Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Thursday, October 22, 2015

NGUYỆN ƯỚC NÀO CHO TÔI - thơ Tố Nhã




NGUYỆN ƯỚC NÀO CHO TÔI

phượng hồng đã nở.
nụ cười nào trên đôi môi anh
anh đánh mất em cũng bởi lòng ích kỉ
rồi anh ôm vào lòng chỉ là những đắng cay
một lần sai trái con tim
đã làm anh mất đi tất cả.
anh nhìn lại kỉ niệm mà lòng càng đớn đau.
em ơi!
nếu cho anh một lần được ước muốn
xin nguyện cầu mãi mãi ở bên em
khẽ du dưa lời ru giấc ngủ
cho em mơ những gì ngọt ngào nhất
chẳng còn vương vấn nỗi sầu đau.
nhưng còn đâu trong anh những niềm vui
khi lời hứa với em như là lời dua nịnh
chẳng thể nào vượt qua nỗi khổ ải lòng anh
còn gì trong anh chỉ là nỗi âu sầu
còn lại trong em những gì đau khổ nhất
lời nguyện cầu mong em được hạnh phúc
anh xin lỗi, anh sai rồi.

TỐ NHÃ
(NGUYỄN ĐỨC THÔNG)


READ MORE - NGUYỆN ƯỚC NÀO CHO TÔI - thơ Tố Nhã

CÁM ƠN MÙA THU - thơ Thương Yến Tử



CÁM ƠN MÙA THU

ta cám ơn những ngày thu ở lại
đưa ta về với kỷ niệm xa xưa
cho ta đi trên lá úa giao mùa
và thức vội những cuộc tình dang dở
bên dòng sông thu nào còn bỡ ngỡ
lá vàng trôi theo dòng nước phù sa
đứng bên cầu cây, chờ bóng em qua
gió thu nhẹ, sương thu chiều lành lạnh
em chưa đến bỗng vườn thu hiu quạnh
trăng thẹn thùng trong khóm lá nghiêng che
em hờn dỗi ánh mắt buồn nguyên thủy
anh nâng niu sợi tóc lệch đường ngôi
ta cám ơn những ngày thu ở lại
công viên buồn sỏi đá lạnh chân quen
em đâu rồi! lối cỏ nằm ngơ ngác
choàng trên vai nằng nặng một phiên buồn
ta cám ơn những ngày thu ở lại
ánh đèn vàng đô thị cũng rưng rưng
Sài Gòn ơi! còn đâu năm tháng cũ
ta cùng thu giữa đêm phố ngập ngừng

16/10/2015
thương yến tử


READ MORE - CÁM ƠN MÙA THU - thơ Thương Yến Tử

TÂM SỰ VỚI ĐÊM - MƯA THÁNG BẢY - Thơ: Vũ Trọng Tâm




Thơ: Vũ Trọng Tâm

TÂM SỰ VỚI ĐÊM
        
Đêm lặng lẽ và người còn thao thức
Gối có mềm ru em giấc kiêu sa
Buồn vu vơ canh vắng chỉ mình ta
Chăn nệm ấm có vơi sầu hiu quạnh?

Hai phương trời nhìn ánh sao lấp lánh
Tiếng yêu thương chỉ nói để mình nghe
Cơn gió lùa mơn trớn cả thịt da
Cứ ngỡ tay ai vuốt ve nhè nhẹ

Đêm vẫn đến mắt thu buồn lặng lẽ
Ta nhớ người và nhớ cả vòng tay
Em bây giờ êm ấm giấc ngủ say
Hay thao thức nghe buồn cay đôi mắt

Đêm ru ta hay ta ru đêm ngủ!
Ta với em còn nặng gánh đời trôi
Sao vẫn nghe vị đắng ở bờ môi
Em có cho ta ân tình ngọt lịm?

Ta vẫn nhớ em và màu áo tím
Trời ngày mai xin đừng đổ cơn mưa
Sợ sẽ làm bờ môi em se lạnh
Ta yêu người thầm nhớ nụ hôn xưa!
         
 VTT (Gò Công)


MƯA THÁNG BẢY
       
Buổi chiều tháng bảy hay mưa
Cho hoa khế rụng,tím vừa áo em
Hắt hiu gió bước qua thềm
Dăm ba chiếc lá rơi mềm gót chân

Trời mưa cho ướt nhánh bần
Qua cây cầu nhỏ ngại ngần chốn quê
Nón che nghiêng mái tóc thề
Áo em tim tím nẽo về mưa bay

Đường xa lạnh buốt bờ vai
Mưa ngâu tháng bảy những ngày gặp nhau
Sông Ngân nối lại nhịp cầu
Ngưu Lang Chức Nữ,niềm đau đôi bờ

Chiều nay nhớ bến sông thơ
Em đâu ngõ khuất bóng mờ phố xưa
Cầu Ô Thước nối liền chưa?
Gặp nhau bến đợi,ngày mưa qua rồi !
               
VTT (Gò Công )


READ MORE - TÂM SỰ VỚI ĐÊM - MƯA THÁNG BẢY - Thơ: Vũ Trọng Tâm

KONTUM NỖI NHỚ CUỐI NĂM - thơ Huy Uyên


Tác giả Huy Uyên


Kontum Nỗi Nhớ Cuối Năm

Dặm xa dáng núi cao vời vợi
lối cũ tôi về Dakbla
đưa tay níu trời mà không tới
ơi em gái làng xa thật xa.

Thoáng bóng mái nhà rông Rơ Hai
tiếng cồng chiêng rộn ràng mùa lúa
cầu Kon Klo đón người sớm mai
rộn lòng theo từng điệu múa.

Trên sông vui sao bầy cá nhảy
nước xanh trong reo tiếng gọi mời
em bỏ đi đâu nào tôi có thấy
để bây giờ còn lại mình tôi .

Ai hát chi mà chiều ở lại cùng đồi
rừng buồn nên như muốn khóc
điệu khèn đêm réo rắt tim tôi
Kontum ơi dặm đường thôi xa khuất.

Để ai đi cho lòng quạnh quẻ
ơi người em gái Xơ Đăng
còn vui hội mùa ngày-bỏ-mã
có tim trao ai xao xuyến rộn ràng .

Bana Nako thương người mãi không về
để buồn Kontum núi xanh màu cỏ
rừng xưa chiều khép lại cơn mê
đêm thắp màu sầu ai tiếc nhớ ...

Huy Uyên

(2012)
READ MORE - KONTUM NỖI NHỚ CUỐI NĂM - thơ Huy Uyên

Wednesday, October 21, 2015

BÀI THƠ TIỄN CÔ CHỦ QUÁN THEO CHỒNG - Thơ Hoàng Yên Lynh


                     Tác giả Hoàng Yên Lynh


                

BÀI THƠ TIỄN 
CÔ CHỦ QUÁN THEO CHỒNG 

Rượu chia ly rượu sum vầy
Cạn thêm ly nữa trăng đầy bến sông
Rồi em áo lụa theo chồng
Bỏ ai quán vắng chiều mong ngóng chiều
Người xa Dạ cổ Bạc Liêu
Chim bay lẽ bạn tiếng kêu nhớ người
Quán không em quán chơi vơi
Rượu không em rượu chẳng vơi cung sầu
Một mai xuôi ngược nơi đâu
Quán xưa khúc lý qua cầu... người ơi.

                          HOÀNG YÊN LINH
READ MORE - BÀI THƠ TIỄN CÔ CHỦ QUÁN THEO CHỒNG - Thơ Hoàng Yên Lynh

CÀNH HOA CHO NGÀY MẸ KHÔNG CÒN - thơ Trầm Mặc


Tác giả Trầm Mặc

Cành hoa cho ngày mẹ không còn

                               Trầm Mặc
                               (NTB)
                               Nhân ngày PNVN (20-10)


 Cũng là con gái của ngày xưa
 Mẹ từng dạo bước dưới chiều mưa
 Để ngắm tranh thơ chiều Thành Nội
 Để nhớ một thời ai đón đưa
 Cũng là làm mẹ của các con
 Chăm lo con cái được vuông tròn
 Năm tháng dần mòn hao tuổi trẻ
 Nhớ thời con gái mẹ còn son
 Cũng là phụ nữ như nhau thôi
 Mẹ sao lận đận suốt cả đời
 Cơm áo gạo tiền bao vất vả
 Nuôi con khó nhọc để thành người
 Nay ngày Phụ nữ lại đến rồi
 Mẹ đã đi vào cõi xa xôi
 Vần thơ ai tặng còn bỏ ngỏ
 Mẹ mãi vì con suốt một đời!
 Mẹ ơi! Dưới kia miền đất lạnh
 Ngậm cười chín suối, thác tinh anh
 Con nghe gió thổi, ngàn thông gọi
 Mẹ đã cho con giấc mộng lành
 Cũng vậy qua đi, một kiếp người
 Cuộc đời cho mẹ được mấy mươi
 Cứ thế bao năm ngày Phụ nữ
 Con cắm cành hoa để mẹ “cười”

TM                                
Vỹ Dạ, Huế.
READ MORE - CÀNH HOA CHO NGÀY MẸ KHÔNG CÒN - thơ Trầm Mặc

Monday, October 19, 2015

PHỐ MƯA - Thơ Lưu Lãng Khách



          Tác giả Lưu Lãng Khách


PHỐ MƯA 

Phố đẫy giấc trưa
Vạt nắng rã trên lưng ngày mất xác
Vòm mây đen gấp gáp cuộc hành trình
Đôi chim nhỏ hoang mang đậu hờ đường dây điện
Nhìn phố xá thênh thang đâu là chỗ cho mình
Mưa xối!
Bên góc chiều cánh bướm nâu cô độc
Đuối đường bay ngã sấp xuống hiên đời
Thân rêu mốc nghịch nước trời tắm gội
Em bé cười toe toét đón mưa rơi
Người cô phụ chờ gì trong ngõ tối
Run rẩy liêu xiêu xính xáng cõng đời mình
Con hẻm nhỏ nước tràn lên lầy lội
Cuốn những thân phận bọt bèo trôi nổi linh đinh
Những vết chân thô lưỡi mưa cuồng liếm vội
Hiện lên những mặt người đuối cuộc mưu sinh…
Mưa đan buốt miền tủi nhục
Mưa rơi cóng nẻo muộn phiền
Mưa trút hờn lên nuối tiếc
Mưa gào rợn cõi sơ nguyên
Và cuối phố một người ngồi nâng chén
Nghiêng bình chiều rót cạn nỗi chung riêng

                      Sài Gòn ngày 09/08/2015
                            Lưu Lãng Khách

READ MORE - PHỐ MƯA - Thơ Lưu Lãng Khách

Sunday, October 18, 2015

LẠI BÀN VỀ TỐNG BIỆT HÀNH - Phạm Đức Nhì

                
                          Tác giả Phạm Đức Nhì





           LẠI BÀN VỀ TỐNG BIỆT HÀNH
           (Trao đổi với nhà văn Châu Thạch)

Cách đây không lâu anh Nguyễn Khắc Phước có thư riêng mời tôi cộng tác với trang web Văn Nghệ Quảng Trị, một trang thuần túy văn học nghệ thuật. Trước khi nhận lời mời tôi có bỏ ra vài buổi dạo qua trang web. Là người làm thơ và bình thơ nên tôi để ý đến những cây bút phê bình văn học và những bài viết của Châu Thạch đã chiếm được cảm tình của tôi với cung cách đứng đắn lịch sự, lời văn hòa nhã.
Hôm nay đọc được bài Đọc Tống Biệt Hành Thơ Thâm Tâm của anh trên Văn Nghệ Quảng Trị (và Văn Đàn Việt) trong đó anh có nhắc đến mấy đoạn trong một bài viết – cũng về Tống Biệt Hành - của tôi nên xin phép được trao đổi với anh trong tinh thần “bạn văn” cùng viết trên một diễn đàn văn học.
Sau đây là những đoạn trong bài viết của tôi được anh đề cập:
     1/ Anh nhắc đến hai đoạn thơ:

          Ta biết người buồn chiều hôm trước          
          Bây giờ mùa hạ sen nở nốt          
          Một chị, hai chị cũng như sen          
          Khuyên nốt em trai dòng lệ sót

          Ta biết người buồn sáng hôm nay:          
          Giời chưa mùa thu, tươi lắm thay          
          Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc          
          Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…

rồi anh viết: Đoạn này có tác giả bình thơ nhận xét rằng “không những tầm thường mà lạ còn hơi ‘sến’ nữa.” Theo anh thì: “Lời thơ kể lể ở đây không phải ‘tầm thường’, không phải ‘sến’ mà nó là dàn nhạc trầm lặng da diết, sau khúc nhạc gầm thét diễn tả nỗi đau trong lòng nhân vật.” 
Theo tôi, hai đoạn thơ đã có những khuyết điểm sau đây:
    - Nói chuyện “chiều hôm trước” mà dùng trạng từ chỉ thời gian “Bây giờ” là  không chính xác. Muốn chính xác, muốn hay, phải dùng từ khác.
   -  So sánh “sen nở nốt” với “dòng lệ sót” rất khập khiễng. Những bông sen nở cuối mùa và dòng lệ còn sót lại của mấy người chị vừa khóc vừa khuyên em, hai hình ảnh đó quá xa cách, không tương hợp. Phép “ẩn dụ” không hay.
   -  Chữ “dòng” trong cụm từ “dòng lệ sót” giảm giá trị của chữ “sót”.
   -  “Giời chưa mùa thu tươi lắm thay” là một câu thơ “vô tích sự” bởi nó lạc lõng, thừa thãi, không ăn nhập gì với cả đoạn thơ.
   -  Đọc hai câu:
           Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
           Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay

tôi tưởng tượng trước mắt mình một em nhỏ, đôi mắt ngây thơ tròn xoe nhìn người anh sắp đi xa, tay cầm chiếc khăn tay như muốn gói trọn thương tiếc trong lòng mình vào đấy. Ôi! Hình ảnh ấy vừa khô cứng, vừa “cải lương”, lại vừa không thật; ngây thơ đôi mắt biếc như em nhỏ thì biết gì mà thương với tiếc; chữ “tiếc” ở đây hoàn toàn sai.
    Trên đây là một vài chi tiết khiến tôi đưa ra nhận xét là hai đoạn thơ “không những tầm thường mà lại còn ‘sến’ nữa.” Anh Châu Thạch cho đó “là dàn nhạc trầm lặng da diết, sau khúc nhạc gầm thét diễn tả nỗi đau trong lòng nhân vật” là quyền của anh. Tôi dành sự phán xét sau cùng cho độc giả.

   2/ Vế chót của bài thơ như sau:
           Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!
          Mẹ thà coi như chiếc lá bay
          Chị thà coi như là hạt bụi
          Em thà coi như hơi rượu cay

Có người cho rằng vế thơ này “quá cứng cỏi, lạnh lùng và vô tình.” Theo anh thì: “Thật ra đây là một vế thơ rất hay, nó cho thấy bút pháp tài hoa của tác giả.”
Tôi không nghĩ như vậy. Trên bề mặt chữ nghĩa 3 câu cuối rõ ràng là cứng cỏi, lạnh lùng và vô tình. Hơn nữa, đó không phải là tâm trạng, cách suy nghĩ của chính người ra đi nói ra mà chỉ là sự võ đoán của người đưa tiễn. Cho nên nếu nói đến giá trị nghệ thuật thì mấy câu thơ ấy chỉ như là rượu giả, khó làm vừa lòng những tay sành rượu.

    3/ Hoài Thanh không ưu ái với nhà thơ Thâm Tâm mà Hoài Thanh chọn Tống Biệt Hành để đưa vào Thi Nhân Việt Nam với sự công tâm đánh giá nghệ thuật như bao bài thơ của các tác giả khác thời bấy giờ. Uy tín của Hoài Thanh đủ khẳng định cho Tống Biệt hành có giá trị nghề thuật cao.

Tôi đồng ý với anh Châu Thạch là TBH phải hay, phải có giá trị nghệ thuật ở mức độ nào đó, phải hợp “gu” với Hoài Thanh thì mới được ông tuyển chọn đưa vào Thi Nhân Việt Nam. Nhưng được Hoài Thanh tuyển chọn lại là con dao hai lưỡi. Thời gian qua đi, cách nhìn nhận và đánh giá thơ ca thay đổi, uy tín của Hoài Thanh - đặc biệt lúc ông còn sống - khiến người yêu thơ e ngại khi phải đưa ra những ý kiến trái ngược hoặc khác với nhận định của ông. “Sợ” uy quyền của ông cũng có nhưng cái sợ lớn nhất là sợ bước vào một trận chiến không cân sức với một đối thủ quá mạnh. Anh Châu Thạch còn viết rằng: “Truyện Kiều của Nguyễn Du mà còn có người dám chỉnh sửa lại thì Tống Biệt Hành là cái gì mà 75 năm qua mọi người nhắm mắt tán tụng nó theo Hoài Thanh.” Theo tôi, chỉnh sửa một điểm nào đó trong truyện Kiều không khó vì không bị đè nặng bới một sức ép chính trị tâm lý nào. Miễn là anh có kiến thức rộng về văn học, thơ ca và đủ tự tin để viết. “Đụng” vào TBH là “đụng” vào cả một chính sách lớn của nhà nước trong hoàn cảnh chiến tranh, lúc người chống lưng cho nó vừa có văn tài, vừa có quyền uy ngất ngưởng trong lãnh vực bình phẩm văn chương.

    4/ Chính quyền miền Bắc và miền Nam trước 1975 có hàng vạn bài thơ phục vụ cho chế độ mình trực tiếp và cụ thể, đâu cần chi một bài thơ Tống Biệt Hành nói về một sự ra đi vu vơ không mục đích rõ ràng.

Những bài thơ viết để trực tiếp phục vụ chế độ (ở miền Nam có một số bản nhạc như vậy nhưng thơ thì không nhiều), đọc lên đã sặc mùi tuyên truyền. Tác giả loại thơ này thường là người nằm trong bộ máy chính quyền, chức vụ không cao, viết vì công việc, vì “cái ghế”, vì miếng cơm manh áo. Cả tác giả lẫn tác phẩm đều bị coi thường, khinh rẻ. Thậm chí đọc phải những bài thơ này có người còn bực bội chửi thề ngay cả trước mặt công chúng. (Con số hàng vạn của anh Châu Thạch tôi e rằng quá lố).
Chỉ có những bài thơ tác giả có tay nghề cao, viết bằng trái tim mình, bày tỏ cảm xúc thật của mình nhưng ý tứ của bài thơ lại tình cờ phù hợp với đường lối, chính sách của chính phủ nên được phổ biến trong quảng đại quần chúng. Vâng! Chính những bài thơ ấy mới hấp dẫn người đọc, mới thôi thúc người đọc đi theo, làm theo tiếng gọi của tứ thơ (hoặc ý thơ). TBH nằm trong số những bài thơ ấy.

    5/ Bài thơ được đưa vào nhà trường tức là được chọn lọc. Thêm một lần nữa khẳng định giá trị nghệ thuật cao của bài thơ. (Điều này không phải lúc nào cũng đúng.) Nhiều năm qua kể từ khi bài thơ được giảng dạy đến nay, không có dư luận nào chê trách việc giảng dạy Tống Biệt Hành. Điều đó chứng tỏ giá trị nghệ thuật của Tống Biệt Hành được đánh giá đúng nên không có sự phản hồi, phản bác, đối nghịch trong công luận.
Vào trường học là có giáo án, thi cử. Thử hỏi có học sinh nào dám đem tương lai của mình để đánh đổi lấy một cơ hội được phản bác điều mình được dạy trong trường lớp? Có thầy, cô giáo nào dám dạy sai giáo án để phí công bao năm đèn sách ở các trường cao đẳng hay đại học sư phạm. Vả lại, nếu người phản bác không có thực tài, không chọn đúng thời điểm có phong trào, có cách nhìn nhận, đánh giá thơ ca mới, không có sự hỗ trợ của một vài nhân vật có chức quyền trong ngành, những ý kiến phản bác sẽ như muối bỏ bể, rơi vào quên lãng.

Giá Trị Nghệ Thuật Của Tống Biệt Hành

  1/ Khuyết điểm
Ngoài những khuyết điểm ở hai đoạn thơ nói về chị và em TBH còn có những yếu kém sau đây:
  - Câu “Đưa người ta chỉ đưa người ấy” có vẻ ngây ngô và đóng góp rất ít cho bài thơ.
  - Cái dở nhất của TBH, theo tôi, là có nhiều đoạn người ra đi không được bày tỏ trực tiếp mà cảm xúc, tâm trạng của anh ta lại do người tống biệt võ đoán và nói hộ. Độc giả có cảm giác như được Thâm Tâm mời đến thưởng thức món thuốc lá gia truyền rất ngon, nhưng khi gặp nhau thì chỉ được hút một, hai hơi; sau đó là ngồi ngửi khói (hút gián tiếp). Lời khuyên “Làm thơ nên viết ở ngôi thứ nhất” đã bị vi phạm mà không có lý do chính đáng.

  2/ Ưu điểm
Dù vậy TBH cũng vẫn là một bài thơ hay. Chỉ với 4 câu đầu tác giả đã khắc họa một cách tài tình tâm trạng của người đưa tiễn – và với khả năng quan sát tinh tế, đã “bắt” được nỗi buồn của người ra đi:

     Đưa người ta không đưa qua sông
     Sao có tiếng sóng ở trong lòng
     Bóng chiều không thắm không vàng vọt
     Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong

Để tả cảnh chia ly 4 câu thơ này có thể hiên ngang đọ sức với bất cứ câu thơ hay nào của bất cứ tác giả nào trong Phong Trào Thơ Mới.
Cái độc đáo nữa của TBH là Điệu thơ gấp, lời thơ gắt, câu thơ rắn rỏi, gân guốc, không mềm mại uyển chuyển như phần nhiều thơ bây giờ. (1)
Đứng bên cạnh những bài thơ có âm điệu du dương như hầu hết thơ mới thời ấy TBH có dáng dấp độc đáo, gây được sự chú ý ngay từ hình thức bề ngoài của bài thơ.
Cái hay nhất của TBH là - mặc dù nhân vật và khung cảnh khác xa nhau – đã gợi được không khí hào hung, bi tráng của cuộc chia ly nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa: Thái Tử Đan tiễn Kinh Kha sang sông Dịch để ám sát Tần Thủy Hoàng. Người đọc, đặc biệt là nam nhân, cảm thấy hào khí bốc lên cao ngất, thân này kể bỏ, gia đình (mẹ, chị và em) cũng coi như không có, vì lý tưởng, vì nước quyết ra đi để thỏa mãn chí lớn của người trai.

          Chí lớn không về bàn tay không
          Thì không bao giờ nói trở lại
          Ba năm mẹ già cũng đừng mong. 

Tôi hoàn toàn đồng ý với Châu Thạch khi anh viết:

Đoạn nầy ý nói người ra đi sẽ không quay về khi chí lớn chưa thành, dầu mẹ có chết ba năm sau ngày giáp cử cũng không về để tang mẹ được. Những câu thơ ở vế thơ nầy thật rắn rỏi nêu lên sự quyết tâm của người ra đi vì chí lớn. Lời thơ như hịch xuất quân, như lời thề non nước.

Tóm lại, nếu đặt ưu và khuyết điểm lên bàn cân thì TBH vẫn là một bài thơ hay. Ưu điểm rất độc đáo và gây được ấn tượng sâu sắc nơi người đọc. Có những đoạn thơ thường được ngâm nga trong những buổi họp mặt của thanh niên trước lúc lên đường. Nhưng khuyết điểm cũng không ít trong đó có cả khuyết điểm căn bản trong việc sáng tác thơ ca.

Riêng về tứ thơ thì tôi cho rằng tứ thơ của TBH là một thứ dây leo chùm gởi, phải nhờ vào cái bóng của một “khung cảnh lịch sử” ở tận bên Trung Quốc để có được sức hấp dẫn người đọc như nó đã có. Hơn nữa, như đã phân tích ở trên, rượu trong bữa tiệc thơ TBH là rượu giả; cảm xúc (ngoài hai câu đầu) không phải là thứ  “tông” phát xuất từ chính trái tim người tống biệt mà chỉ là cảm xúc của người ra đi được người tống biệt đoán ra. Khách mời của bữa tiệc TBH tưởng như mình sắp sửa qua sông Dịch để cứu muôn triệu dân lành. Rót rượu đầy ly, nâng cao và hô một tiếng “dzô” thật lớn rồi uống cạn để thấy hào khí trong người mình dâng lên cao ngất. Đến khi tỉnh dậy sau cơn say khướt, thấy nhức đầu một cách khó hiểu nhưng cũng không biết là mình uống phải rượu giả, toàn nước lã pha cồn.

Hồ Trường (Nguyễn Bá Trác) thì hoàn toàn khác. Khung cảnh thật, rượu thật, tâm sự được chính tác giả thốt ra trong lúc ngà ngà say, không có bàn tay “gạn đục khơi trong” của lý trí nên cũng rất thật. Và hào khí, thì dù người đọc có say hay tỉnh, cũng thấy bốc cao ngất trời và nóng bỏng.

Trong trò chơi bình thơ, với tôi, chê lầm một câu (bài) thơ hay hoặc khen lầm một câu (bài) thơ dở là một lỗi nặng, ảnh hưởng đến uy tín của người bình thơ. Tuy nhiên, ở đời ai chẳng có lúc lỗi lầm? Miễn là sau đó mình cố gắng học hỏi và sửa chữa. Nhưng bình một bài thơ mà – vì một lý do nào đó ngoài thơ - thấy một điểm hay mà không dám khen, thấy một điểm dở mà không dám chê thì theo tôi, là một cái tội, tội với lương tâm mình và tội với thơ. Cho nên khi bình thơ, tôi khen chê thẳng thắn đúng với sự hiểu biết và cảm nhận của mình lúc đó. Vì thế bài viết của anh Châu Thạch đã cho tôi cơ hội đọc kỹ lại Tống Biệt Hành và giải thích thêm một số chi tiết mà tôi – vì muốn hướng sự chú ý của độc giả vào những điểm chính – đã bỏ qua. Và chuyện đúng sai xin nhường cho độc giả phán xét.

Với bài thơ TBH anh Châu Thạch và tôi có vài chỗ ý kiến khác nhau. Đó cũng là chuyện thường tình trong bình phẩm thơ ca. Trong Văn Nghệ Quảng Trị anh Châu Thạch có số bài gấp nhiều lần số bài của tôi. Anh là cựu binh, còn tôi là lính mới. Cũng may là trên chốn văn chương nên tôi mới dám mạnh dạn trao đổi với anh. Qua hai bài viết, một của anh và một của tôi, xin được nói riêng với anh Châu Thạch, cả hai chúng ta đều có lợi. Và biết đâu những độc giả đọc bài của chúng ta cũng đang rung đùi, gật gù khoái chí.

                                                    Galveston, Texas 10/18/15
                                                            PHẠM ĐỨC NHÌ
                                                        nhidpham@gmail.com

Chú thích:
1/ Chữ của Hoài Thanh

READ MORE - LẠI BÀN VỀ TỐNG BIỆT HÀNH - Phạm Đức Nhì

Saturday, October 17, 2015

VÀI LỜI BIỆN HỘ CHO “NHỚ RỪNG” THƠ THẾ LỮ - Châu Thạch



NHỚ RỪNG
Tác giả: Thế Lữ
Tặng Nguyễn Tường Tam
(Lời con Hổ ở vườn Bách thú)

Gặm một khối căm hờn trong cũi sắt,
Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua.
Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ,
Giương mắt bé riễu oai linh rừng thẳm
Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm
Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi.
Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi,
Với cặp báo chuồng bên vô tư lự.

Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ,
Thủa tung hoành, hống hách những ngày xưa.
Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già,
Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi,
Với khi thét khúc trường ca dữ dội
Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng,
Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng,
Vờn bóng âm-thầm, lá gai, cỏ sắc.
Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc
Là khiến cho mọi vật đều im hơi.
Ta biết ta chúa tể muôn của loài
Giữa chốn thảo hoa, không tên không tuổi.

Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối,
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?
Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn
Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới?
Đâu những bình minh cây xanh nắng gội
Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt
Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?
Than ôi! thời oanh liệt nay còn đâu?

Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu
Ghét những cảnh không đời nào thay đổi,
Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối:
Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng;
Giải nước đen giả suối, chẳng thông dòng
Len dưới nách những mô gò thấp kém;
Dăm vừng lá hiền lành không bí hiểm
Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu
Của chốn ngàn năm cao cả, âm u.

Hỡi oai linh, cảnh nước non hùng vĩ!
Là nơi giống hùm thiêng ta ngự trị,
Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa
Nơi ta không còn được thấy bao giờ!
Có biết chăng trong những ngày ngao ngán
Ta đang theo giấc mộng ngàn to lớn
Để hồn ta phảng phất được gần ngươi
Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!
1936
THẾ LỮ

Lời biện hộ:   Châu Thạch

Thế Lữ là một trong nhưng cây bút đi đầu của phong trào thơ mới. Tác phẩm ghi lại dấu ấn của ông là bài thơ “Nhớ Rừng”. Từ ngày bài thơ được phổ biến đến nay đã tốn không biết bao nhiêu giấy mực ca tụng nó. Gần đây nhà thơ Phạm Đức Nhì  trong bài viết “Hai cái bẩy nguy hiểm của Nhớ Rừng”* đã có một cái nhìn khác mà nhà văn Lê Xuân Quang nhận xét đại ý là “Cách suy nghĩ phân tích Thơ của ông Phạm Đức Nhì trong cảm thụ Thi ca có những’’phát kiến…mới’’ thiên về thực dụng…”

Trong cái nhìn “phát kiến…mới” nầy nhà thơ Phạm Đức Nhì đã phê phán bài thơ “Nhớ Rừng” đại ý như sau:

1/ Con hổ trong vườn bách thú tuy vẫn khao khát tự do, vẫn mơ “giấc mộng ngàn to lớn” nhưng đã mất hết ý chí chiến đấu, đã đành bó tay cam chịu, chấp nhận thực tại phũ phàng.

Hỡi oai linh, cảnh nước non hùng vĩ!
Là nơi giống hùm thiêng ta ngự trị,
Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa
Nơi ta không còn được thấy bao giờ!

2/ Con hổ khao khát tự do. Nhưng nếu được tự do nó sẽ trở thành một bạo chúa, áp dụng chế độ độc tài với “thần dân” của nó.

Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc
Là khiến cho mọi vật đều im hơi.
Ta biết ta chúa tể muôn của loài”

Trong phần kết luận bài viết, nhà thơ Phạm Đức Nhì đã nhận dình về bài thơ “Nhớ Rừng” có một câu như sau:

“Nhớ Rừng giống như cô gái nhảy xinh đẹp, thân hình sexy, hấp dẫn nhưng mắc chứng bệnh SIDA nguy hiểm.”

 Và sau đó trong một bài viết với đề tài “Không sợ thừa! Chỉ sợ quá muộn*” để trao đổi với nhà văn Lê Xuân Quang, nhà thơ Phạm Đức Nhì nhấn mạnh hai hành động của Hổ trong vườn bách thú là “bó tay cam chiu số phận|” và “mơ ước được tự do sẽ lại làm bạo chúa” là  hai cái bẩy nguy hiểm làm thui chột ý chí chiến đấu và cổ vũ cho lòng ham muốn độc tài, hiếp đáp người khác của những thế hệ Việt Nam trước và hiện tại.

 Đọc những bài viết của nhà thơ Phạm Đức Nhì tôi xin mạo muội góp một vài ý kiến thổ thiển của mình để biện hộ cho nhớ rừng của Thế Lữ. Dẫu ý kiến của tôi có khác biệt nhưng tôi xin bày tỏ lòng cảm mến và khâm phục của tôi đến nhà thơ Phạm Đức Nhì là cây bút thơ và văn điêu luyện mà tôi luôn trân trọng.

-Thứ nhất: Tôi xin nói về con Hổ có khi nào “Bó tay cam chịu, chấp nhận thực tại phủ phàng” không?

Như đã thấy, nhà thơ Phạm Đức Nhì đã bôi đậm câu thơ “Nơi ta không còn được thấy bao giờ” và dựa vào câu thơ ấy mà quả quyết là con Hổ đã mất hết ý chí chiến đấu, cam chịu thân phận tù tội của mình. Để biết nhận xét nầy đúng hay là oan cho con Hổ trước hết ta hãy tìm hiểu con Hổ là biểu tượng của cái gì. Trong nhiều nền văn hoá trên thế giới, con Hổ là biểu tượng của đẳng cấp chiến binh, toát lên vẽ đẹp hung vĩ và sức mạnh. Trong Tam Quốc Chí, ngũ hổ tướng của nhà Thục là Quan Vũ, Trương Phi, Triệu vân, Hiếu Trung và Mã Siêu là nhưng mãnh tướng bất khuất mà đến nay thế gian vẫn tôn thờ, trong đó Triệu tử Long được phong là Hổ oai Tướng Quân. Trong truyện Kiều, Từ Hải là bậc anh Hùng mà khi chết cũng chết đứng đã được Nguyễn Du tôn vinh bằng bộ râu của con Hổ: “Râu hùm. Hàm én mày ngài/Vai năm tấc rộng , thân mười thước cao”. Vậy khi nhà thơ Thế Lữ nhốt một con Hổ vào sở thú trong bài thơ của ông thì ông sẽ nhốt con Hổ nào? Chẳng lẽ ông lại đi nhốt con Hổ bạc nhược mất sức chiến đấu hay sao? Hay là ông sẽ nhốt con Hổ biểu tượng của sự cao cả, của bậc anh hùng, của ý chí bất khuất ở trên. Bài thơ cho ta thấy ông đã nhốt con Hổ “Oai linh rừng thẳm” là con Hổ mang đầy đủ biểu tượng của một anh hùng. Kinh nghiệm cho ta thấy không có con vật hoang dã nào, dầu con chim, con sóc cũng không chịu nằm yên trong lồng huống chi là con Hổ. Chỉ trong một phút yếu lòng nhớ rừng xưa con Hổ mới than một câu tưởng như là nó đã bị thuần hoá: “Nơi ta không còn được thấy bao giờ”, nhưng thật ra thế giới bên trong của Hổ vẫn ngùn ngụt ngọn lửa bất khuất. Ngọn lửa đó thể hiện ở chổ nó nhớ rừng da diết, nó khinh thường “những cảnh sửa sang tầm thường, dả dối” và nó khinh không chịu “ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi/ với cặp báo chuồng bên vô tư lự”. Hổ đang bị thúc thủ nên nó phải than vãn, nhưng nó đang chờ thời cơ để vùng dậy.

-Thứ Hai:Làm sao biết con Hổ nếu được tự do sẽ chuyên chế, độc tài, hiếp đáp thần dân mình?

Ở trên ta thấy rằng nhà thơ Phạm Đức Nhì đã dùng nhưng câu thơ “Trong hang tối mắt thần khi đã quắc/ Là khiến cho mọi vật đều im hơi/Ta biết ta chúa tể của muôn loài” để kết tội cho Hổ của Thế Lữ là con vật xấu xa, là bạo chúa. Thật ra ba câu thơ trên biểu hiện tác phong, uy vũ của một minh quân. Nếu vua mà không có uy vũ nầy thì làm sao trị quốc bình thiên hạ cho được. Ở đây ta để ý hai chữ “mắt thần”. Mắt thần đương nhiên không phải mắt của bạo chúa mà “mắt thần” là mắt của bậc công chính. Khi “mắt thần”đã quắc thì uy lực từ chính nghĩa làm cho mọi vật đều im hơi. Nếu là mắt của bạo chúa thì “ở đâu có đàn áp, ở đó có đấu tranh”, sẽ không có sự im hơi bao giờ. Trong nền văn hoá dân gian Việt, hình tượng của con vật hung bạo, tàn ác là con Sói, còn hình tượng của Hổ mang ý nghĩa nhân đạo, quyền uy khiến Hổ sở hửu một phẩm hạnh rất cao để trở thành linh vật của tôn giáo. Vậy khi Thế Lữ đưa con Hổ vào bài thơ là đưa một linh vật có bản chất tốt nên không bao giờ có “cái tính muốn làm bạo chúa đã là máu thịt, đã là bản chất của loài hổ.”  như lời kết tội Hổ trong bài viết của nhà thơ Phạm Đức Nhì.

-Thứ ba: Bài thơ “Nhớ Rừng’ có là cái bẩy nguy hiểm không?

Tất cả mọi người khi đọc bài thơ “ Nhớ Rừng” đều thấy buồn thương cho con Hổ trong vườn bách thú và lòng tự nhiên phấn khích muốn đạp đổ tất cả để vượt trên cuộc sống bình thường, chật hẹp, tù túng. Nhà thơ Thế Lữ đưa hình ảnh con Hổ bị nhốt trong vườn bách thú không phải để chúng ta đọc xong là buồn chán rủ rượi hay đọc xong là mơ ước chuyện cướp bóc, hành hạ tha nhân. Đây là hình ảnh của thế hệ ông bị 100 năm đô hộ giặc Tây. Con người đọc lời than van da diết của con Hổ “gặm một khối căm hờ trong củi sắt” để không bao giờ chịu làm con Hổ như thế, để đứng lên phá xích xiềng, để được sống như Hổ nơi rừng núi oai linh, hùng ví ngày xưa.  Mấy ai trong chúng ta khi đọc xong bài thơ nầy lại muốn mình làm thân phận của con Hổ kia. Vậy thì kết tội bài thơ  như là “Cô gái nhảy ,xinh đẹp mà bị bệnh SIDA” làm lây lan căn bệnh đó khiến cho nhiều thế hệ băng hoại thì thật ra oan khiên quá cho bài thơ, cho Hổ là loài có biểu tượng tốt đẹp và cho thi sĩ là người vì nỗi ray rức cho thân phận nô lệ của mình, của thế hệ mình mà phổ vào thơ, hầu đưa ra một hình ảnh ẩn dụ, để cho người đọc “cảm thụ bằng sự rung động của nhịp tim, kích thích trí tưởng tượng phong phú trong mỗi bộ não …” như lời nhà văn Lê Xuân Quang đã viết.

Vậy “ Nhớ Rừng” tuy là một bài thơ chất chưa tâm trạng tủi nhục của con Hổ trong vườn bách thú nhưng nó không phải là một bài thơ tiêu cực, mà là một bài thơ tích cực, phơi bày sự giả tạo, buồn chán của kiếp sống nô lệ tù tội, khôn khéo trong hoàn cảnh cấm đoán ngôn luận trong thời Pháp thuộc để khích động tinh thần yêu nước, khiến cho cả thế hệ nhìn Hổ  mà ngẫm đến mình, đứng lên phá vòng cương toả.

Hình như giai đoạn sau nầy nhà thơ Thế Lữ còn làm những bài thơ đấu tranh cụ thể hơn , tích cực hơn nhưng rồi ngày nay đã mai một hết, chỉ “Nhớ Rừng” vẫn còn vang bóng . Điều đó chứng tỏ “Nhớ Rừng” là bài thơ đúng đắn nên đã sống và còn sống lâu dài. Nó sống thì nó không phải là một con bệnh SiDA được, và khi  “Nhớ Rừng” sống thì chứng tỏ con Hổ của “ nhớ Rừng”, của Thế Lữ không một khuyết điểm nào nên nền văn học đã nuôi nấng nó ./.   

                                                                        Châu Thạch  
READ MORE - VÀI LỜI BIỆN HỘ CHO “NHỚ RỪNG” THƠ THẾ LỮ - Châu Thạch

CHÙM THƠ ĐỖ BÍCH VÂN


Hiển thị image.jpeg
                Tác giả  Đỗ Bích Vân



CÔ ĐƠN

Trăng cô đơn, tình tôi đơn lẻ
Bóng xế tà, vẫn quạnh quẽ như
                                           trăng
Đêm thu về, trăng bên dáng chị Hằng
Riêng tôi vẫn, lẻ loi sầu muôn kiếp



ĐONG XA


Tàn thu, Đông giá đã kề
Để cho bóng nhỏ... tìm về xa xăm
Tận sâu tâm khảm rét căm
Chim xa tổ ấm, cách ngăn nghìn trùng



THỜI GIAN


Ngày tháng thoi đưa, chợt xuyến xao
Thời gian phai úa nét hồng đào
Vô tình em bước qua xuân sắc
Dáng ngọc còn đâu, của thuở nao


                      Đỗ Bích Vân        
         vando9575@yahoo.com.vn

READ MORE - CHÙM THƠ ĐỖ BÍCH VÂN