Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, November 22, 2013

NHỮNG PHONG THƯ XANH - Phan Minh Châu

  Kính tặng ngành Bưu Điện  Việt Nam




Có lẽ hôm nay
Các anh các chị
Đang ngồi bên nhau với những bản tin ngày
Những bản tin đến từ những đất nước xa xôi
Đến từ nhừng ốc đảo hoang vu,những núi rừng sâu thẳm
Và các anh các chị
Chắc đang soạn những phong thư gần nhất
Hoặc những phong thư xa cần một chuyến bay dài
Những kiện hàng mới đến được trao tay
Hoặc chưa đến vẫn còn nằm phía trước
Những Bưu phẩm chờ đi
Những phong thư chờ đến
Các anh vẫn âm thầm chuyễn gửi những phong thư
Ngành bưu chính hôm nay đã khác những ngày xưa
Thời chúng tôi vượt hai đầu tổ quốc
Những phong thư được giấu trong mo cơm ,phích nước
Trong búi tóc người đàn bà nửa tỉnh nửa điên
Trong chiếc bánh chưng xanh, trong gấu áo người giao liên
Hoặc trong cạp quần của những em liên lạc
Phong thư vượt Trường Sơn trong những năm ác liệt
Để đến được cho chồng, cho chị, cho anh
Để đến được ngục tù nơi có những người con
Đang ngày tháng chờ phong thư của mẹ
Đang chờ đợi phong thư của người yêu nơi đầu non cuối bể
Hoặc một gói quà em gái nhỏ phương xa
Có những con người thân phải xẻ làm ba
Để đút dấu những tờ thư trọng tội
Những tin khẩn đưa đi
Chỉ một lần lầm lỗi
Bao tai ương đổ xuống đất quê mình
Kim Đồng xưa khi sống vẫn đinh ninh
Mười ba tuổi đã làm nên đất nước
Một vết son không thể nào phai được
Trong núm ruột đồng bào năm tháng chở che
Hôm nay tôi đến chổ các anh,các chị
Để gửi ít tiền cho thằng con còn đang đi học
Để gửi một gói quà được cóp nhặt từ những năm khó nhọc
Rất ít oi nhưng thấm đẩm tấm lòng
Các anh tiếp chúng tôi
Bằng khuôn mặt của vầng trăng mười sáu
Bằng nụ cười của những kẻ đang yêu
Người bạn đứng bên tôi
Anh không nói gì nhiều
Gật đầu cảm ơn cho những lần hạnh phúc
Những phong thư xanh được đưa đến từ ba miền tổ quốc
Đến từ những con người ôm khát vọng giao liên.      

Phan Minh Châu         
READ MORE - NHỮNG PHONG THƯ XANH - Phan Minh Châu

Thursday, November 21, 2013

LỐI VỀ VÁCH ĐÁ HÀ GIANG - Huy Uyên





Hà-giang chạy quanh cơn gió đầu mùa
vội vàng mang về sương lạnh
hoa-cúc-dại bên đường cuối thu
đợi đông cho rừng đồi, chiều chầm chậm đến.

Những con đường bò quanh dốc núi
thăm thẳm rộn ràng lá xanh
màu chen hoa cam vàng ai lòng bối rối
để đợi một ngày tôi về cùng em.

Những con ngựa thồ bên kia suối theo sang
lối về núi đá tai mèo cao vút
vợ làng e ấp đi chân sáo cạnh chồng
biên-giới gần rồi sao nắng chiều chưa xuống hết.

Em khăn phiêu lên nương lên rẫy
lòng vàng chín hoa-cúc-vạn-thọ
một ngày đứng bên nhau nơi địa đầu
biên-ải chập chùng sương mây cùng gió.

Hà-giang đợi nắng xuống với hoa
Tháo-phìn-tũng lung linh cúc dại
Sũng-là em đã chiều về
sững nhớ ai đi bỏ lại tình Lũng-cú.

Săm-pun đội mây cao vời vợi
hoang-hoải hoa tam-giác-mạch lên trời
mùa lúa ruộng-bậc-thang kề tới
Phàn-theng trắng lòng đọng mãi tình tôi.

Đêm chợ tình lắng đọng Khâu-vai
tiếng khèn nhà ai réo rắt
bổng đau cùng rừng em nhớ thương ai
tiếng hát gọi bạn tình ơi sao đắng ngọt .

Đồi xa núi Cô-tiên trùng-điệp
tôi bên em thật đổi dịu dàng
Quản-bạ dặm về tưởng tiếc
ai đi mà không bỏ nhớ Hà-giang.

Vàng nắng cuối trời Phố-cáo
những ngôi nhà cổ nằm lặng thinh
em Mông-trắng đang chờ ai mà đứng đó
hẹn gặp người về với chợ phiên.

Đứng cầm tay em giữa đường
gởi vào môi em nụ hôn bỏng cháy
Hà-giang ngày ấy
đọng lại trong tôi nỗi buồn ...

Huy Uyên


READ MORE - LỐI VỀ VÁCH ĐÁ HÀ GIANG - Huy Uyên

DẤU VẾT TÀN PHAI - Chùm thơ Thu Vân

   
Thu Vân


   Dấu vết tàn phai 

Lá úa bay bay
    Giọt nắng vờn theo u hoài
    Hạt mưa rơi rơi
    Gió lạnh hồn đau tê tái
    Làn mây êm trôi
    Xua nổi phiền nơi xa vời
    Người yêu tôi ơi!
    Hay chăng nỗi sầu chơi vơi?
   
    Chiều đã dần phai
    Chiếc bóng xô nghiêng ngã dài
    Màu tím sầu lên
    Con đường quạnh vắng buồn tênh
    Nhịp chân lang thang
    Xua nỗi niềm riêng lỡ làng
    Người tôi yêu ơi!
    Nghe lòng thổn thức khôn nguôi?

    Thời gian trôi qua
    Lời hứa còn vương chưa nhòa
    Rồi qua  phong ba
    Nắng vàng hồng lên đôi má
    Ngày vui bên nhau
    Mái tóc xanh xưa phai màu
    Đời mang hư hao
    Dấu vết tan vào…..chiêm bao  

                                                   


Chân tình của em

Một tình thiếp giữ lời thề
Hai tình chờ đợi đêm khuya lạnh lùng
Ba tình gánh cát bể Đông
Bốn tình nối sợi chỉ hồng kết se
Năm tình vẹn nghĩa phu thê
Sáu tình quyết chí xẻ chia ấm nồng
Bảy tình bia tạc chữ đồng
Tám tình kết nghĩa vợ chồng chàng ơi
Chín tình nhớ mãi không nguôi
Mười tình đầy ắp chẳng vơi chút tình
Ta còn vương nợ ba sinh
Dù ai có gỡ, tình càng buộc nhau
Mặc tình gió trở lập Đông
Áo tình ấm áp cuộn trong tháng ngày
Tay trong tay, má cận kề
Chân tình, ta bước đi về sớm trưa
Nón tình chung nắng cùng mưa
Chén tình ta cạn, khéo lừa Nguyệt Tơ

                                           


Cho cuộc tình xưa

Xa nhau rồi, mi đổ lệ rơi
Từ nay ngăn cách, lạnh lẽo hỡi người!
Đâu ánh mắt long lanh dỗi hờn
Vực sâu chôn dấu ảnh hình xa xôi

Ngày qua, Con tạo xoay dần
Mơ trong tiếng nấc, lệ nồng còn vương
Thương thầm một đóa phù dung
Sương đêm nhòa nhạt, lạnh lùng bơ vơ

Tình xưa nay đã ơ - hờ
Tim yêu vụn vỡ bẽ bàng cung tơ
Khát khao ngày nhớ, đêm mơ
Xót xa thầm lặng cuộc tình đầu dỡ dang

Tay nâng phím lỗi nhịp đàn
Tương tư mấy nỗi ngập tràn đắng cay
Thân ai tàn tạ hao gầy
Sầu lên ánh mắt, lệ tràn thiên thu

Thu Vân


Lê Hoàng gởi đăng





READ MORE - DẤU VẾT TÀN PHAI - Chùm thơ Thu Vân

DẤU XƯA - thơ Trương Nguyễn





Tay đưa chổi
Quét ngày vời vợi
Ngổn ngang quá khứ phôi phai
Rêu phong in dấu chân người
Tái hiện nỗi buồn xưa cũ

Nỗi buồn òa vỡ
Xót xa cuồn cuộn lòng sông
Tay vụn về thắp lửa
Mây trời tối ám hư không

Hú gọi nhau…!
Thảng thốt rừng
Giữa bạt ngàn chỉ mình cô độc
Ngày qua
                        Giọt chiều còn đọng
Đã trót yêu người

Sương ướt đầu môi
Mặn đắng khát vọng
                        Sâu thẳm và cháy bỏng
Vút lên sắc màu

Gửi nụ hôn gió
Vào nước mắt
Vào dòng sông
Vào thăm thẳm lòng
Câu thơ nói hộ

Trương Nguyễn


READ MORE - DẤU XƯA - thơ Trương Nguyễn

TRẢ EM RỪNG NÚI TA VỀ - thơ Trúc Thanh Tâm




  Một mảnh trăng non treo lơ lửng
  Rừng núi quanh ta bỗng chợt già
  Thoang thoảng hương đưa từ góc khuất
  Ta ngồi đếm lại chặng đường xa !

  Rượu cạn bầu, bạn ta say ngủ
  Sống, chết treo hờ phía vực sâu
  Bể dâu dời đổi như thay áo
  Đừng nói yêu nhau đến bạc đầu !

  Cây muốn yên gió chưa ngừng thổi
  Mọi thứ trên đời dễ bán mua
  Chuyện xưa mưa nắng mà không cũ
  Nghĩ chuyện nay còn lắm trò đùa !

  Mai kia mốt nọ quên tiếng suối
  Quên một người ánh mắt trông theo
  Ta về quê cũ chiều mưa đổ
  Nhớ bước chân ai vội xuống đèo !

  Thôi cứ xem như chưa gặp gỡ
  Và, một hôm trúng gió nỗi buồn
  Giữ mãi màu lan trong mắt ướt
  Xa rồi còn đọng chút mưa thơm !

  TRÚC THANH TÂM

     ( Châu Đốc )
READ MORE - TRẢ EM RỪNG NÚI TA VỀ - thơ Trúc Thanh Tâm

CON TRÂU VỚI NHÀ NÔNG - Tản văn của Hoàng Kim Liên

   

Ngày xưa, khoa học chưa phát triển, nông nghiệp chưa có cơ giới phụ giúp, người dân quê nông thôn sản xuất lúa gạo rất khổ cực, phụ thuộc vào thiên nhiên, phụ thuộc vào phương tiện. May mắn được mùa thì đỡ, rủi mất mùa thì rất vất xả, khốn khó. Nông thôn chỉ độc một nghề làm ruộng; những nghề nghiệp khác là phụ, không đáng kể.

     Sản xuất lương thực, lúa gạo ở nông thôn, phương tiện chủ yếu là con trâu. Đến vụ cày cấy hay thu hoạch đều rất bận rộn. Tất cả công việc đều phải đúng tiến độ, sớm quá hay muộn quá có thể sẽ không đem lại kết quả như ý. Công việc nào cũng có sự khó khan vất vả riêng  của nó. Có vất vả cực nhọc mới thấy được giá trị của sức lao động và quý sản phẩm do tự tay mình làm ra. Nhà nông sản xuất ra lương thực chủ yếu nuôi sống con người, nhưng thực tế trên thị trương giá cả lúa gạo còn thấp so với những mặt hàng khác không thể bù với sự cực nhọc của họ. Có một điều xót xa hơn, người nông dân lên tỉnh thành lại bị xem thường bỡi hình thức bên ngoài của họ. Chỉ có trâu là con vật cận kề, chia sẻ, đồng cảm với nhà nông mà thôi. Trâu là người bạn chí thân, chung thủy, gắn bó suốt đời với nông dân không nữa lời oán than trách móc, cúi đầu làn việc theo sự sai bảo của chủ, suốt từ sáng tinh mơ đến chiều tối; trên đồng cạn, dưới đồng sâu, trong mưa, ngoài nắng, thậm chí cả về đêm nữa (khi nông vụ tấn thời).

    Nhìn con trâu, cổ mang dù – éc (nông cụ cài lên cổ trâu, nối với dụng cụ kéo cày) oằn mình kéo cày xới đất hay kéo bừa (trên bừa một người đứng lên để trâu kéo cho tan nhuyển đất). Trong mưa gió rét buốt của tháng 11, run run đếm từng bước theo luống cày, thân chẳng có một chút gì che, hay cái nắng chang chang của tháng năm, tháng sáu miền Trung, kéo cày thè lưỡi thở hồng hộc, nước dải rơi ra hai bên mép miệng. Thấy cảnh tảm thương như vậy, không ai mà khỏi động lòng cho kiếp làm trâu, đôi lúc vì quá sốt ruột cho kịp thợ cấy, họ lại nhẫn tâm quất lên lưng trâu mấy roi. Thật là tội nghiệp. Nghĩ vài chục phút để ăn trưa, nghỉ ngơi, trâu cũng chỉ được một giỏ rơm trộm với ngón (đoạn cắt bớt trên ngọn của bó mạ) lót dạ rồi tiếp tục kéo cày buổi chiều. Chưa hết, từ việc sáng sớm đi ra ruộng, cũng tận dụng móc xe vào cổ trâu để kéo phân, cày, cuốc … cho đỡ sức người. Khi thu hoạch thì kéo lúa bó về nhà; lúa bó trải chất ra sân dẫn trâu lên dẫm đạp cho lúa rụng. Tính ra hàng năm, trâu nghỉ ngơi chẳng được bao nhiêu ngày. Thậm chí, trẻ giữ trâu cũng nhác đi về, leo lên ngồi trên  lưng cho trâu chở. Cho nên giữ trâu không khổ như người ta tưởng:                                                                                                      
     “Ai bảo chăn trâu là khổ, chăn trâu sướng lắm chứ. Ngồi mình trâu phất ngọn cờ lau, và miệng hat nghêu ngao”. 

    Ngoài việc kéo cày, kéo lúa, kéo phân, đạp lúa, lúc nông nhàn. Nông dân lại đưa trâu đi kéo củi về để dành chụm bếp; kéo gỗ, kéo đất làm nhà.

    Trâu chịu thương, chịu khó với nhà nông, vui vẻ làm viêc chẳng kể công lao     

    “Trâu ơi, ta bảo trâu này, trâu ra ngoài ruộng, trâu cày với ta. Cấy cày là nghiệp nông gia, trâu đây ta đấy ai mà quản công…”

      Với sức mạnh của con trâu, hơn con người hàng chục lần, nếu như trâu quay lại chống đối, liệu con người có địch nổi không? Nhưng không. Trâu không bao giờ làm thế, vì trâu có tình, có nghĩa, nhớ ơn người đã cưu mang chăm sóc nuôi dưỡng khi còn nhỏ. Đã trót sinh ra kiếp làm trâu nên phải chấp nhận sự đọa đày sai khiến.

      Chả ai nói tốt cho trâu một lời, mà tất cả những thói xấu trên đời đều đổ lên đầu trâu cả, như: nhảy như trâu, ăn như trâu, ngủ như trâu, phá như trâu, v.v và v.v…Thật ra cũng có vài người khen như : con trâu tôi cày hay, con trâu tôi mạnh, con trâu tôi đẻ tốt, nhưng  càng hay, càng mạnh, càng đẻ tốt lại càng khổ hơn thôi.

     Chắc chắn các bạn cũng đồng ý và chấp nhận rằng con trâu không những có công với nông dân và là có công với tất cả mọi người – công lớn là đàng khác. Thế mà con người lại dững dung trước sự khổ đau của trâu. Trâu chẳng bao giờ đòi hỏi một sự ghi công, trả công hay đền đáp nào, trâu chỉ muốn làm tròn công việc của nó; muốn yên ổn để sống hết kiếp trâu; muốn yên thân để làm người đồng hành, người bạn thân thiết của nhà nông , nhưng nào có được. Những trò chơi xem ra không có tính nhân bản, phản đạo đức mà  trâu là nạn nhân khốn khổ - nhưng lại tôn vinh là trò chơi văn hóa truyền thống nhân gian cần được duy trì : “Lễ hội đâm trâu” nhìn thấy mà rợn người; trò chơi “chọi trâu” làm trò vui cho con người, con nào chọi thắng thì giết ăn thịt.

     Với người phương Tây, con vật nhỏ như con sâu con bướm, người ta còn bảo vệ, chưa nói đến những động vật hoang dã, người ta còn tôn trọng sự sống của nó huống chi đây (con trâu) là con vật cận kề, người bạn cùng khổ, thân thiết với nhà nông, mà vong ân bội nghĩa, sát hại một cách man rợ chẳng chút động lòng. Nếu khuất mắt thì chẳng nói làm gì, đàng này lại cổ vũ cho mọi người xem.Thật đáng buồn thay.
Cũng có thể bây giờ, khoa học phát triển, nghề nông cũng đã thay đổi nhờ những ứng dụng của khoa học kỹ thuật để thay đổi cuộc sống, đỡ vất vả, đỡ tốn sức lao động của con người mà năng suất lại cao, nhưng cũng có thể kéo theo một chuổi sự nghiệt ngã khác. Cũng có thể vì thế mà người bạn cùng chung khổ cực, vất vả, chịu thương, chịu khó ngày xưa bị ruồng bỏ chăng? Hay là : “Giàu đổi bạn, sang đổi vợ”. Nghĩ đến trò đời mà buồn.

 Quê hương, 10 tháng 7 năm 2011





READ MORE - CON TRÂU VỚI NHÀ NÔNG - Tản văn của Hoàng Kim Liên

Wednesday, November 20, 2013

GÁC CHÈO - Kha Tiệm Ly



   
      
                        GÁC CHÈO
       (Thân tặng La Thụy và quý đồng nghiệp)

       Cứ mỗi lần nghe tiếng trống trường
       Bồi hồi sao nhớ nhớ thương thương
       Tấc lòng yêu trẻ, vai oằn gánh        
       Bụi phấn vương đầu, tóc nhuộm sương
       Sách vở ngậm ngùi nằm một xó      
       Học trò thân thiết dạt mười phương
       Lái đò nào kể công đưa đón,
       Kẻ nhớ người quên, chuyện lẽ thường
                                         Kha Tiệm Ly
       _________________________________

       KHA TIỆM LY
       99/5 Đinh Bộ Lĩnh Phường 2, tp Mỹ Tho Tiền Giang
       Tel: 0987  701  952   -   01229  880  130
       Email: khatiemly@gmail.com

READ MORE - GÁC CHÈO - Kha Tiệm Ly

NGƯỜI VỢ BỊ BÁN - truyện ngắn Ngọc Châu

       
Phụ nữ Tày xưa

Thời gian như dòng sông, cứ kiên trì xói mòn và bồi lấp đi mọi sự kiện của cuộc đời khiến cho những gì xấu xa, đau đớn của một thời giờ đây không còn thấy nhức nhối như xưa. Có điều, cả những gì tốt đẹp cũng mờ dần, mờ dần theo năm tháng. Có lẽ đến vòng luân hồi thứ một triệu của kiếp nhân sinh hiện hữu, thế gian này sẽ không còn núi cao, cũng chẳng còn vực sâu. Mọi thứ đối lập sẽ dung hoà, san xẻ cho nhau để trái đất này chỉ còn là bình nguyên phẳng lặng và mặt biển không có sóng. Văn chợt nghĩ vậy sau lần anh tình cờ gặp lại một con nguời của ba muơi năm truớc trong cuộc hội thảo của ngành Giáo dục.

Bấy giờ Văn đang dạy một lớp học chỉ có khoảng non ba chục học sinh mà lẫn lộn đến ba hoặc bốn chủng tộc là Tày, Hmông và Dao mà ngày ấy những người miền xuôi như anh lúc thì bảo họ là người Mèo, có lúc lại nghĩ họ là người Mán. "Sinh ngữ" của anh có thêm được  mấy từ "noọng ơi", "kin khẩu", "kin nậm"…nghĩa là "nàng ơi", "ăn cơm" với "uống nuớc"! Đấy là học lỏm theo tay Tằng đồng nghiệp của anh, hắn bảo đấy là tiếng Tày, thứ tiếng hay dùng nhất đối với cư dân sở tại. Không biết có đúng thật không vì ông bạn người Hmông này khôn như rận, nhiều lúc hắn còn dạy  những câu mà nếu anh áp dụng sẽ bị các cô gái trong bản đấm cho thùm thụp hoặc phá lên cười như nắc nẻ.

Thời gian Văn dạy học ở đó không lâu vì chỉ hơn năm sau anh đã được cử đi học Trung cấp Sư phạm, ra dạy vài năm ở một truờng miền trung du lại đi học tiếp Đại học, ra trường thì về đóng đô luôn ở Thái Bình. Bạn bè anh gọi đó là giai đoạn vừa lên cao vừa xuống thấp, nghĩa là leo lên cao về học vấn và lương bổng, đồng thời tụt xuống thấp theo cao độ so với mực nước biển, tóm lại họ cho Văn cũng thuộc loại khôn như rận theo cách so sánh của người Mán, vì con rận - bây giờ nhiều người không biết hình thù nó như thế nào- luôn biết chọn chỗ nào an toàn nhất trong chiếc áo để ẩn thân và chỗ nào thơm thịt nhất trên cơ thể người ta để cắn và hút máu!

Chuyện xảy ra là vào hồi anh đang dạy cấp 1. Một hôm tay Tằng bảo Văn "Mai tao phải nghỉ một ngày đi chợ phiên để bán con vợ."

- Cái gì? - Văn kinh ngạc - Cậu bảo bán con gì ?

- Cái con vợ tao. Bảo nó không nghe, với lại nó không thích đẻ!

Văn há hốc mồm trước câu trả lời tỉnh khô của anh bạn đồng nghiệp. Anh cũng biết là tập tục cưới hỏi, lấy vợ lấy chồng ở trên này mang nặng tính chất gả bán. Người đàn bà về làm dâu là thành con ma của họ nhà chồng, chẳng may chồng chết sớm thì phải làm vợ tiếp cho một ai đó trong gia đình nhà chồng, anh chồng hoặc em chồng chẳng hạn. Nhưng anh không nghĩ là có thể đem vợ ra chợ để bán như tay Tằng vừa nói.

Văn đã hết sức khuyên can, nói rằng bây giờ Chính phủ không cho làm thế nhưng Tằng  nói là đã có sự bằng lòng của Khán (già làng) và hú sinh (ma bếp) rồi. Hôm sau hắn nghỉ thật, chiều muộn hôm sau nữa mới quay lại truờng trong tư thế chân nam đá chân chiêu. Không nói năng với ai câu gì, hắn lảo đảo đi vào nhà ở tập thể của  giáo viên, nhưng đến cửa lại quay ra bờ vực quăng chiếc túi thổ cẩm xanh đỏ đang cầm trong tay xuống khe núi. Mấy thứ đồ lặt vặt trong đó văng ra ngoài, rơi lả tả rồi gió cuốn xuống vực sâu, sau đó hắn vào giường ngủ li bì đến tận trưa hôm sau.

Sau giờ lên lớp buổi chiều, lúc ăn tối cùng với Tằng, Văn tò mò hỏi mấy hôm vừa rồi hắn làm gì, việc bán vợ của hắn ra sao.

- Mải (bán) không được, mất rồi.

- Mất rồi! Sao mà mất? - Tưởng vợ hắn đã chết Văn hốt hoảng - Vợ cậu mất thật rồi à?

- Mất, không phải slay (chết) - "con rận Mán" này hiểu suy nghĩ của Văn khá rõ - Tao đưa nó đi chợ nhưng lúc qua san (rừng ) nó thíu (chạy đi) à. Tao đuổi theo không thấy nó đâu nữa.

Cứ há mồm vì kinh ngạc, mãi Văn mới hỏi được thêm vài câu "Tại sao mày nhanh thế mà không đuổi bắt được nó? " với "Không tìm thấy thật à?" Đáp lại hắn ậm ừ giải thích rằng ở chỗ ấy có nhiều khe đá với vực sâu, không biết  vợ hắn đã ẩn vào hốc đá nào đó hoặc ngã xuống vực.

- Nhưng nó không còn là quây (con ma) nhà tao nữa nên còn cái gì của nó tao  vứt hết đi rồi. - Hắn giải thích thêm như vậy rồi cắm cúi ăn, không nói chuyện nữa.

Văn sực nhớ đến chiếc trâm bạc, chiếc vòng màu xanh ngọc thạch và mấy tờ giấy dó, hôm qua còn mắc lại trên bờ vực lúc Tằng ném cái túi  xuống khe núi. Anh đã nhặt lên, định lúc hắn tỉnh rượu thì đưa lại cho hắn, nhưng giờ biết là Tằng sẽ không nhận lại những thứ đã vứt đi theo con ma.

Khi xem lại, Văn thấy mấy tờ giấy dó được khâu vào với nhau thành như cuốn sổ, đã viết được nhiều nhiều bằng loại mực gì tim tím, chắc là nhựa cây hay nước quả. Chữ viết lẫn lộn tiếng Kinh, tiếng Tày và cả tiếng Sán Chí, Cao Lan gì đó. Đọc được ít dòng Văn đâm ra tò mò vì biết đây là cuốn sổ của vợ tay Tằng, trong đó ghi một số việc gần giống như ta ghi nhật ký. Thật là lạ, một người đàn bà Mán mà ghi nhật ký!? Thế nên Văn đã bí mật chép lại những chữ mà mình không hiểu rồi đi hỏi người nọ người kia - nhưng giấu không cho tay Tằng biết chuyện anh còn giữ cuốn sổ của vợ hắn - Dần dà Văn  hiểu được khá nhiều về  những điều mà người đàn bà ghi lại.

Người vợ mà tay Tằng đem đi bán  hoá ra không phải là người Mán chính gốc. Các cụ của chị vốn là người Kinh, quê tận xứ Trung Kỳ, đã từng tham gia phong trào Cần Vương chống Pháp. Khi cuộc khởi nghĩa thất bại, vị cận thần của nhà vua đã lẩn lên miền núi, sống  trà trộn với những người dân tộc để tránh việc truy tìm hết sức gắt gao của triều đình đã trở thành tay sai của thực dân Pháp.  Về sau người ấy lấy vợ Hmong, được nhận là con rể bán đầu vì gia đình vợ không có con giai, sau này sẽ được thừa kế và chịu trách nhiệm hương hoả cho bên vợ. Đó là người cụ của Bàng A Lình (là tên cô vợ mà Tằng đem đi bán).

Chính người cụ  của Bàng A Lình đã đóng cuốn sổ bằng giấy dó này truyền lại cho con cháu, dặn rằng " Khi nào nước Nam hết giặc Phú Lãng Sa thì hậu duệ phải quay về sống với người Kinh, nhớ rằng quê gốc là ở huyện Hoà Vang tỉnh Thừa Thiên, thuộc dòng họ Tôn Thất". Phía trên của mỗi  tờ giấy trong cuốn sổ cụ đều có ghi sẵn câu trên  bằng tiếng Kinh, tiếng Cao Lan và tiếng Tày để  truyền đời ghi nhớ. Cụ dặn con cháu phải ghi lại những việc gì quan trọng xảy ra vào sổ này để các đời sau không quên gốc tích.
Những trang giấy dó này không ngờ lại là cuốn sử biên niên đã ba bốn đời nay của một dòng họ thuộc Hoàng tộc- Văn nghĩ. Anh đã mất hai ngày chủ nhật lần theo con đường từ nhà Tằng đến chợ để thử tìm tung tích cô Bàng A Lình nhưng không có kết quả gì vì đúng như tay Tằng nói, dọc đường có khá nhiều hang động bị cây rừng che phủ, cũng có một số khe sâu nữa. Nếu rơi xuống đấy thì.. Anh thầm cầu mong cho người đàn bà không quen biết bằng tất cả lòng thương cảm của mình…

Câu chuyện rồi bị vùi trong quên lãng. Nửa đời người đã trôi qua cho tới một lần, vào giờ nghỉ ăn trưa của một cuộc hội thảo về Cải cách giáo dục của Bộ tổ chức, Văn tình cờ ngồi cùng mâm với hai người phụ nữ xấp xỉ tuổi mình.  Anh bạn Vụ phó với vẻ quen thân hỏi một chị là bây giờ còn giữ tên Bàng A Lình không, hay chính thức đổi thành Tôn Nữ Nguyệt Mai rồi. Họ cười vui với nhau trong khi cái tên Bàng A Lình của người đàn bà ăn mặc hoàn toàn theo kiểu người miền xuôi, ngay cả dáng vẻ và phong thái cũng vậy, gợi lên trong Văn một điều gì đó nhưng anh không thể nhớ ra. Mãi đến khi câu chuyện giữa hai người phụ nữ nhắc đến tên một vài địa danh miền rừng núi Bắc San thì hồi ức về những năm tháng dạy cấp một ngày xưa bỗng nhiên tái hiện. "Chẳng lẽ  người vợ tay Tằng, người đàn bà ngày xưa hắn đem bán đã bỏ trốn đi là chị ta hay sao?" - Văn thấy thảng thốt.         

- Xin chị thứ lỗi nếu điều tôi hỏi làm chị không vui - Đợi khi chỉ còn lại rất ít người uống trà trong phòng ăn, Văn mới dám lại gần để hỏi chị ta - Có phải chị đã... đã từng là vợ anh La Á Tằng ngày xưa... Tôi muốn nói là vào những năm sáu mươi, tôi cùng anh ấy dạy học ở một trường cấp một của huyện Bắc San…

Người phụ nữ nhìn anh kinh ngạc. Khuôn mặt khả ái đột nhiên biến đổi bất ngờ như bị nước dơ, do một người vô ý hắt từ trong nhà ra dây vào đầu tóc. Văn chợt hoảng hốt vì thấy mình đã nói ra chuyện gì đáng lẽ không nên nói.

- Xin chị thứ lỗi nếu như tôi... tôi - Anh lắp bắp - Sở dĩ tôi hỏi vậy là vì từ ngày đó tôi tình cờ còn giữ một cuốn sổ có bút tích mấy đời của một người tên là Bàng A Lình như.. như chị. Tôi chỉ muốn hoàn nó về cho người ta.. Còn, còn có chiếc trâm bạc và chiếc vòng màu xanh ngọc thạch... - Văn rụt rè bổ  sung, anh vẫn lấy làm tiếc là đã khơi ra câu chuyện này.

- Thật vậy ư?! - Vẻ mặt người phụ nữ đã bình thường trở lại. Chị ta như bất chợt đắm chìm vào dĩ vãng, quên cả người đồng nghiệp vẫn đang đứng trước mặt trong trạng thái khó xử.

- Xin lỗi anh, thật hết sức bất ngờ đối với tôi khi anh hỏi vậy. Không sao đâu, anh đừng tự trách mình nữa... - Chị ta cầm lấy tay Văn như an ủi - Tôi với anh lại đằng kia nói tiếp câu chuyện này đi...

Quả thực đó là Bàng A Lình, người đàn bà Mán ngày xưa La Á Tằng đã định đem đi chợ bán. Câu chuyện gợi lại bao nhiêu xúc cảm cho người phụ nữ và cả cho Văn, mặc dù anh đã quên đi sau ngày rời khỏi miền rừng núi Bắc San. Một tuần sau đó họ  lại gặp nhau ở Hà Nội trước ngày Tôn Nữ Nguyệt Mai trở về Huế. Văn giao lại cho chị cuốn sổ bằng giấy dó, chiếc trâm bạc và chiếc vòng đeo tay màu xanh vẫn được anh giữ gìn qua bao năm tháng. Người đàn bà rơi lệ khi nhìn thấy những kỉ vật của tổ tiên để lại. Ở cuốn sổ mỏng bằng giấy dó vẫn còn đọc được những bút tự của người cụ là cận thần của nhà vua, sau đấy là bút tích của ông và cha chị. Chiếc vòng là báu vật của cụ, còn trâm là vật gia bảo của cụ bà của chị, mang về nhà chồng khi trở thành vợ  viên  cận thần của ông vua yêu nước đã bị giặc Phú Lãng Sa đầy ải.

Nguyệt Mai đưa cho Văn một cuốn sổ khác, dặn anh phải hết sức giữ gìn để trả cho chị khi gặp lại lần sau. Chị cho biết anh là người duy nhất được chị cho đọc cuốn sổ này và đấy là cuộc đời không chỉ của một người, gói ghém trong đó  bao nhiêu thiêng liêng trân trọng. Tôn Nữ Nguyệt Mai đưa cho anh đọc vì chị nói là con tim mình bây giờ  không còn đủ sức chịu đựng khi phải kể lại câu chuyện bằng lời.

Cuốn sổ thứ hai này có bìa tốt, có thể đã được đóng mới lại nhưng giấy thì rất xấu, đó là loại giấy gai nửa vàng nửa trắng anh đã từng dùng vào những năm sáu mươi. Phải nói là phần đầu của cuốn sổ đó Văn đọc mà chẳng hiểu gì lắm, không chỉ vì nét mực đã nhoè nhoẹt mà còn vì nó được viết bằng thứ chữ hết sức nguyệch ngoạc, lại lẫn lộn giữa tiếng Kinh, tiếng Tày,  Cao Lan... Đây đích thực là chữ của cô Bàng A Lình ngày đó, giống như  ít dòng chữ ở phần cuối cuốn sổ khâu bằng giấy dó anh đã trao lại cho Nguyệt Mai.

Đến nay thì vốn "sinh ngữ" của các dân tộc miền Việt Bắc trong anh thật không còn chút nào tồn đọng. Anh chỉ hiểu lơ mơ rằng cô đã cố ghi  lại những việc còn nhớ được ở cuốn sổ giấy dó đã bị mất, tiếp đó là chuyện chạy trốn và bị thương. Tuy nhiên Văn cũng hình dung ra đuợc những gì mà anh đã cố bỏ công để kiếm tìm vào ngày đó.

... Một buổi sớm cuối đông mù sương như vẫn thường thấy ở miền rừng núi Bắc San. Tiếng chim từ qui suốt đêm gọi nhau đã tắt hẳn, mấy con lợn rừng vừa hộc vừa chạy ào ào làm gãy răng rắc các cành cây cản lối,  con mang cũng tác lên giã bạn  lần chót truớc khi tìm về nơi trú ẩn. Lình chỉ còn mỗi chiếc áo lót trên người đang chạy hối hả, sau khi cô bất ngờ dập đầu tay Tằng vào một thân cây, giằng thoát khỏi con đực trần trụi đang cố sức chiếm đoạt người vợ "không muốn đẻ" truớc khi đem đi bán.

Cô gái loã thể chui qua một hang đá hẹp, khuất kín bởi các bụi mây gai và cành dang dẻo dai, ngoằn ngoèo đan bện vào nhau như bầy rắn ở thuở hồng hoang. Cửa hang này cô đã tình cờ phát hiện ra trong một lần vào rừng đặt bẫy bắt dúi, Tằng không biết nên mặc dù hắn ta nhanh và khôn như rận cũng đành ngẩn ngơ quay về với chiếc túi thổ cẩm của cô vợ chạy trốn bỏ lại.

Đúng ra thì cô Lình về làm dâu nhà họ La đã gần chục năm nhưng chưa bao giờ làm vợ của Tằng.  Nhỏ hơn "vợ" ba tuổi, từ lúc còn thò lò mũi xanh cu Tằng đã vào học ở trường Thiếu sinh quân, sau đó do tầm vóc bé nhỏ anh ta được chuyển sang làm giáo viên. Đến khi tay Tằng tấp tểnh trở thành người đàn ông thì cô  biết việc giặc Phú Lãng Sa (tức thực dân Pháp) đã hoàn toàn bị đánh đuổi. Lình quyết tâm thực hiện lời của ông cha để lại là tìm về với người Kinh  dù chưa biết làm bằng cách nào, chỉ lẩn trốn mỗi khi Tằng về nhà vào các ngày chủ nhật. Có lẽ vì vậy mà Tằng đã nói với Văn "Bảo nó không nghe, với lại nó không thích đẻ!".

Vội vàng chui qua hang đá hẹp sang phía núi bên kia, một bước trượt làm cô rơi xuống khe núi sâu. Có lẽ các vong linh của dòng họ Tôn Thất không muốn để mất đi móc xích cuối cùng của một chi tộc anh hùng đã phải chịu nhiều gian truân khổ ải, nên dây leo chằng chịt đã níu kéo cô giữ lại. Lình không chết, chỉ ngất đi. Khi tỉnh lại cô thấy mình đang nằm trên sạp ghép bằng gỗ cây trong lều cỏ, một chiếc quần dài, rộng đã che đi phần thân thể loã lồ. Có một người đàn ông đang lúi húi đun nấu, chắc là ông ta sắc thuốc, cô đoán thế vì phụ nữ  Mán phần đông đều biết cách tìm, chế biến và sử dụng dược thảo.

Người đàn bà chạy trốn cảm thấy tuyệt vọng vì lại rơi vào tay một người đàn ông, đến mức không cảm thấy may mắn là mình vẫn còn sống. Mồ côi mẹ từ lúc còn chưa biết gì, cha cũng mất sớm nên từ năm lên mười cô đã bị gả bán để làm vợ chú bé La Á Tằng. Tài sản của cô bé mang về "nhà chồng" chỉ có một  chiếc túi thổ cẩm đựng đồ lặt vặt, duy nhất đáng giá là chiếc trâm bạc, chiếc vòng đeo tay màu xanh bằng ngọc thạch của cụ nội để lại và mấy tờ giấy dó mà từ hồi lên năm lên sáu bố cô đã giảng giải, bắt phải học thuộc những gì đã ghi ở đó. Được bố dạy nói và viết tiếng Kinh, nhưng do ông mất sớm nên tiếng Kinh của cô chẳng nhiều nhặn gì hơn so với các thứ tiếng khác đã học được khi chơi đùa, tiếp xúc với lũ trẻ con của một khu tự trị đa dân tộc.

Nếu như người đàn ông đó có một hành động gì làm cô kinh sợ thì chắc Bàng A Lình đã không còn sống để viết tiếp vào cuốn sổ này vì trong người cô đã giắt sẵn một nắm lá ngón từ lúc Tằng đưa đi bán, lúc này nó vẫn còn  cộm lên ở bên hông…

Cuốn sổ cho Văn thấy là có một khoảng thời gian tương đối dài cô Lình không ghi chép gì, vì sau mấy trang có nét chữ giun dế với ngôn ngữ tả pí lù ghi lại những điều anh vừa đoán hiểu trên thì có những dòng chữ mới, càng ngày càng khuôn phép và rõ ràng bằng tiếng Việt chính thống. Chắc chắn là đã có sự thay đổi lớn lao trong giai đoạn này - Văn nghĩ một cách tò mò và bắt đầu bị những dòng ghi chép  riêng tư của người đàn bà chạy trốn lôi cuốn. Cách ghi bây giờ đã có vẻ như nhật kí nhưng không có ngày tháng và sự việc cũng không liên tục, chắc hẳn hồi đó chị ta vẫn chưa biết đến cuốn lịch, mỗi lần ghi chỉ biết đánh một khuyên tròn vào đầu đoạn viết  mà thôi.

   .     Vậy là thày đã nuôi dạy Lình một năm rồi. Giá không có những cây mai nở ra hoa trắng mỗi khi xuân đến thì hai thày trò chẳng biết bao nhiêu ngày tháng đã qua. Không, chỉ mình Lình không biết thôi, điều gì thày cũng biết đấy. Lình tin là thế, Lình chỉ muốn có hai cái bụng để ghi nhớ hết những điều thày dạy. Người Dao ta... À không, thày bảo không nói thế nữa nếu như  muốn trở về với dòng họ Tôn Thất như lời ông cha dặn lại. Mà sao thày lại không vui khi khuyên Lình thế nhỉ, thày còn bảo tất cả là do mềnh phần, ô, không phải rồi, là do mệnh trời, tiếng Kinh nói như vậy cơ, không phải ai ở với người Kinh cũng sung sướng đâu. Chính thày  đang làm điều ngược lại với Lình khi chọn vào sống ở trong rừng này...
·         Sao thày không nói tên của thày, chỉ bảo Lình sau hôm nghe kể lại câu chuyện từ bé đến lúc ấy  là "Từ giờ em hãy gọi tôi là thày, thày sẽ giúp em hoàn thành tâm nguyện của các bậc tiền nhân dặn lại, nhưng để làm được điều đó phải dạy em học nhiều thứ lắm. Thày đã nghĩ  không bao giờ còn được dạy ai học nữa, nhưng chắc đây cũng là mệnh trời..." Thày nói những gì Lình không hiểu và cũng quên mất nhiều rồi, chỉ thấy lúc nói câu  đó thầy có vẻ đau buồn lắm, đau buồn hơn lúc Lình bị Tằng dắt tay đem đi bán như con chó con ngựa ở chợ. Lình là đàn bà nên đã giắt theo người một túi nhỏ lá ngón. Đàn ông không ai dùng lá ngón, họ chỉ uống rượu, có người uống rượu tới chết. Nhưng thày không bao giờ uống rượu, Ô! cũng không phải rồi, thày có một bình rượu đấy, ngâm hai con rắn gì lạ lắm. Một tháng chỉ uống một hai chén, sau đó thưòng bảo Lình ở nhà coi nhà để thày đi tìm cây thuốc hàng mười ngày mới về.
·         Những ngày thày đi vắng Lình nhớ lắm, chỉ muốn được thày cho đi theo nhưng mặt thày nghiêm nghị làm Lình sợ. Lại dặn Lình ở nhà phải nấu canh với cây rau trồng nhiều ở ven suối ăn cho bổ huyết. Thày không nói nhưng Lình biết đó là rau răm. Người Dao có dùng cây này làm thuốc bổ huyết bao giờ đâu. Chẳng lẽ thày lại nhầm?  Cái gì thày cũng biết cơ mà, hay người Kinh có bài thuốc khác với người Dao? Vắng thày Lình thường tắm tự do rất lâu ngoài suối, kì cọ và ngắm nhìn thân thể đầy đặn của mình. Thân hình này thày đã nhìn thấy trong ngày Lình ngã xuống vực. Vậy mà sao thày không..?
 Thày lúc nào cũng nghiêm nghị. Lình chưa phải đàn bà, chưa lần nào cu Tằng kéo đuợc mình lên giuờng nhưng nếu như thày... Thôi, không viết nữa, xấu hổ lắm.
·         Thày dạy Lình học cả tiếng Pháp, tức là tiếng của người Phú Lãng Sa đấy! Thấy Lình tròn mắt nhìn vì kinh ngạc, thày giải thích rằng Phú Lãng Sa cướp nước mình nhưng không phải tất cả người Phú Lãng Sa đều xấu. Ngay người Vịệt mình cũng có nhiều kẻ xấu, mà kẻ đã xấu thì còn xấu hơn Phú Lãng Sa nữa cơ. Thày nói giờ thày chỉ còn Lình là học trò, mềnh phần của Lình vất vả nên thày rất thuơng. Tuy người Pháp đã rút hết về nuớc họ rồi, nhưng chẳng biết đến ngày nào thày mới đưa đuợc Lình về miền quê cha đất tổ Thừa Thiên...

Cuốn nhật ký khá dài, càng xem Văn càng hiểu thêm về cả hai thày trò họ. Nhiều lần anh phải ngừng đọc, xúc động với hoàn cảnh éo le của một người thày giáo cũng dòng dõi Hoàng tộc, sinh ra trong một gia đình mấy đời là giáo học, đã từng bị thương trong những năm đánh đuổi thực dân Pháp. Giờ đây người đàn ông cô đơn ấy bị xã hội hắt hủi, bị tuớc đoạt quyền làm thày (tuy cô Lình không viết rõ nhưng Văn chắc là ông bị mắc vào vụ tai nạn văn chương hồi đó).  Hãy còn trẻ  mà sống cạnh người con gái, cô học trò duy nhất còn có đuợc, ở giữa rừng. Cô Lình hồi đó trẻ trung, đầy sức quyến rũ của nét đẹp thiên nhiên hoang sơ mang nửa dòng máu của những sắc người sống giữa đại ngàn. Cô quý thày, và cô yêu thày giáo của mình bằng mối tình đầu hồn nhiên, dạn dĩ.  Nhiều lúc vẻ đẹp hoang dã của cô đã khiến thày giáo  phải lẩn trốn, phải uống, phải ăn những thứ nhằm triệt giảm bản năng đực cái của con người.

Sao họ không trở thành một đôi chồng vợ nhỉ? - Văn tự hỏi - Có gì và có ai cản trở họ đâu. Để nhiều lúc cô Lình oán thày, có lần đã bỏ đi nơi khác làm nghề thày lang và bán thuốc dạo, nhưng rồi cô lại quay về. Cô kinh sợ những người đàn ông khác. Họ cũng như  tay Tằng, dễ dàng xử sự với cô như với con chó, con ngựa nuôi trong chuồng nhà họ.

Cũng vì điều tò mò đó, Văn lật giở đến phần cuối của cuốn sổ ghi chép. Kết thúc cuốn sổ là những dòng chữ không phải của Bàng A Lình. Văn hiểu ngay đây là chữ của thày giáo cô:

"Lình ạ, mặc dù  dạy em chỉ hơn năm năm nhưng giờ đây thày nghĩ rằng em đã có thể hòa nhập bình thuờng với cộng đồng người Kinh ở quê hương em. Em là một học trò thông minh, không uổng công dạy dỗ của thày. Tiếc rằng thày chỉ có thể truyền đạt cho em những tri thức nghề nghiệp để làm một nhà giáo. Thày đã nhờ một người bạn rất thân - cũng là người bạn duy nhất của thày còn có cho đến lúc này - bố trí công việc cho em. Tất cả những giấy tờ cần thiết cùng các chỉ dẫn chi tiết  đều ở trong chiếc phong bì thày để kèm đây. Em có thể theo các chỉ dẫn đó để về Hà Nội gặp người bạn của thày, nhưng đó là trong truờng hợp thật đặc biệt thôi vì thày ấy đã hứa sẽ lên đây đón em về trong vòng nửa tháng nữa.

Đã đến lúc em nên rời khỏi rừng này để làm việc gì đó mà em thích. Thày còn nợ em một nửa phần việc mà thày đã hứa, đó là đưa em về tận miền Thừa Thiên quê hương  em và cũng là quê hương của thày. Chưa chắc thày  đã đuợc phép tái ngũ nhưng sẽ tìm cách trở về quê hương để cùng tham gia giải phóng nốt một nửa đất nứơc, trong đó có quê của thày trò mình, dù làm một đội viên du kích thôi cũng đuợc.

Thày tin rằng sẽ có ngày gặp lại em ở Huế nhưng dẫu sao chuyến đi này cũng đầy hiểm nguy. Vì vậy phải nói cho em biết đôi điều về con người đã tình cờ sống và truyền đạt kiến thức cho em ở giữa rừng già. Gia đình thày  cũng thuộc dòng họ Tôn Thất như em, mấy đời làm nghề dạy học, chỉ có thày  phải rời bút nghiên một thời gian để đánh đuổi Phú Lãng Sa. Thày đã vui sướng biết bao khi đuợc quay lại nghề dạy học,  nhưng sống trên đời này nhiều gian nan lắm em ạ, thày phải nói để em biết cách dè chừng. Chỉ vì cần chiếm đoạt tình yêu của  một cô gái mà  hiệu truởng nhà truờng, cũng từng là học trò của thày, đã dùng mấy bài văn thơ làm cớ tạo ra vụ án văn chuơng để họ kỷ luật thày, không cho làm nghề dạy học nữa.

Lình ơi, em mãi mãi là học trò của tôi, là người học trò duy nhất tôi còn được quyền dạy dỗ. Thiên chức của tôi sinh ra trên đời này là để dạy học nhưng người ta đã tước bỏ quyền làm thày của tôi. Chỉ còn có mình em là học trò nên tôi phải giữ gìn, mãi mãi tôi là thày và em là học trò của tôi. Điều đó thiêng liêng biết bao đối với một người đựơc sinh ra để làm thày như tôi, mặc dù tôi đã phải quên rằng mình còn có trái tim, rằng tôi là người đàn ông và em là người đàn bà, đã cùng sống một cách chân thành với nhau năm năm ở giữa rừng...

Thực ra thì còn hơn thế, hơn thế rất nhiều em ạ. Có lúc tôi phải tự hỏi mình rằng nghề làm thày có đúng là cao quí đến mức tôi phải hy sinh đến thế hay không. Sao có những người  được quyền làm thày một cách dễ dàng mà họ có coi trọng nó đâu…

Văn đặt cuốn sổ xuống bàn. Bỗng dưng anh lặng người vì lần đầu tiên chợt nhìn lại suốt quãng đời hành nghề sư phạm của mình. Nó trơn tru, bằng phẳng, giúp anh qua những năm khó khăn thiếu thốn nhất và nuôi dạy con cái nên người. Nhưng quả thực với anh sư phạm chỉ là một nghề, cũng như một số nhà tu hành ngồi trong chùa, đợi đến giờ thì đọc kinh, gõ mõ truớc những bức tuợng gỗ và yên tâm với nghề làm sư  của họ.

Lặng lẽ gấp lại cuốn sổ, quả thực Văn không dám đọc nữa vì thấy rằng nhìn sâu vào đời tư nguời khác nhiều khi làm cho chính mình thấy áy náy. Lần trao lại nó cho Tôn Nữ Nguyệt Mai anh đuợc biết thêm rằng người thày giáo đầu tiên của chị đã không còn nữa. Truớc khi tìm cách  trở về quê huơng đánh Mỹ ông về thăm ngôi truờng cũ, gặp ngay lúc máy bay Mỹ đến bắn phá. Ngôi truờng bốc cháy, ông đã lấy thân mình che bom bi cho hai đứa bé con, lúc chết cũng không biết nó là con của những ai.

Không phải người trong cuộc, thế mà Văn thấy choáng váng. Như một người mộng du, phải cố lắm anh mới hiểu đuợc lời kể của Tôn Nữ Nguyệt Mai rằng chị chỉ có một đứa con nuôi. Chính là bé gái, một trong hai đứa trẻ mà thày giáo của cô đã lấy thân mình che chở, vì rằng cha mẹ của nó đều chết  trong trận oanh tạc đó. Cũng có thể nó là con của tay hiệu truởng từng là học trò của thày giáo cô, vì hai vợ chồng ấy cùng một số giáo viên và gia đình họ đều chết cháy trong lần oanh tạc của không quân Mỹ.

 "Ôi  một thời, đã có một thời như vậy đấy!  Chẳng lẽ xu thế của cuộc sống bây giờ là cái vỏ vô cảm của người  ta cứ càng ngày càng dày lên mãi, để  tất cả những gì mà người thày giáo ấy coi là thiêng liêng, dần dà chỉ còn đuợc thấy trong chuyện cổ tích thôi sao!" - Văn chợt nghĩ.                                      
                                       

Ngọc Châu
(Hải Phòng)
READ MORE - NGƯỜI VỢ BỊ BÁN - truyện ngắn Ngọc Châu