"Con tinh yêu thương"TRANG THUẦN TÚY VĂN HỌC NGHỆ THUẬT CỦA NGƯỜI QUẢNG TRỊ VÀ NGƯỜI YÊU MẾN QUẢNG TRỊ.
Chúc Mừng Năm Mới
Sunday, March 13, 2011
HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG - MỘT CÕI TRỊNH CÔNG SƠN (I)
"Con tinh yêu thương"Monday, March 7, 2011
NGUYỄN HOÀN - CON NGƯỜI MINH TRIẾT TRONG NHẠC TRỊNH CÔNG SƠN
Trịnh Công Sơn và Dao Ánh, 1998Sức hấp dẫn của thế giới nghệ thuật Trịnh Công Sơn chính là sức hấp dẫn của con người minh triết được xưng tụng, nâng niu và “phát sáng” ở trong đó.
*Minh triết của con người ấu thơ, của “nhân chi sơ”
Con người minh triết trong nhạc Trịnh trước hết là một con người thuần khiết, chưa hề “vướng bụi trần”, đó là con người thuở ấu thơ, thuở “nhân chi sơ” vui sống hồn nhiên, yêu thương thật lòng: “Ngày xưa khi còn bé, tôi yêu quá cuộc đời, tôi yêu thương loài người, ngồi vẽ lấy tương lai” (Ngày nay không còn bé), “Hôm nay tôi nghe tôi cười như đứa bé, mới lớn lên giữa đời sống kia. Tôi thấy màu xanh hát trong lời gió và thấy bình minh thắp trên ngọn lá. Tôi thấy ngày thật lạ, xao xuyến từng nỗi nhớ, cho nên tôi yêu trái tim không nặng nề những con tim bạn bè bao la” (Hôm nay tôi nghe).
Sự minh triết của con người thuở ấu thơ, thuở đầu đời trong nhạc Trịnh có gốc rễ từ trong minh triết phương Đông. Mạnh tử từng đề ra thuyết tính thiện nổi tiếng: “Nhân chi sơ, tính bổn thiện” (Người ta lúc bắt đầu có sự sống, tính vốn thiện). Mạnh tử bảo: “Bậc có đức lớn vẫn giữ được lòng mình khi mới sinh ra” (Đại nhân bất thất kỳ xích tử chi tâm - Li Lâu hạ, bài 12) (1). Các bậc hiền triết thường có những tư tưởng lớn gặp nhau. Trong tác phẩm “Đạo đức kinh”, Lão tử khẳng định: “Người nào có đức dày thì như con đỏ” (Hàm đức chi hậu, tỉ ư xích tử) (2). Nhưng tại sao người đời khi “lớn lên” không phải ai cũng giữ mãi được sự minh triết của “con đỏ” như các bậc có đức dày? Đó là vì cùng với sự lớn lên về trí năng thì trí xảo, cơ mưu có khi đi kèm là nguy cơ, là tai hoạ mà nhân loại xưa nay không phải bao giờ cũng biết cách phòng tránh, diệt trừ triệt để, hiệu quả. Lão tử trong “Đạo đức kinh” từng phân tích, cảnh báo về điều này: “Thời xưa, người khéo dùng đạo trị nước thì không làm cho dân khôn lanh cơ xảo, mà làm cho dân đôn hậu chất phác. Dân sở dĩ khó trị là vì nhiều trí mưu” (Cổ chi thiện vi đạo giả, phi dĩ minh dân, tương dĩ ngu chi. Dân chi nan trị, dĩ kỳ trí đa) (3), “Trí xảo xuất hiện rồi mới có trá nguỵ” (Trí tuệ xuất, hữu đại nguỵ) (4). Cùng chung mối ưu tư trĩu nặng tự nghìn xưa của các triết nhân, nhạc Trịnh đã soi chiếu, cảnh tỉnh về những mặt trái, mặt tối của lòng người: “Đời đã cho tôi một ngày, nhìn thấy gian manh loài người, từ đó tôi hằng biếng vui chơi” (Chỉ có ta trong một đời), “Những con mắt thù hận, cho ta đời lạnh căm…Những con mắt bạc tình, cháy tan ngày thần tiên” (Những con mắt trần gian). Bởi vậy, nhạc Trịnh mang nỗi tiếc nuối, ngậm ngùi da diết khi con người đã xa dần với thuở “nhân chi sơ”, thuở ấu thơ: “Ngày nay không còn bé, tôi quên sống thật thà, tôi đã không còn là, là hạnh phúc ngu ngơ. Ngày nay sao buồn thế, những sáng hay đêm về vẫn thấy rất ơ hờ, bình yên như kiếp đá. Ngày nay thôi đành nhé, tôi như đá nặng nề, trong giây phút tình cờ rớt xuống mịt mù” (Ngày nay không còn bé), “Ôi hư vô phong kín, tuổi thơ ngây mong manh” (Lời của dòng sông).
Trước vấn nạn “lớn lên” về trí xảo, con người phải tìm giải pháp gì, phương thuốc gì để chữa trị hữu hiệu? Lão tử khuyên nên quay về với đạo, cụ thể là quay về với cái gốc của đạo. Xuất phát từ khái niệm “đạo” được nêu lên trong “Đạo đức kinh”: “Đạo vĩnh viễn không có tên, nó chất phác” (Đạo thường vô danh, phác) (5), Lão tử đã đưa ra phép chữa trị là dùng cái “chất phác” này để ngăn chặn trí xảo: “Trong quá trình biến hoá, tư dục của vạn vật phát ra thì ta dùng cái mộc mạc vô danh (tức bản chất của đạo) mà trấn áp hiện tượng đó, khiến cho vạn vật không còn tư dục nữa” (Hoá nhi dục tác, ngô tương trấn chi dĩ vô danh chi phác. Phù diệc tương vô dục) (6). Do đó, Lão tử khuyên con người “trở về mộc mạc” (phục quy ư phác), “trở về trẻ thơ” (phục quy ư anh nhi) (7), tức là trở về với bản tính tự nhiên, chất phác ban đầu, chưa bị đánh mất. Trong nhạc Trịnh, con người có những lúc được “trở về trẻ thơ” như vậy, được tìm lại “thời gian đã mất”, được sống trọn vẹn với bản tính hồn nhiên nguyên sơ: “Nhiều khi bỗng như trẻ nhớ nhà” (Đêm thấy ta là thác đổ), “Tôi đã yêu em như trẻ thơ” (Trong nỗi đau tình cờ). Đời người ai chẳng từng có một tuổi thơ được chắp cánh mộng vút bay theo từng cánh diều vui: “Thằng bé xinh xinh ra đồng giữa ngọ, thả con diều nhỏ bay giữa mênh mông. Mênh mông là trời bầu trời mênh mông. Mênh mông lòng người lòng người mênh mông. Mênh mông nụ cười rạng ngời tim non. Tim non rạng ngời” (Ra đồng giữa ngọ). Cánh diều trong nhạc Trịnh tan trong cội nguồn hay chính đó là giấc mơ được tái sinh trở lại của con người với cội nguồn uyên nguyên, cội nguồn minh triết của vũ trụ, của Đạo Trời: “Thằng bé xinh xinh ra đồng giữa ngọ, ngờ đâu hội ngộ tan giữa hư không. Tan trong trời hồng làm giọt mưa trong. Tan trong cuộc đời làm lời ru trong. Tan trong nụ cười gọi mời yêu thương. Tan trong cội nguồn” (Ra đồng giữa ngọ). Quả là như thế, vì Trịnh Công Sơn đã từng viết khi nhớ đến cõi “Thiên Thai” của Văn Cao: “Trên cánh đồng ca khúc, tôi như một đứa bé ước mơ mặt trời là con diều giấy thả chơi” (8).
“Trở về trẻ thơ” là phép màu để diệt trừ trí xảo, dối gian. Còn để diệt trừ phiền não, nhạc Trịnh có phép màu nào?
*Minh triết về giải thoát phiền não
Vì đứa trẻ trong nhạc Trịnh có khi là do người lớn hoá thân, nên khi đó, ở đứa trẻ này, sự hồn nhiên thơ trẻ đã dần nhường chỗ cho những suy tư nặng lòng về nhân thế và phận người: “Tôi như trẻ nhỏ, ngồi bên hiên nhà, chờ xem thế kỷ tàn phai. Tôi như trẻ nhỏ tìm nơi nương tựa, mà sao vẫn cứ lạc loài” (Tự tình khúc). Ngay cả tiếng khóc ban đầu thuở sơ sinh của đời người cũng được nhạc Trịnh nghiệm ra là tiếng ưu phiền, là “tin buồn”, là “phúc âm buồn”: “Trẻ thơ ơi, trẻ thơ ơi, tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người” (Gọi tên bốn mùa), “Tiếng khóc ban đầu, ban đầu còn đau, còn đau, còn đau” (Lời mẹ ru). Điều này, thuở trước, ở thế kỷ XVIII, nhà thơ Nguyễn Gia Thiều (1741-1798) qua tác phẩm “Cung oán ngâm khúc” đã từng nghiệm thấy:
“Thảo nào khi mới chôn nhau
Đã mang tiếng khóc ban đầu mà ra!”.
Vậy Trịnh Công Sơn không phải là người đầu tiên suy nghiệm về những phiền não của đời người bắt nguồn từ tiếng khóc lọt lòng. Nhưng Trịnh Công Sơn với dòng nhạc “hát kinh” về phận người đã miệt mài tìm cách hoá giải tiếng khóc, hoá giải phiền não. Đây là đóng góp độc đáo đã làm nên hiệu ứng nghệ thuật mạnh mẽ của nhạc Trịnh.
Trước hết, muốn hoá giải niềm đau, hoá giải phiền não thì không nên xa lánh nó mà phải sống với nó, “lắng nghe” nó, chịu đựng nó: “Đôi khi thấy trăm vết thương rồi như đá ngây ngô” (Rồi như đá ngây ngô), “Đôi khi ta lắng nghe ta, nghe sóng âm u dội vào đời buốt giá, hồn ta gió cát phù du bay về” (Tình xa), “Dưới vòng nôi mọc từng nấm mộ, dưới chân ngày cỏ xót xa đưa” (Cỏ xót xa đưa), “Với những cuộc tình bão tố lênh đênh, xin có một lần uống chén muộn phiền” (Vườn xưa), “Cho tôi đi qua tận gập ghềnh, nhìn dòng máu trong tim anh” (Xin cho tôi). Chịu đựng nỗi buồn, nỗi cô đơn da diết, chịu đựng cả nỗi chết đang “ăn lan” từng giờ vào đời người: “Tôi như mọi người mong ngày sẽ tới, nhưng khi về lại thu mình góc tối, trong tôi rụng đầy bao nhiêu nụ cười, có nói được gì những tiếng bi ai, có tiếng tù và hối thúc trong tim, có đếm từng giờ trong khi nằm bệnh, có nhớ vài lần những má môi xinh” (Bay đi thầm lặng). Con người minh triết trong nhạc Trịnh đã coi sống là một sự trải nghiệm như vậy, trong đó có trải nghiệm nỗi khổ, điều mà Phật giáo gọi là “khổ đế” - chân lý về sự khổ, chân lý thứ nhất trong bốn chân lý giác ngộ của Phật giáo (tứ diệu đế), điều mà triết học hiện sinh gọi là sự nghiệm sinh. Giá trị của sự trải nghiệm này được Trịnh Công Sơn nói đến trong bài viết “Hư vô”: “Hãy đau đớn đi. Biết đau nỗi đau của người khác và của chính mình là dấu hiệu của lòng nhân ái. Cái tín hiệu ấy phát đi và mọi người nhận được” (9). Và Trịnh Công Sơn khẳng định điều đã “ngộ” được: “Vì có khổ đau nên có âm nhạc” (“Để bắt đầu một hồi ức” - “Thế giới âm nhạc”, tháng 1/1997). Như vậy, khổ là một “động lực” của cuộc đời, một “động lực” của sáng tạo nghệ thuật, của thăng hoa, vấn đề là tìm cách chuyển hoá nó thành “động lực”.
Không thể giải thoát phiền não bằng cách xa lánh phiền não được, vậy làm sao chuyển hoá nó? Phật giáo Đại thừa khẳng định, phiền não tức bồ đề (bodhi, nghĩa là tỉnh thức, giác ngộ), phiền não tức là giác ngộ. Tại sao hai khái niệm đối nghịch nhau là “phiền não”, “giác ngộ” lại có gốc rễ liên quan với nhau? Theo nhà Phật, mầm của giải thoát mọc ngay trong sự phiền não. Bồ đề, giải thoát sẵn có nơi mỗi người, nhưng do phiền não dấy lên che khuất, khi ta an định được tâm của mình, làm cho phiền não lắng xuống, bồ đề, giải thoát sẽ xuất hiện. Như một ly nước đục, khi lọc hết chất bẩn, nước sẽ trong trở lại. Nhà Phật cho rằng sự giải thoát không phải từ nơi nào khác đến mà nó nằm ngay trong phiền não, nên mới nói phiền não tức là bồ đề. Tinh thần sống chung với phiền não, tìm cách chuyển hoá phiền não được Trịnh Công Sơn đề cập trong bài viết “Tin vào niềm tuyệt vọng”: “Phải chăng thở than cũng là niềm bí ẩn của con người”, “Hãy đi đến tận cùng của tuyệt vọng để thấy tuyệt vọng cũng đẹp như một bông hoa”, “Tôi đang yêu thương cuộc đời bằng nỗi lòng của tên tuyệt vọng”.
Trong nhạc Trịnh, ta bắt gặp không ít trạng huống sống chung với phiền não, lắng cặn phiền não để cho tâm hồn được giải thoát, thăng hoa. Này là cách thể nhập với hồn thiền của núi cao để nỗi buồn lắng xuống: “Một hôm buồn lên núi nằm xuống” (Tự tình khúc), lời hát gợi nhớ đến câu của triết gia Nietzsche: “Triết lý, đó là đời sống trong băng lạnh và trong núi cao”. Này là giọt nước mắt đau thương làm mềm chăn gối, làm lay động cỏ cây, hồn người: “Hãy khóc hãy khóc đi em, hãy khóc hãy khóc đi em, dòng nước mắt sẽ bay trong trời, làm cơn mưa rớt trên chăn gối, lời cỏ cây hát trên da người” (Hãy khóc đi em). Này là trái tim biết chữa lành vết thương để tấu nên khúc nhạc dâng đời: “Trong trái tim con chim đau nằm yên, ngủ dài lâu mang theo vết thương sâu, một sớm mai chim bay đi triền miên, và tiếng hót tan trong trời gió lên” (Để gió cuốn đi). Và như thế, xuất hiện với tần suất dày đặc trong nhạc Trịnh là các trạng huống giải thoát nằm trong phiền não, niềm vui mọc cánh từ trong nỗi buồn, tình yêu, tình người nảy nở từ trong đau thương, cuộc chơi vút lên từ hữu hạn và nghiệt ngã của thời gian, của phận người: “Hãy yêu ngày tới dù quá mệt kiếp người. Còn cuộc đời ta cứ vui, dù vắng bóng ai, dù vắng bóng ai” (Để gió cuốn đi), “Hãy cứ vui chơi cuộc đời, dù ngày mai em như chim bay, bỏ quên đây một người, hát bên trời gian dối, dù ta như con đường dài vắng người. Hãy cứ vui như mọi ngày, nhìn người đi như mây vô danh, dù chân xưa dặm nghìn, vẫn như còn thấp thoáng, dù trong ta đêm thì thầm tiếng buồn” (Hãy cứ vui như mọi ngày), “Đêm ta nằm bóng tối che ngang, đêm ta nằm nghe tiếng trăm năm gọi thì thầm, gọi thì thầm, gọi thì thầm. Đêm nghe trời như hú như than, ta nghe đời như có như không, còn lại mình đời bồng bềnh, đời buồn tênh. Còn đây có bao ngày, còn ta cứ vui chơi, rồi mai sẽ ra đi, dù nhớ thương con người. Còn đây những đêm này, còn em hãy yêu tôi, đời đốt nến chia phôi, dù nhớ thương cũng hoài” (Còn có bao ngày), “Hãy yêu nhau đi quên ngày u tối, dù vẫn biết mai đây xa lìa thế giới, mặt đất đã cho ta những ngày vui với, hãy nhìn vào mặt người lần cuối trong đời” (Hãy yêu nhau đi), “Ru đời đi nhé, cho ta nương nhờ lúc thở than” (Ru đời đi nhé), “Dù còn phút cuối, xin em nụ cười” (Vẫn nhớ cuộc đời), “Những con mắt trần gian, xin nguôi vết nhục nhằn, những con mắt muộn phiền, xin cấy lại niềm tin” (Những con mắt trần gian).
*Minh triết của thiền
Nhạc Trịnh thấm đẫm chất thiền cả trong giai điệu lẫn ca từ. Một trong những sức mạnh nghệ thuật của nhạc Trịnh là đã tạo nên hình tượng người thiền minh triết.
Người thiền nhìn đời bằng con mắt thiền. Con mắt thiền không nhìn đời theo lối phân chia “nhị nguyên”: âm / dương, có / không, được / mất, buồn / vui, yêu thương / thú dữ: “Con mắt còn lại nhìn một thành hai, nhìn em yêu thương nhìn em thú dữ. Con mắt còn lại ngờ vực tình tôi cuồng điên yêu thương cuồng điên nỗi nhớ” (Con mắt còn lại). Con mắt thiền nhìn theo phép “nhất nguyên”, nói theo ngôn ngữ nhà Phật là “pháp bất nhị” (Atvatya - không hai), nói theo ngôn ngữ triết học là nhìn thấy “hai mặt của một vấn đề”, nói theo ngôn ngữ đời thường là nhìn thấy “hai trong một”. Dưới cái nhìn minh triết của thiền cũng như minh triết của phương Đông, trong âm có dương, trong dương có âm, trong phúc có hoạ, trong hoạ có phúc, trong mùa đông có chồi lộc tiềm tàng của mùa xuân, trong nỗi buồn có mầm mống của niềm vui. Vì thế nên Trịnh Công Sơn đã viết: “Buồn vui kia là một” (Nguyệt ca).
Người thiền minh triết trong nhạc Trịnh vượt lên lối phân chia “nhị nguyên”, sống và trải nghiệm cùng lúc với các hiện tượng đối nghịch, các trạng huống tâm lý trái ngược nhau:
“ Không xa ngậm ngùi và cũng không xa nụ cười
…Không xa đời và cũng không xa mộ người
Không xa rạng ngời và cũng không xa đọa đày
…Không xa người và cũng không xa mặt trời
Không xa tình đầy và cũng không xa lạc loài
…Không xa tình và cũng không xa thù hận
Không xa nồng nàn và cũng không xa lạnh lùng
…Không xa bờ và cũng không xa mịt mù
Không xa cửa nhà và cũng không xa ngục tù
…Không xa trời và cũng không xa phận người
Không xa một ngày và cũng không xa một đời”
(Đời cho ta thế).
Con mắt thiền nhìn sâu vào thế giới hiện hữu: “Con mắt còn lại nhìn đời là không, nhìn em hư vô nhìn em bóng nắng. Con mắt còn lại nhẹ nhàng từ tâm” (Con mắt còn lại). “Đời là không”, chữ “không” ở đây Trịnh Công Sơn mượn từ một khái niệm chính yếu của Phật giáo, khái niệm “Tính Không”. Chữ “không” (empty) này không có nghĩa là “không” (no) có, mà nghĩa là “trống rỗng”, chỉ một thể tính vô biên, nằm ngoài lối phân chia nhị nguyên, lối phân biệt có và không. Theo Phật giáo, mọi sự vật vốn có, nhưng không có tự tính độc lập, không có bản thể riêng biệt mà do những thứ khác, tức là do duyên hợp thành, nên gọi là “không”, “không” không có nghĩa là “không có” mà cái “có” nhìn thấy bằng mắt thường không phản ánh đúng thể tính của sự vật. Ví dụ thân thể con người được hình thành từ bốn cái lớn (tứ đại) trong vũ trụ: đất (tạo nên thịt xương), nước (máu, chất lỏng), gió (hơi thở), lửa (năng lượng), nghĩa là vay mượn của trời đất, không có tự tính độc lập, một ngày kia sẽ trả lại đất trời. Cái nhìn của Phật giáo ở đây có sự gặp gỡ với cái nhìn của các nhà khoa học về sau này. Đó là cái nhìn vào thể tính của sự vật, giống như nhà khoa học nhìn cái bàn, thấy cái bàn “có” đó là “không”, cái bàn đó “không có bản thể riêng” mà đó chính là sự liên kết của các hạt điện tử (electron, proton, neutron) tạo thành. Nhà Phật và nhà khoa học đều nhìn thấy thân thể con người, cái bàn… là “trống rỗng”, là “không”, nhưng là “không mà có, có mà không”, “sắc tức là không, không tức là sắc”. Dưới cái nhìn xoáy sâu vào bản thể đó, Phật giáo cho rằng con người dứt được những tri kiến sai lầm, vọng tưởng, đạt đến một tâm thể thanh tịnh, tỉnh thức, giác ngộ, gọi là Phật tính, thấy rằng có với không là một, ta với người là một. Tâm từ bi do đó phát nguyện: “Con mắt còn lại nhẹ nhàng từ tâm”.
Trải nghiệm đời, hiểu bản chất của đời: “Đời cho ta thế”, người hành thiền có sự ung dung, tự tại, sự vững tâm trong bất luận hoàn cảnh nào: “Đời cho ta thế cứ hãy cất bước đi mọi nơi, gặp nhau trong phố xin yêu khôn nguôi những thân người. Đời cho ta thế hãy cứ sống tới như mọi ai, mặc dòng sông kia sẽ cuốn đất cát ra biển khơi…Đời cho ta thế đứng giữa bão tố không buồn vui, tự nghìn năm xưa bao nhiêu chim muông đã xa bầy” (Đời cho ta thế).
Thiền là trạng thái sâu lắng của tâm thức, khi tâm thức chỉ tập trung chú ý đến một đối tượng thuộc tâm hay vật. Người thiền trong nhạc Trịnh có khi “nhìn suốt một mối tình”: “Hãy nghiêng đời xuống, nhìn suốt một mối tình, chỉ lặng nhìn không nói năng, để buốt trái tim, để buốt trái tim” (Để gió cuốn đi). Có khi nhìn sâu vào tâm cảm của mình và chứng nghiệm được một trạng thái thăng hoa thật lạ lùng, thần diệu: “Nhiều đêm thấy ta là thác đổ, tỉnh ra có khi còn nghe” (Đêm thấy ta là thác đổ). Hoàng Ngọc Hiến đã viết bài “Một bài thơ hay của Trịnh Công Sơn”, tiến cử bài “Đêm thấy ta là thác đổ” là bài thơ tình hay của thế kỷ và bình rất sâu về tiếng thác đổ trong nhạc Trịnh: “Sự mãnh liệt của tình yêu thường được so sánh với bão táp (Cơn bão tới rồi, tiếng rì rầm nước, lửa..., Maiacopxki). Cơn bão nào rồi cũng tan. Trận bão nào cũng để lại tan hoang, phá phách. Thác đổ cũng mãnh liệt. Nhưng đây là sự mãnh liệt vĩnh cửu và không hề có sự phá phách. Thác đổ là “tình yêu vô cùng””(10). Đúng vậy, trái tim yêu đập nhịp bằng mãnh lực của thác đổ và trái tim-ngọn thác đó đang thiền về chính nó, một cuộc thiền bất tận “tỉnh ra có khi còn nghe”.
Đó là nghe hữu thanh. Để rèn tâm tĩnh lặng tuyệt đối, người thiền nghe được cả vô thanh. Có câu chuyện thiền “Tiếng vỗ của một bàn tay”. Thiền sư Nhật Bản Mokurai trụ trì chùa Kennin có một đệ tử nhỏ mới 12 tuổi tên là Toyo. Thấy các đệ tử đàn anh vào phòng thầy để được hướng dẫn về cách dùng công án chặn tâm trí đi lang thang, Toyo cũng muốn được học. Thầy bảo: “Đợi một thời gian đã. Con còn nhỏ”. Nhưng vì Toyo xin mãi, rốt cuộc thầy cũng đồng ý. Thầy nói: “Con có thể nghe âm thanh của hai bàn tay khi hai tay vỗ vào nhau. Bây giờ, con chỉ cho thầy tiếng vỗ của một bàn tay”. Toyo cúi chào thầy và về phòng suy nghĩ. Có tiếng nhạc của các cô geishas vọng đến. “A, tôi có rồi!” - Toyo mừng thầm. Sáng hôm sau, khi thầy bảo Toyo trình bày tiếng vỗ của một bàn tay, Toyo diễn tả lại tiếng nhạc của geishas. Thầy bảo: “Không, không. Không bao giờ được. Đó không phải là tiếng vỗ của một bàn tay. Con chẳng hiểu gì cả”. Toyo bèn tìm đến một nơi yên lặng hơn để thiền định. Nghe tiếng nước nhỏ giọt, Toyo thầm nghĩ: “Tôi có rồi”. Khi đến gặp thầy, Toyo diễn tả tiếng nước nhỏ giọt. Thầy hỏi: “Cái gì vậy? Đó là tiếng nước nhỏ giọt, nhưng không phải là tiếng vỗ của một bàn tay. Cố thêm đi”. Toyo lại nghe tiếng thở dài của gió. Thầy cũng gạt đi âm thanh ấy. Tiếng ve kêu ư, lại cũng không phải là tiếng vỗ của một bàn tay. Hơn mười lần vào thăm thầy, Toyo dẫn thêm những âm thanh khác nhau nhưng thầy đều bác đi. Suốt năm, Toyo trăn trở tìm câu trả lời. Cuối cùng, Toyo thiền định thật sự và vượt lên trên tất cả mọi âm thanh. Toyo chứng ngộ: “Tôi chẳng còn tìm được tiếng nào nữa, vì vậy tôi đạt được âm thanh im lặng”. Toyo đã nghe được tiếng vỗ của một bàn tay. Sự nghe được âm thanh của vô thanh, nghe được “âm thanh im lặng” này được thể hiện sâu sắc qua ca khúc đậm chất thiền “Tôi đang lắng nghe” của Trịnh Công Sơn: “Im lặng dòng sông, tôi đã lắng nghe. Im lặng ngọn đồi, tôi đã lắng nghe. Im lặng thở dài, tôi đã lắng nghe. Tôi đã lắng nghe im lặng thở dài. Sau cơn bão qua im lặng mặt người, nghe bao nỗi đau trên một bàn tay. Tôi đang lắng nghe im lặng cuộc tình. Sau một cuộc tình tôi đang lắng nghe, khi hoa héo khô im lặng nụ tàn. Tôi đang lắng nghe, tôi đang lắng nghe, tôi đang lắng nghe im lặng đời mình”. Khi lắng nghe được cái vô cùng của vô thanh, lắng nghe được “tiếng vỗ của một bàn tay” như vậy, người thiền trong nhạc Trịnh đạt đến tâm tĩnh lặng tuyệt đối. Khoa học ngày nay đã đo được tâm tĩnh lặng bằng điện não đồ EEG. Khi con người đạt được tâm tĩnh lặng, tần số rung động của não bộ giảm xuống còn 8 - 10 Hz, gọi là tần số Alpha. Ở tần số này, não bộ hoạt động rất hữu hiệu, minh mẫn, sáng suốt, có nhiều năng lực lắng nghe và thấu hiểu, thấu cảm, hoà hợp với mọi người, nói như Trịnh Công Sơn là “lòng chợt từ bi bất ngờ”.
*Minh triết của trái tim
Bên cạnh trí tuệ duy lý (với chỉ số đo là IQ), khoa học ngày nay đánh giá cao vai trò của trí tuệ cảm xúc (với chỉ số đo là EQ). Cùng với sự thông minh của lý trí (trí tuệ duy lý), con người cần có sự thông minh của tâm hồn (trí tuệ cảm xúc) mới đạt đến sự phát triển toàn diện, hài hoà về phẩm người. Sự thông minh của tâm hồn gọi theo chữ của Phật giáo là minh tâm (tâm sáng). Âm nhạc có khả năng làm cho con người thông minh thêm, trong đó có sự thông minh của tâm hồn (do đó mà các bà mẹ mang thai thường nghe nhạc Moda, Betthoven, Traicopxki…để “thai giáo” cho con, giúp cho đứa con trong bào thai phát triển trí não).
Những cảm xúc mạnh mẽ, dâng trào của lòng người thường được nghệ thuật biểu đạt thông qua hình ảnh biển, vì biển thể hiện được cái lớn lao, mênh mông, cái nhân văn vô cùng của tình người: “Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào” (Lòng mẹ, Y Vân), “Những ngày không gặp nhau, biển bạc đầu thương nhớ” (Thuyền và biển, thơ Xuân Quỳnh, nhạc Phan Huỳnh Điểu)…Nhạc Trịnh đã dâng đời ca khúc lừng danh “Biển nhớ” thể hiện nỗi nhớ tình yêu chứa chan như hồn biển dâng trào: “Ngày mai em đi, biển nhớ em quay về nguồn, gọi trùng dương gió ngập hồn”. Tuy nhiên, hình ảnh biển trong nhạc Trịnh vừa giống, vừa không giống với biển trong các thi phẩm, nhạc phẩm của các thi sĩ, nhạc sĩ khác. Mối tương quan giữa biển và bờ thường được dùng để chỉ khát vọng tình yêu dạt dào, mãnh liệt vô cùng như trong bài thơ “Biển” nổi tiếng của ông hoàng thơ tình Xuân Diệu:
Anh xin làm sóng biếc
Hôn mãi cát vàng em
Hôn thật khẽ, thật êm
Hôn êm đềm mãi mãi
Đã hôn rồi, hôn lại
Cho đến mãi muôn đời
Đến tan cả đất trời
Anh mới thôi dào dạt...
Cũng có khi ào ạt
Như nghiến nát bờ em
Là lúc triều yêu mến
Ngập bến của ngày đêm
hay trong ca khúc “Biển khát” của Trương Ngọc Ninh: “Biển khát, biển khát bờ”.
Với nhạc Trịnh thì khác. Trịnh Công Sơn không chỉ thấy cái “vô cùng” mà còn thấy cả cái “giới hạn” của biển. Trong ca khúc “Lặng lẽ nơi này”, một ca khúc mà tiết tấu thể hiện nhịp vỗ dập dồn, đưa đẩy của biển, sau khi hát về “Tình yêu như biển, biển rộng hai vai”, Trịnh Công Sơn đã hạ một câu nghe sửng sốt, bàng hoàng: “Tình yêu như biển, biển hẹp tay người, biển hẹp tay người lạc lối”. Ít ai viết “biển hẹp”. Vì âu lo biển hẹp nên nhạc Trịnh có nhiều ca khúc nhắn nhủ biển như “Biển nghìn thu ở lại”: “Biển đánh bờ, xôn xao bờ đánh biển. Đừng đánh nhau…Ơi biển sẽ tàn phai. Đừng gạch tên vì yêu đừng xé nát. Biển là em ngọt đắng trùng khơi”, đặc biệt là ca khúc “Sóng về đâu”: “Biển sóng biển sóng đừng xô tôi, đừng xô tôi ngã dưới chân người. Biển sóng biển sóng đừng xô nhau. Ta xô biển lại sóng về đâu”, “Biển sóng biển sóng đừng xô nhau. Ta xô biển lại sóng nằm đau. Biển sóng biển sóng đừng xô tôi, đừng xô tôi ngã giữa tim người”, “Biển sóng biển sóng đừng xô tôi, đừng cho tôi thấy hết tim người”, “Biển sóng biển sóng đừng âm u, đừng nuôi trong ấy trái tim thù”. Cả giai điệu và ca từ ca khúc “Sóng về đâu” đều nhấn mạnh nhiều lần và đẩy lên cao trào lời nhắn nhủ: “Đừng xô nhau”. Cấp độ của lời nhắn mỗi lúc một gia tăng, riết róng và giá trị cảnh báo, lay động, thức tỉnh nhân tâm của lời nhắn sau vì thế càng cao hơn, mạnh hơn lời nhắn trước. Từ câu đầu: “Đừng xô tôi ngã dưới chân người” chuyển sang câu sau đã là: “Đừng xô tôi ngã giữa tim người”, ngã dưới chân người chắc chắn là không đau đớn, xót xa, tê tái bằng ngã giữa tim người. Từ câu đầu lời nhắn còn e ấp, tế nhị: “Đừng cho tôi thấy hết tim người” đến câu sau đã là lời cảnh tỉnh thẳng thắn và mạnh mẽ: “Đừng nuôi trong ấy trái tim thù”. Từ câu đầu chỉ mới là câu hỏi: “Ta xô biển lại sóng về đâu” đến câu sau đã là câu trả lời khẳng định: “Ta xô biển lại sóng nằm đau”. Ca khúc “Sóng về đâu” mang đậm tính minh triết, đó là minh triết của trái tim, của trí tuệ cảm xúc (EQ). Trí tuệ cảm xúc thể hiện ở năng lực làm chủ cảm xúc và năng lực thông cảm với người khác. Năng lực làm chủ cảm xúc (phân tích cảm xúc, kìm chế những dục vọng xung động…) thể hiện tập trung qua hàng loạt từ “đừng” trong các ca khúc “Biển nghìn thu ở lại”, “Sóng về đâu”…Biển đừng đánh bờ, sóng “đừng xô tôi”, sóng đừng xô nhau, đó là lời kêu gọi đánh thức năng lực thông cảm, thấu cảm với người khác, để cho biển và bờ giao cảm, để cho lớp lớp sóng biển giao hoà, để cho giữa người với người không còn hơn, thua, được, mất, nói theo ngôn ngữ hiện đại là để cho các bên cùng được, cùng thắng - thắng.
Minh triết nào đã khơi nguồn cho Trịnh Công Sơn viết nên ca khúc tuyệt vời “Sóng về đâu”? Trong bài “Phải biết sống hết mình trong mỗi sát na của hiện tại” viết cho Nguyệt san Giác ngộ 4/2001, Trịnh Công Sơn cho biết: “Cuối năm 1995, tôi có viết được một bài hát mà tôi rất thích và bạn bè ai cũng thích. Đó là bài “Sóng về đâu”. Bài này lấy cảm hứng từ câu kệ: “Gaté Gaté. Paragaté. Parasamgaté. Bodhi svaha””. Câu kệ mà Trịnh Công Sơn đã dẫn lấy từ “Bát-Nhã Ba-La-Mật-Đa Tâm-Kinh” của Phật giáo Đại thừa: “Yết đế Yết đế, Ba la Yết đế, Ba la tăng Yết đế, Bồ đề, Tát bà ha”, nghĩa là: Qua rồi qua rồi, qua bên kia rồi, tất cả qua bên kia rồi, giác ngộ rồi đó. Qua bên kia rồi tức là vượt qua bến mê để đến bờ giác. Con người minh triết là con người biết vượt qua chính mình, vượt qua những mê lầm, phiền não để giữ được chân tâm của mình, đó là chân tâm của đứa trẻ minh triết, của người thiền giải thoát phiền não, đó là chân tâm giàu “trí tuệ cảm xúc”.
Nhạc Trịnh đã góp phần nâng đỡ tâm hồn con người trong những cuộc vượt qua như vậy, chống chọi tuyệt vọng, chiến thắng chính mình, vì thế, nhạc Trịnh luôn chứa đầy hấp lực cứu rỗi của “bài kinh cầu bên vực thẳm” (Hoàng Phủ Ngọc Tường). Vì thế, hát nhạc Trịnh cần một sự thể nhập sâu lắng vào bản nhạc và cần một nội lực thâm hậu của thiền tâm, hát như người tình trong “Đoá hoa vô thường”: “Chiều em ra đứng hát kinh đầu sông”.
N.H
(1) Dẫn theo Nguyễn Hiến Lê (chú dịch và giới thiệu), Lão tử Đạo đức kinh, NXB Văn hoá, Hà Nội, 1994, tr. 119.
(2), (3), (4), (5), (6), (7) Nguyễn Hiến Lê (chú dịch và giới thiệu), Lão tử Đạo đức kinh, NXB Văn hoá, Hà Nội, 1994, tr. 244, 257, 190, 213, 219 - 220, 206 - 207.
(8) Trịnh Công Sơn, Trong âm nhạc, Văn Cao sang trọng như một ông hoàng, dẫn theo Văn Cao cuộc đời và tác phẩm, NXB Văn học, Hà Nội, 1996, tr. 247.
(9) Nguồn: http://www.suutap.com.
(10) Bài của Hoàng Ngọc Hiến đăng lần đầu trên báo “Người đẹp Việt Nam”, số Tết năm 2000.
LÊ QUANG THÁI - BỂ DÂU MÀ KHÔNG BỂ ĐÂU ANH

Nhân kỷ niêm 10 năm ngày mất của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, VNQT xin đăng lại bài viết của Cư sĩ Lê Quang Thái, giáo viên Trường Trung cấp Phật học Thừa Thiên Huế để ban đọc biết thêm về thân thế và thuở thiếu thời của nhạc sĩ, xem đây như là nén hương để tưởng nhớ Trịnh Công Sơn, một nhạc sĩ tài hoa, cầu nguyện hương hồn anh mãi mãi an trú ở chốn vĩnh hằng.
Saturday, March 5, 2011
LÊ THỊ MÂY - NGÀY CHO EM HY VỌNG

Em biết mình đang đến được ngày vui
Ta có nhau có cay đắng ngọt bùi
Tuổi thơ em có anh mà vỗ sóng
Mây cổ tích bay từ đâu xa lắm
Em ngắm mình trên gương mặt đời anh.
Mới hôm qua những yếu đuối dễ thường
Anh chẳng kể nhẹ như làng sương khói
Trước ngày cả anh nồng nhiệt yêu thương
Anh trả cho em gì em mất dọc đường
Vừa độ lượng vừa bao dung che chở
Em có anh em biết non như cỏ
Bao tháng ngày yêu đất gặp trời xanh.
Gì em mang vất vả anh dỗ dành
Em để lại như đôi giày rách củ
Khi em khát cốc nước trong anh đỡ
Khi em buồn anh hát chỉ em nghe
Ánh mắt anh tâm hồn em rung động
Bao bè trầm bến hẳm cuộc đời xa.
Gì mất đi nhưng chẳng thể đi qua
Mưa trong nắng là khóc vì hạnh phúc
Khi trong bão nắng ngời lên chói mắt
Chính trong anh năm tháng mặc hoàng hôn
Không gì cưỡng cũng không gì tắt nổi
Anh trầm tĩnh cho khi em hờn dỗi
Nhận rõ chung quanh bàn ghế cũng có hồn
Lòng nhân ái thi sĩ trước thời gian .
Khi tất cả hồn nhiên như cây cỏ
Em biết ngày vui hy vọng về gần
Mây cổ tích với lời ru của mẹ
Khoác dịu dàng màu áo cưới cho em
Em sẽ làm dâu mẹ sẽ đón lên thềm
Em ngoái lại nắng cuối ngày con gái
Hóa tình yêu không tuổi nắng bình lên.
L.T.M
Friday, March 4, 2011
LÊ BÁ LƯ - Quán cơm chay Thiện Tâm đã gợi mở "tâm thiện" cho nhiều người

Nằm bên bờ kênh Nhiêu Lộc, phía sau ngôi chùa Chăntagăngsây (thường gọi chùa Miên), gần cầu Lê Văn Sĩ, thuộc phường 7, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh, quán cơm chay miễn phí Thiện Tâm do bác Lê Công Thượng, mọi người quen gọi là “thầy Sáu địa lý" làm chủ, đã tồn tại đến nay gần 4 năm. Đúng như tên của quán, Thiện Tâm đã gợi mở “tâm thiện” và làm lan tỏa lòng nhân ái cho nhiều người.
Vào những ngày lẻ hàng tuần, thứ 3, thứ 5 và thứ 7, từ khoảng 10 giờ đến 12 giờ, bất kỳ ai đó gặp hoàn cảnh khó khăn, bụng đói mà không có tiền trong túi, thì hãy đến quán cơm chay Thiện Tâm. Quán sẵn sàng phục vụ miễn phí tất cả mọi người, nhưng hầu hết khách đến ăn là những người nghèo, có hoàn cảnh khó khăn: em đánh giày, anh đạp xích lô, chị bán vé số, người tàn tật, ăn xin, công nhân, sinh viên, học sinh…đều được phục vụ như nhau: phần cơm gồm món mặn, món xào và món canh; khẩu phần không hạn chế và còn tráng miệng thêm một trái chuối. Ai muốn mang thêm phần về nhà cũng được đáp ứng. Khách đến tự lấy chén dĩa, muỗng nĩa để sẵn, đưa cho bộ phận phục vụ xới cơm và lấy thức ăn, xới nhiều hay ít theo sức ăn yêu cầu của khách. Nếu ai ăn khỏe thì cứ làm luôn 2, 3 dĩa. Nhận cơm xong, mọi người tự tìm chỗ ngồi là những dãy bèn ghế kê sẵn dọc theo con hẻm. Lúc quá đông, không còn chỗ ngồi thì đứng ăn. Ăn xong có bình trà đá kê sẵn, tự phục vụ thoải mái. Đáng chú ý, là lượng khách mỗi ngày khoảng 450 người, nhưng ở đây mọi thứ đều sạch sẽ, tươm tất. Khách đến có khi mang theo chiếc xe ba gác đang hành nghề, xe đạp chở đầy hàng ve chai; có người còn bồng bế theo hai, ba đứa bé rách rưới, người thì nước da tái xanh, bệnh tật, ốm yếu, hom hem, lôi thôi lếch thếch…, nhưng quán ăn luôn trật tự, ngăn nắp, bởi ai cũng được đối xử bình đẳng, hòa nhã, với tinh thần thiện nguyện, đúng như cái cái tên Thiện Tâm- phương châm hoạt động của quán…
Xới nhiều hay ít tùy theo yêu cầu sức ăn của kháchBác Lê Công Thượng, năm nay 72 tuổi cho biết, đội ngũ phục vụ của quán khoảng 20 người, thuộc nhiều thành phần, nghề nghiệp trong xã hội, có người đang làm việc ở cơ quan nhà nước, có người chạy xe ôm, có người đang đi học và có người đang thất nghiệp…Họ tự sắp xếp thời gian để có thể đến đây cùng góp sức, góp công cùng chủ quán giúp đỡ người nghèo khó. Theo sự phân công của “thầy Sáu”, có người đã đến quán từ 4 giờ sáng để đi chợ, rồi về gọt bí, nhặt rau, đong gạo…chuẩn bị cho việc nấu nướng bắt đầu từ lức 7 giờ 30 sáng. Khoảng 9 giờ, bộ phận xới cơm, sắp đặt thức ăn, chén dĩa, bàn ghế …có mặt. Mọi công việc được hoàn tất trước 9 giờ 30 phút để sẵn sàng phục vụ.
Khi được hỏi về động cơ và kinh phí hoạt động, bác Thượng cho biết, quán được mở ra từ ngày 24/6/2007, kinh phí hoạt động do gia đình bác và một người bạn vong niên của bác, là anh Nguyễn Tấn Thịnh, 40 tuổi, một doanh nhân và là một nhà hảo tâm ở quận Gò Vấp đóng góp. Bác Thượng tâm sự, mặc dù làm từ thiện, nhưng trong thời gian mới thành lập, quán cũng gặp một số trở ngại, bởi có người còn hồ nghi, sợ đằng sau việc làm từ thiện có ý đồ gì khác!. Tuy nhiên, bác chẳng bao giờ phân trần, biện bạch, theo như lời Phật dạy “Oan khiên không cần biện bạch”, cứ tâm thẳng, lòng ngay mà làm; lấy sự giúp đỡ, cứu khổ con người làm cứu cánh và an lạc cho bản thân mình. Bác Thượng cũng vui vẻ cho biết, quán cơm Thiện Tâm cũng đã được chính quyền địa phương quan tâm hỗ trợ và nhiều người đã đến động viên, ủng hộ vật chất, và tinh thần, chia sẻ với bác những việc làm từ thiện và thiết thực cho xã hội.
Khách hầu hết là thành phần nghèo khổ trong xã hội
Ăn xong tự rửa bát
Bình trà đá kê sẵn....Một cán bộ của UBND phường 7 cho biết, quán cơm chay Thiện Tâm, ngoài phục vụ bữa ăn trưa miễn phí cho mọi người, còn giúp đỡ nhiều trường hợp khó khăn, như tặng xe lăn cho người tàn tật; xe ba gác, xe gắn máy cho những người còn sức lao động nhưng không có phương tiện làm ăn; tặng xe đạp cho sinh viên, học sinh nghèo…và những trường hợp cơ nhỡ, ốm đau, cơ cực tại địa phương đều được chủ quán cơm Thiện Tâm quan tâm giúp đỡ.
Bác Lê Công Thượng - chủ quán và anh Nguyễn Tấn Thịnh -mạnh thường quân của quán.(đứng thứ 3 và 4 từ trái qua)
Nhiều người đã đến ủng hộ và chia sẻ việc làm từ thiện với chủ quán
Chủ quán cơm Thiện Tâm và tác giảTim hiểu thêm về hoạt động của của “thầy Sáu địa lý”, tôi phát hiện thêm nhiều điều thú vị, là ngoài mở quán cơm miễn phí giúp đỡ người nghèo. “thầy Sáu” còn làm nhiều việc hữu ích cho xã hội. Ông là một người đã thu phục nhiều “đại ca”; giác ngộ nhiều thành phần bất hảo trong xã hội “cải tà quy chính”. Bằng những việc làm thiết thực cũng như những lời dạy bảo, khuyên răn chí lý, chí tình của “thầy Sáu”, nhiều tay “anh chị” khu vực chùa Miên, trong đó có những người đi cai nghiện trở về không có việc làm; những tay đâm thuê chém mướn, chuyên gây rối trật tự xã hội địa phương, đã từng vào tù ra tội…, như “Sóc Đen”, “Tám búa”, “Hải heo”, “Hùng gà”…đã trở về cuộc sống hiền lương, trở thành công dân hữu ích cho xã hội.
Trò chuyện với Trịnh Hoàng Vũ, một thanh niên 32 tuổi, phụ trách giữ xe và sắp xếp trật tự cho quán cơm Thiện Tâm, dáng vẻ phong trần nhưng Vũ có nụ cười hòa nhã, luôn làm hài lòng mọi người. Ai có ngờ trước đây “Vũ chùa Miên” là một tay giang hồ khét tiếng, “đại ca của các đại ca” ở địa bàn quận 3. Vũ bộc bạch với tôi: “Nhờ thầy Sáu khuyên răn, dạy bảo, mà em đã “gác kiếm giang hồ”. Thầy Sáu đã làm nhiều việc quá tốt khiến em tâm phục khẩu phục, và ngộ ra rằng con người cần phải có lương tâm và lòng từ thiện thì cuộc sống mới có ý nghĩa và bình yên, hạnh phúc…”.
Anh Đào Công Thức, cảnh sát khu vực phường 7, quận 3 cho biết, từ lúc có quán cơm Thiện Tâm hoạt động, đến nay đã gần 4 năm, hầu như những việc làm từ thiện của bác Thượng đã có sức lan tỏa đến nhiều người, tình hình an ninh trật tự xã hội địa bàn đã tốt hơn rất nhiều. Chính quyền địa phương đánh giá rất cao những đóng góp và công lao của chủ quán, đã góp phần mang lại sự bình yên, hạnh phúc cho người dân./.
Lê Bá Lư (TTXVN)
Saturday, February 26, 2011
TRƯƠNG HUỲNH NHƯ TRÂN – CHÙM THƠ
Trương Huỳnh Như Trân - con gái của Trương Đình Tuấn
MẤY THUỞ
Thôi đừng níu giữ mùa đau
Mấy mùa trăng đã bạc nhàu tình xa
Áo thơm mấy thuở lụa là
Em về giữ lấy, kiêu sa giữa đời
Nhọc nhằn đếm giọt buồn rơi
Đò đưa mấy khúc lý lơi duyên mình
Cũng đành tình dại rêu xanh
Bỏ quên câu hát tơ mành bên sông
Thì thôi mây cứ phiêu bồng
Thì thôi gió cũng ngược lòng sang ngang
Chút tình neo lại hư không
Trắng tay một độ tình mong manh tình
VỀ
Tôi về níu mảnh ấu thơ
Vấp hòn đá nhỏ nghe ngờ nghệch đau
Trong veo là nước qua cầu
Xòe tay chỉ thấy vụn màu thời gian
Về ngang qua những mùa màng
Thấy con châu chấu vuốt càng dưới mưa
Vắng con chim hót giữa mùa
Độ từ di trú vẫn chưa quay về
Nắng vàng trải dọc lối quê
Tôi đi về giữa bộn bề nhớ quên
Chân trần đã mỏi hồn nhiên
Gió lùa tóc rối phía nghiêng nghiêng chiều
GIẤC QUÊ
Tôi về với nắng quê hương
Đếm bông lúa trổ ngọt vàng mùa em
Đôi bờ in dấu chân quen
Tôi tìm tôi phía nghiêng nghiêng mắt chiều
Tôi về nghe khúc thương yêu
Nối thêm tình để cánh diều thong dong
Mùi rơm rạ ngái thinh không
Hồn quê đã đượm bên lòng gió sương
Tôi về treo giấc tình tang
Cuốc nông phu xới vỡ hoang đất hiền
ĐA ĐOAN
Từ anh tình chẳng ngọn ngành
Từ em se sắt thương mình đa đoan
Chữ tình mắc cạn trăm năm
Em về ru giấc mơ ngoan buổi này
Từ anh tình chẳng ngọn ngành
Từ em thưa thốt đã thành dư âm
Nắng xưa qua phố tần ngần
Dừng chân bên dốc nghe vàng mùa thương
T.H.N.T
Nguồn: truonghuynh.vnweblogs.com
ĐỌC THÊM
NHUTRAN.VNWEBLOGS.COM
VÕ THỊ NHƯ MAI – THÁNG HAI CỦA BÉ
Cháu gái của Như Mai
tháng hai cài lên tường đoá hoa đỏ tươi
trong chiếc phong thư tình yêu mẹ ba chứa chan
và đôi mắt tròn xoe thơ ngây của bé
đôi mắt long lanh tuổi lên năm
của thảo nguyên mênh mông
của cánh đồng lúa chín
một góc quê hương ngời ngợi phía chân trời
vì sao hôm lặng thầm làm ngọn đuốc thắp sáng
duỗi mình thảnh thơi
sự sống bắt đầu
khi mầm cây nhoài ra khỏi tuyết
khi đôi môi bé xinh chúm chím cười trác tuyệt
khi bé mở lời bằng tiếng Việt rất chuẩn - trong veo
những hòn cuội lăn từng viên vào đáy trái tim
thánh thót dõi theo
ôi tháng hai đong đưa mật ngọt
lúa thơm phủ kín cánh đồng
tiếng suối reo vui thong thả một tấm lòng
hồn của gió lãng vân bay bổng
bao âm điệu khi bình thường chẳng hề lay động
chợt vọng về lồng lộng trước bình minh
bản nhạc ngân vang từ đoá hoa đỏ thắm đẹp xinh
trong chiếc phong thư trên tường thanh thoát
tiễn tháng hai ra đi khi ngôi sao băng bay qua đỉnh đầu
đêm thâu thì thào điều ước . . .
vtnm
25/2/2011
Friday, February 25, 2011
PHAN LUẬN - KÝ ỨC VỀ CHA

Đầu tiên, cha là một nông dân
Đôi bàn tay chai lỳ thô ráp
Dáng liêu xiêu sau đường cày thẳng tắp
Tôi theo sau nhặt con dế con giun
Roi tre giơ cao nhưng ít lần đánh vào lưng bò
Với con chưa một lần la mắng
Hình như đường cày lật nghiêng và mồ hôi thắm mặn
Cho ta nhận ra mình
Cha là thợ may thủ công lão luyện
Đều đều mũi chỉ đường kim
Ấn tượng nhất là mỗi lần rách áo
Miếng vá đắp lên lấp loáng mùa màng
Cha mặc áo vá tự may, đi guốc mộc tự đóng
Chiếc gối săng khuyết võng mảnh trăng gầy
Việc họ việc làng đêm ngày nghiên bút
Dâng sớ thành hoàng ngút ngát hương bay
Nét chữ thẳng đưa lên sổ xuống
Học lõm nhì nhằng mấy chữ Trung-Nhân
Cán bộ về làng sau kháng chiến
Chào thầy! hai bóng xế ngó trân trân
Chiến tranh nhiều thứ không còn
Bảy lần dời nhà
Hai lần tù ở
Gia tài cha là cuốn gia phả
Đựng trong ống tre ngà chưa một lần tổn thương
Tuổi xế chiều cha thầm nguyện ước
Thanh thản ra đi ngỡ con cháu bớt nhọc nhằn
Có bao giờ cha kêu đau kêu khổ
Tháng bảy về con ray rứt ăn năn.
P.L
Thursday, February 24, 2011
CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM – LINH ĐÀN sưu tầm
Làng Mai XáRú Cấm Hà Trung xeng ngát ngát
Đôộng cát Nhĩ Thượng trắng phau phau
Cơm keng một dịa mắm tràu
Đố ai cưới được o Giàu ôông Sang
Bán mua mấy rổ khoai lang
Chạy từ chợ Bạn - chạy sang chợ Cầu
Mạ ơi ! Quan Phó đòi hầu
Mau may áo mới, xức dzầu* cho thơm
Đứa thì cấy dzũi, cấy nơm
Đứa thì trèng sáo vô đơm Chợ Nò
Trèo lên côi núi U Bò
Ngó về Cẩm Phổ mấy o kén chồng
O Chút, O Thí đã xong
Lại thêm O Éc mà long nao nao
Lội lên lội xuống Xóm Rào
O nào cũng chảu, ả nào cũng hay
Cấy mồm cho chí cấy tay
Đi cuốc đi cày nỏ sợ chi ai
Đêm đêm mấy chú choai choai
Chuyện chi rình rập ngồi hoài sau nương
Có chú lộn cổ xuống mương
Có chú nằm rường thiên hạ tới coi
Kể từ ngày sáo chẹp (dẹp) mẹng oi
Đi chưa đến nơi chợ đã sèm méng ngon
Béng ướt cho chí béng đòn
Lại hàng béng đúc ăn ngon ả hè
Ăn rồi ngồi thở è è
Chộ hàng mít chín cũng đè mua thêm
Tưởng mà dư rứa là êm
Về dà eng hắn cũng đêm đêm tính lần
Mạ mi đừng nói lần hân
Chơ cua rạm mấy một giần ba mươi
Mạ mi nói thiệt, nói cười
Cua rạm rẻ thể nớ, e thôi mần nghề
Cua miềng cua trớng cua dzèm
Mỗi con hai rượi ai sèm nấy mua
Năm ni sắn mắt gạo thua
Người ta lo lấy bựa, chơ ai lo chi cua với càng
Cua rạm mỗi trự mỗi tràng
Chơ eng mi tưởng dư ở dà cục vàng lưu ly.
Tác giả Nguyễn Đình Kiện 1897 - 1989, quê Lan Đình, Gio Linh
Wednesday, February 23, 2011
MẠNH CƯỜNG - ĐỘC ĐÁO NHẠC CỤ "SÁO KHUI" CỦA NGƯỜI VÂN KIỀU
Nghệ nhân Pă Khăm đang thổi điệu Xa Nớt trong ngày cưới con trai.
Sáo Khui là một loại nhạc cụ trong bộ nhạc khí thổi của người dân tộc Vân Kiều. Chiếc sáo này đã tồn tại và gắn bó bao đời nay trong tập quán sinh hoạt của người dân tộc Vân Kiều - huyện Đakrông và huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị. Sáo Khui được sử dụng rất nhiều trong các lễ hội như: Ra Pựt, Tức A Bôn, đám cưới…
Tiếng Sáo Khui và điệu Xa Nớt là nét văn hóa đặc trưng nhất của người Vân Kiều. Từ khi có mặt trên đời, Sáo Khui đã rất "kén" người dùng. Nó chỉ dành cho các bậc trung niên sử dụng và đặc biệt là chỉ dành riêng cho đàn ông.
Khác với các loại sáo khác thường dùng cho các đôi nam nữ bày tỏ tình yêu, hò hẹn trao tình… Sáo Khui thổi lên để kể lại một câu chuyện nào đó. Âm thanh trầm lắng của tiếng sáo làm cho người nghe khi có cảm giác buồn man mác, khi lại thấy vui vui.
Với điệu Xa Nớt, thông thường người thổi Sáo Khui chia làm hai nhóm; hai người thổi sáo là hai người đứng đầu của tốp diễn mỗi khi người bên này thổi lên thì những người ngồi xung quanh cùng hò theo, sau đó lại đổi qua người bên kia thổi (như hò đối đáp). Tiếng sáo cất lên làm réo rắt lòng người, làm cỏ cây, núi rừng phải động lòng thức tỉnh.
Trong lễ Ra Pựt, với điệu Xa Nớt là khi con cháu được nghe kể lại những truyền thống của ông bà tổ tiên dòng họ mình, qua đây giúp con cháu hiểu được truyền thống của gia đình mình, đồng thời nói rõ tình cảm gắn bó máu thịt giữa anh chị em trong dòng họ nội-ngoại (còn gọi Khơi Cù Za).
Còn với đám cưới, Sáo Khui khi cất lên cùng điệu Xa Nớt lại để gia đình hai bên dặn dò con cái của mình. Đó là phải yêu thương đùm bọc, bảo ban nhau trong cuộc sống, ăn ở với nhau đến đầu bạc răng long… chính vì những lẽ đó mà đối với người Vân Kiều tiếng Sáo Khui rất thiêng liêng và hệ trọng.
Những nhạc cụ nghệ nhân Pă Khăm kỳ công sưu tầm, cất giữ.
|