mùa xuân qua ngõ
Đồng rạ cuối mùa, chiều quẩn gió
Lá me rơi, ào ạt bên thềm
                      *
Tiếng còi tàu cuống quýt lần qua
Nhạt nhòa nắng, mắt người đưa tiễn
Ướt xanh trong bóng chiều xao xuyến
Mờ dần theo góc khuất sân ga
                      *
Từ nơi này rầm rập quân đi
Từng đoàn tàu, ngược lên phía bắc
Trong lốc bụi mùa xuân quánh đặc
Sóng sánh chiều, giăng mắc điều chi?
                      *
Chiều Sông Mao xanh trong như xưa
Chỉ có khác, cái nhìn ẩn khuất
Bao năm tháng, bến đời quăng quật
Chợt hồn nhiên, tiếng trẻ con cười ...
                        *
Chợt hồn nhiên, ly rượu trên tay
Tiếng ai mời, đẩy đưa đồng vọng
Như tuổi hai mươi, lòng rợn sóng
Một chiều xa, lộng gió heo may ...

Lê Thanh Hùng

Huyện Bắc Bình, Bình Thuận

READ MORE - TÓC MAI - Chùm thơ Lê Thanh Hùng