Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, March 13, 2011

HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG - MỘT CÕI TRỊNH CÔNG SƠN (I)

"Con tinh yêu thương"

Hành Tinh Yêu Thương Của Hoàng Tử Bé
Khác với Văn Cao và Phạm Duy, Trịnh Công Sơn là người chăm chú cúi xuống hiện hữu, và bằng kinh nghiệm sống của chính bản thân phát hiện hết mọi lẽ bất hạnh của thân phận con người.
Sự từ khước hy vọng ảo tưởng; những đam mê vô ích; tâm trạng lưu đầy; nỗi cô đơn không cứu vãn; nỗi lo âu trước vực thẳm; vân vân..., tất cả đó là những vấn đề cốt lõi của triết học hiện sinh Châu Âu, cũng cốt lõi như vấn đề sinh lão bệnh tử của Phật giáo Châu Á về phận người.
Đánh thức bởi sự tan vỡ của thế giới sau Đại chiến, triết hiện sinh trở thành những món ăn hợp gu của con người hiện đại, bỗng nhiên tìm thấy bạn tri kỷ trong thế hệ trẻ các đô thị miền Nam (cũng như Nhật Bản) trong đó có tuổi trẻ của Trịnh Công Sơn. Đặc biệt là cái chết, một phạm trù “kinh điển" của triết hiện sinh (cái chết là hoàn cảnh giới hạn để nhận biết hiện hữu: "cái gì vẫn còn là căn bản đối diện với cái chết, là thuộc về hiện hữu”. K.Jaspers), hoá thành ám ảnh, có sức hút của hố thẳm trong khát vọng sống của tuổi trẻ một thời bị ném vào lò lửa của cuộc chiến tranh tàn khốc . . .
Có vài lần tôi tìm đến với Sơn ở Blao, hồi ấy Sơn làm “trưởng giáo" của một ngôi trường ấp chiến lược, chỉ để được hoãn quân dịch. Nơi thị trấn chiến tranh heo hút buồn đó, Sơn và tôi mỗi ngày băng qua một nghĩa trang đầy quạ đen, buổi chiều nghe tiếng chuông báo tử của ngôi giáo đường nhỏ, và đêm ngồi uống cà phê ở quán Le Cap Oral nghe lão Tây già nhại tiếng con chim chiến tranh (Oiseau de guerre) kêu thê thiết trong đêm sương, nhại theo kiểu vùng quê Normandie của lão trong thế chiến: "Père, Mère, Frères - tout est perdu”. *( Cha tôi, Mẹ tôi, Anh em tôi, Tất cả đều mất hết )
Đêm ở Blao, Sơn thường ra ngoài đi lang thang và để đánh lừa kẻ lạ vô nhà, Sơn dùng chiếc drap trắng trùm kín cây ghi ta trên giường, giả vờ người nằm bệnh. Thế đấy! Từ đây qua suốt thời tuổi trẻ, Sơn vẫn hát về cuộc đời như một “cơn đau vùi".
Những năm vào đời của một tài năng, Trịnh Công Sơn đã khám phá ra âm hưởng La thứ dịu dàng của dòng sông ở Huế (Ướt mi, Nắng thủy tinh...), nỗi cô đơn ở ghềnh đá eo biển Quy Nhơn (Biển nhớ, Lời buồn thánh...) và ở thị trấn cao nguyên kia, là chiến tranh và cái chết (Phúc âm buồn, Gọi tên bốn mùa, và tất cả trong Kinh Việt Nam).
Trong bối cảnh của cuộc chiến tranh quá dữ dằn và kéo dài, nỗi chết là một ám ảnh không rời trong tâm cảm quê hương của Trịnh Công Sơn, như trong Tình ca của người mất trí chẳng hạn: “Chết tình cờ, chết không hẹn hò, nằm chết như mơ..." Chính điều này đã khiến Sơn trở thành thần tượng nghệ thuật của tuổi trẻ một thời lửa đạn, và tên tuổi Trịnh Công Sơn được biết đến giữa những nghệ sĩ phản chiến của thế giới, đối diện với chính sách Mỹ ở Việt Nam.
Còn xa hơn nữa, nỗi ám ảnh kia đã hằn sâu trong khát vọng sống của tâm hồn Sơn, như vết máu không tẫy xóa được trên chiếc chìa khoá mở cửa vào lâu đài kinh dị trong cổ tích Con yêu râu xanh: "Một lần nằm mơ tôi thấy tôi qua đời” (Bên đời hiu quạnh) "Mệt quá thân tôi nằm xuống với đất muôn đời" (Ngẫu nhiên)... Rất nhiều lần Sơn "nói dại miệng" theo kiểu đó, kể cả khi đang thiết tha cùng em: "Thí dụ bây giờ tôi phải đi. Tôi phải đi, tay chia ly cùng đời sống" (Rơi lệ ru người) . . . Sự nhạy cảm thường trực về tính hữu hạn của đời người đã thúc đẩy trầm tư âm nhạc của Trịnh Công Sơn tiếp cận với ý thức Cát bụi, với tâm thức lãng du qua cõi đời vô thường (Một cõi đi về), nỗi hoài niệm về nơi "nguyên quán" vĩnh hằng (Bên đời hiu quạnh); từ đó, vào cuối cuộc hành trình của phận người, Sơn rẽ hướng tìm về cội nguồn minh triết của phương Đông, níu lấy cái Tâm của mình để sống với đồng loại:
Con tinh yêu thương vô tình chợt gọi
Lại thấy trong ta hiện bóng con người. (Một cõi đi về)
Đây là sự dịu dàng của tâm hồn Trịnh Công Sơn; sự dịu dàng thuộc về bản chất đã khiến cho người này trở thành người Mẹ và người kia là nghệ sĩ.
Tôi vẫn giữ một hình ảnh rất xúc động về Sơn hồi trẻ; thời Sơn còn dạy học ở Blao, nghỉ hè về Huế, chúng tôi thường ngồi ở quán cà phê Thành Hội. Hôm ấy, em bé gái bưng bàn lỡ tay đánh vỡ tách cà phê, làm bẩn áo Sơn. Bà chủ quán chạy đến, hoảng hốt, giận dữ, con bé rúm người vì sợ hãi. Sơn đứng dậy che đòn cho con bé, ôn tồn nói với chủ quán: "Chính tôi làm vỡ, không phải lỗi của nó". Và Sơn thản nhiên rút túi bù tiền, cười nháy mắt với con bé rồi đi... Nhiều năm sau, tôi gặp lại cô bé trên rừng, nay đã lớn làm giao liên nội thành, đi dự hội nghị chiến sĩ thi đua ở Khu. Bé nhắc lại với tôi kỷ niệm đầy trìu mến về anh Sơn đã tập cho bé hồi ở quán: "Ông tiên vui, ông thường hay nói dối. Chốn thiên đường không có tháng ngày trôi".
Lòng nhân ái nhu mì và sự bao dung không mặc cả là cốt cách nghệ sĩ hằng có ở Trịnh Công Sơn, như là một giải pháp cứu vãn, để đối diện với chiến tranh, thù hận, và nỗi gay gắt của thân phận con người:
Sống trong đời sống
Cần có một tấm lòng
Để làm gì em biết không?
Để gió cuốn đi! (Để gió cuốn đi)
Điều rất lạ, toàn những ý tưởng triết học đa đoan kia, Trịnh Công Sơn chỉ chọn một người để nói với là Người Tình. Dù nói về điều gì đi nữa, kể cả về Cái Chết, mọi bài hát của Trịnh Công Sơn đều là Tình ca, với giai điệu dịu dàng và thành thực kỳ lạ, và với chất liệu của nụ hoa tầm xuân mà chàng thi sĩ trong ca dao đã một lần hái và dâng tặng. Không có gì để nghi ngờ, chính Trịnh Công Sơn đã khẳng định về điều này: "Chúng ta làm cách nào nuôi dưỡng tình yêu, để tình yêu có thể cứu chuộc thân phận trên cây thập giá đời". Tôi đã nghe Khánh Ly hát Trịnh Công Sơn từ những ngày nàng còn là Lệ Mai ở phòng trà Đà Lạt. Cho tới bây giờ, gần suốt một đời "nghe hát" - theo nghĩa của Nguyễn Công Trứ - cảm nhận của tôi vẫn là thế, rằng với Sơn, Khánh Ly luôn luôn là giọng hát của Người Tình.
Tại sao trong từng khoảnh khắc của đời mình, Trịnh Công Sơn lại chọn Người Tình để nói lại mọi điều? Có lẽ thế, bởi em sinh ra là để nuôi nấng nỗi buồn của đời tôi. Cũng bởi em là loài phù-du-tóc-dài để hiểu tôi trong mọi nỗi phù du, như thơ Ngô Kha: "Ngày xưa tôi lỡ làm người tương tri”.
Với Sơn, Người Tình là người đối thoại cần thiết, và vì thế trong Tình ca Trịnh Công Sơn, người nói không là “Anh" mà là "Tôi và Em". Hai tiếng Anh-Em ngọt ngào đó hình như không thích hợp với những điều cay đắng. Không thích hợp với nhiều thứ gai góc cuộc đời, như thân phận, cái chết, và nỗi tuyệt vọng: "Và như thế, tôi đang yêu thương cuộc đời bằng nỗi lòng tuyệt vọng". (Tuyển tập những bài ca không năm tháng - 1995).
Đến đây thì mọi sự đã ngã ngũ, rằng Tình Ca Trịnh Công Sơn chính là siêu hình học, và vì thế không bao giờ cũ.
Năm tháng trôi đi, bao nhiêu nước đã chảy dưới chân những cây cầu những người yêu nhau đã đi qua. Những Người Đẹp một thời đã thành thiếu phụ, và những cô bé đã lớn lên thành thiếu nữ. Và tất cả vẫn hát Trịnh Công Sơn như là Tình Ca của hôm nay, vẫn nhìn thấy ở Trịnh Công Sơn một gương mặt Hoàng tử sầu muộn và dịu dàng không hề xa lạ.
Huế, 20-4-1995 (Nhàn đàm - Người ham chơi)
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
READ MORE - HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG - MỘT CÕI TRỊNH CÔNG SƠN (I)

Monday, March 7, 2011

NGUYỄN HOÀN - CON NGƯỜI MINH TRIẾT TRONG NHẠC TRỊNH CÔNG SƠN

Trịnh Công Sơn và Dao Ánh, 1998


Nhạc Trịnh Công Sơn lâu nay đã “chinh phục hàng triệu con tim, không chỉ ở trong nước, mà ở cả bên ngoài biên giới nữa” (Văn Cao). Nhiều người, trong đó có cả những người nước ngoài như John C.Schafer (giáo sư Anh ngữ, Đại học Humboldt, Hoa Kỳ) đã định danh cho sự nổi tiếng của nhạc Trịnh là “hiện tượng Trịnh Công Sơn”. Nhiều bài viết, tập sách được công bố, xuất bản đã tìm cách giải mã hiện tượng âm nhạc Trịnh Công Sơn nhằm dò thấu căn nguyên của sức hấp dẫn lạ lùng, đầy “ma lực” của nhạc Trịnh. Người ta đã và sẽ còn tiếp cận căn nguyên quyến rũ kỳ diệu của nhạc Trịnh từ nhiều cách, từ nhiều giác độ khác nhau. Ở đây, xin đưa ra cách tiếp cận căn nguyên này từ một trong những phương diện nổi bật nhất của thế giới nghệ thuật Trịnh Công Sơn, đó là con người minh triết trong nhạc Trịnh Công Sơn.


Sức hấp dẫn của thế giới nghệ thuật Trịnh Công Sơn chính là sức hấp dẫn của con người minh triết được xưng tụng, nâng niu và “phát sáng” ở trong đó.


*Minh triết của con người ấu thơ, của “nhân chi sơ”


Con người minh triết trong nhạc Trịnh trước hết là một con người thuần khiết, chưa hề “vướng bụi trần”, đó là con người thuở ấu thơ, thuở “nhân chi sơ” vui sống hồn nhiên, yêu thương thật lòng: “Ngày xưa khi còn bé, tôi yêu quá cuộc đời, tôi yêu thương loài người, ngồi vẽ lấy tương lai” (Ngày nay không còn bé), “Hôm nay tôi nghe tôi cười như đứa bé, mới lớn lên giữa đời sống kia. Tôi thấy màu xanh hát trong lời gió và thấy bình minh thắp trên ngọn lá. Tôi thấy ngày thật lạ, xao xuyến từng nỗi nhớ, cho nên tôi yêu trái tim không nặng nề những con tim bạn bè bao la” (Hôm nay tôi nghe).


Sự minh triết của con người thuở ấu thơ, thuở đầu đời trong nhạc Trịnh có gốc rễ từ trong minh triết phương Đông. Mạnh tử từng đề ra thuyết tính thiện nổi tiếng: “Nhân chi sơ, tính bổn thiện” (Người ta lúc bắt đầu có sự sống, tính vốn thiện). Mạnh tử bảo: “Bậc có đức lớn vẫn giữ được lòng mình khi mới sinh ra” (Đại nhân bất thất kỳ xích tử chi tâm - Li Lâu hạ, bài 12) (1). Các bậc hiền triết thường có những tư tưởng lớn gặp nhau. Trong tác phẩm “Đạo đức kinh”, Lão tử khẳng định: “Người nào có đức dày thì như con đỏ” (Hàm đức chi hậu, tỉ ư xích tử) (2). Nhưng tại sao người đời khi “lớn lên” không phải ai cũng giữ mãi được sự minh triết của “con đỏ” như các bậc có đức dày? Đó là vì cùng với sự lớn lên về trí năng thì trí xảo, cơ mưu có khi đi kèm là nguy cơ, là tai hoạ mà nhân loại xưa nay không phải bao giờ cũng biết cách phòng tránh, diệt trừ triệt để, hiệu quả. Lão tử trong “Đạo đức kinh” từng phân tích, cảnh báo về điều này: “Thời xưa, người khéo dùng đạo trị nước thì không làm cho dân khôn lanh cơ xảo, mà làm cho dân đôn hậu chất phác. Dân sở dĩ khó trị là vì nhiều trí mưu” (Cổ chi thiện vi đạo giả, phi dĩ minh dân, tương dĩ ngu chi. Dân chi nan trị, dĩ kỳ trí đa) (3), “Trí xảo xuất hiện rồi mới có trá nguỵ” (Trí tuệ xuất, hữu đại nguỵ) (4). Cùng chung mối ưu tư trĩu nặng tự nghìn xưa của các triết nhân, nhạc Trịnh đã soi chiếu, cảnh tỉnh về những mặt trái, mặt tối của lòng người: “Đời đã cho tôi một ngày, nhìn thấy gian manh loài người, từ đó tôi hằng biếng vui chơi” (Chỉ có ta trong một đời), “Những con mắt thù hận, cho ta đời lạnh căm…Những con mắt bạc tình, cháy tan ngày thần tiên” (Những con mắt trần gian). Bởi vậy, nhạc Trịnh mang nỗi tiếc nuối, ngậm ngùi da diết khi con người đã xa dần với thuở “nhân chi sơ”, thuở ấu thơ: “Ngày nay không còn bé, tôi quên sống thật thà, tôi đã không còn là, là hạnh phúc ngu ngơ. Ngày nay sao buồn thế, những sáng hay đêm về vẫn thấy rất ơ hờ, bình yên như kiếp đá. Ngày nay thôi đành nhé, tôi như đá nặng nề, trong giây phút tình cờ rớt xuống mịt mù” (Ngày nay không còn bé), “Ôi hư vô phong kín, tuổi thơ ngây mong manh” (Lời của dòng sông).


Trước vấn nạn “lớn lên” về trí xảo, con người phải tìm giải pháp gì, phương thuốc gì để chữa trị hữu hiệu? Lão tử khuyên nên quay về với đạo, cụ thể là quay về với cái gốc của đạo. Xuất phát từ khái niệm “đạo” được nêu lên trong “Đạo đức kinh”: “Đạo vĩnh viễn không có tên, nó chất phác” (Đạo thường vô danh, phác) (5), Lão tử đã đưa ra phép chữa trị là dùng cái “chất phác” này để ngăn chặn trí xảo: “Trong quá trình biến hoá, tư dục của vạn vật phát ra thì ta dùng cái mộc mạc vô danh (tức bản chất của đạo) mà trấn áp hiện tượng đó, khiến cho vạn vật không còn tư dục nữa” (Hoá nhi dục tác, ngô tương trấn chi dĩ vô danh chi phác. Phù diệc tương vô dục) (6). Do đó, Lão tử khuyên con người “trở về mộc mạc” (phục quy ư phác), “trở về trẻ thơ” (phục quy ư anh nhi) (7), tức là trở về với bản tính tự nhiên, chất phác ban đầu, chưa bị đánh mất. Trong nhạc Trịnh, con người có những lúc được “trở về trẻ thơ” như vậy, được tìm lại “thời gian đã mất”, được sống trọn vẹn với bản tính hồn nhiên nguyên sơ: “Nhiều khi bỗng như trẻ nhớ nhà” (Đêm thấy ta là thác đổ), “Tôi đã yêu em như trẻ thơ” (Trong nỗi đau tình cờ). Đời người ai chẳng từng có một tuổi thơ được chắp cánh mộng vút bay theo từng cánh diều vui: “Thằng bé xinh xinh ra đồng giữa ngọ, thả con diều nhỏ bay giữa mênh mông. Mênh mông là trời bầu trời mênh mông. Mênh mông lòng người lòng người mênh mông. Mênh mông nụ cười rạng ngời tim non. Tim non rạng ngời” (Ra đồng giữa ngọ). Cánh diều trong nhạc Trịnh tan trong cội nguồn hay chính đó là giấc mơ được tái sinh trở lại của con người với cội nguồn uyên nguyên, cội nguồn minh triết của vũ trụ, của Đạo Trời: “Thằng bé xinh xinh ra đồng giữa ngọ, ngờ đâu hội ngộ tan giữa hư không. Tan trong trời hồng làm giọt mưa trong. Tan trong cuộc đời làm lời ru trong. Tan trong nụ cười gọi mời yêu thương. Tan trong cội nguồn” (Ra đồng giữa ngọ). Quả là như thế, vì Trịnh Công Sơn đã từng viết khi nhớ đến cõi “Thiên Thai” của Văn Cao: “Trên cánh đồng ca khúc, tôi như một đứa bé ước mơ mặt trời là con diều giấy thả chơi” (8).


“Trở về trẻ thơ” là phép màu để diệt trừ trí xảo, dối gian. Còn để diệt trừ phiền não, nhạc Trịnh có phép màu nào?


*Minh triết về giải thoát phiền não


Vì đứa trẻ trong nhạc Trịnh có khi là do người lớn hoá thân, nên khi đó, ở đứa trẻ này, sự hồn nhiên thơ trẻ đã dần nhường chỗ cho những suy tư nặng lòng về nhân thế và phận người: “Tôi như trẻ nhỏ, ngồi bên hiên nhà, chờ xem thế kỷ tàn phai. Tôi như trẻ nhỏ tìm nơi nương tựa, mà sao vẫn cứ lạc loài” (Tự tình khúc). Ngay cả tiếng khóc ban đầu thuở sơ sinh của đời người cũng được nhạc Trịnh nghiệm ra là tiếng ưu phiền, là “tin buồn”, là “phúc âm buồn”: “Trẻ thơ ơi, trẻ thơ ơi, tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người” (Gọi tên bốn mùa), “Tiếng khóc ban đầu, ban đầu còn đau, còn đau, còn đau” (Lời mẹ ru). Điều này, thuở trước, ở thế kỷ XVIII, nhà thơ Nguyễn Gia Thiều (1741-1798) qua tác phẩm “Cung oán ngâm khúc” đã từng nghiệm thấy:


“Thảo nào khi mới chôn nhau

Đã mang tiếng khóc ban đầu mà ra!”.


Vậy Trịnh Công Sơn không phải là người đầu tiên suy nghiệm về những phiền não của đời người bắt nguồn từ tiếng khóc lọt lòng. Nhưng Trịnh Công Sơn với dòng nhạc “hát kinh” về phận người đã miệt mài tìm cách hoá giải tiếng khóc, hoá giải phiền não. Đây là đóng góp độc đáo đã làm nên hiệu ứng nghệ thuật mạnh mẽ của nhạc Trịnh.


Trước hết, muốn hoá giải niềm đau, hoá giải phiền não thì không nên xa lánh nó mà phải sống với nó, “lắng nghe” nó, chịu đựng nó: “Đôi khi thấy trăm vết thương rồi như đá ngây ngô” (Rồi như đá ngây ngô), “Đôi khi ta lắng nghe ta, nghe sóng âm u dội vào đời buốt giá, hồn ta gió cát phù du bay về” (Tình xa), “Dưới vòng nôi mọc từng nấm mộ, dưới chân ngày cỏ xót xa đưa” (Cỏ xót xa đưa), “Với những cuộc tình bão tố lênh đênh, xin có một lần uống chén muộn phiền” (Vườn xưa), “Cho tôi đi qua tận gập ghềnh, nhìn dòng máu trong tim anh” (Xin cho tôi). Chịu đựng nỗi buồn, nỗi cô đơn da diết, chịu đựng cả nỗi chết đang “ăn lan” từng giờ vào đời người: “Tôi như mọi người mong ngày sẽ tới, nhưng khi về lại thu mình góc tối, trong tôi rụng đầy bao nhiêu nụ cười, có nói được gì những tiếng bi ai, có tiếng tù và hối thúc trong tim, có đếm từng giờ trong khi nằm bệnh, có nhớ vài lần những má môi xinh” (Bay đi thầm lặng). Con người minh triết trong nhạc Trịnh đã coi sống là một sự trải nghiệm như vậy, trong đó có trải nghiệm nỗi khổ, điều mà Phật giáo gọi là “khổ đế” - chân lý về sự khổ, chân lý thứ nhất trong bốn chân lý giác ngộ của Phật giáo (tứ diệu đế), điều mà triết học hiện sinh gọi là sự nghiệm sinh. Giá trị của sự trải nghiệm này được Trịnh Công Sơn nói đến trong bài viết “Hư vô”: “Hãy đau đớn đi. Biết đau nỗi đau của người khác và của chính mình là dấu hiệu của lòng nhân ái. Cái tín hiệu ấy phát đi và mọi người nhận được” (9). Và Trịnh Công Sơn khẳng định điều đã “ngộ” được: “Vì có khổ đau nên có âm nhạc” (“Để bắt đầu một hồi ức” - “Thế giới âm nhạc”, tháng 1/1997). Như vậy, khổ là một “động lực” của cuộc đời, một “động lực” của sáng tạo nghệ thuật, của thăng hoa, vấn đề là tìm cách chuyển hoá nó thành “động lực”.


Không thể giải thoát phiền não bằng cách xa lánh phiền não được, vậy làm sao chuyển hoá nó? Phật giáo Đại thừa khẳng định, phiền não tức bồ đề (bodhi, nghĩa là tỉnh thức, giác ngộ), phiền não tức là giác ngộ. Tại sao hai khái niệm đối nghịch nhau là “phiền não”, “giác ngộ” lại có gốc rễ liên quan với nhau? Theo nhà Phật, mầm của giải thoát mọc ngay trong sự phiền não. Bồ đề, giải thoát sẵn có nơi mỗi người, nhưng do phiền não dấy lên che khuất, khi ta an định được tâm của mình, làm cho phiền não lắng xuống, bồ đề, giải thoát sẽ xuất hiện. Như một ly nước đục, khi lọc hết chất bẩn, nước sẽ trong trở lại. Nhà Phật cho rằng sự giải thoát không phải từ nơi nào khác đến mà nó nằm ngay trong phiền não, nên mới nói phiền não tức là bồ đề. Tinh thần sống chung với phiền não, tìm cách chuyển hoá phiền não được Trịnh Công Sơn đề cập trong bài viết “Tin vào niềm tuyệt vọng”: “Phải chăng thở than cũng là niềm bí ẩn của con người”, “Hãy đi đến tận cùng của tuyệt vọng để thấy tuyệt vọng cũng đẹp như một bông hoa”, “Tôi đang yêu thương cuộc đời bằng nỗi lòng của tên tuyệt vọng”.


Trong nhạc Trịnh, ta bắt gặp không ít trạng huống sống chung với phiền não, lắng cặn phiền não để cho tâm hồn được giải thoát, thăng hoa. Này là cách thể nhập với hồn thiền của núi cao để nỗi buồn lắng xuống: “Một hôm buồn lên núi nằm xuống” (Tự tình khúc), lời hát gợi nhớ đến câu của triết gia Nietzsche: “Triết lý, đó là đời sống trong băng lạnh và trong núi cao”. Này là giọt nước mắt đau thương làm mềm chăn gối, làm lay động cỏ cây, hồn người: “Hãy khóc hãy khóc đi em, hãy khóc hãy khóc đi em, dòng nước mắt sẽ bay trong trời, làm cơn mưa rớt trên chăn gối, lời cỏ cây hát trên da người” (Hãy khóc đi em). Này là trái tim biết chữa lành vết thương để tấu nên khúc nhạc dâng đời: “Trong trái tim con chim đau nằm yên, ngủ dài lâu mang theo vết thương sâu, một sớm mai chim bay đi triền miên, và tiếng hót tan trong trời gió lên” (Để gió cuốn đi). Và như thế, xuất hiện với tần suất dày đặc trong nhạc Trịnh là các trạng huống giải thoát nằm trong phiền não, niềm vui mọc cánh từ trong nỗi buồn, tình yêu, tình người nảy nở từ trong đau thương, cuộc chơi vút lên từ hữu hạn và nghiệt ngã của thời gian, của phận người: “Hãy yêu ngày tới dù quá mệt kiếp người. Còn cuộc đời ta cứ vui, dù vắng bóng ai, dù vắng bóng ai” (Để gió cuốn đi), “Hãy cứ vui chơi cuộc đời, dù ngày mai em như chim bay, bỏ quên đây một người, hát bên trời gian dối, dù ta như con đường dài vắng người. Hãy cứ vui như mọi ngày, nhìn người đi như mây vô danh, dù chân xưa dặm nghìn, vẫn như còn thấp thoáng, dù trong ta đêm thì thầm tiếng buồn” (Hãy cứ vui như mọi ngày), “Đêm ta nằm bóng tối che ngang, đêm ta nằm nghe tiếng trăm năm gọi thì thầm, gọi thì thầm, gọi thì thầm. Đêm nghe trời như hú như than, ta nghe đời như có như không, còn lại mình đời bồng bềnh, đời buồn tênh. Còn đây có bao ngày, còn ta cứ vui chơi, rồi mai sẽ ra đi, dù nhớ thương con người. Còn đây những đêm này, còn em hãy yêu tôi, đời đốt nến chia phôi, dù nhớ thương cũng hoài” (Còn có bao ngày), “Hãy yêu nhau đi quên ngày u tối, dù vẫn biết mai đây xa lìa thế giới, mặt đất đã cho ta những ngày vui với, hãy nhìn vào mặt người lần cuối trong đời” (Hãy yêu nhau đi), “Ru đời đi nhé, cho ta nương nhờ lúc thở than” (Ru đời đi nhé), “Dù còn phút cuối, xin em nụ cười” (Vẫn nhớ cuộc đời), “Những con mắt trần gian, xin nguôi vết nhục nhằn, những con mắt muộn phiền, xin cấy lại niềm tin” (Những con mắt trần gian).


*Minh triết của thiền


Nhạc Trịnh thấm đẫm chất thiền cả trong giai điệu lẫn ca từ. Một trong những sức mạnh nghệ thuật của nhạc Trịnh là đã tạo nên hình tượng người thiền minh triết.


Người thiền nhìn đời bằng con mắt thiền. Con mắt thiền không nhìn đời theo lối phân chia “nhị nguyên”: âm / dương, có / không, được / mất, buồn / vui, yêu thương / thú dữ: “Con mắt còn lại nhìn một thành hai, nhìn em yêu thương nhìn em thú dữ. Con mắt còn lại ngờ vực tình tôi cuồng điên yêu thương cuồng điên nỗi nhớ” (Con mắt còn lại). Con mắt thiền nhìn theo phép “nhất nguyên”, nói theo ngôn ngữ nhà Phật là “pháp bất nhị” (Atvatya - không hai), nói theo ngôn ngữ triết học là nhìn thấy “hai mặt của một vấn đề”, nói theo ngôn ngữ đời thường là nhìn thấy “hai trong một”. Dưới cái nhìn minh triết của thiền cũng như minh triết của phương Đông, trong âm có dương, trong dương có âm, trong phúc có hoạ, trong hoạ có phúc, trong mùa đông có chồi lộc tiềm tàng của mùa xuân, trong nỗi buồn có mầm mống của niềm vui. Vì thế nên Trịnh Công Sơn đã viết: “Buồn vui kia là một” (Nguyệt ca).


Người thiền minh triết trong nhạc Trịnh vượt lên lối phân chia “nhị nguyên”, sống và trải nghiệm cùng lúc với các hiện tượng đối nghịch, các trạng huống tâm lý trái ngược nhau:


“ Không xa ngậm ngùi và cũng không xa nụ cười

…Không xa đời và cũng không xa mộ người

Không xa rạng ngời và cũng không xa đọa đày

…Không xa người và cũng không xa mặt trời

Không xa tình đầy và cũng không xa lạc loài

…Không xa tình và cũng không xa thù hận

Không xa nồng nàn và cũng không xa lạnh lùng

…Không xa bờ và cũng không xa mịt mù

Không xa cửa nhà và cũng không xa ngục tù

…Không xa trời và cũng không xa phận người

Không xa một ngày và cũng không xa một đời”

(Đời cho ta thế).


Con mắt thiền nhìn sâu vào thế giới hiện hữu: “Con mắt còn lại nhìn đời là không, nhìn em hư vô nhìn em bóng nắng. Con mắt còn lại nhẹ nhàng từ tâm” (Con mắt còn lại). “Đời là không”, chữ “không” ở đây Trịnh Công Sơn mượn từ một khái niệm chính yếu của Phật giáo, khái niệm “Tính Không”. Chữ “không” (empty) này không có nghĩa là “không” (no) có, mà nghĩa là “trống rỗng”, chỉ một thể tính vô biên, nằm ngoài lối phân chia nhị nguyên, lối phân biệt có và không. Theo Phật giáo, mọi sự vật vốn có, nhưng không có tự tính độc lập, không có bản thể riêng biệt mà do những thứ khác, tức là do duyên hợp thành, nên gọi là “không”, “không” không có nghĩa là “không có” mà cái “có” nhìn thấy bằng mắt thường không phản ánh đúng thể tính của sự vật. Ví dụ thân thể con người được hình thành từ bốn cái lớn (tứ đại) trong vũ trụ: đất (tạo nên thịt xương), nước (máu, chất lỏng), gió (hơi thở), lửa (năng lượng), nghĩa là vay mượn của trời đất, không có tự tính độc lập, một ngày kia sẽ trả lại đất trời. Cái nhìn của Phật giáo ở đây có sự gặp gỡ với cái nhìn của các nhà khoa học về sau này. Đó là cái nhìn vào thể tính của sự vật, giống như nhà khoa học nhìn cái bàn, thấy cái bàn “có” đó là “không”, cái bàn đó “không có bản thể riêng” mà đó chính là sự liên kết của các hạt điện tử (electron, proton, neutron) tạo thành. Nhà Phật và nhà khoa học đều nhìn thấy thân thể con người, cái bàn… là “trống rỗng”, là “không”, nhưng là “không mà có, có mà không”, “sắc tức là không, không tức là sắc”. Dưới cái nhìn xoáy sâu vào bản thể đó, Phật giáo cho rằng con người dứt được những tri kiến sai lầm, vọng tưởng, đạt đến một tâm thể thanh tịnh, tỉnh thức, giác ngộ, gọi là Phật tính, thấy rằng có với không là một, ta với người là một. Tâm từ bi do đó phát nguyện: “Con mắt còn lại nhẹ nhàng từ tâm”.


Trải nghiệm đời, hiểu bản chất của đời: “Đời cho ta thế”, người hành thiền có sự ung dung, tự tại, sự vững tâm trong bất luận hoàn cảnh nào: “Đời cho ta thế cứ hãy cất bước đi mọi nơi, gặp nhau trong phố xin yêu khôn nguôi những thân người. Đời cho ta thế hãy cứ sống tới như mọi ai, mặc dòng sông kia sẽ cuốn đất cát ra biển khơi…Đời cho ta thế đứng giữa bão tố không buồn vui, tự nghìn năm xưa bao nhiêu chim muông đã xa bầy” (Đời cho ta thế).


Thiền là trạng thái sâu lắng của tâm thức, khi tâm thức chỉ tập trung chú ý đến một đối tượng thuộc tâm hay vật. Người thiền trong nhạc Trịnh có khi “nhìn suốt một mối tình”: “Hãy nghiêng đời xuống, nhìn suốt một mối tình, chỉ lặng nhìn không nói năng, để buốt trái tim, để buốt trái tim” (Để gió cuốn đi). Có khi nhìn sâu vào tâm cảm của mình và chứng nghiệm được một trạng thái thăng hoa thật lạ lùng, thần diệu: “Nhiều đêm thấy ta là thác đổ, tỉnh ra có khi còn nghe” (Đêm thấy ta là thác đổ). Hoàng Ngọc Hiến đã viết bài “Một bài thơ hay của Trịnh Công Sơn”, tiến cử bài “Đêm thấy ta là thác đổ” là bài thơ tình hay của thế kỷ và bình rất sâu về tiếng thác đổ trong nhạc Trịnh: “Sự mãnh liệt của tình yêu thường được so sánh với bão táp (Cơn bão tới rồi, tiếng rì rầm nước, lửa..., Maiacopxki). Cơn bão nào rồi cũng tan. Trận bão nào cũng để lại tan hoang, phá phách. Thác đổ cũng mãnh liệt. Nhưng đây là sự mãnh liệt vĩnh cửu và không hề có sự phá phách. Thác đổ là “tình yêu vô cùng””(10). Đúng vậy, trái tim yêu đập nhịp bằng mãnh lực của thác đổ và trái tim-ngọn thác đó đang thiền về chính nó, một cuộc thiền bất tận “tỉnh ra có khi còn nghe”.


Đó là nghe hữu thanh. Để rèn tâm tĩnh lặng tuyệt đối, người thiền nghe được cả vô thanh. Có câu chuyện thiền “Tiếng vỗ của một bàn tay”. Thiền sư Nhật Bản Mokurai trụ trì chùa Kennin có một đệ tử nhỏ mới 12 tuổi tên là Toyo. Thấy các đệ tử đàn anh vào phòng thầy để được hướng dẫn về cách dùng công án chặn tâm trí đi lang thang, Toyo cũng muốn được học. Thầy bảo: “Đợi một thời gian đã. Con còn nhỏ”. Nhưng vì Toyo xin mãi, rốt cuộc thầy cũng đồng ý. Thầy nói: “Con có thể nghe âm thanh của hai bàn tay khi hai tay vỗ vào nhau. Bây giờ, con chỉ cho thầy tiếng vỗ của một bàn tay”. Toyo cúi chào thầy và về phòng suy nghĩ. Có tiếng nhạc của các cô geishas vọng đến. “A, tôi có rồi!” - Toyo mừng thầm. Sáng hôm sau, khi thầy bảo Toyo trình bày tiếng vỗ của một bàn tay, Toyo diễn tả lại tiếng nhạc của geishas. Thầy bảo: “Không, không. Không bao giờ được. Đó không phải là tiếng vỗ của một bàn tay. Con chẳng hiểu gì cả”. Toyo bèn tìm đến một nơi yên lặng hơn để thiền định. Nghe tiếng nước nhỏ giọt, Toyo thầm nghĩ: “Tôi có rồi”. Khi đến gặp thầy, Toyo diễn tả tiếng nước nhỏ giọt. Thầy hỏi: “Cái gì vậy? Đó là tiếng nước nhỏ giọt, nhưng không phải là tiếng vỗ của một bàn tay. Cố thêm đi”. Toyo lại nghe tiếng thở dài của gió. Thầy cũng gạt đi âm thanh ấy. Tiếng ve kêu ư, lại cũng không phải là tiếng vỗ của một bàn tay. Hơn mười lần vào thăm thầy, Toyo dẫn thêm những âm thanh khác nhau nhưng thầy đều bác đi. Suốt năm, Toyo trăn trở tìm câu trả lời. Cuối cùng, Toyo thiền định thật sự và vượt lên trên tất cả mọi âm thanh. Toyo chứng ngộ: “Tôi chẳng còn tìm được tiếng nào nữa, vì vậy tôi đạt được âm thanh im lặng”. Toyo đã nghe được tiếng vỗ của một bàn tay. Sự nghe được âm thanh của vô thanh, nghe được “âm thanh im lặng” này được thể hiện sâu sắc qua ca khúc đậm chất thiền “Tôi đang lắng nghe” của Trịnh Công Sơn: “Im lặng dòng sông, tôi đã lắng nghe. Im lặng ngọn đồi, tôi đã lắng nghe. Im lặng thở dài, tôi đã lắng nghe. Tôi đã lắng nghe im lặng thở dài. Sau cơn bão qua im lặng mặt người, nghe bao nỗi đau trên một bàn tay. Tôi đang lắng nghe im lặng cuộc tình. Sau một cuộc tình tôi đang lắng nghe, khi hoa héo khô im lặng nụ tàn. Tôi đang lắng nghe, tôi đang lắng nghe, tôi đang lắng nghe im lặng đời mình”. Khi lắng nghe được cái vô cùng của vô thanh, lắng nghe được “tiếng vỗ của một bàn tay” như vậy, người thiền trong nhạc Trịnh đạt đến tâm tĩnh lặng tuyệt đối. Khoa học ngày nay đã đo được tâm tĩnh lặng bằng điện não đồ EEG. Khi con người đạt được tâm tĩnh lặng, tần số rung động của não bộ giảm xuống còn 8 - 10 Hz, gọi là tần số Alpha. Ở tần số này, não bộ hoạt động rất hữu hiệu, minh mẫn, sáng suốt, có nhiều năng lực lắng nghe và thấu hiểu, thấu cảm, hoà hợp với mọi người, nói như Trịnh Công Sơn là “lòng chợt từ bi bất ngờ”.


*Minh triết của trái tim


Bên cạnh trí tuệ duy lý (với chỉ số đo là IQ), khoa học ngày nay đánh giá cao vai trò của trí tuệ cảm xúc (với chỉ số đo là EQ). Cùng với sự thông minh của lý trí (trí tuệ duy lý), con người cần có sự thông minh của tâm hồn (trí tuệ cảm xúc) mới đạt đến sự phát triển toàn diện, hài hoà về phẩm người. Sự thông minh của tâm hồn gọi theo chữ của Phật giáo là minh tâm (tâm sáng). Âm nhạc có khả năng làm cho con người thông minh thêm, trong đó có sự thông minh của tâm hồn (do đó mà các bà mẹ mang thai thường nghe nhạc Moda, Betthoven, Traicopxki…để “thai giáo” cho con, giúp cho đứa con trong bào thai phát triển trí não).


Những cảm xúc mạnh mẽ, dâng trào của lòng người thường được nghệ thuật biểu đạt thông qua hình ảnh biển, vì biển thể hiện được cái lớn lao, mênh mông, cái nhân văn vô cùng của tình người: “Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào” (Lòng mẹ, Y Vân), “Những ngày không gặp nhau, biển bạc đầu thương nhớ” (Thuyền và biển, thơ Xuân Quỳnh, nhạc Phan Huỳnh Điểu)…Nhạc Trịnh đã dâng đời ca khúc lừng danh “Biển nhớ” thể hiện nỗi nhớ tình yêu chứa chan như hồn biển dâng trào: “Ngày mai em đi, biển nhớ em quay về nguồn, gọi trùng dương gió ngập hồn”. Tuy nhiên, hình ảnh biển trong nhạc Trịnh vừa giống, vừa không giống với biển trong các thi phẩm, nhạc phẩm của các thi sĩ, nhạc sĩ khác. Mối tương quan giữa biển và bờ thường được dùng để chỉ khát vọng tình yêu dạt dào, mãnh liệt vô cùng như trong bài thơ “Biển” nổi tiếng của ông hoàng thơ tình Xuân Diệu:


Anh xin làm sóng biếc
Hôn mãi cát vàng em
Hôn thật khẽ, thật êm
Hôn êm đềm mãi mãi


Đã hôn rồi, hôn lại
Cho đến mãi muôn đời
Đến tan cả đất trời
Anh mới thôi dào dạt...


Cũng có khi ào ạt
Như nghiến nát bờ em
Là lúc triều yêu mến
Ngập bến của ngày đêm


hay trong ca khúc “Biển khát” của Trương Ngọc Ninh: “Biển khát, biển khát bờ”.


Với nhạc Trịnh thì khác. Trịnh Công Sơn không chỉ thấy cái “vô cùng” mà còn thấy cả cái “giới hạn” của biển. Trong ca khúc “Lặng lẽ nơi này”, một ca khúc mà tiết tấu thể hiện nhịp vỗ dập dồn, đưa đẩy của biển, sau khi hát về “Tình yêu như biển, biển rộng hai vai”, Trịnh Công Sơn đã hạ một câu nghe sửng sốt, bàng hoàng: “Tình yêu như biển, biển hẹp tay người, biển hẹp tay người lạc lối”. Ít ai viết “biển hẹp”. Vì âu lo biển hẹp nên nhạc Trịnh có nhiều ca khúc nhắn nhủ biển như “Biển nghìn thu ở lại”: “Biển đánh bờ, xôn xao bờ đánh biển. Đừng đánh nhau…Ơi biển sẽ tàn phai. Đừng gạch tên vì yêu đừng xé nát. Biển là em ngọt đắng trùng khơi”, đặc biệt là ca khúc “Sóng về đâu”: “Biển sóng biển sóng đừng xô tôi, đừng xô tôi ngã dưới chân người. Biển sóng biển sóng đừng xô nhau. Ta xô biển lại sóng về đâu”, “Biển sóng biển sóng đừng xô nhau. Ta xô biển lại sóng nằm đau. Biển sóng biển sóng đừng xô tôi, đừng xô tôi ngã giữa tim người”, “Biển sóng biển sóng đừng xô tôi, đừng cho tôi thấy hết tim người”, “Biển sóng biển sóng đừng âm u, đừng nuôi trong ấy trái tim thù”. Cả giai điệu và ca từ ca khúc “Sóng về đâu” đều nhấn mạnh nhiều lần và đẩy lên cao trào lời nhắn nhủ: “Đừng xô nhau”. Cấp độ của lời nhắn mỗi lúc một gia tăng, riết róng và giá trị cảnh báo, lay động, thức tỉnh nhân tâm của lời nhắn sau vì thế càng cao hơn, mạnh hơn lời nhắn trước. Từ câu đầu: “Đừng xô tôi ngã dưới chân người” chuyển sang câu sau đã là: “Đừng xô tôi ngã giữa tim người”, ngã dưới chân người chắc chắn là không đau đớn, xót xa, tê tái bằng ngã giữa tim người. Từ câu đầu lời nhắn còn e ấp, tế nhị: “Đừng cho tôi thấy hết tim người” đến câu sau đã là lời cảnh tỉnh thẳng thắn và mạnh mẽ: “Đừng nuôi trong ấy trái tim thù”. Từ câu đầu chỉ mới là câu hỏi: “Ta xô biển lại sóng về đâu” đến câu sau đã là câu trả lời khẳng định: “Ta xô biển lại sóng nằm đau”. Ca khúc “Sóng về đâu” mang đậm tính minh triết, đó là minh triết của trái tim, của trí tuệ cảm xúc (EQ). Trí tuệ cảm xúc thể hiện ở năng lực làm chủ cảm xúc và năng lực thông cảm với người khác. Năng lực làm chủ cảm xúc (phân tích cảm xúc, kìm chế những dục vọng xung động…) thể hiện tập trung qua hàng loạt từ “đừng” trong các ca khúc “Biển nghìn thu ở lại”, “Sóng về đâu”…Biển đừng đánh bờ, sóng “đừng xô tôi”, sóng đừng xô nhau, đó là lời kêu gọi đánh thức năng lực thông cảm, thấu cảm với người khác, để cho biển và bờ giao cảm, để cho lớp lớp sóng biển giao hoà, để cho giữa người với người không còn hơn, thua, được, mất, nói theo ngôn ngữ hiện đại là để cho các bên cùng được, cùng thắng - thắng.


Minh triết nào đã khơi nguồn cho Trịnh Công Sơn viết nên ca khúc tuyệt vời “Sóng về đâu”? Trong bài “Phải biết sống hết mình trong mỗi sát na của hiện tại” viết cho Nguyệt san Giác ngộ 4/2001, Trịnh Công Sơn cho biết: “Cuối năm 1995, tôi có viết được một bài hát mà tôi rất thích và bạn bè ai cũng thích. Đó là bài “Sóng về đâu”. Bài này lấy cảm hứng từ câu kệ: “Gaté Gaté. Paragaté. Parasamgaté. Bodhi svaha””. Câu kệ mà Trịnh Công Sơn đã dẫn lấy từ “Bát-Nhã Ba-La-Mật-Đa Tâm-Kinh” của Phật giáo Đại thừa: “Yết đế Yết đế, Ba la Yết đế, Ba la tăng Yết đế, Bồ đề, Tát bà ha”, nghĩa là: Qua rồi qua rồi, qua bên kia rồi, tất cả qua bên kia rồi, giác ngộ rồi đó. Qua bên kia rồi tức là vượt qua bến mê để đến bờ giác. Con người minh triết là con người biết vượt qua chính mình, vượt qua những mê lầm, phiền não để giữ được chân tâm của mình, đó là chân tâm của đứa trẻ minh triết, của người thiền giải thoát phiền não, đó là chân tâm giàu “trí tuệ cảm xúc”.


Nhạc Trịnh đã góp phần nâng đỡ tâm hồn con người trong những cuộc vượt qua như vậy, chống chọi tuyệt vọng, chiến thắng chính mình, vì thế, nhạc Trịnh luôn chứa đầy hấp lực cứu rỗi của “bài kinh cầu bên vực thẳm” (Hoàng Phủ Ngọc Tường). Vì thế, hát nhạc Trịnh cần một sự thể nhập sâu lắng vào bản nhạc và cần một nội lực thâm hậu của thiền tâm, hát như người tình trong “Đoá hoa vô thường”: “Chiều em ra đứng hát kinh đầu sông”.

N.H






(1) Dẫn theo Nguyễn Hiến Lê (chú dịch và giới thiệu), Lão tử Đạo đức kinh, NXB Văn hoá, Hà Nội, 1994, tr. 119.

(2), (3), (4), (5), (6), (7) Nguyễn Hiến Lê (chú dịch và giới thiệu), Lão tử Đạo đức kinh, NXB Văn hoá, Hà Nội, 1994, tr. 244, 257, 190, 213, 219 - 220, 206 - 207.

(8) Trịnh Công Sơn, Trong âm nhạc, Văn Cao sang trọng như một ông hoàng, dẫn theo Văn Cao cuộc đời và tác phẩm, NXB Văn học, Hà Nội, 1996, tr. 247.

(9) Nguồn: http://www.suutap.com.

(10) Bài của Hoàng Ngọc Hiến đăng lần đầu trên báo “Người đẹp Việt Nam”, số Tết năm 2000.

READ MORE - NGUYỄN HOÀN - CON NGƯỜI MINH TRIẾT TRONG NHẠC TRỊNH CÔNG SƠN

LÊ QUANG THÁI - BỂ DÂU MÀ KHÔNG BỂ ĐÂU ANH


Nhân kỷ niêm 10 năm ngày mất của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, VNQT xin đăng lại bài viết của Cư sĩ Lê Quang Thái, giáo viên Trường Trung cấp Phật học Thừa Thiên Huế để ban đọc biết thêm về thân thế và thuở thiếu thời của nhạc sĩ, xem đây như là nén hương để tưởng nhớ Trịnh Công Sơn, một nhạc sĩ tài hoa, cầu nguyện hương hồn anh mãi mãi an trú ở chốn vĩnh hằng.


Sinh ký tử qui là lẽ thường của tạo hoá. Lúc sinh tiền, Trịnh Công Sơn rất ngộ và thường pha chút nghĩnh trong sáng tác và trầm tư. Nửa đùa nửa thực, anh đã vặn câu thơ nói về “cõi người ta” của Nguyễn Du thành: “Chữ tài chữ mệnh cũng là bể dâu”.
Cảm nhận được một chút cái ngẳng đời của anh, tôi vặn tréo lại để thấy anh như còn sống mãi, dẫu cho hình hài đã trở về với cát bụi.
Ngày xửa ngày xưa, Khuất Nguyên gõ mạn thuyền mà hát nói chuyện đục-trong; lại nay, còn mới toanh, Trịnh Công Sơn đã dùng chiếc đũa tre Việt Nam mà gõ thành thơ:
“Em đi bỏ lại con đường
Bỏ xa cỏ dại vô thường nhớ em”
Nhà báo đã từng hỏi Trịnh Công Sơn rằng: “Quê hương xứ Huế và Đạo Phật ảnh hưởng thế nào đối với sáng tác của nhạc sĩ?...” Và anh đã trả lời chắc nịch như đinh đóng cột đình, thật là: Huế và Đạo Phật ảnh hưởng sâu đậm trên tình cảm thơ ấu của tôi...”.
Chỉ ngần ấy thôi mà khiến tôi phải mất công đi tìm, đi hỏi loanh quanh mặc dầu không khỏi bị người ta vặn vẹo. Được rồi! Thì ra, tuyệt quá: trọn gói cả gia đình anh, gồm cha mẹ và 8 anh chị em, tổng cộng 10 người, đều đã Qui y Tam Bảo từ năm Ất Mùi (1955) tại chùa Phổ Quang, Huế, nơi mà năm 1925, Ông Già Bến Ngự đã từng ở trọ, người Huế quen gọi là “ở đậu”...
Xưa, cụ Phan Bội Châu ở đậu 3 tháng tại chùa này, còn năm 1955 cho đến năm 1958, Trịnh Công Sơn thường đi chùa Huế, lên chùa Phổ Quang với mẹ cùng các em trai và gái thân thương của mình.
Tôi vốn không có năng khiếu về nhạc và thơ, nhưng lại thích văn. Gần đây, đọc bài Văn Tự của Trịnh Công Sơn, tôi khoái nhất câu mà anh đã viết:
“Những con đường ấy làm nên một thứ văn tự hay nói nôm na hơn là một thứ chữ viết báo hiệu sự có mặt của đời sống con người”.
Vâng, anh và gia đình anh đã lắm lần có mặt ở các chùa Huế như Vạn Phước, Từ Đàm, Linh Mụ, Thuyền Tôn... nhất là chùa Phổ Quang. Và đặc biệt như ký thác, gia đình anh đã để lại ấn tích sâu lắng, linh thiêng trên tập “Phổ Hệ” (ghi lại những tên họ và quê quán của các phật tử đã Qui y Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng) ở chùa ruột này. Gốc gác của thuật ngữ “Qui y” được lấy từ tiếng Phạn là “Na mô”, nghĩa là quay về mà nương dựa.
Nay thì đích thực hương linh anh mới trọ ở chùa Phổ Quang (không phải chùa Hiếu Quang đâu!). Anh Sơn ơi! Sau lễ truy điệu anh do Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế tổ chức vào đầu tháng 4 năm 2001 thì bát nhang của anh đã được đưa về thờ (ký tự) tại bàn thờ linh (thờ các tín đồ Phật giáo, đệ tử của nhà chùa). Ơ đây, anh đã thực sự “hội ngộ”, được thờ chung tại bàn linh đã tôn trí thờ hương linh thân phụ và cố mẫu của anh và các phật tử khác.
Bản thân tôi rất lấy làm vinh dự và may mắn được Thượng toạ Thích Huệ Ấn, Trú trì chùa đọc và dịch ra Việt ngữ Phổ Hệ bằng chữ Hán của nhà chùa đã ghi lại từ năm Ất Mùi (1955).
Văn tự này thật là thật, tôi vừa bùi ngùi vừa hồi hộp lắng nghe và biên chép.
- Cha: ông Trịnh Xuân Thanh, pháp danh: Nguyên Bình.
- Mẹ: bà Lê Thị Quỳnh, pháp danh: Nguyên Hoa.
Quê nội: làng Minh Hương, tổng Vĩnh Trị, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên.
Anh là con trưởng của gia đình nên được ghi tên trước, rồi lần lượt đến 7 người còn lại:
Trịnh Công Sơn, Pháp danh: Nguyên Thọ.
Các em:
Trịnh Quang Hà, Pháp danh : Nguyên Sa
Trịnh Xuân Tịnh, Pháp danh : Nguyên Đạm
Trịnh Thị Hoàng Diệu, Pháp danh : Nguyên Cát
Trịnh Thị Vĩnh Thuý, Pháp danh : Nguyên Thâm
Trịnh Thị Vĩnh Tâm, Pháp danh : Nguyên Ngộ
Trịnh Thị Vĩnh Ngân, Pháp danh: : Nguyên Thuy
Trịnh Thị Vĩnh Trinh, Pháp danh: : Nguyên Đàm
Chùa Phổ Quang nằm ở đâu? Đi theo lối chỉ đường mà anh đã viết trong bài “Văn Tự”. Trung thành với văn tự, tôi chỉ rõ đường lên chùa theo ý bài “CHIỀU TRÊN QUÊ HƯƠNG TÔI” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn: Đến chợ Bến Ngự, qua cầu cùng tên, đi lên đường rầy xe lửa, cạnh cổng chắn có cắm bảng ghi rõ tên chùa, rẽ vào hẻm số 29 đường Phan Bội Châu (trước kia là đường Nguyễn Hoàng) chừng gần 70 - 80 mét là thấu cổng chùa.
Thời anh mới nổi danh, tôi biết khá rõ về anh và luôn luôn tỏ lòng quý mến, cảm phục. Anh học trường Sư phạm Quy Nhơn khoá I (1962 - 1964) để theo nghiệp gõ đầu trẻ. Điều kiện để nạp đơn dự thi vào trường là ít nhất phải có bằng Tú tài phần thứ nhất. Cùng khoá với anh có Nguyễn Thanh Hải chơi đàn guy-ta điện vào hạng cừ phách và rồi cũng trở thành nhạc sĩ. Sau năm 1965, dân học Sư phạm Quy Nhơn rất tự hào về hai nhạc sĩ tài hoa này.
Vào một buổi tối mùa hè năm 1967, vì lòng ngưỡng mộ anh, sau khi xem triển lãm tranh vẽ của họa sĩ Lê Văn Tài (nay ở Úc), Người làng Tri Bưu, xã Hải Trí, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Vì tình cảm đồng hương mặn mà, họa sĩ Tài rủ tôi đi nghe công diễn nhạc Trịnh Công Sơn, có ca sĩ Khánh Ly hát. Tôi đi bộ cùng với Tài và một người bạn nữa từ phòng tranh (nguyên là Nha Thông tin Trung Việt) lên Giảng đường Viện Đại học Huế, số 3 Lê Lợi để xem và nghe trình diễn âm nhạc (récital).
Tôi kể đúng, nhớ đúng, chớ không phải thấy anh sang lại bắt quàng làm họ đâu.
Ấn tượng mà tôi còn nhớ mãi về anh là nét trầm tư thể hiện trên vầng trán của anh hiện lộ tính cách philo (xin hiểu theo nghĩa thật và dễ thương, dễ cảm)
Nay, các Thượng toạ đã một thời có điều kiện gần gũi anh như các thầy Thích Huệ Ấn (tuổi Quý Mùi, thua anh 5 tuổi), thầy Thích Phước Toàn ở chùa Vạn Phước, quận 11 thành phố Hồ Chí Minh, thầy Thích Chơn Nguyên, phụ trách phát hành kinh sách ở Viện Nghiên cứu Phật học Vạn Hạnh đều khẳng định anh là con người có đời sống tâm linh phong phú, ăn nói có duyên và đượm đà tình cảm.
Thuở ấy, trong những năm 1955 - 1958, anh hay lên chùa Phổ Quang thăm Hoà thượng bổn sư, quý thầy và chúng điệu. Bổn sư là Hoà thượng Thích Chánh Pháp, Trưởng tử của Hoà thượng Thích Tịnh Khiết - Đệ nhất Tăng thống tịch năm 1973 tại Huế.
Do thích tìm hiểu nghĩa lý kinh sách chữ Hán, lúc có nhiều thì giờ rảnh rỗi, anh đã xin quý Thầy dịch ra Việt ngữ và phân tích ý nghĩa các bài kệ, bài sám, các phẩm kinh như kinh Phổ Môn của bộ Diệu Pháp Liên Hoa kinh. Anh thích văn của nhà văn Phật tử Võ Đình Cường qua tác phẩm Ánh đạo vàng, thích nghe và hát bài Sen trắng, dùng khẩu cầm để dạo thử bài Phật giáo Việt Nam của nhạc sĩ Phật tử Lê Cao Phan. Khoái nhất đối với anh là thổi khúc dạo đầu Trầm Hương Đốt của nhạc sĩ Bửu Bác làm cho các chúng điệu cười khúc khích.
Anh đã để lại trong ký ức của quý Thầy những hình ảnh hồn nhiên và mến đạo của một thư sinh (tuổi 16,17,18). Mẹ anh, một Phật tử thuần thành, đã phát tâm đi cúng dường các chùa Huế trong dịp các lễ hội quanh năm. Bà đã cúng dường cho Thầy Bổn sư một chiếc xe đạp đầm mà khung xe bằng dura (hợp kim nhôm) hiệu MERCIER của Pháp. Thời ấy xe này có giá, vừa quý lại vừa sang.
Người nào phát nguyện tín ngưỡng đạo Phật xin thọ phép Tam quy trước Tam Bảo mới được gọi là tín đồ đạo Phật. Bác sĩ Lê Đình Thám (1897 - 1969), nhà nghiên cứu Phật học, nguyên Hội trưởng Hội An Nam Phật học, đã nói và viết giống nhau về ý nghĩa của việc qui y một cách bình dị và dễ hiểu.
Pháp danh là “tên” của người đã qui y Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng). Pháp danh của các người trong gia đình anh đều bắt đầu bằng chữ “Nguyên”, lấy từ chữ Nguyên trong bài kệ của Tổ Liễu Quán, khai sơn chùa Thiên Thai, nay là chùa Thuyền Tôn Huế, nơi đây bà con bên ngoại anh đã qui y.
Bốn câu đầu bài kệ bằng chữ Hán như sau:
Thiệt Tế Đại Đạo
Tánh Hải Thanh Trừng
Tâm Nguyên Quảng Nhuận
Đức Bổn Từ Phong
Chữ thứ hai của Pháp danh có thể lấy nghĩa lý từ tên của người xin qui y. Anh tên Sơn cho nên Thầy cho Pháp danh: Nguyên Thọ. Người phương Đông đặt tên cho con cháu thường hay chọn lựa bằng cách dùng tích, dùng điển. Người trí tuệ thì thích cảnh núi non hùng vĩ và những cầu mong:
Phúc Như Đông Hải
Thọ Tỷ Nam Sơn
Bổn sư của anh đã cầu nguyện cho anh sau này sớm thoát áo thư sinh nên danh nên phận. Cũng theo phép đặt pháp danh khác, tên cụ thân sinh của anh là Thanh thì được bổn sư cho pháp danh: Nguyên Bình, bà thân mẫu tên Quỳnh thì có pháp danh là Nguyên Hoa.
Anh Sơn ơi, còn những gì tôi được biết về anh tôi sẽ ghi lại sau, mặc dầu anh với tôi chưa hề quen nhau và trong đời tôi chưa hề một lần được vinh dự bắt tay anh.
Một nén hương lòng, xin gởi lạy hương linh anh, nhớ lời anh đã viết:
Sống trong đời sống
Cần có một tấm lòng
Để làm gì em biết không?
Để gió cuốn đi
Để gió cuốn đi.
Nôm na ghi lại chuyện người, còn thiên khảo luận xin chờ nay mai.
Huế, ngày 10 tháng 6 năm 2001
LÊ QUANG THÁI
Nguồn: Tạp Chí Sông Hương số 149 - 07 - 2001
READ MORE - LÊ QUANG THÁI - BỂ DÂU MÀ KHÔNG BỂ ĐÂU ANH

Saturday, March 5, 2011

LÊ THỊ MÂY - NGÀY CHO EM HY VỌNG



Khi tất thảy hồn nhiên như cây cỏ
Em biết mình đang đến được ngày vui
Ta có nhau có cay đắng ngọt bùi
Tuổi thơ em có anh mà vỗ sóng
Mây cổ tích bay từ đâu xa lắm
Em ngắm mình trên gương mặt đời anh.

Mới hôm qua những yếu đuối dễ thường
Anh chẳng kể nhẹ như làng sương khói
Trước ngày cả anh nồng nhiệt yêu thương
Anh trả cho em gì em mất dọc đường
Vừa độ lượng vừa bao dung che chở
Em có anh em biết non như cỏ
Bao tháng ngày yêu đất gặp trời xanh.

Gì em mang vất vả anh dỗ dành
Em để lại như đôi giày rách củ
Khi em khát cốc nước trong anh đỡ
Khi em buồn anh hát chỉ em nghe
Ánh mắt anh tâm hồn em rung động
Bao bè trầm bến hẳm cuộc đời xa.

Gì mất đi nhưng chẳng thể đi qua
Mưa trong nắng là khóc vì hạnh phúc
Khi trong bão nắng ngời lên chói mắt
Chính trong anh năm tháng mặc hoàng hôn
Không gì cưỡng cũng không gì tắt nổi
Anh trầm tĩnh cho khi em hờn dỗi
Nhận rõ chung quanh bàn ghế cũng có hồn
Lòng nhân ái thi sĩ trước thời gian .

Khi tất cả hồn nhiên như cây cỏ
Em biết ngày vui hy vọng về gần
Mây cổ tích với lời ru của mẹ
Khoác dịu dàng màu áo cưới cho em
Em sẽ làm dâu mẹ sẽ đón lên thềm
Em ngoái lại nắng cuối ngày con gái
Hóa tình yêu không tuổi nắng bình lên.

L.T.M
READ MORE - LÊ THỊ MÂY - NGÀY CHO EM HY VỌNG

Friday, March 4, 2011

LÊ BÁ LƯ - Quán cơm chay Thiện Tâm đã gợi mở "tâm thiện" cho nhiều người




Nằm bên bờ kênh Nhiêu Lộc, phía sau ngôi chùa Chăntagăngsây (thường gọi chùa Miên), gần cầu Lê Văn Sĩ, thuộc phường 7, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh, quán cơm chay miễn phí Thiện Tâm do bác Lê Công Thượng, mọi người quen gọi là “thầy Sáu địa lý" làm chủ, đã tồn tại đến nay gần 4 năm. Đúng như tên của quán, Thiện Tâm đã gợi mở “tâm thiện” và làm lan tỏa lòng nhân ái cho nhiều người.

Vào những ngày lẻ hàng tuần, thứ 3, thứ 5 và thứ 7, từ khoảng 10 giờ đến 12 giờ, bất kỳ ai đó gặp hoàn cảnh khó khăn, bụng đói mà không có tiền trong túi, thì hãy đến quán cơm chay Thiện Tâm. Quán sẵn sàng phục vụ miễn phí tất cả mọi người, nhưng hầu hết khách đến ăn là những người nghèo, có hoàn cảnh khó khăn: em đánh giày, anh đạp xích lô, chị bán vé số, người tàn tật, ăn xin, công nhân, sinh viên, học sinh…đều được phục vụ như nhau: phần cơm gồm món mặn, món xào và món canh; khẩu phần không hạn chế và còn tráng miệng thêm một trái chuối. Ai muốn mang thêm phần về nhà cũng được đáp ứng. Khách đến tự lấy chén dĩa, muỗng nĩa để sẵn, đưa cho bộ phận phục vụ xới cơm và lấy thức ăn, xới nhiều hay ít theo sức ăn yêu cầu của khách. Nếu ai ăn khỏe thì cứ làm luôn 2, 3 dĩa. Nhận cơm xong, mọi người tự tìm chỗ ngồi là những dãy bèn ghế kê sẵn dọc theo con hẻm. Lúc quá đông, không còn chỗ ngồi thì đứng ăn. Ăn xong có bình trà đá kê sẵn, tự phục vụ thoải mái. Đáng chú ý, là lượng khách mỗi ngày khoảng 450 người, nhưng ở đây mọi thứ đều sạch sẽ, tươm tất. Khách đến có khi mang theo chiếc xe ba gác đang hành nghề, xe đạp chở đầy hàng ve chai; có người còn bồng bế theo hai, ba đứa bé rách rưới, người thì nước da tái xanh, bệnh tật, ốm yếu, hom hem, lôi thôi lếch thếch…, nhưng quán ăn luôn trật tự, ngăn nắp, bởi ai cũng được đối xử bình đẳng, hòa nhã, với tinh thần thiện nguyện, đúng như cái cái tên Thiện Tâm- phương châm hoạt động của quán…

Xới nhiều hay ít tùy theo yêu cầu sức ăn của khách



Bác Lê Công Thượng, năm nay 72 tuổi cho biết, đội ngũ phục vụ của quán khoảng 20 người, thuộc nhiều thành phần, nghề nghiệp trong xã hội, có người đang làm việc ở cơ quan nhà nước, có người chạy xe ôm, có người đang đi học và có người đang thất nghiệp…Họ tự sắp xếp thời gian để có thể đến đây cùng góp sức, góp công cùng chủ quán giúp đỡ người nghèo khó. Theo sự phân công của “thầy Sáu”, có người đã đến quán từ 4 giờ sáng để đi chợ, rồi về gọt bí, nhặt rau, đong gạo…chuẩn bị cho việc nấu nướng bắt đầu từ lức 7 giờ 30 sáng. Khoảng 9 giờ, bộ phận xới cơm, sắp đặt thức ăn, chén dĩa, bàn ghế …có mặt. Mọi công việc được hoàn tất trước 9 giờ 30 phút để sẵn sàng phục vụ.

Khi được hỏi về động cơ và kinh phí hoạt động, bác Thượng cho biết, quán được mở ra từ ngày 24/6/2007, kinh phí hoạt động do gia đình bác và một người bạn vong niên của bác, là anh Nguyễn Tấn Thịnh, 40 tuổi, một doanh nhân và là một nhà hảo tâm ở quận Gò Vấp đóng góp. Bác Thượng tâm sự, mặc dù làm từ thiện, nhưng trong thời gian mới thành lập, quán cũng gặp một số trở ngại, bởi có người còn hồ nghi, sợ đằng sau việc làm từ thiện có ý đồ gì khác!. Tuy nhiên, bác chẳng bao giờ phân trần, biện bạch, theo như lời Phật dạy “Oan khiên không cần biện bạch”, cứ tâm thẳng, lòng ngay mà làm; lấy sự giúp đỡ, cứu khổ con người làm cứu cánh và an lạc cho bản thân mình. Bác Thượng cũng vui vẻ cho biết, quán cơm Thiện Tâm cũng đã được chính quyền địa phương quan tâm hỗ trợ và nhiều người đã đến động viên, ủng hộ vật chất, và tinh thần, chia sẻ với bác những việc làm từ thiện và thiết thực cho xã hội.




Khách hầu hết là thành phần nghèo khổ trong xã hội




Ăn xong tự rửa bát



Bình trà đá kê sẵn....



Một cán bộ của UBND phường 7 cho biết, quán cơm chay Thiện Tâm, ngoài phục vụ bữa ăn trưa miễn phí cho mọi người, còn giúp đỡ nhiều trường hợp khó khăn, như tặng xe lăn cho người tàn tật; xe ba gác, xe gắn máy cho những người còn sức lao động nhưng không có phương tiện làm ăn; tặng xe đạp cho sinh viên, học sinh nghèo…và những trường hợp cơ nhỡ, ốm đau, cơ cực tại địa phương đều được chủ quán cơm Thiện Tâm quan tâm giúp đỡ.



Bác Lê Công Thượng - chủ quán và anh Nguyễn Tấn Thịnh -mạnh thường quân của quán.(đứng thứ 3 và 4 từ trái qua)




Nhiều người đã đến ủng hộ và chia sẻ việc làm từ thiện với chủ quán





Chủ quán cơm Thiện Tâm và tác giả



Tim hiểu thêm về hoạt động của của “thầy Sáu địa lý”, tôi phát hiện thêm nhiều điều thú vị, là ngoài mở quán cơm miễn phí giúp đỡ người nghèo. “thầy Sáu” còn làm nhiều việc hữu ích cho xã hội. Ông là một người đã thu phục nhiều “đại ca”; giác ngộ nhiều thành phần bất hảo trong xã hội “cải tà quy chính”. Bằng những việc làm thiết thực cũng như những lời dạy bảo, khuyên răn chí lý, chí tình của “thầy Sáu”, nhiều tay “anh chị” khu vực chùa Miên, trong đó có những người đi cai nghiện trở về không có việc làm; những tay đâm thuê chém mướn, chuyên gây rối trật tự xã hội địa phương, đã từng vào tù ra tội…, như “Sóc Đen”, “Tám búa”, “Hải heo”, “Hùng gà”…đã trở về cuộc sống hiền lương, trở thành công dân hữu ích cho xã hội.

Trò chuyện với Trịnh Hoàng Vũ, một thanh niên 32 tuổi, phụ trách giữ xe và sắp xếp trật tự cho quán cơm Thiện Tâm, dáng vẻ phong trần nhưng Vũ có nụ cười hòa nhã, luôn làm hài lòng mọi người. Ai có ngờ trước đây “Vũ chùa Miên” là một tay giang hồ khét tiếng, “đại ca của các đại ca” ở địa bàn quận 3. Vũ bộc bạch với tôi: “Nhờ thầy Sáu khuyên răn, dạy bảo, mà em đã “gác kiếm giang hồ”. Thầy Sáu đã làm nhiều việc quá tốt khiến em tâm phục khẩu phục, và ngộ ra rằng con người cần phải có lương tâm và lòng từ thiện thì cuộc sống mới có ý nghĩa và bình yên, hạnh phúc…”.

Anh Đào Công Thức, cảnh sát khu vực phường 7, quận 3 cho biết, từ lúc có quán cơm Thiện Tâm hoạt động, đến nay đã gần 4 năm, hầu như những việc làm từ thiện của bác Thượng đã có sức lan tỏa đến nhiều người, tình hình an ninh trật tự xã hội địa bàn đã tốt hơn rất nhiều. Chính quyền địa phương đánh giá rất cao những đóng góp và công lao của chủ quán, đã góp phần mang lại sự bình yên, hạnh phúc cho người dân./.



Lê Bá Lư (TTXVN)
READ MORE - LÊ BÁ LƯ - Quán cơm chay Thiện Tâm đã gợi mở "tâm thiện" cho nhiều người

Saturday, February 26, 2011

TRƯƠNG HUỲNH NHƯ TRÂN – CHÙM THƠ

Trương Huỳnh Như Trân - con gái của Trương Đình Tuấn


MẤY THUỞ


Thôi đừng níu giữ mùa đau

Mấy mùa trăng đã bạc nhàu tình xa

Áo thơm mấy thuở lụa là

Em về giữ lấy, kiêu sa giữa đời

Nhọc nhằn đếm giọt buồn rơi

Đò đưa mấy khúc lý lơi duyên mình

Cũng đành tình dại rêu xanh

Bỏ quên câu hát tơ mành bên sông

Thì thôi mây cứ phiêu bồng

Thì thôi gió cũng ngược lòng sang ngang

Chút tình neo lại hư không

Trắng tay một độ tình mong manh tình



VỀ


Tôi về níu mảnh ấu thơ

Vấp hòn đá nhỏ nghe ngờ nghệch đau

Trong veo là nước qua cầu

Xòe tay chỉ thấy vụn màu thời gian

Về ngang qua những mùa màng

Thấy con châu chấu vuốt càng dưới mưa

Vắng con chim hót giữa mùa

Độ từ di trú vẫn chưa quay về

Nắng vàng trải dọc lối quê

Tôi đi về giữa bộn bề nhớ quên

Chân trần đã mỏi hồn nhiên

Gió lùa tóc rối phía nghiêng nghiêng chiều



GIẤC QUÊ


Tôi về với nắng quê hương

Đếm bông lúa trổ ngọt vàng mùa em

Đôi bờ in dấu chân quen

Tôi tìm tôi phía nghiêng nghiêng mắt chiều

Tôi về nghe khúc thương yêu

Nối thêm tình để cánh diều thong dong

Mùi rơm rạ ngái thinh không

Hồn quê đã đượm bên lòng gió sương

Tôi về treo giấc tình tang

Cuốc nông phu xới vỡ hoang đất hiền



ĐA ĐOAN


Từ anh tình chẳng ngọn ngành

Từ em se sắt thương mình đa đoan

Chữ tình mắc cạn trăm năm

Em về ru giấc mơ ngoan buổi này

Từ anh tình chẳng ngọn ngành

Từ em thưa thốt đã thành dư âm

Nắng xưa qua phố tần ngần

Dừng chân bên dốc nghe vàng mùa thương


T.H.N.T


Nguồn: truonghuynh.vnweblogs.com




ĐỌC THÊM

NHUTRAN.VNWEBLOGS.COM
READ MORE - TRƯƠNG HUỲNH NHƯ TRÂN – CHÙM THƠ

VÕ THỊ NHƯ MAI – THÁNG HAI CỦA BÉ

Cháu gái của Như Mai


tháng hai cài lên tường đoá hoa đỏ tươi

trong chiếc phong thư tình yêu mẹ ba chứa chan

và đôi mắt tròn xoe thơ ngây của bé

đôi mắt long lanh tuổi lên năm

của thảo nguyên mênh mông

của cánh đồng lúa chín

một góc quê hương ngời ngợi phía chân trời

vì sao hôm lặng thầm làm ngọn đuốc thắp sáng

duỗi mình thảnh thơi

sự sống bắt đầu

khi mầm cây nhoài ra khỏi tuyết

khi đôi môi bé xinh chúm chím cười trác tuyệt

khi bé mở lời bằng tiếng Việt rất chuẩn - trong veo

những hòn cuội lăn từng viên vào đáy trái tim

thánh thót dõi theo

ôi tháng hai đong đưa mật ngọt

lúa thơm phủ kín cánh đồng

tiếng suối reo vui thong thả một tấm lòng

hồn của gió lãng vân bay bổng

bao âm điệu khi bình thường chẳng hề lay động

chợt vọng về lồng lộng trước bình minh

bản nhạc ngân vang từ đoá hoa đỏ thắm đẹp xinh

trong chiếc phong thư trên tường thanh thoát

tiễn tháng hai ra đi khi ngôi sao băng bay qua đỉnh đầu

đêm thâu thì thào điều ước . . .


vtnm

25/2/2011



READ MORE - VÕ THỊ NHƯ MAI – THÁNG HAI CỦA BÉ

Friday, February 25, 2011

PHAN LUẬN - KÝ ỨC VỀ CHA



Đầu tiên, cha là một nông dân

Đôi bàn tay chai lỳ thô ráp

Dáng liêu xiêu sau đường cày thẳng tắp

Tôi theo sau nhặt con dế con giun

Roi tre giơ cao nhưng ít lần đánh vào lưng bò

Với con chưa một lần la mắng

Hình như đường cày lật nghiêng và mồ hôi thắm mặn

Cho ta nhận ra mình


Cha là thợ may thủ công lão luyện

Đều đều mũi chỉ đường kim

Ấn tượng nhất là mỗi lần rách áo

Miếng vá đắp lên lấp loáng mùa màng

Cha mặc áo vá tự may, đi guốc mộc tự đóng

Chiếc gối săng khuyết võng mảnh trăng gầy

Việc họ việc làng đêm ngày nghiên bút

Dâng sớ thành hoàng ngút ngát hương bay

Nét chữ thẳng đưa lên sổ xuống

Học lõm nhì nhằng mấy chữ Trung-Nhân

Cán bộ về làng sau kháng chiến

Chào thầy! hai bóng xế ngó trân trân


Chiến tranh nhiều thứ không còn

Bảy lần dời nhà

Hai lần tù ở

Gia tài cha là cuốn gia phả

Đựng trong ống tre ngà chưa một lần tổn thương

Tuổi xế chiều cha thầm nguyện ước

Thanh thản ra đi ngỡ con cháu bớt nhọc nhằn

Có bao giờ cha kêu đau kêu khổ

Tháng bảy về con ray rứt ăn năn.

P.L

READ MORE - PHAN LUẬN - KÝ ỨC VỀ CHA

Thursday, February 24, 2011

CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM – LINH ĐÀN sưu tầm

Làng Mai Xá


Rú Cấm Hà Trung xeng ngát ngát
Đôộng cát Nhĩ Thượng trắng phau phau
Cơm keng một dịa mắm tràu
Đố ai cưới được o Giàu ôông Sang
Bán mua mấy rổ khoai lang
Chạy từ chợ Bạn - chạy sang chợ Cầu
Mạ ơi ! Quan Phó đòi hầu
Mau may áo mới, xức dzầu* cho thơm
Đứa thì cấy dzũi, cấy nơm
Đứa thì trèng sáo vô đơm Chợ Nò
Trèo lên côi núi U Bò
Ngó về Cẩm Phổ mấy o kén chồng
O Chút, O Thí đã xong
Lại thêm O Éc mà long nao nao
Lội lên lội xuống Xóm Rào
O nào cũng chảu, ả nào cũng hay
Cấy mồm cho chí cấy tay
Đi cuốc đi cày nỏ sợ chi ai
Đêm đêm mấy chú choai choai
Chuyện chi rình rập ngồi hoài sau nương
Có chú lộn cổ xuống mương
Có chú nằm rường thiên hạ tới coi
Kể từ ngày sáo chẹp (dẹp) mẹng oi
Đi chưa đến nơi chợ đã sèm méng ngon
Béng ướt cho chí béng đòn
Lại hàng béng đúc ăn ngon ả hè
Ăn rồi ngồi thở è è
Chộ hàng mít chín cũng đè mua thêm
Tưởng mà dư rứa là êm
Về dà eng hắn cũng đêm đêm tính lần
Mạ mi đừng nói lần hân
Chơ cua rạm mấy một giần ba mươi
Mạ mi nói thiệt, nói cười
Cua rạm rẻ thể nớ, e thôi mần nghề
Cua miềng cua trớng cua dzèm
Mỗi con hai rượi ai sèm nấy mua
Năm ni sắn mắt gạo thua
Người ta lo lấy bựa, chơ ai lo chi cua với càng
Cua rạm mỗi trự mỗi tràng
Chơ eng mi tưởng dư ở dà cục vàng lưu ly.

Tác giả Nguyễn Đình Kiện 1897 - 1989, quê Lan Đình, Gio Linh

READ MORE - CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM – LINH ĐÀN sưu tầm

Wednesday, February 23, 2011

MẠNH CƯỜNG - ĐỘC ĐÁO NHẠC CỤ "SÁO KHUI" CỦA NGƯỜI VÂN KIỀU


Nghệ nhân Pă Khăm đang thổi điệu Xa Nớt trong ngày cưới con trai.

Sáo Khui là một loại nhạc cụ trong bộ nhạc khí thổi của người dân tộc Vân Kiều. Chiếc sáo này đã tồn tại và gắn bó bao đời nay trong tập quán sinh hoạt của người dân tộc Vân Kiều - huyện Đakrông và huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị. Sáo Khui được sử dụng rất nhiều trong các lễ hội như: Ra Pựt, Tức A Bôn, đám cưới…
Trầm lắng… Sáo Khui!
Tiếng Sáo Khui và điệu Xa Nớt là nét văn hóa đặc trưng nhất của người Vân Kiều. Từ khi có mặt trên đời, Sáo Khui đã rất "kén" người dùng. Nó chỉ dành cho các bậc trung niên sử dụng và đặc biệt là chỉ dành riêng cho đàn ông.
Khác với các loại sáo khác thường dùng cho các đôi nam nữ bày tỏ tình yêu, hò hẹn trao tình… Sáo Khui thổi lên để kể lại một câu chuyện nào đó. Âm thanh trầm lắng của tiếng sáo làm cho người nghe khi có cảm giác buồn man mác, khi lại thấy vui vui.
Với điệu Xa Nớt, thông thường người thổi Sáo Khui chia làm hai nhóm; hai người thổi sáo là hai người đứng đầu của tốp diễn mỗi khi người bên này thổi lên thì những người ngồi xung quanh cùng hò theo, sau đó lại đổi qua người bên kia thổi (như hò đối đáp). Tiếng sáo cất lên làm réo rắt lòng người, làm cỏ cây, núi rừng phải động lòng thức tỉnh.
Trong lễ Ra Pựt, với điệu Xa Nớt là khi con cháu được nghe kể lại những truyền thống của ông bà tổ tiên dòng họ mình, qua đây giúp con cháu hiểu được truyền thống của gia đình mình, đồng thời nói rõ tình cảm gắn bó máu thịt giữa anh chị em trong dòng họ nội-ngoại (còn gọi Khơi Cù Za).
Còn với đám cưới, Sáo Khui khi cất lên cùng điệu Xa Nớt lại để gia đình hai bên dặn dò con cái của mình. Đó là phải yêu thương đùm bọc, bảo ban nhau trong cuộc sống, ăn ở với nhau đến đầu bạc răng long… chính vì những lẽ đó mà đối với người Vân Kiều tiếng Sáo Khui rất thiêng liêng và hệ trọng.


Trong các gia đình dòng họ có xảy ra xích mích, khi tiếng sáo này cất lên cùng với những điệu Xa Nớt của những bậc cao niên trong làng, bản thì coi như mọi mâu thuẫn đó được tháo gỡ, giải hoà.
Thêm một nét độc đáo nữa của Sáo Khui đó là khi người thổi sáo tìm được cho mình những bạn Xa Nớt tốt (hò đối đáp tốt) thì họ có thể ngồi lại chơi với nhau, hát đáp mấy ngày liền không chán. Ngày trước hầu hết đàn ông người Vân Kiều đều thổi được Sáo Khui.
Không chỉ sử dụng lúc đông người hay trong các lễ hội, ngày nay Sáo Khui còn trở thành người bạn trong những lúc mưa gió không lên rẫy của các vị trung niên. Tuy nhiên, theo thời gian, số người biết sử dụng loại sáo này đang ít dần và đó cũng nỗi lo của những vị già làng, của những nghệ nhân còn sót lại…
Những nhạc cụ nghệ nhân Pă Khăm kỳ công sưu tầm, cất giữ.
Sáo Khui - nét văn hóa cần được gìn giữ và phát triển
Để được nghe, được thấy và đặc biệt là để hiểu rõ hơn về ý nghĩa của Sáo Khui, chúng tôi đã tìm gặp nghệ nhân Pă Khăm ở thôn Kalu huyện Đakrông - một trong số ít người còn biết làm và sử dụng loại nhạc cụ này. Thật ngạc nhiên giữa chốn núi rừng bạt ngàn, trên vách của nhà sàn, Pă Khăm nâng niu cất giữ không chỉ Sáo Khui, mà còn có nguyên cả một bộ cồng chiêng, trống, đàn nguyệt, tỳ bà, khèn, nhị…
Pă Khăm cho biết: Để có được một chiếc Sáo Khui như ý mất rất nhiều công đoạn. Sáo Khui được làm từ nứa Lồ Ô lấy tận trong rừng sâu. Công đoạn tìm và chặt nứa rất quan trọng. Đầu tiên phải lùng tìm cho được những cây nứa già có ống dài, thân lại không quá dày để âm thanh phát ra được hay. Thứ hai, khi nhắm thấy cây có thể dùng để làm sáo thì phải đợi chọn ngày, thường là ngày trăng sáng (15 - 16) trong tháng để chặt cây. Thứ ba, trước khi chặt những người này phải hò một bài - với quan niệm là hò như vậy khi làm ra sáo sẽ có âm thanh hay hơn…
Khi chặt nứa về, người ta gọt và đem phơi trên bếp lửa 1 đến 2 tháng, khi đã thật khô mới làm những công đoạn tiếp theo. Sau khi phơi khô trên dàn bếp, người ta dùng dùi sắt nung đỏ để khoét lỗ, đây cũng là một trong những thao tác khó vì nó cũng góp phần tạo nên âm thanh chuẩn.
Ban sơ, Sáo Khui chỉ dành riêng cho các bậc trung niên sử dụng bởi lẽ đến mùa lúa chín các bậc này phải lên rẫy để trông; ngồi buồn nhiều khi mưa rả rích không biết làm gì họ đã tìm những ống nứa khoét lỗ thổi cho vui. Càng về sau họ phát hiện thấy âm thanh phát ra hay lại vang xa, đỡ buồn, người ở bên rẫy bên này có thể thổi tâm sự cho người ở bên rẫy bên kia và ngược lại… vì thế họ chuyện trò với nhau bằng tiếng sáo. Cũng từ đó Sáo Khui ra đời và trở nên phổ biến, nó tồn tại với đời sống sinh hoạt văn hoá của người dân tộc Vân Kiều.
Có thể nói rằng loại nhạc cụ này đã trở thành nét văn hoá đặc trưng của người Vân Kiều. Tuy nhiên trên thực tế ngày nay đã không còn nhiều người biết sử dụng loại nhạc cụ này. Nghệ nhân Pă Khăm tâm sự: "Hiện nay, người biết làm và sử dụng hay nhạc cụ này ở thôn bản chỉ độ vài người nữa mà thôi. Sợ mai này những người như tui không còn thì cũng mất đi nét văn hóa của dân tộc mình nên tui đã tập hợp thành một đội văn nghệ 20 người...”.
Quả thật theo thời gian giá trị văn hoá đang ngày một bị ảnh hưởng bởi các hình thức bảo tồn. Lớp già sẽ ra đi liệu những nét văn hóa đó có còn?... Thiết nghĩ đã đến lúc các cơ quan chức năng cần có những chính sách hỗ trợ hợp lý, kịp thời để bảo tồn các loại nhạc cụ như Sáo Khui, đồng thời xây dựng một đội ngũ kế cận để truyền lại tránh mai một dần nét đẹp văn hóa của người Vân Kiều…!
Mạnh Cường (CAND)
READ MORE - MẠNH CƯỜNG - ĐỘC ĐÁO NHẠC CỤ "SÁO KHUI" CỦA NGƯỜI VÂN KIỀU