Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, January 22, 2016

GIÓ BẤC - Hoàng Long Hải


                    
                        Tác giả Hoàng Long Hải



                        GIÓ BẤC 

                “Lấy vợ đàn bà, làm nhà hướng nam”
                                                        (Tục ngữ)

        Chẳng ai lấy vợ đàn… ông. Cũng có nghĩa rằng chẳng ai làm nhà quay về hướng khác, nhất là hướng bắc, mà nhà thì phải quay về hướng nam.
        Hướng bắc là hướng gió Bấc thổi, lạnh lắm, nên muốn tránh cái lạnh của gió Bấc người ta phải quay mặt nhà về hướng nam.
        Câu tục ngữ nói trên là của đồng bào miền Bắc Việt Nam.
Đó cũng là kinh nghiệm sống, kinh nghiệm dựng nhà của người ngoài đó. Nhà đã quay về hướng nam, cửa chính cũng không làm rộng, cửa sổ đã nhỏ lại nằm trên cao. Dĩ nhiên, đó là những nhà tranh thuộc các gia đình trung lưu hay nghèo khó, là những nét đặc biệt của lối kiến trúc người Bắc, vừa ngăn cái lạnh của gió Bấc, vừa giữ trộm cắp, nhà lại kín đáo. Người ta thường dấu cái nghèo của mình, cháo thay cơm, hay ăn sắn khoai trừ bữa cũng không ai hay.
        “Mái nhà xuống thấp, trùm kín phần trên vách để che mưa. Hơn nữa, cửa chính nhỏ và hẹp, cửa sổ nhỏ và cao để việc sinh hoạt trong nhà được kín đáo nên trong nhà thiếu ánh sáng tự nhiên.
Làm nhà hướng về phía nam có thể đón gió nồm thổi mát vào mùa hè. Hai chái phụ ở hai đầu, một hướng đông, một hướng tây chống hơi nóng mặt trời sáng và chiều.
Trước nhà trồng cau (để đón gió nam mát) sau nhà trồng chuối (lá chuối ngăn bớt gió bấc lạnh mùa đông).
Người đàn bà vắng chồng, đêm đêm ôm con, nghe tàu lá chuối bị gió đập phía sau hè, lòng buồn lắm. Đó là nguồn hứng khởi của câu ca dao:


   “Gió đưa bụi chuối sau hè
             Anh nghe vợ bé, bỏ bè con thơ.”
      
Người giàu làm nhà ngói, nhà cao cửa rộng, tác giả không bàn ở đây.
        Ở Mỹ, vùng phía Bắc, hôm nào có tuyết thì không ngại lắm. Có tuyết, trời hơi ấm, mặc dù hàn thử biểu chỉ dưới 32 độ F. (32 độ F bằng 0 độ C).
Nhưng người vùng Đông Bắc Hoa Kỳ rất ngại Wind Chill (North wind chill). North wind chill (Wind Chill) là gió từ Bắc Cực, từ Canada, từ Alaska xuống nên trời rất lạnh, lạnh tái tê. Mặc quần áo đã dày, đồ nỉ, đồ bông nhưng người ta có cảm tưởng cái lạnh như kim chích. Cái lạnh chui qua vải, qua nỉ mà chích vào da thịt người.
                           & 

       Cái lạnh của gió Bấc ở nước ta không thua gì!
       Cho nên người Việt đang định cư ở miền Bắc hoặc Đông Bắc Hoa Kỳ, - như vùng tôi chẳng hạn -, những ngày có “North wind chill” lại nhớ da diết gió Bấc ở quê nhà.
“Cái gì không nhớ, lại nhớ cái gió lạnh tê tái bên bờ sông Thạch Hãn”? Có người sẽ trách tôi như vậy. Nhưng quê hương đâu phải chỉ toàn là khế ngọt để trèo hái mà ăn 
   “Cho tôi trèo hái mỗi ngày.”
Yêu quê hương như yêu mẹ. Yêu cả cái “không đẹp” của mẹ, như tóc bạc, da mồi, ốm o, lụm khụm?
            Nhớ quê hương và nhớ mẹ, mấy ai không nhớ tới “Nhà Mẹ Lê” trong “Gió Đầu Mùa” của Thạch Lam.

“Nhưng đến mùa rét, khi các ruộng lúa đã gặt rồi, cánh đồng chỉ còn trơ cuống rạ, dưới gió bấc lạnh như lưỡi dao sắc khía vào da, bác Lê lo sợ, vì không ai mướn bác làm việc gì nữa. Thế là cả nhà nhịn đói, mấy đứa nhỏ nhất: con Tý, con Phún, thằng Hy mà con chị nó bế, chúng nó khóc lả đi mà không có cái ăn. Dưới manh áo rách nát, thịt chúng nó thâm tím lại vì rét như thịt con trâu chết. Bác Lê ôm lấy con trong ổ rơm, để mong lấy cái ấm của mình ấp ủ cho nó. Thằng con lớn thì từ sáng đã cùng thằng Ba ra cánh đồng kiếm con cua, con ốc, hay sau mùa gặt, đi mót những bông lúa còn sót lại trong khe ruộng. Thật là sung sướng, nếu chúng mang về được một lượm, trong những ngày may mắn. Vội vàng bác Lê đẩy con ra, vơ lấy bó lúa, đem để xuống dưới chân vò nát, vét hột thóc giã lấy gạo. Rồi làm một bữa cơm nóng lúc buổi tối giá rét, mẹ con ngồi chung quanh nồi cơm bốc hơi, trong khi bên ngoài gió lạnh rít qua mái tranh.”

        Đó là cái “khổ muôn đời” của nông dân Việt Nam.
Cái lạnh và cái đói hình như có “bà con”, hay hai người yêu quấn quít lấy nhau. Đã lạnh thì dễ đói. Đã đói thì lại càng thêm lạnh. Đó cũng là kinh nghiệm cay đắng của những người miền Nam bị tù ở vùng núi non Bắc Việt như Cao Bằng, Lạng Sơn, Hoàng Liên Sơn… sau năm 1975.
        Nhà nào không đói thì cũng nghèo.
Đó là hoàn cảnh Cô Tâm trong “Cô Hàng Xén”, tôi cũng trích trong tập truyện ngắn trên, cùng tác giả:

“Cái đòn gánh cong xuống vì hàng nặng, kĩu kịt trên mảnh vai nhỏ bé theo nhịp điệu của bước đi. Chịu khó, chịu khó từng tí một, hết bước nọ sang bước kia, cứ thế mà đi không nghĩ ngợi. Tâm thấy ngày nay cũng như mọi ngày, ngày mai cũng thế nữa; tất cả cuộc đời nàng lúc nào cũng chịu khó và hết sức, như tấm vải thô dệt đều nhau. Có phải đâu chỉ một mình cô; trong những lũy tre xanh kia, bao nhiêu người cũng như cô, cũng phải chịu khó và nhọc nhằn, để kiếm tiền nuôi chồng, nuôi con, nuôi các em. Tâm không chán nản cũng không tự kiêu, chỉ thấy yên tâm chắc chắn, như nhiều người khác cũng làm việc, cũng sống như nàng.”
….
“Lúc Tâm ra về, trời đã tối. Nàng vội vã bước mau để về cho con bú. Sương mù xuống phủ cả cánh đồng, và gió lạnh nổi lên: Tâm thu vạt áo lại cho đỡ rét, lần theo bờ cỏ đi.”

                             &

Cơn gió Bấc thường đến bất chợt bởi vì nó phát xuất từ Tây Bá Lợi Á. Cơn gió từ đó thổi đi, thường mang theo cái lạnh của vùng trung tâm lục địa Châu Á. Nó ập vào miền Bắc nước ta như một tên xâm lược, tiến nhanh như gió bão:

“Buổi sáng hôm nay, mùa đông đột nhiên đến, không báo trước. Vừa mới ngày hôm qua giời hãy còn nắng ấm và hanh, cái nắng về cuối tháng mười làm nứt nẻ đất ruộng, và làm ròn khô những chiếc lá rơi. Sơn và chị chơi cỏ gà ở ngoài cánh đồng còn thấy nóng bức, chảy mồ hôi.
“Thế mà qua một đêm mưa rào, trời bỗng đổi ra gió bấc, rồi cái lạnh ở đâu đến làm cho người ta tưởng đang ở giữa mùa đông rét mướt.
“Sơn tung chăn tỉnh dậy, nhưng không bước xuống giường ngay như mọi khi, còn ngồi thu tay vào trong bọc, bên cạnh đứa em bé vẫn nắm tay ngủ kỹ. Chị Sơn và mẹ Sơn đã trở dậy, đang ngồi quạt hỏa lò để pha nước chè uống. Sơn nhìn thấy mọi người đã mặc áo rét cả rồi.”
 …
“Sáng sớm hôm sau, trong gió bấc lạnh, Tâm đã mở cổng gánh hàng lên chợ. Sương trắng còn đầy ở các ngõ trong làng; mùi rơm rác và cỏ ướt thoang thoảng bốc lên, mùi quen của quê hương và của đất mầu khiến Tâm thấy dễ chịu và thêm can đảm. Nàng rảo bước cho mau chóng đến chợ.”
Gió Bấc làm cho đời sống dân chúng khổ sở. Chiến tranh làm cho họ khổ hơn, như gió Bấc đã từng đóng một vai trò nào đó trong lịch sử.
Sử chép:
“Tháng 3 năm Giáp Dần (1794) nhà Tây Sơn tổ chức phản công, tướng Nguyễn Văn Hưng đem bộ binh đánh vào Phú Yên, và tướng Trần Quang Diệu vào vây thành Diên Khánh. Đông cung Cảnh cho người về Gia Định cầu viện. Tống Phúc Đạm liền theo chúa Nguyễn đem đại binh đến đánh giải vây, buộc Trần Quang Diệu phải rút quân về.

Chúa Nguyễn thấy thế Tây Sơn còn mạnh, vã lại đã đến mùa gió bấc lạnh lẽo,nên chúa đem Đông cung Cảnh (Hoàng tử Cảnh tg) về Gia Định, để lại Võ Tánh giữ thành Diên Khánh.”

                           &

Trong các tháng 1 tháng 2 dương lịch, tức là trước và sau tết âm lịch, vùng trung tâm đại lục Châu Á nhiệt độ xuống thấp lắm, từ 10 độ âm tới 40 độ dưới không độ, có khi xuống tới 50 độ âm. Verkhoïansk, một thành phố nhỏ ở miền đông-bắc Tây Bá Lợi Á được coi là thành phố lạnh nhứt địa cầu, về mùa đông có khi nhiệt độ xuống tới âm 70 độ C.
Gió từ Tây Bá Lợi Á, ở phía Bắc biển Thái Bình thổi về phía nam nên người ta mới gọi là gió Bắc, người Bắc gọi trại thành Bấc. Tuy nhiên vì vòng quay của địa cầu, gió Bấc từ biển thổi vào đồng bằng Bắc Việt theo hướng Đông - Bắc chứ không phải hướng Bắc.
Khi vào châu thổ sông Hồng Hà, gió Bấc rẽ theo thung lũng của các dãy núi hình nan quạt mà lên Tây Bắc, nên vùng Tây Bắc về mùa đông lạnh tái tê. Nhiều người đi tù ở Việt Bắc, có đi mà không có về cũng vì những cơn “gió Bấc lạnh lùng thổi vào mái rạ” nầy.
Toàn bộ phần Nam lục địa, kể cả Tây Nam Á, về mùa đông có gió mùa Đông Bắc từ lục địa thổi xuống. Tuy nhiên do ảnh hưởng của các dãy núi cao theo hướng Đông-Tây, gió Đông Bắc từ áp cao Tây Bá Lợi Á không thể tiến tới phía Nam bán đảo Đông Dương được. Vì thế, chỉ có vùng từ đèo Cả trở ra phía bắc mới chịu ảnh hưởng gió Bấc. Từ Phú Yên xuống phía nam, ở phía nam đèo Cả, không phải chịu cảnh “mưa phùn gió bấc” triền miên như các vùng phía ngoài. Cái lạnh cũng bớt đi. Tuy nhiên, vùng phía bắc đèo Cả, cho tới đèo Hải Vân, ảnh hưởng “gió Bấc lạnh” cũng bớt đi phần nào.
Khi từ lục địa thổi ra, gió lạnh nhưng khô. Tuy nhiên, khi ngọn gió đi qua vùng phía bắc Thái Bình Dương, nó đem theo hơi nước của biển, cộng thêm những tầng mây dày và nặng trên vùng trời nầy, gió mang theo cơn mưa của biển.
Mưa không nặng hạt, có khi rất nhẹ như lúc mới vào mùa, còn gọi là gió heo may, thường thích hợp cho các bà các cô Hà Thành mặc áo nhung đi dạo phố. Vào cửa hàng, họ chỉ cần cầm vạt áo rủ nhẹ là hạt mưa phùn rơi xuống.
Vào giữa mùa, hạt mưa nặng hơn, mưa dai dẳng kéo từ ngày nầy sang ngày khác, có khi dài hằng tháng.
Mưa chen trong gió hay gió mang theo mưa?
Trong  mùa gió Bấc, mưa rỉ rả, và lạnh, và buồn, và kéo lê nhiều ngày khiến có lần Nguyễn Bính phải than:
               
“Trời mưa ở Huế sao buồn thế!
Cứ 
kéo dài ra đến mấy ngày

Thềm cũ nôn nao đàn kiến đói
Trời mờ ngao ngán một làn mây.

“Trường Tiền vắng ngắt người qua lại
Đập Đá mênh mang bến nước đầỵ
Đò vắng khách chơi nằm bát úp
Thu về lại giở gió heo may...”

      Nguyễn Bính hỏi “sao buồn thế?” Đỗ Tấn nói rõ hơn:

                       “Đêm Huế mưa buồn như em không nói,
                        Những cây mù u gục đầu. (1)
                        Lạnh về cắn xé đêm thâu”

      Nhạc sĩ Ưng Lang thì nhìn lá rụng theo mưa:

                  “Mưa rơi!
Chiều nay vắng người,
Bên thềm nhớ ai!
Mưa gió đầy vơi...

     Vì mùa “Mưa phùn giáo bấc” nên cái lạnh của xứ Huế ẩm ướt và khó chịu. Không có cái áo mưa nào ngăn nổi những giọt nước của cơn mưa phùn. Mưa thấm qua mũ, thấm qua áo quần và thấm vào đôi bít tất. Những giọt nước ở lại đó, - trong hai chiếc giày, cùng với hơi lạnh, kiên trì dai dẳng làm tê cóng mấy ngón chân.
      Mây phủ kín đầy trời, rất thấp, tưởng như vói tay có thể “đụng” tới mây; có khi cả tháng, người ta không thấy mặt trời. Mưa rỉ rả suốt ngày đêm, mưa kéo dài hàng tuần. Đi học, có lần tôi than vản:

                   “Qua cầu Trường Tiền
                    Mưa gió lê thê
                    Tôi đặt một bàn tay lên che trước ngực
                    Tôi thấy buồn tấm tức
                    Kể làm chi những đứa học trò nghèo
                    Mẹ tôi già vất vả gieo neo.

      Có một lần về phép, may quá, tôi lên chiếc máy bay quân sự C-47. Máy bay ra tới phi trường Phú Bài mà không đáp xuống được vì mây rất dày, lại phải quay về Saigon. Thế là bỏ phí một ngày. Ông Trời không biết rằng, đối với người lính, một ngày về phép là quí lắm hay không?
                                 &  

     Những người trẻ ngày nay có thể không biết “cái lồng ấp” là cái gì?
     Nó đã chết theo thời gian rồi! Người miền Nam cũng không biết nó.
Nó là cái trách nhỏ, bằng cái tô, đất nung, trong đựng những cục than đỏ tỏa ra hơi nóng ấm áp. Và một vật trông như cái giỏ tre đan giữ cái trách đất trong lòng nó. Ôm chặt cái trách đất, làm như cái giỏ tre cũng sợ lạnh!
Các mẹ, các bà cụ già, mùa đông lạnh, thường giữ kèm cái lồng ấp bên cạnh, hay đặt trước bụng, hơ hai bàn tay trên cái trách đất cho đỡ cóng.
        Cái lồng ấp và ngọn gió Bấc thổi về có “họ hàng” gì với nhau không mà mỗi khi cơn gió Bấc vi vút thổi trên mấy hàng dương liễu bên bờ sông Thạch Hãn thì cái lồng ấp xuất hiện. Người ta mới mua ở chợ hay mới lôi từ trên giàn bếp xuống?
       Không! Cái lồng ấp cũng chống lại cái lạnh của ngọn gió Bấc đấy. Trong khi cái lạnh của cơn gió làm tê cóng hai bàn tay, thì ngọn lửa trong cái lồng ấp làm cho hai bàn tay hồng trở lại, máu lại chạy đều trong mấy ngón tay.
        Cái lồng ấp của mẹ tôi đã cũ, có lẽ nó được mua ở chợ hồi năm ngoái, có nghĩa rằng nó thâm niên được một năm, một năm giúp mẹ tôi bớt cóng mấy ngón tay. Những nan tre màu trắng của cái lồng ấp nay đã sậm mầu. Miệng cái giỏ tre lồng ấp bị cháy xém đen. Ngọn lửa trong cái trách đất quá nóng hay lửa bùng lên làm cháy những nan tre?
       Nhiều khi, đi học về, tôi “xề” tới bên mẹ, đưa tay hơ trên lồng ấp, kiếm một chút hơi nóng.
       Mấy chục năm sau, kể từ khi khôn lớn rồi lưu lạc tới tận miền Nam xa xôi, sông Tiền, sông Hậu, tôi không còn thấy cái lồng ấp nữa. Miền Nam không có cái lạnh của ngọn gió Bấc để những người già phải cần tới nó.
       Và thế rồi tôi quên nó, tôi quên cái lồng ấp đã làm cho hai bàn tay mẹ tôi bớt tê cóng. Gần chục năm trong trại cải tạo, nhiều đêm đông gió lạnh cũng làm tê tái hai bàn tay, tôi bỗng nhớ đến cái lồng ấp của mẹ tôi.
     Và sáng hôm nay, trời ở Mass bỗng chuyển “North wind chill”.
      Nhìn gió lắc lư trên những ngọn thông màu xanh sẫm sau nhà, tôi bỗng nhớ đến cơn gió Bấc nơi cố quận, nhớ mẹ tôi và bất chợt, qua hình ảnh của mẹ mà tôi đã sống gần gủi bên mẹ khi tôi còn niên thiếu, tôi chợt nhớ tới cái lồng ấp của mẹ. Cái lồng ấp như một “hồn ma cũ” thức dây từ trong tiềm thức của tôi.
       Mẹ tôi chạy giặc khỏi quê nhà năm 1972. Tôi không biết những năm trước đó mẹ tôi còn dùng cái lồng ấp nữa hay không, những cái lồng ấp cũ mẹ tôi đã dùng có lẽ đã tiêu tan vào những thùng rác sau nhà. Nhưng trong tâm hồn tôi, từ thơ ấu đến giờ, hình ảnh cái lồng ấp vẫn còn ở lại đó, chẳng qua, vì tôi cũng như mọi người: Tôi thương mẹ!
       Năm ngoái đây, chị Như, một bà chị bà con bên ngoại, con gái cụ Đốc Hy, từ Canada gọi điện thoại hỏi thăm tôi. Chị bảo rằng ở Canada đang lạnh và mưa, làm chị nhớ “cái áo tơi lá” hồi còn học tiểu học ở Quảng Trị..
      Cái “áo tơi lá”” Lại thêm “một hồn ma cũ” cố hương!
      Tôi cứ tưởng những đứa bé con nhà nghèo như tôi mới phải mang cái “tơi lá” đi học chứ. Con gái một ông bác sĩ, sao lại phải “áo tơi lá” như tôi?
      Té ra không phải!
      Cuối thập niên 1940, kỹ nghệ chưa phát triển, nên thời kỳ ấy chưa có “nylon” để làm “áo mưa nylon”. Vậy thì, dù giàu hay nghèo, bọn học trò tiểu học như chúng tôi hồi đó, ai ai cũng phải mang “áo tơi lá” đi học. Binh lính Tây có áo mưa, là một thứ vải tráng cao su, chưa có loại vải tráng nylon như sau nầy.
      Đến lớp, cái “áo tơi lá” cồng kềnh được treo hay móc ngoài hành lang, không được đem vô lớp.
      Xem vậy mà cái tơi lá tiện lợi cho chúng tôi khi chúng tôi đi học dọc theo bờ sông Thạch Hãn. Khi đi tới trường hoặc khi về, chúng tôi quay cái tơi lá về phía Tây, hướng gió thổi tới, để che cơn gió lạnh. Cái tơi lá không che tới chân, nên phần dưới hai ống quần ướt đẫm, làm cho hai cái chân lạnh cóng, dù đã vào ngồi trong lớp học.
       Khi gió mạnh, cái mép cuối của cái tơi lá đập vào hai ống chân khá đau, có khi làm cho chỗ da ở đó đỏ lên vậy.
       Cái tơi lá, như một tấm bạt, phía trên bẻ ngang, có sợ giây rút lại. Cái đầu của bọn tôi ló ra khỏi cái tơi lá ở chỗ sợi giây ấy. Những người kéo xe, gánh gồng, dùng cái tơi lá có hai lỗ hai bên để có chỗ cho hai cái tay thò ra.
       Không hẳn cái tơi lá ngày nay đã mất dấu ở quê hương. Xứ tôi gần rừng, có nhiều lá cọ, để cho người ta dùng những cánh lá non để “chằm” nón lá, và những cái lá già để “chằm” tơi lá. Người dân quê tôi đâu đủ giàu để không còn dùng tới cái tơi lá nữa.
                                      &

       Một số người thành phố, những người không phải là ngư dân, sau 1975,  biết thêm một danh từ mới của những người đi ghe biển Việt Nam, sinh hoạt trong vùng Châu Á Gió Mùa.
Mùa đông, gió Bấc thổi nhiều ngày, từ tuần nầy qua tháng nọ. Khi gió đang mùa, “thuyền vượt biên” hay ghe đánh cá không ra biển xa được. Sóng lớn, thuyền vượt biên dễ gặp nguy
Nhưng rồi bỗng mấy hôm, gió Bấc ngừng thổi. Biển lặng. Thời điểm đó, người làm nghề đánh cá biển ở miền Nam VN gọi là “Đồng Chung”, là lúc biển êm, gió lặng. Những ngư phủ có nhiều kinh nghiệm, đoán được những ngày “đồng chung” nầy.
Cũng chỉ ở Miền Nam mới có Gió chướng.
Gió thổi từ Đông đến Đông Nam, ngược chiều sông Tiền, sông Hậu, nên nước mặn lấn vào sông. Gió  thường thổi mạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau.
Gió Bấc thổi vào mùa Đông, nhất là những ngày trọng đông.
                            &

        Đừng lầm gió Bấc với gió heo may!
Cơn gió lạnh thổi vào mùa thu, nó có một cái tên khác: Gió heo may.
Gió heo may thổi khi trời còn ít mây, có khi còn những cơn nắng chiều mầu tím, và cũng có khi trời nhiều mây nhưng không sũng nước như những tầng mây đen dày mùa đông.
Kinh nghiệm thời tiết của tổ tiên cho chúng ta biết:

Tháng Bảy heo may, chuồn chuồn bay thì bão.

       Trịnh Công Sơn có cái nhận xét tinh tế đó khi ông viết “Nhìn những mùa thu đi”:

“Nhìn những lần thu đi
Tay trơn buồn ôm nuối tiếc

Nghe gió lạnh về đêm
Hai mươi sầu dâng mắt biếc
Thương cho người rồi lạnh lùng riêng

Gió heo may đã về
Chiều tím loang vĩa hè
Và gió hôn tóc thề

Rồi mùa thu bay đi
Trong nắng vàng chiều nay
Anh nghe buồn mình trên ấy
Chiều cuối trời nhiều mây
Đơn côi bàn tay quên lối
Đưa em về nắng vương nhè nhẹ
Đã mấy lần thu sang
Công viên chiều qua rất ngắn

      Độc giả để ý những chữ tôi in nghiêng là những câu  tả cảnh mùa thu ở Huế, có gió heo may: “Gió lạnh về đêm”. Có nghĩa rằng ngày chưa đến nỗi lạnh lắm. Gió cũng thổi không mạnh lắm. Gió thổi mạnh sao có thể “Gió hôn tóc thề”. Nắng thì vàng (nắng vương nhè nhẹ) nhưng chiều thì đã ngã sang mầu tím (chiều tím loang vĩa hè). “Công viên chiều qua rất ngắn”, có nghĩa rằng đã đến “Thu phân”, ngày ngắn lại, đêm dài hơn, trời nhiều mây nên mau tối.

      Nước ta thuộc “Châu Á Gió Mùa”. Nói một cách đơn giản thì mùa đông có gió Bấc, thường được gọi là “Gió Mùa Đông Bắc”. Đến mùa hè, gió thổi ngược lại, từ hướng nam đi lên, là gió Nam, tên thường được gọi là gió Nồm, mang theo cái mát mẻ của biển.
       Mùa Đông, người ta sợ gió Bấc, mùa hè, người ta mong được cơn gió Nồm. Đọc bài thơ sau đây của Nguyễn Khuyến, độc giả biết ngay:

“Ai xui con cuốc gọi  mùa hè
Cái  nóng nung người nóng nóng ghê
Ngõ trước vườn  sau um những cỏ
Vàng phai  thắm nhạt ngán cho huê
Đầu cành kiếm bạn oanh xao- xác
Trong tối đua bay đóm lập-loè

Mong được nồm nam cơn gió thổi
Đàn ta, ta gãy khúc Nam nghe.”

            Cũng như ngọn gió Bấc đã nói ở phần trên, nó ngăn giặc! (Chúa Nguyễn thấy thế Tây Sơn còn mạnh, vả lại đã đến mùa gió bấc lạnh lẽo, nên chúa đem Đông cung Cảnh về Gia Định…) thì gió Nồm làm cho giặc “dậy” lên. Nguời dân miền Nam Trung Bộ, khi đã “ngán” nhà Tây Sơn rồi thì họ cầu:

                        “Lạy trời cho nổi gió Nồm
                 Để cho Chúa Nguyễn kéo buồm thẳng ra.”

      Trong cuộc chiến tranh giữa Nguyễn Ánh và nhà Tây Sơn, thường chuyển quân bằng thuyền. Khi gió Bấc lạnh lẽo, quân Nguyễn Ánh rút về Nam. Khi gió Nam (Nồm) thổi, thuận gió cho Chúa Nguyễn kéo quân ra miền Trung thì Chúa Nguyễn Ánh bèn ra đánh nhà Tây Sơn.
       Lịch sử gọi những lần đánh nhau như thế là “giặc mùa”, được ghi trong lịch sử và ca dao.

       Có đi xa bao nhiêu ngàn dặm, vì thời gian có trôi dài vài ba mươi năm hay lâu hơn nữa, tôi không quên những năm niên thiếu bên bờ sông Thạch Hãn.
       Mùa hè, nằm trên bãi cỏ bên bờ sông để nghe Gió Lào thôi vi vu trên những hàng cây dương liễu bên bờ sông. Mùa đông, nằm trong chăn ấm, trí vẫn không quên được hình ảnh gió lạnh thổi qua sông. Phía đông, phía hạ lưu sông Thạch Hãn là một mầu mây âm u ảm đạm, mưa lạnh theo gió Bấc về tê buốt từng cơn.

      Cái lạnh, bên sông, tưởng như trong lòng người tuôn ra cùng với cái lạnh từ miền trung tâm lục địa Châu Á thổi về. Hình ảnh hàng dương liễu, ướt lướt thướt, đứng trầm ngâm trong cơn gió Bấc lạnh lùng, hứng lấy cơn gió mà thổi vi vu với một điệu nhạc trầm buồn muôn thuở như nỗi buồn của người cô phụ, của người mẹ mong con, của một người ở cuối sông mong ngóng một người ở đầu sông mà không hy vọng gì có ngày gặp gỡ. Muôn đời, có phải đó là “Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang…” như trong thơ Xuân Diệu
       Khi mùa đông tới rồi, không ít lần cô (hay bà) xướng ngôn viên của đài phát thanh Saigon ngày trước đọc câu sau đây trên làn sóng điện, trước khi kết thúc một bản tin: “Hôm nay, gió mùa Đông Bắc thổi mạnh trên biển Nam Hải.”
       Nghe mãi thành quen, nó hằn sâu vào tâm hồn tôi lúc nào tôi chẳng hay.
       Đối với những người làm chính trị, khi đọc diễn văn, họ vẽ ra một quê hương là cái gì đó vĩ đại, lớn lao, cao quí. Nhưng với tôi, đôi khi thấy Wind Chill ở miền Đông-Bắc Mỹ nầy thổi vi vút qua những tàng cây cao, tôi bỗng nhớ câu dự đoán thời tiết ngày trước “Gió mùa Đông-Bắc thổi mạnh trên biển Nam-Hải” qua giọng nói trên đài phát thanh Saigon.

       Chỉ có mấy tiếng thôi mà sao tôi nhớ lâu quá vậy?
       Ôi quê hương! Quái lạ không? Đơn giản chỉ là một câu nói của một người nào đó mà tôi chưa từng biết tên, gặp mặt bao giờ./

                                                                           hoànglonghải


          
  (1) Văn Thánh trồng thông
        Võ Thánh trồng bàng
        Ngó lên xã tắc hai hàng mù u.
 (Ca dao Huế. Xem thêm “Mùa Hè ở Huế” cùng tác giả)

READ MORE - GIÓ BẤC - Hoàng Long Hải

Thursday, January 21, 2016

EM TRỞ VỀ - Thơ Lynh Thảo



                   
   Tác giả  Lynh Thảo 


EM TRỞ VỀ

Em trở về phút giao thừa tĩnh giấc
Gọi mùa xuân xao xuyến bóng đường về
Anh tưởng chừng đi lạc giữa hương quê
Có nắng nhạt,mưa phùn và gió bấc

Trong tim anh một tình yêu rất thật
Rất ngọt ngào như thuở tuổi đôi mươi
Thuở cầm tay chưa nói được nửa lời
Mà định mệnh sẻ chia tình dang dở

Em trở về tuổi thơ vàng sách vở
Lá thư tình hoen ố bụi thời gian
Dòng mực tím đong đầy niềm nhung nhớ
Hạnh phúc gầy rơi rụng xuống bờ vai


Em trở về đếm dấu bước chân ai
Ngồi chờ đợi trăng về trong ngõ vắng
Anh không đến - Trăng thẫn thờ tĩnh lặng
Giỗi hờn này hoang vắng giữa trời khuya

Em trở về nhạt phai màu áo lụa
Hương tình nồng thương nhớ đã bay xa
Còn sót lại kỷ niệm buồn hóa đá
Em trở về một khoảng trống xót xa

                                         Lynh Thảo

READ MORE - EM TRỞ VỀ - Thơ Lynh Thảo

Wednesday, January 20, 2016

XA HUẾ - thơ Nguyễn Văn Khánh







XA HUẾ

Bao  năm rồi xa Huế
Chưa một lần về thăm
Đêm nay nghe em hát
Câu Nam ai, Nam bình.

Có chút gì nghèn nghẹn
Như mắc phải lỗi lầm
Ngày xưa mưa giăng mắc
Ta trên đường Huế thương

Câu hò ai dìu dặt
Vang vọng bờ Hương giang
Ao dài ai tím Huế
Cho ai lòng ngẩn ngơ.

Mấy năm mình xa Huế
Như xa một mối tình
Bốn năm trời gắn bó
Để rồi đành lòng xa

Ơi cô gái sông Hương
Ngày xưa anh từng gặp
Và cô gai sông Hương
Giờ đây em đang hát.

Hãy hát nữa lên em
Cho anh về lại Huế
Cho anh được tắm mình
Giữa dòng Hương dịu ngọt.

                  
Nguyễn Văn Khánh      
Giáo viên Trường THCS Vĩnh Hanh,                    
Châu thành, An giang.

                        
READ MORE - XA HUẾ - thơ Nguyễn Văn Khánh

CHỢ QUÊ - Tản văn của Phan Nam


Một góc chợ quê (ảnh: Phan Nam)



Phan Nam

CHỢ QUÊ

Tản văn 

 Chợ quê ẩn hiện trong tâm thức tôi từ những điều rất mỏng manh mà rất sâu sắc. Từ thuở vi hàn chợ quê gắn liền với mẹ tôi từ con cá, mớ rau để nuôi sống những đứa con đang tuổi ăn tuổi lớn. Bây giờ đây tôi đã đủ lông đủ cánh bay đến những phương trời xa lạ nhưng hình ảnh giản dị quê nhà khó lòng mà xoá mờ được. Bước đường quê hương trong thâm tâm đong đầy từng kỉ niệm đơn sơ cơ cực một đời của mẹ. Thưở ấy, từ bốn giờ sáng mẹ tôi đã phải lọ mọ thức dậy chuẩn bị gánh hàng ra chợ bán. Bánh trái rau quả quê nhà được sắp xếp rất cẩn thận vào quang gánh của mẹ. Đứa con nhỏ cũng vội vàng bật dậy mơ mơ màng màng cứ nằng nặc đòi đi theo mẹ ra chợ. Rồi hai mẹ con dắt nhau đi qua từng con đường làng khi trời còn tờ mờ sáng, hơi sương đặc quánh còn đọng trên cành dưới lá.

Quãng đường quê dặt dìu tấm lòng của mẹ che chở cho những đứa con, quãng đường dẫu không xa lắm cũng đã đong tròn khổ cực tảo tần của mẹ suốt một đời cho những đứa con thơ dại. Món quà quê được trao đổi tại chợ rất phong phú quen thuộc được thể hiện rất rõ trên từng nét mặt, từng cử chỉ của kẻ bán người mua. Trái mít non lấm lem đất cát, qua đu đủ hồng hào da thịt, mớ rau lang chai sần trên đôi tay mẹ, rồi cọng rau ngót, con cua con ốc chảy nước ướt sũng trên đôi lưng gầy chân chất. Nhớ hồi đó mẹ mới bán được vài bó rau lang được mấy đồng lẻ đã bị đứa con nhỏ đòi cái này cái khác làm lòng mẹ chua xót, không khỏi xuyến xao. Thương con mẹ mua ổ bánh mỳ nhưng thịt, bịch sữa cho con còn mình uống có một ngàn sữa lạt…

 Những món hàng được bày bán tại chợ quê sớm đã gắn chặt vào tâm thức hương vị của người dân đất Quảng quê tôi. Đứa bé ngày xưa cứ thích ghé lại gian hàng của người bà đã đến tuổi thất thập nhưng hằng ngày vẫn thầm lặng mưu sinh tại góc nhỏ trong lòng chợ. Mấy nải chuối chín, vài bọc cau khô, bịch tiêu nhỏ đã được xay xát được đặt bên cạnh củ hành nén tỏi chính là những mặt hàng mà bà trưng bày trên chiếc bàn nhỏ. Tôi đặc biệt thích nhất chính là tán đường đen được gói ghém rất cẩn thận được đặt chính giữa đã làm nên đặc trưng của những gian hàng chợ xưa. Rất nhiều người tìm đến mua đường để thẩm thấu vị ngọt đất quê hương và cũng để tìm chốn tĩnh lặng hàn huyên với biết bao câu chuyện của đời người chợ quê trên mảnh đất làng xưa. Đứa bé vẫn ngồi đó, vừa nhấm nguộm nước chè xanh vừa luyên thuyên hỏi người bà rất nhiều điều, những câu hỏi không dứt của đứa bé làm bà cũng phải bật cười. Hầu như ngày nào đi chợ mà không ghé quán bà làm nũng thì chắc không chịu được, dẫu ngày sau quay lại rất khó kiếm tìm.
Chắc cũng phải đến mười giờ mẹ mới bán hết hàng, mấy bó rau lang cuối cùng quay quắt héo hon. Mẹ mời miết không ai mua nên cũng phải nhắm mắt bán rẻ để còn mua đồ về lo cơm nước cho đứa con thơ, cha già cồn cào ruột gan đang chờ ở nhà. Biết ý con, ngày nào đi chợ mẹ cũng dẫn vào khi hàng đậu hũ nóng hổi ăn cho ấm bụng, khi thì hàng chè thập cẩm mà có lẽ đứa trẻ nào cũng phải mê tít đắm say. Chợ quê nhỏ bé chứa đựng trong nó biết bao điều đặc biệt khiến những bước chân phải say mê khám phá. Dẫu đôi lúc chỉ là một hương vị đơn sơ nào đó mà không nơi nào có được.

Tác giả Phan nam
 Chợ quê ngày xưa bây giờ phần nào cũng hiện đại nhiều, những gian hàng củ kỷ nằm bẹp dưới đất dưới nền cũng dần bị xoá xỏ thay thế các hàng quán hiện đại nhưng sao trong lòng thấy nhớ quá. Đi lanh quanh mãi với những phận người gắn cả cuộc đời gìn giữ nét đẹp hồn xưa của chợ quê mà sao con tim không khỏi bâng khuâng, trân trọng đến thế. Bánh trái quê hương chính là nét đặc biệt mà đôi chân nhỏ lạc bước quay về. Một ngày thấy biết bao dáng người ôm trái mít chín thơm nứt, tay cầm trái dứa mà ngỡ hương hồn đồng quê văng vẳng đâu đây. Đâu đó bên góc chợ xưa còn dáng mẹ gầy hao bên dãy hàng rau lang đang cố bán hết những bó cuối cùng dưới cái nắng bỏng rát của trưa hạ. Đã không còn…

                                                            PHAN NAM
                                                   (Tiên Phước – Quảng Nam)





READ MORE - CHỢ QUÊ - Tản văn của Phan Nam

THIÊN DI - chùm thơ Hoàng Anh 79





Tác giả Hoàng Anh 79


THIÊN DI

Và tình theo cánh thiên di
Trong duyên tiền kiếp còn gì cho nhau
Ta về nhặt lấy niềm đau
Lá thề em đốt qua cầu là xong

SAT NA

Nằm nghe trong cõi phù trầm
Hình như ai đó gọi thầm tên ta
Gần nhau trong một sat na
Tìm hoài chỉ thấy bao la đất trời

GỌI HỒN

Phố khuya phố vắng không người
Bóng ta cùng với bóng đời khẳng khiu
Giật mình nghe tiếng chim kêu
Ngỡ đâu Chúa gọi hồn phiêu bạt về !

Ngày 18/1/2016



READ MORE - THIÊN DI - chùm thơ Hoàng Anh 79

LÃNG ĐÃNG CHÚT HỒNG - thơ Phan Minh Châu





LÃNG ĐÃNG CHÚT HỒNG

Lãng đãng chút hồng lên phố chợ
Em đêm nằm viện thoáng u buồn
Ta quanh quẫn trong căn phòng nhỏ
Ngoài trời vẫn đó hạt sương run
Từng giọt nhỏ thôi từng giọt nhỏ
Chảy lan man qua mấy triệu hồng cầu
Trên đôi má dường như ửng đỏ
Một chút hồng như gái bén duyên
Mùa xuân chín hay xuân đang chớm
Tán bàng xanh muôn tuổi hắt hiu vàng
Em lận đận mệt nhoài theo số phận
Ta lừng khừng trăn trở chuyện trăm năm
Mưa vẫn cứ sụt sùi trên tán lá
Lá rưng rưng cho mấy khúc tình buồn
Ta chợt thấy trái tim mình chật quá
Khi mơ hồ cho một thoáng hư không.  
     
PHAN MINH CHÂU   

Nha Trang Khánh Hoà
READ MORE - LÃNG ĐÃNG CHÚT HỒNG - thơ Phan Minh Châu

Nhạc và thơ của Trầm Thiên Thu






THƠ :


THÁNG GIÊNG

Tháng Giêng, anh làm thơ yêu em
Người con gái có trái tim trinh nữ
Thơ anh nồng nàn đến thế
Vẫn bất lực, khôn xiết những vần yêu
Tháng Giêng, anh hát lý thương nhau
Trời nắng pha lê trong trẻo mơ ước
Mùa Xuân về đất trời ấm áp
Nảy lộc biếc đầu cành tháng Giêng
Men thơ làm hồn anh nghiêng
Em có say men tình khi mùa tới?
Phố phường nhộn nhịp khiến anh đắm đuối
Cảm ơn tháng Giêng ngồn ngộn tứ thơ



LỤC BÁT THÁNG HAI

Mơn man gió mát thánh Hai
Giọt Xuân vương lại những ngày quê hương
Ánh trăng tỏa sáng yêu thương
Nhẹ nhàng lục bát vô thường êm ru
Hình như một chút tương tư
Còn vương đọng lại bên bờ trái tim
Ngày xưa đâu thể đi tìm
Dòng thời gian đã xa xăm quá rồi
Qua Giêng rồi tới tháng Hai
Bồi hồi ký ức chuyện ngày xưa xa…

TRẦM THIÊN THU
READ MORE - Nhạc và thơ của Trầm Thiên Thu