Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, January 15, 2011

TRẦN XUÂN AN - TỰ TÔN TIẾNG NÓI DÂN TỘC, GIỌNG NÓI QUÊ HƯƠNG

Tặng bạn học cũ: Ngô Vưu, Nguyễn Giỏ và Dương Quang Gạt… Nguyễn Tấn Sĩ, Nguyễn Chiến, Nguyễn Đăng Chín và Võ Nguyên…



Nếu một người Việt không có lòng tự tôn, tự hào về dân tộc, về quê hương của mình, đó là điều đáng ngạc nhiên. Tuy vậy, ở những người Bắc Trung bộ, từ Thanh Hóa đến Thừa Thiên – Huế, và cả một phần Quảng Nam, đôi khi họ vẫn tự cho mình là dân “trọ trẹ”, dân “Nôm”. Lắm lần, trong các cuộc chuyện trò, khi họ tự nhận như vậy, tôi nghĩ, hình như họ hơi tự ti về giọng nói mang âm sắc địa phương của mình, hay thực ra, đó chỉ là sự thể hiện tâm lí nhún nhường, khiêm tốn bởi quê hương, bản quán mình đã có quá nhiều điều đáng tự hào rồi.

Dân “trọ trẹ” hay “trọ trại”? Dân “Quảng Nôm” hay dân “Quảng Nam”?

Đúng là dân tộc ta luôn tự hào đã có một văn tự riêng, đó là chữ Nôm. Nhưng tại sao ta không nói là chữ Nam vì nó là sản phẩm văn hóa của người Việt Nam, mà gọi là chữ Nôm? Vậy “Nôm” là âm trại của “Nam” hay “Nam” là âm Hán hóa của “Nôm”? Mặc dù có thành ngữ “nôm na là cha mách qué” từ miệng nói, trang viết của những kẻ ngày xưa vốn quá trọng vọng ngoại ngữ Hán, nhưng ngẫm cho kĩ, phải chăng từ “nôm na” lại có nghĩa là dân dã, quê kiểng, là từ ngữ, âm điệu Việt của người bình dân Việt, ở các làng thôn thuần Việt, không pha tạp, và họ thường “mách qué”, chơi khăm đối với những kẻ vong bản, ít ra là vong bản ngữ. Dẫu sao, từ xưa đến nay, hầu hết người Việt chúng ta vẫn sử dụng hai từ “chữ Nôm” với tất cả niềm trân trọng, tự hào, không hề mang sắc thái tự mỉa mai, giễu cợt chút nào.

Còn “trọ trại” hay “trọ trẹ”? Trong lịch sử, vùng Nghệ – Tĩnh và về sau, cả Bình – Trị – Thiên, thường bị gọi là dân kẻ trại? Trại là nói tránh bằng cách phát âm không chuẩn hay trại là quê mùa? Và phải chăng, trại còn là nơi quan quân kinh đô Hoa Lư, Thăng Long thường xem là biên châu ác địa, cần đóng trại canh phòng, chứ không phải là nơi sinh cơ lập nghiệp đời đời? Thì đúng rồi, người Bắc bộ, châu thổ sông Hồng phì nhiêu, chính là tác giả của từ “trọ trại”, “trọ trẹ” đó, cũng như những ai thường dùng thành ngữ “nôm na là cha mách qué” khá vong bản ngữ, như đã viết ở đoạn trên.

Vùng nào “chuẩn” hơn, Việt hơn vùng nào?

Dẫu là vậy, nhưng thú thật, thuở còn nhỏ, trong tôi có đôi chút vừa tự ái, vừa tự giễu cợt, như thắc mắc sao không phiên âm và dịch từ English thành Eng văn, nước England thành nước Eng mà lại chấp nhận không chuẩn “cho nó sang”, thành Anh văn và nước Anh? English, England, phải phát âm cho chuẩn là Eng-lis, Eng-lân(đ) chứ có ai lại phát âm thành Anh-lis, Anh-lân(đ) bao giờ đâu!

Âm địa phương Bắc Trung bộ, khi gọi những người cha mẹ sinh trước mình là eng, là ả hay eng, chị, những người được sinh sau mình là tam. Trong thơ Nôm của Nguyễn Trãi, có từ tam (em), trong Truyện Kiều của Nguyễn Du có từ ả (cô con gái, chị gái), khoan hẵng bàn. Nhưng rõ là từ “anh” chắc hẳn là âm Hán rồi. Âm thuần Việt, là “eng”.

Mãi đến cuối tháng 6 năm HB6 (2006), tôi tình cờ mua được cuốn “Từ điển Mường – Việt”, của ba tác giả Nguyễn Văn Khang (chủ biên), Bùi Chỉ, Hoàng Văn Hành, do Viện Ngôn ngữ học chịu trách nhiệm bản thảo và Nxb. Văn hóa dân tộc ấn hành. Tôi ngạc nhiên đến kì thú. Và tự hỏi, không biết người Bắc bộ “chuẩn” hay người Bắc Trung bộ “chuẩn”? Không biết người Kinh miền xuôi chúng ta “chuẩn” hay nhân tộc sinh đôi một trứng của chúng ta là nhân tộc Mường “chuẩn”?

Xem “Từ điển Mường – Việt”, tôi thấy rõ là cách phát âm của nhân tộc Mường (lấy âm chuẩn là ở Mường Bi), rất gần với cách phát âm hiện nay của người Thanh – Nghệ – Tĩnh, Bình – Trị – Thiên và phần nào đó của Quảng Nam.

Thử trích dẫn bất kì trang nào, chương mục theo phụ âm đầu nào, chúng ta đều thấy rõ như vậy. Xin trích dăm bảy mục từ:

Trang 162, sđd.: “Enh = anh // Enh hảo hói chi è? = Anh cần hỏi gì ạ? // Enh Khỏi, enh Wa = Anh Khói, anh Hoa”.

Trang 215, sđd.: “Khau nì = sau này // Khau nì há hay = Sau này hẵng hay”.

“Khau nựa = sau nữa // Khau nựa, tàn tôi hảo pỗ rằng… = Sau nữa, chúng tôi muốn nói rằng…” (Chắc hẳn “hảo” là “háu”, “pỗ” là “bảo” – TXA. chua thêm).

Trang 340, sđd.: “Nhà tlõ = nhà trọ // Cải nhà tlõ ớ pển xe từ ria lẳm = Nhà trọ ở bến xe nhiều rệp lắm”.

“Nhà tlong = nhà trong // Nhà tlong nả cỏ hal puồng táy = Nhà trong [của] nó có hai phòng (buồng – TXA. ct.) ngủ”.

Trang 404, sđd.: “Pừa – bừa // Da pừa cõn nà đỉ xong chua? = Anh bừa miếng ruộng đó xong chưa? // Tách tlu ti pừa = Dắt trâu đi bừa”.

“Pữa = bữa // Môch ngày da ăn mẩy pữa? = Một ngày anh ăn mấy bữa?”.

Trang 483, sđd.: “Ti du = cưới (đón dâu, lễ cuối cùng của một cuộc hôn nhân) // May nì ti du ủn Háo = Hôm nay cưới cô Hảo” (Mai ni [:nay] đi [rước] dâu cô Hảo – TXA. ct.).

“Ti đác = 1. đi dưới nước. 2. đi lấy một blic nước // Ha tều ti đác = Ta cùng [đều – TXA. ct] đi lấy nước”.

Trang 520, sđd.: “Tửa = 1. người đàn ông // Pay cỏ mẩy tửa = Bọn bay có mấy người (đàn ông)? = 2. đứa // Tửa nò ăn hết cỏi thôm khô ớ đây rồi? = Đứa nào ăn hết gói tôm khô ớ ni rồi?”.

Người Bắc Trung bộ và Quảng Nam hẳn có thể cảm thấy thú vị khi đọc những mục từ ngẫu nhiên tôi trích dẫn bên trên, và hẳn rất đồng ý với các tác giả của cuốn “Từ điển Mường – Việt”: Tiếng Mường “là một ngôn ngữ có quan hệ chặt chẽ về mặt cội nguồn với tiếng Việt, tiếng Mường còn lưu giữ nhiều dấu vết của tiếng Việt cổ ở tất cả các bình diện, nhất là ở bình diện ngữ âm và từ vựng. Vì thế, qua tiếng Mường có thể giúp cho việc làm sáng tỏ một số vấn đề không chỉ là tiếng Việt mà cả các vấn đề về dân tộc, văn hóa Việt” (sđd., tr. 7).

Với những kiến thức về dân tộc học, đặc biệt là Mường học và Việt (Kinh) học, cùng với nhận thức trên, qua đó, chúng ta có thể thêm quả quyết: Giọng địa phương phần nào ở Thanh Hóa, đặc biệt là ở Nghệ – Tĩnh, Bình – Trị – Thiên và phần nào ở Quảng Nam, gần với những âm sắc và từ vựng cổ hơn, so với các vùng miền khác.

Tất nhiên, chúng ta cũng đủ tinh tế về thẩm âm cũng như từ ngữ Hán – Việt để phân biệt đâu là người Mường nói tiếng Việt và đâu là người Việt gốc Hoa hay người Hoa học nói tiếng Việt, với ý thức rằng như bất kì ngôn ngữ nào, sự du nhập, vay mượn một số từ vựng tiếng nước ngoài vào tiếng Mường, tiếng Việt và ngược lại, từ tiếng Mường, tiếng Việt vào tiếng Hán – Hoa, là không phải ngoại lệ.

Phát âm nhất thống trên cơ sở nào?

Mặc dù lòng yêu quê hương, bản quán, cụ thể là yêu thấm thía ruột gan giọng nói quê quán mình, nhưng người Việt Nam, gồm cả 53 dân tộc, từ lâu vẫn xem tiếng Việt là ngôn ngữ toàn quốc, từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau, và cách phát âm mỗi vùng, thậm chí mỗi làng, mỗi xóm cũng có nét khác nhau, nhưng chung quy vẫn là một. Về mặt từ vựng, cũng thế, tuy có tiếng địa phương, nhưng không phải là không thể hiểu nhau. Hiện nay, với sự phát triển về các phương tiện truyền thông đại chúng, với ý thức đưa tiếng địa phương vào văn chương trong chừng mức nhất định một cách tinh tế, tài hoa, cũng là một cách làm giàu thêm tiếng Việt phổ thông. Về mặt chữ viết, chúng ta có chữ quốc ngữ abc, loại chữ kí âm phổ biến trên thế giới. Mặc dù đó là chỉ là cách phiên âm để tập nói tiếng Việt của các cố đạo ngoại quốc, nhằm mục đích truyền đạo của họ, rồi người Pháp dùng nó để xóa bỏ chữ Hán, chữ Nôm, dân tộc Việt Nam chúng ta vẫn biết chớp lấy, hoàn thiện thêm đến mức chuẩn mẫu, từ những năm 20, 30 của thế kỉ XX. Chữ quốc ngữ abc kí âm (tôi nhấn mạnh: kí âm) là cơ sở để từ nhất thống vốn có lại càng nhất thống hơn.

Đó là những gì không phải mới lạ, nhưng cũng là một cách tự nhắc nhở. Đúng hơn, đó là cảm nghĩ của tôi từ rất lâu, lâu lắm rồi, về giọng nói quê nhà Quảng Trị – Huế, về giọng nói Quảng Nam thân yêu, và gần hơn, đó là kỉ niệm riêng, giữa tôi và người bạn cũ Ngô Vưu, một chiều hôm ngồi lai rai bên bờ sông Hương, sau ngày tôi mua được “Từ điển Mường – Việt”, cách đây cũng gần 8 năm…


Trần Xuân An

Tối 20, gặp lại bạn cũ quê nhà,

và chiều 21-7 HB10,

chợt nhớ sông Bến Hải, 56 năm Hiệp định Genève (1954-2010)


Nguồn: http://www.tranxuanan-writer.net

READ MORE - TRẦN XUÂN AN - TỰ TÔN TIẾNG NÓI DÂN TỘC, GIỌNG NÓI QUÊ HƯƠNG

Thursday, January 13, 2011

LÊ THỊ HIỀN MINH - DỰ CẢM CHIỀU CUỐI NĂM



Tặng Anh và các con yêu quý



Thoắt trôi

Con tàu thời gian đang lao mình về ga cuối

Những bước chân hối hả trở về nhà trong buổi chiều đông.

Anh có nghe?

Vó ngựa dồn, tiếng hí

Vọng về từ phía trời xa

Xuân

Hạ

Thu

Đi qua

Còn lại ta sau chặng đường nắng, bụi

Với chiều đông cùng bản tin thời tiết.

Hôm nay trời nhiều mưa

Nhiệt độ 9 đến 12 độ.

Ngày mai trời tiếp tục mưa

Đợt rét còn kéo dài nhiều ngày nữa...

Chiều đông.

Anh tìm khép lại những ô cửa

Em nhen bếp lửa nấu bữa cơm chiều

Các con vô tư ngồi hát

Những bài tình ca.

Mùa xuân về trước ngõ.


LTHM

READ MORE - LÊ THỊ HIỀN MINH - DỰ CẢM CHIỀU CUỐI NĂM

NGUYỄN ĐẶNG MỪNG - XUÂN NHỚ BẠN


Ngàn năm hồ dễ mấy ai quên

(ThếLữ)



Xuân về đâu mấy hôm nay

Mà lòng còn lạnh những ngày tàn đông

Bài thơ rắm rối trăm vần

Hồn thơ đã vỡ trăm lần xót xa

Bạn bè ơi nhớ gì ta?

Những năm lưu lạc đã xa quá rồi

Thằng “Lưu Linh”một góc trời

Thằng như “Lý Bạch” một thời say trăng

Thằng như “Mặc Tử” say tình

Thằng như ta những say mình say em

Lâu rồi chuyện cũ nghe thèm

Con đường thành Cổ về bên Cổ Thành

Khách về như lạ như quen

Tiếng ai ríu rít ai tìm tìm ai

Để cho tiếng khóc tiếng cười

Lan trong xuân lộng một thời yêu nhau

Trường xưa bạn cũ về đâu

Đông qua xuân lại tìm đâu thấy người

Góc trời chuyện cũ mờ thôi

Ta đây hồ dễ quên người xưa đâu.


N.Đ.M


READ MORE - NGUYỄN ĐẶNG MỪNG - XUÂN NHỚ BẠN

Wednesday, January 12, 2011

TỪ KẾ TƯỜNG - PHẠM BÁ NHƠN: NGƯỜI HƯỚNG VỀ NGUỒN CỘI


VỀ HUẾ
THƠ PHẠM BÁ NHƠN
NHẠC VÕ CÔNG DIÊN

TIẾNG HÁT BẢO YẾN
beta.nhaccuatui.com




Tôi nhận được bản thảo tập thơ “Nguồn Cội” của Phạm Bá Nhơn vào những ngày cơn bão số 9 đã càn quét qua một số tỉnh miền Trung và Tây Nguyên. Lũ đang rút, bão đã tan, nhưng áp thấp nhiệt đới thì vẫn còn khiến thời tiết thành phố nơi tôi ở lúc nào cũng ẩm ướt với màu trời xám xịt và bất chợt có những cơn mưa vắt ngang qua những hàng cây u buồn trút lá xuống mặt đường xao xác gió.

Trong thời tiết ngậm ngùi ấy tôi đã ngồi đọc suốt tập thơ dày hơn 200 trang trên khổ giấy A4 của Phạm Bá Nhơn trong tâm trạng của một người nhìn những thảm lá bay về cội và chợt thương những đời lá cứ chờ đến lúc mưa dông gió giật để lìa cành. Và thật bất ngờ làm sao trong tập thơ khá đầy đặn của Phạm Bá Nhơn lần này, tôi cũng nhặt ra được những bài thơ nói về những chiếc lá rơi về nguồn cội trong những ngày cuối thu, trong hồi ức về cha, về mẹ, về quê hương thơ ấu và trong cả kỷ niệm tình yêu với những mối tình đã đi qua trong đời anh, để hình thành những thảm lá vàng đầy ám ảnh, tuyệt vời trong mỗi hoài niệm, vô cùng lãng mạn và hạnh phúc. Trong đó tất nhiên có những đời lá không theo chu kỳ, thời tiết, quy luật để rơi về cội mà đã bị gió cuốn tơi bời, bay tan tác trong bão lũ nơi quê anh.

So với tập thơ trước, tập thơ “Nguồn Cội” lần này của Phạm Bá Nhơn có cái nhìn trầm tĩnh, sâu lắng hơn ở mọi góc cạnh mà anh đề cập. Nhiều bài thơ đầy tâm trạng của một người luôn khắc khoải về quê hương, nguồn cội, về một thời thơ ấu cơ cực, cái tuổi thơ đối với những người khác thì rất lãng mạn, đẹp một cách bềnh bồng nhưng sao đối với Phạm Bá Nhơn luôn mang nặng và ám ảnh của một thời gian khó, cay nghiệt. Nhưng Phạm Bá Nhơn không oán trách, mà chỉ nhắc nhở như một kỷ niệm khó quên để rồi cũng chính trong những vần thơ ấy cho thấy một con người đã đứng lên, vượt qua số phận và đĩnh đạc bước vào đời để trưởng thành.

Xuyên suốt trong tập thơ, cái ý tưởng “về với nguồn cội” vẫn đậm nét qua những bài thơ khi Phạm Bá Nhơn nói về hình ảnh người cha, người mẹ và một thời gian khó rất đời thường như bao người cha, người mẹ khác của chúng ta, trên quê hương đất nước trải qua chiến tranh, bom đạn đầy tai ương, gian khổ nhưng vẫn hiên ngang đứng lên, không chỉ có thế mà còn nuôi dưỡng, dạy dỗ những người con thành đạt và không quên cội nguồn. Hình ảnh người cha, người mẹ ấy vừa rất riêng biệt của Phạm Bá Nhơn, nhưng đồng thời cũng rất chung, giống như hình ảnh người cha, người mẹ của chúng ta luôn bắt gặp ở bất cứ đâu, trong bất cứ hoàn cảnh nào. Phải chăng Phạm Bá Nhơn đã nhận rõ đó là bóng mát và đó cũng chính là “nguồn cội” của mình?

Tôi xin hẹn một mai về Quảng Trị
Thăm dòng sông bãi cát với làng quê
Thương mảnh đất một thời nuôi tôi lớn
Thủa ấu thơ hôm sớm vẫn đi về
Quảng Trị ơi quê hương và nguồn cội
Mới vừa xa mà lòng nhớ khôn vơi
Làm sao quên những chiều nơi xóm nhỏ
Ngày ra đi xao xuyến mãi trong đời…
(Hẹn về Quảng Trị)

Trong cuộc sống của chúng ta và hình như đó là quy luật- có không ít người sinh ra rồi gắn bó với nơi “chôn nhau cắt rốn” suốt đời mà cũng có người vì mưu sinh, vì công việc đã bỏ quê ra đi biền biệt, chân vướng vào bụi trần cho đến khi một ngày nhìn lại thì hình ảnh quê hương đổ ập về, xôn xao theo những chiếc lá và chắc chắn Phạm Bá Nhơn đã từng đi nhặt những chiếc lá rơi về cội ấy để đỡ nhớ quê hương.

Chuông đổ trên chùa vang ngõ vắng
Vọng về lay động tấm lòng tôi
Khuya nay phố cũ say trong mộng
Tiễn bóng trăng đêm lặn cuối đồi
Ai trên những chuyến xe qua vội
Có chở theo về những sớm mơ
Thương người nhặt lá bên hè vắng
Khuất dưới làn sương bóng mập mờ…
(Đêm thu thị trấn)

Phạm Bá Nhơn cũng có những lúc rất lãng mạn và hào sảng khi mượn hình ảnh những người uống rượu bên hồ để nói lên tâm trạng của mình. Đó là tâm trạng của người “xa xứ” trong một lúc nào đó bỗng bàng hoàng nhớ lại hình bóng quê nhà rất xa mà cũng rất gần gũi trong tâm trạng và hình ảnh của người “say” men rượu bên hồ và “say” cả một bóng hình lồng lộng của quê hương khi phảng phất cơn gió heo may.

Cũng có kẻ đang ngồi bên chum rượu
Giữa trời quê phảng phất gió heo may
Phút tĩnh lặng lòng, gửi người xa xứ
Sợi tơ trời tháng tám lửng lơ bay
Để ta nhớ và mảnh hồn bốc cháy
Theo hơi men rớt xuống ở bên hồ
Trưa dưới quán cạn dần chum rượu cũ
Ngất ngây say thương nhớ cánh đồng khô…
(Gởi người uống rượu bên hồ)

Với quê hương là như thế, còn với tình yêu? Phạm Bá Nhơn cũng không thể thoát khỏi cái lưới tình đã chụp xuống đời anh và để lại một dấu ấn sâu đậm giống như vết dao khắc trên những thân cây. Theo thời gian mọi thứ có thể thay đổi, cây có thể rụng hết lá rồi chết đi, trơ cành nhưng trên thân gỗ mục vẫn con in đậm vết khắc ấy và anh đã có một chút triết lý về thời gian và khoảng cách, tất nhiên ở giữa là một mối tình nào đó đã mất mà còn rất sâu nặng trong từng câu chữ mênh mang.

Em có biết thời gian và khoảng cách
Đã làm ta xơ xác héo hon gầy
Thời gian ơi sao không là một thoáng?
Khoảng cách đời đo đủ những gang tay
Em đã đến ru hồn ta ngây ngất
Cho ta say thiếp lặng với bao ngày
Hãy quay lại lay tấm lòng động đậy
Dù một lần rồi vội vã đi ngay…
(Thời gian và khoảng cách)

Qua tập thơ “Khung trời mây trắng” lần trước và “Nguồn Cội” lần này tôi bắt gặp lại một Phạm Bá Nhơn vẫn sâu nặng trong cõi lòng mình hình bóng người mẹ, người cha. Hình như trong sâu thẳm đáy lòng anh luôn có hình bóng của bóng mát một quê hương yêu dấu, có một tình yêu lãng đãng hoài niệm đằm thắm và rõ nhất là hình bóng người mẹ, người cha đi theo anh từ những bước chân từ thuở thơ ấu cho đến lúc trưởng thành. Dù đường đời luôn gập ghềnh, khúc khuỷu, chông gai và đến khi đã thành đạt, hình ảnh ấy vẫn luôn hiện diện, như là chỗ dựa tinh thần để anh vươn lên. Còn khi đã trưởng thành, được sự nghiệp thì là nơi để anh nhớ về, đó là “nguồn cội”. Phạm Bá Nhơn làm thơ không phải chỉ để làm thơ, hay chỉ là một nhà thơ, mà anh còn là một người con có hiếu, anh mượn thơ và qua thơ để nói về mẹ, về cha bằng những hình ảnh thật phong phú trong thơ và đáng trân trọng.

Đôi bàn tay của mẹ
Nâng nhẹ cả đời con
Mười ngón tròn xinh xắn
Theo năm tháng héo mòn
…
Ôi bàn tay mầu nhiệm
Thương bao nét dịu hiền
Giữa lòng con hiển hiện
Những ngón vẫn còn nguyên.
(Đôi bàn tay mẹ)

Hoặc

Người về biền biệt nơi đâu
Đường kim múi chỉ từ lâu bạc màu
Khăn xưa cha đội trên đầu
Thương bàn tay mẹ ngồi khâu bên chồng
Đã qua một thuở mặn nồng
Nay khăn đóng cũ vẫn cùng với ta…
(Chiếc khăn đóng của cha)

Trên bước đường doanh nghiệp của anh, qua những trang thơ “Nguồn Cội”, Phạm Bá Nhơn như đang trút hết những nỗi niềm sâu thẳm và được toát ra từ trái tim mình. Thỉnh thoảng người đọc cũng vẫn bắt gặp những ý tứ trùng lắp hay những ngôn từ mộc mạc đơn sơ, có lẽ đã xuất phát từ những mạch nguồn tích tụ đến độ tuôn trào.

TỪ KẾ TƯỜNG
READ MORE - TỪ KẾ TƯỜNG - PHẠM BÁ NHƠN: NGƯỜI HƯỚNG VỀ NGUỒN CỘI

Tuesday, January 11, 2011

ĐỨC TIÊN - THÁNG GIÊNG




Tháng giêng sao trời bỏng nắng

Cứ ngỡ hạ về xôn xao

Con đường giờ còn hoang vắng

Cho ai nhớ những ngày nào...


Hoa tím nở trên đồi vắng

Màu hoa nhắc chuyện xưa xa

Bây giờ còn quên còn nhớ

Ai đã lạnh lùng đi qua


Tháng giêng không còn rét ngọt

Áo em mặc gió buông hờ

Những chiều ngồi không ngóng đợi

Vô tình mong một cơn mưa


Có những lúc buồn không nói

Ngắm nhìn rồi cũng chán chê

Thời gian sao mà ngốc nghếch

Vô tư không biết xuân về


Nắng nung cho đời cáu gắt

Tháng giêng giờ đã xa rồi

Cây xanh giờ không ra lộc

Em chờ chờ mãi không thôi


Ai hay trời cũng biết giận

Mùa xuân đánh tráo mất rồi

Mưa xuân cũng thôi biền biệt

Hạ về từ tạ lên môi


Tháng giêng nắng nung như lửa

Bầu trời không gợn màu mây

Biết ai có còn mong đợi

Tháng giêng nỗi nhớ vơi đầy.


Đ.T

Tháng Giêng, 2010

READ MORE - ĐỨC TIÊN - THÁNG GIÊNG

Monday, January 10, 2011

LÊ QUANG THÁI - HƯƠNG SẮC CHÙA HUẾ

Chùa Từ Đàm


Vườn chùa và kiến trúc chùa Huế là một kiệt tác mẫu mực giữa tâm và cảnh. Tâm cảnh viên dung thì thế giới mới tròn đầy và mùa Xuân thường tại khắp cả thế gian. Cảnh quan của danh lam cổ tự tuy không đồ sộ mà e ấp kín đáo, không lộng lẫy tân thời mà uy nghi trầm mặc như tính cách của chính Huế vậy. Xuân kinh cũng là Thiền kinh, tuy hai mà một, ẩn hiện dưới những tàng lá xanh, giao hưởng giữa Thiên – Địa – Nhân, không mấy khi ồn ào, sôi động mà đã sưởi ấm lòng người.

Một không gian mà tâm – tình – cảnh – đạo quyện lẫn vào nhau, ở đó Xuân đạo tiệm cận với Xuân đời:

“Chầm chậm Xuân về lòng đất chuyển

Nhạc trời thanh thoát rộn muôn phương

Tâm linh một thoáng bừng giao cảm

Lặng hết bao nhiêu lớp sóng còn”.

(Giao cảm – N.H.)

Đầu năm mới, dạo quanh vườn chùa là cái thú tiêu dao của người sành điệu. Du khách có dịp thưởng thức sự giao hòa tuyệt diệu giữa mùa Xuân đất trời và mùa Xuân lòng người, đưa hồn vào với làn hương hoa cỏ, lắng nghe âm thanh rì rào như cung đàn muôn điệu của suối khe và tiếng ca rộn rã trầm bổng của chim muông đang hát mừng ánh dương mới:

“Xuân về trước ngõ

Mai nở vàng sân

Sư ung dung bước

Chim hót trên cành”.

(Xuân – Nhuận Thường)

Xuân trong chùa Huế do vậy mà ấm tình đạo vị, khoảng cách giữa người với người, giữa thầy với trò gần gũi nhau hơn. Ngoài thế gian, quý nhất là gia đình sum họp của nhiều thế hệ cháu con, còn trong chùa thì đầm ấm thiêng liêng là tình cảm đôn hậu, khiêm cung tâm-tâm ấn-ấn giữa thầy và trò.

Sau ba hồi chuông trống Bát nhã đón giao thừa, xông lên một lò trầm, chế một bình trà thật thơm, dâng một đĩa mứt gừng ngọt ngọt cay cay, vị đệ tử đầu cùng pháp đệ của mình y áo chỉnh tề đảnh lễ chúc thọ sư phụ và các vị cao niên trong chùa, để xin lời giáo huấn đầu năm.


Mùi trầm hương thơm ngát, lời giáo huấn từ từ thấm sâu vào tâm khảm mọi người:

“Xuân khứ xuân lai nghi xuân tận

Hoa lạc hoa khai chỉ thị xuân”

(Chân Quang)

Ngày mùng một Tết là ngày nhộn nhịp nhất của nhà chùa. Bổn đạo Phật tử gần xa và người dân xứ Huế có tập tục lên chùa lễ Phật sớm:

“Trong vườn hoa vừa nở

Cô em đến đúng mùa

Đọc xong bài thơ cổ

A nh đưa em viếng chùa”

(Vô đê – Phương xích-lô)

Không hẹn trước mà ai nấy đều trang nghiêm, liên nghĩ đến quá khứ, hiện tại và tương lai, để mong cầu cho tâm hồn được sáng trong, không còn vương vấn với bụi trần.

Thiết tưởng, đã đến chùa thì tuyệt nhiên không có chuyện đi hái lộc và xin lộc, coi xăm bói quẻ đầu năm. Tâm tư đi chùa của người Huế thật dung dị, nhẹ nhàng, sâu lắng và kín đáo, không khoe khoang mốt này mốt nọ, tinh tế tự nhận ra nơi mình một tình cảm chung thủy với nếp xưa, thiết tha gìn giữ hương vị mùa Xuân truyền thống. Lên chùa lễ Phật mà đồng thời cũng là dâng nén hương lòng với người thân được ký tự, quanh năm suốt tháng có thiện duyên thấm nhập hương thiền:

“Chắp tay cầu nguyện thanh bình

Buồm xuôi gió thuận gập ghềnh qua nhanh

Đêm nay Nguyên đán tâm thành

Nghe hương trầm thoảng về quanh mái nhà”.

(Xuân cầu nguyện – Huyền Không)

Từ bao giờ cho đến bây giờ, nhà chùa là nơi che chở ôm ấp cho tâm hồn con người chuộng đức tin mà không sa vào hình thức phô trương phù phiếm. Đến chùa là để thắp nén hương lòng, dâng lên thành hương đạo, tuyệt nhiên không có cảnh ai ai cũng dâng hương một cách ngút ngàn. Khách đến chùa, trước lễ Phật, sau thăm hỏi chuyện trò vui vẻ với quý Ôn quý thầy, cầu chúc tốt lành:

“Xuân đa cát khánh

Hạ bảo bình an

Thu tống tam tai

Đông nghinh bách phước”.

Ảnh hưởng của đạo vào đời thật là sâu lắng. Mọi người hiểu và thấm nhuần được tinh thần Phật giáo “Tâm thanh thế giới thanh” cho nên họ hiểu Xuân lòng mới là Xuân miên viễn, mà phấn chấn tinh thần gạn đục khơi trong. Đẹp gì bằng lánh xa những tác hại đua đòi, sa ngã vào chốn bùn nhơ, để hướng đến xây dựng một xã hội phú xuân phú cường. Vì thế mà cảnh sắc chùa Huế rất tĩnh mà cũng rất tịnh so với các nơi khác.

Tình Xuân, tình đạo, tình người hòa quyện là một thì đạo pháp mới trường tồn và vẻ vang. Ngày xưa, mỗi khi Xuân về, quý Ôn thường đi thăm hỏi và tặng quà cho bà con làng xóm mà bất luận là bổn đạo hay quần chúng chưa là Phật tử, quà thì chẳng có là bao, lạng trà, gói bánh hay một nhành mai... nhưng dường như đã gợi lên một tình cảm ưu ái và cảm hóa khó tả nên lời.

Cố Hòa thượng Hải Đức (1875-1963), người lớn tuổi thì gọi là Phật sống, trẻ thơ thì kêu là ông Bụt. Ôn thường chỉ hỏi chuyện làm ăm, mùa màng thất bát của bà con làng xóm. Đặc biệt trong những năm chiến tranh ác liệt, Ôn đã che chở và cho đất những người gặp phải hoạn nạn dựng nhà, sớm hôm nương náu cảnh Phật, chí thú làm ăn hướng thiện... Cảm nhận được tình thương của một vị Phật sống, chủ nhà như đã hít vào một làn hương Xuân đạo vị rồi.

Lạ thường, có một Ôn Trúc (1907-1992) cương nghị rắn rỏi như bản chất của cây tùng vạn niên trong rừng Thiền Trúc Lâm. Nét thiền đăm chiêu của đại lão Hòa thượng như soi rọi tận đáy lòng của những người một thời quyền quý cao sang, văn hoa chữ nghĩa, kiều diễm kiêu sa mà bỗng chốc vô thường chín đến khiến họ rơi xuống bên bờ vực thẳm. Nhờ cái nhìn tế độ của Ôn mà họ có thể vực dậy để đi lên, trụ vững giữa đời với một phong cách mới, bắt kịp hơi thở của thế đạo nhân tình, để tìm về cảnh Xuân trong quỹ thời gian còn lại ngắn ngủi của đời người.

Ôn Báo Quốc (1919-1984), Ôn Từ Đàm (1921-2001)... Quý Ôn đều rất thương người cô đơn cô quả, nghèo xác nghèo xơ, sa cơ lỡ vận, nên năm nào cũng vậy, sai phái quý thầy lớn tuổi đến tận từng nhà cấp phát gạo nếp, bánh trái và mừng thêm một số tiền ít ỏi, để họ đón một cái Tết vui vẻ, khỏi tủi phận nghèo:

“Cỏ hoa tươi tốt, gió Từ bi thổi mát sinh linh

Mây núi chập chùng, trăng Bát nhã lồng soi vũ trụ”

(Câu đối – HT.Thiện Siêu)

Nhiều cụ già râu tóc bạc phơ ở vùng đất Bồi Thành ngay giữa dòng sông Hương kể rằng: Mỗi năm đầu Xuân, ngày mùng một Tết, Hòa thượng Pháp Hải (1928-1988) cùng bổn đạo Phật tử ra trươỏc tượng đài Mẹ hiền Quán Thế Âm làm lễ và thả ba con bồ cầu trắng để cầu nguyện an lạc khắp cả tám hướng mười phương.

Và còn rất nhiều những hương sắc lung linh huyền nhiệm khác nữa khắp chốn Thiền môn mà trước chẳng biết sau, sau chẳng biết trước, làm sao kể hết.

Tình Xuân ấy đã truyền thừa từ ngàn xưa, vì thế mà rất nhiều ngôi chùa ở Huế mang tên Xuân, tên An, tên Lạc. Phải chăng người dân Thuận Hóa ngày xưa đã nhìn thấu được sự sinh động đầy sắc Xuân trong chùa mà đặt tên?!

Như đến chùa Trường Xuân thì “bốn mùa trông có vẻ Xuân”, chùa Diên Xuân quanh năm cỏ đồng đưa thoảng mùi hương, chùa Phú Xuân, chùa Xuân Phú trong chùa dồi dào sắc Xuân, chùa Dương Xuân, chùa Xuân Dương lung linh giọng đồng ngân xa, tràn ngập ánh Xuân. Mỗi ngôi chùa là một nét đặc trưng của nàng Xuân kiều diễm ở chốn đế kinh. Đến chùa tức gặp được Xuân, cầu mong người người luôn sống như Xuân vui tươi hướng thiện.

Nào là chùa Xuân An, chùa Kim An, chùa Hòa An... đến chùa chắc gặp bình an, an bình, cầu mong quanh năm sống khỏe dài lâu. An là an tâm, có an tâm mới lạc nghiệp.

Như vậy Xuân trong chùa Huế là Xuân an lạc. Phật tử Huế đi chùa là để cầu được thường lạc. Cho nên bất kể ở đâu có chùa có Phật có tháp là mọi người đều đến chiêm bái, nương náu...

Ngang qua đầu múi Nam cầu Trường Tiền gặp Đài kỷ niệm Thánh tử đạo, người Huế ngả nón sập dù (ô) nguyện cầu thánh thiện... Đến Trung tâm Văn hóa Phật giáo, vào dâng nén hương đảnh lễ và chiêm bái Tổ sư Liễu Quán rồi mới tỏa ra muôn nơi.

Sắc Xuân chùa Huế là sự hòa quyện hương lam từ chốn thiền môn lan tỏa khắp núi rừng của miền sông Hương núi Ngự, cùng với tiếng chuông chùa vang vọng đến tận hư không...

Xuân năm nay, Xuân của năm Thân, cầu mong mọi người nhận diện cuộc đời bằng con đường chính trực, thì tin chắc rằng mùa Xuân sẽ trở lại mãi cùng bên chúng ta:

“Hỏi ai, ai nhớ Xuân muôn thuở

Xuân tại lòng ta mới thật là”.

(Xuân đạo – Thích nữ Diệu Không)

30/01/2009

Thích Trí Năng - Lê Quang Thái

READ MORE - LÊ QUANG THÁI - HƯƠNG SẮC CHÙA HUẾ

Sunday, January 9, 2011

TRẦN KIÊM ĐOÀN - BẾN TẦM XUÂN

Xuân sanh, Hạ chín, Thu héo, Đông tàn. Nếp nghĩ xuôi dòng đang đi theo một con đường mòn miên viễn như thế. Bỗng có một vị sơn tăng – như thiền sư Mãn Giác (1090) chẳng hạn – huơ tay, mỉm cười, tầm nhìn hướng ra ngõ vắng đầy sương, ánh mắt bắt gặp một cành mai hôm trước và kêu lên hồn nhiên:

“Đình tiền tạc dạ nhất chi mai!”

Đừng tưởng Xuân tàn hoa rụng hết,

Hôm qua sân trước, một cành mai.

Tiếng chổi trong tâm của người quét lá sân chùa vọng lại:

Đừng tưởng tuổi già răng rụng hết

Bảy mươi còn mọc chiếc răng khôn.

Cái “tưởng” là một định kiến ước lệ, khô cằn; trong khi hiện thực là dòng tươi mát, trôi chảy thường hằng. Thiền sư và người quét lá sân chùa chẳng có gì khác nhau. Chỉ có một lằn ranh chưa gặp. Nhưng rồi có thể gặp nhau trong nháy mắt; một lúc nào đó sẽ gặp; hay không bao giờ gặp: Tri giác và Tuệ giác.

Mai nở sớm hay mai cũ của mùa Xuân năm trước là câu hỏi theo cái nhìn cảm giác đời thường. Nhưng với sự tinh anh từ ánh mắt đang phóng nét nhìn lạnh cả hư không, về thế giới hư huyễn – mà chữ nghĩa nhà Phật thường gọi là “quán niệm vạn pháp vô thường” – thì đó chẳng phải là cành mai mới cắt trong vườn nhà ở làng Hương Cần, vác qua Huế bán ở chợ hoa ngày Tết Thương Bạc mà là cành mai “thật”, cành mai tinh túy mang bản chất của mọi cành mai từ cổ sơ đến hôm nay và mãi mãi.

Dựa theo thơ của danh tăng Ashi Zumi, phái Tào động Nhật Bản thì có thể nói như thế này: Cắt một nhành mai hình tướng. Cắm vào bình thủy tinh. Có một cành mai thể tánh. Ẩn trong lòng biển xanh. Phải chăng như Mẹ là hình tướng mà Tình Yêu cao tuyệt vô biên của mẹ cho con là thể tánh? Mẹ không còn nữa, tình yêu của mẹ ẩn trong lòng biển xanh.

Như ngày xưa, cụ nghè tam nguyên Yên đổ Nguyễn Khuyến cũng nhìn thấy: “Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái. Một tiếng trên không ngỗng nước nào?!” Nhưng đây là cái nhìn thông qua cảm xúc, tri giác. Có người hỏi: “ Văn chương tự cổ vô bằng cớ. Văn chương từ xưa là sản phẩm của cảm xúc nên không có bằng cớ gì cả. Vậy thì căn cứ vào đâu để nói Nguyễn Khuyến không là một thiền sư như Mãn Giác của hơn nghìn năm trước?” Hình như chỉ có một sự khác nhau rất nhỏ. “Hình như” vì bạn và ta, và cả vũ trụ vô biên nầy đều giả tạm, huống chi là một dòng tư tưởng mơ hồ (?!). Thiền sư Mãn Giác nhìn vạn sự qua nét nhìn tĩnh lặng mà như xoáy vào nhịp biến dịch thành trụ hoại không. Cụ nghè Nguyễn Khuyến nhìn đối thể với sự hồ nghi chất vấn. Còn hồ nghi sẽ thiếu vắng một nụ cười tuệ giác.

Mấy chùm trước giậu “hoa năm ngoái” của Nguyễn Khuyến là hình tướng mà cành mai “đình tiền tạc dạ” của Mãn Giác là thể tánh. Mai nở thông qua cái nhìn tuệ giác – Tuệ giác mùa Xuân.

Nụ cười, tuệ giác và mùa Xuân là ba khái niệm và ba hình ảnh riêng biệt. Nhưng khi kết hợp và hòa quyện vào nhau sẽ thành một nguồn vui trong mơ ước. Nhân gian ai lại không thích nụ cười; ai mà chẳng muốn mùa Xuân. Muốn hái nụ tầm Xuân và tắm bến tầm Xuân nhưng chẳng biết mặt mũi cái “nụ xanh biếc” hay cái bến vạn lý sơ xưa đó như thế nào và ở chốn nào. Tìm đâu cho gặp khi nó ở chính trong ta. Nó là tiếng pháo khi vui, sương khói khi buồn, đóa hoa khi yêu và nỗi đau khi ghét. Khi tìm nỗi lòng trên sông núi thì chính sông núi là nỗi lòng. Ngay khi hết một đời buồn vui, xuôi tay về đất; người ở lại thì khóc bù lu bù loa, thế mà người ra đi vẫn muốn cười, tuy hơi làm biếng hả miệng: Ngậm cười nơi chín suối!

Tôn giáo ra đời cũng chỉ vì nhân gian thích nụ cười vĩnh cửu. Tâm lý muốn lên Thiên Đàng, hay về Niết Bàn cũng chỉ vì… ham vui! Một tâm thức không còn ham vui là đã bị đóng băng trong khổ đau và phiền não. Mọi hồng ân cứu rỗi hay độ trì đều chẳng còn tác dụng gì lên sỏi đá. Bởi vậy, những thế giới hứa hẹn của các tôn giáo sau khi chết mà không có những an lạc vĩnh hằng, yên nghỉ đời đời, chim trời ca hát, nhạc trời véo von, niềm vui vĩnh cửu, hoa thơm cỏ lạ bốn mùa thì hết thảy những người thích cười sẽ “trả lại vé” đã mua với giá một đời tin cẩn, mong cầu niềm vui cho chuyến xe thổ… mộ cuối cùng!

Người theo đạo Phật thể hiện giấc “mơ vui” của mình qua hình ảnh đức Phật Di Lặc. Theo niềm tin và tín lý nhà Phật thì có ba đời, mười phương Phật. Có hằng hà sa số chư Phật trong ba đời quá khứ, hiện tại và vị lai. Thích Ca Mâu Ni là đức Phật của thời hiện tại trong cõi Diêm Phù Đề mà chúng ta đang ở. Đức Phật tương lai của cõi người nầy sẽ là Phật Di Lặc (Maitreya: Gốc chữ Phạn Maitri, có nghĩa là từ bi, yên vui) là một vị đại bồ tát đang ngự ở cung trời Đâu Suất. Nếu chỉ riêng Việt Nam ta cũng đã có gần cả trăm kiểu cười, cách cười và nụ cười khác nhau thì thế giới cũng nhìn về biểu tượng yên vui của đức Phật Di Lặc qua nhiều dáng vẻ phong phú như thế.

Tuy đạo Phật có nhiều bộ phái và pháp môn khác nhau, nhưng hình ảnh Phật Di Lặc vẫn trở thành một ước vọng chung tràn đầy niềm vui và hạnh phúc ở chân trời tương lai. Đức từ bi của Phật Di Lặc được biểu hiện qua nhiều hình tướng khác nhau, tương hợp với điều kiện và hoàn cảnh xã hội, bản chất con người và đặc tính văn hóa của từng xứ, từng vùng.

Qua những tượng đài và kinh văn Ấn Độ thì Phật Di Lặc là hiện thân của từ bi và trí tuệ với dáng vẻ minh triết, trầm tư. Với Tây Tạng, Tích Lan thì Phật Di Lặc là hóa thân của sự tái sinh an lạc và huyền nhiệm với dáng vẻ đẹp đẽ cao cả và huyền bí. Nhưng tới đất Trung Hoa thì Phật Di Lặc là biểu trưng của sự hoan hỷ, phong phú, mãn nguyện với nụ cười khoan khoái, sắc diện béo tròn, thân đầy, bụng phệ, lúc nào cũng sẵn lòng dang tay đón nhận mọi người. Dưới ảnh hưởng sâu rộng và lâu dài của kinh điển toàn bằng chữ Hán từ Trung Hoa du nhập vào nước ta (Hán tạng), hình tượng đức Phật Di Lặc ở Việt Nam vẫn chưa đạt được một bản sắc thuần Việt của tinh thần “ Nam quốc sơn hà Nam đế cư”. Cũng là Nụ Cười Di Lặc, nhưng bản chất văn hóa “cung hỷ phát tài” của Trung Quốc làm mất đi tính chất tuệ giác của nguồn suối mơ ước tâm linh. Nhiều nơi lẫn lộn giữa Phật Di Lặc và ông Thần Tài. Thậm chí, khi mang ảnh tượng đức Di Lặc của Việt Nam và Trung Quốc sang các nước Âu Mỹ thì trở thành những ông Phật Mập (Fat Buddha), Phật Cười (Laughing Buddha), Phật Phát Tài (Lucky Buddha) hoặc những hình thức tương tự để trang trí quanh những bồn hoa, hồ cá ở vườn sau.

Từ bi là lòng thương không mù quáng, trí tuệ là sự hiểu biết không cực đoan và hoan hỷ là niềm vui không dung tục. Tuy nhiên, qua lăng kính Đại Thừa của Phật giáo Trung Hoa – được đâm chồi nẩy lộc trong khung cảnh xã hội nông nghiệp và buôn bán nhỏ, giữa hoàn cảnh văn hóa Khổng, Lão và phiếm thần dân gian làm xương sống tâm linh – phật Di Lặc trở thành biểu tượng của sự hoan hỷ, sung mãn, hạnh phúc mang tính phàm trần, thực dụng. Vì con người tạo ra tôn giáo; chứ không phải tôn giáo tạo ra con người nên con người có quyền chối bỏ tôn giáo, nhưng tôn giáo không thể chối bỏ con người. Cho nên, không ít người đã chơi trò dung dăng, dung dẻ với quyền tự do tâm linh để trói buộc chính mình và người khác vào một sự dính mắc trầm kha như bệnh dịch hạch. Chỉ riêng trên đất Trung Quốc từ thế kỷ thứ III đến nay, đã có tới con số hàng trăm nhân vật theo Phật giáo xuất gia và tại gia tự xưng là “hiện thân của Phật Di Lặc” giáng trần. Việt Nam ta cũng không thiếu những ông đồng bà vãi như thế. Nhưng tất cả con người và vọng động đều đến rồi đi như những hiện tượng chiến tranh, dịch họa.

Thật ra, đức Phật Di Lặc là tâm ảnh nói lên niềm hy vọng thường an lạc; là biểu tượng mong cầu cho một tương lai thịnh vượng, tươi sáng. Đời có bao nhiêu niềm ước mơ tốt đẹp thì sẽ có bấy nhiêu mẫu hình tướng của nụ cười Di Lặc. Nếu có chăng điều quan ngại thì nó sẽ không dừng lại ở mức độ hình tướng mà ở tác dụng của phương tiện. Nếu nụ cười “niêm hoa vi tiếu” của Ca Diếp là sự khai mở của tuệ giác, nhìn đóa sen trên tay Phật mà thấy hết tánh sen là tánh Phật; thấy ngó sen đang ở trong bùn vẫn theo dòng sinh diệt, lặng lẽ nhô lên khỏi mặt nước và có ngày nở rộ tỏa ngát hương thì nụ cười Di Lặc cũng sẽ “đồng nhất thể” tương ưng như thế. Đó là một nụ cười rất đẹp và trọn lành không phân biệt Bố Đại Hòa Thượng khi cho hay Thằng Bờm khi nhận.

Càng ngày, những nước văn minh Âu Mỹ càng nghiên cứu sâu rộng để tiếp nhận và trân trọng tinh thần phá chấp, từ bi và hóa giải của đạo Phật. Nhưng khác với người phương Đông, ngưởi phương Tây không còn ảo tưởng về vai trò “cứu rỗi” vô điều kiện của tôn giáo. Bởi vậy, họ tìm đến đạo Phật như một triết lý, một nghệ thuật sống và đồng thời là một tôn giáo. Một câu hỏi thường xuyên xuất hiện của những người Âu Mỹ mang nặng định kiến thần học phương Tây khi nhìn về đạo Phật là: “Đạo Phật là một hệ thống triết lý, một học thuyết vô thần hay một tôn giáo?” Người hiểu đạo (nói chung) trả lời không ngập ngừng: “Thưa, cả ba!” Nhưng cũng có người bị dị ứng với khái niệm “vô thần”. Dị ứng bởi vì tư tưởng bị đóng khung và lão hóa trong kiểu cách suy nghĩ duy lý và chủ quan gọi tên, dán nhãn hiệu của phương Tây. Nghĩa là chỉ biết khư khư định nghĩa “Thần” như là một đấng Sáng Thế toàn năng, một Vua Trời, một Thượng Đế. Mahatma Gandhi, người tin vào Thượng Đế Hindu, đã nhận xét: “Đạo Phật không phủ nhận Thượng Đế nhưng định nghĩa Thượng Đế theo một cách khác.” Đấng “Sáng Thế toàn năng” theo đạo Phật là “Duyên Khởi từ bản thể Tánh Không” như cách nhìn của nhà vật lý nổi tiếng nhất thời hiện tại, Stephen Hawking đã viết trong Sự Tạo Tác Vĩ Đại (The Grand Design).

Người phương Tây tìm đến cái đẹp của Phật giáo không phải qua hình thức lễ nghi, bái vọng với một tâm lý đột phá những vòng trói buộc của tín điều và tín lý. Họ đánh giá chân xác với lòng biết ơn Nụ Cười Di Lặc và tin rằng, một đức Phật tương lai sẽ đến như một sự tái khẳng định nếp nghĩ, lối sống hòa bình, an lạc và trí tuệ chứ không phải là để “tái sáng thế” đầy huyền nhiệm và bí ẩn của nếp tâm linh cổ sơ. Nếu quan chiêm những ảnh tượng của Phật Di Lặc trong những chùa viện Phật giáo phương Tây ngày nay, người ta sẽ thấy toát lên vẻ đẹp đầy nghệ thuật phảng phất hay rõ nét nụ cười toát ra từ bên trong. Những ảnh tượng Di Lặc với ngoại hình đầy hoan hỷ đậm nét “ thỏa thê trù phú” trong các chùa viện Việt Nam mô phỏng hay chỉ là phiên bản của Trung Quốc đang mất dần tác dụng giải thoát tâm linh trong thời đại mới.

Truyền thống người Trung Quốc dân dã khi gặp nhau thường chào câu đầu tiên: “Đã ăn chưa?” Ngày nay, kinh tế phát triển, cơm áo không còn là nhu cầu bức xúc hàng ngày thì tiếng chào cũng thay đổi dần như phương Tây không còn lo ăn mà lo vui, lo đẹp. Ước mong dáng vẻ Di Lặc cũng sẽ theo phong trào tập “Tai Chi” và “Fitness” mà trở nên thon thả, thanh lịch hơn trong những thế hệ tương lai. Đặc biệt là trong khung cảnh văn hóa Việt Nam, các chùa viện Phật giáo cần tìm cầu một biểu tượng an lạc của đức Di Lặc nói riêng và tất cả các tôn tượng, kiến trúc nói chung, phù hợp với bản chất dân tộc, văn hóa và tính độc lập, độc sáng của mình.

Năm mới, mùa Xuân là sức bật của tuổi trẻ, là điểm hẹn của tuổi trung niên và dấu ghi thêm một bước gần đất của tuổi già. Nhưng tinh thần... ham vui cũng giông giống như “tài không đợi tuổi”. Mong rằng, tinh thần nụ cười của tuệ giác mùa Xuân đang có sẵn trong mỗi lòng người sẽ đâm chồi nẩy lộc tự nhiên và dễ dàng như hoa lá quanh mình.

Natomas, tuần đầu tháng Giêng 2011

T.K.Đ

READ MORE - TRẦN KIÊM ĐOÀN - BẾN TẦM XUÂN

Thursday, January 6, 2011

HOÀNG CÔNG DANH - HẸN



TRUYỆN NGẮN

Anh cho tôi cái hẹn. Chị cho tôi cái hẹn. Vâng vâng cho tôi cái hẹn. Vâng vâng. Và vân vân những câu đại loại thế. Đấy là kiểu làm việc của giám đốc Sanh mỗi khi cầm điện thoại. Sợi dây ống nghe xoắn tít những cuộc hẹn của đối tác. Người ba mươi tuổi như thế, tác phong làm việc như thế thì thành đạt là đúng rồi. Nhưng, từ đó sinh ra cái thói quen là với bạn bè, Sanh cũng bảo: ông cho tôi cái hẹn, bà cho tôi cái hẹn. Thế vẫn chưa hết. Đến khi Sanh gặp Hoa, tiếng sét ái tình tưởng như có thể đánh tan tất cả những thói quen của chàng giám đốc trẻ, vẫn chừa lại cái câu hẹn hò cứng nhắc. Bệnh nghề nghiệp.

Lần đầu tiên Sanh gặp Hoa tại một cuộc hội thảo của các doanh nghiệp. Hoa lúc ấy đi theo đoàn của công ty bạn. Sanh chủ động xin số điện thoại của Hoa, đó là lần đầu tiên Sanh “hạ mình” làm một việc không phải của giới kinh doanh. Công việc của những gã đa tình. Hôm sau Sanh bấm máy di động gọi cho Hoa, hẹn gặp gỡ. Đầu dây Hoa rụt rè nhỏ nhẹ: “Dạ, hôm nay em bận rồi!” Không hẳn là bận đâu, có khi thích đi rồi nhưng cứ giả bộ. Con gái mà, dễ dãi quá người ta đánh giá. Sanh biết điều đó nên cũng chẳng năn nỉ gì thêm. Cuộc gọi tán dóc kể từ lúc Hoa a lô cho đến thời điểm từ chối là mười lăm phút. Chưa bao giờ Sanh cầm điện thoại lâu như thế để nói những chuyện chẳng đâu vào đâu. Bất giác Sanh chững chạc hẳn: “Vậy, em cho anh cái hẹn!” Hoa dời chiếc điện thoại ra khỏi tai rồi trố mắt nhìn vào màn hình đang sáng. Cái anh chàng này thật lạ, hẹn hò với con gái gì mà cứng thế. Trước đây, Hoa cũng từng phải lãnh rất nhiều cú điện thoại tán tỉnh, nhưng chưa ai hẹn hò kiểu ấy. Những câu Hoa đã từng nghe đại loại: tiếc quá nhỉ, thôi ngày mai em nhé. Hoặc: anh rất nóng lòng nhìn thấy em, anh sẽ bỏ tất cả chỉ để gặp em trong giây lát. Hoa đang ngẩn ngơ thì đầu bên kia Sanh đã dập máy. Hoa nghĩ, kiểu người cứng nhắc như thế, có cảm xúc gì mà gặp cơ chứ.

Được thế đã hay. Đằng này chẳng hiểu sao tối về nhà Hoa cứ lởn vởn nhớ lại câu nói hồi chiều của Sanh. Cho anh cái hẹn. Bưng mâm cơm lên. Cho anh cái hẹn. Gắp miếng thịt. Cho anh cái hẹn. Đến lúc buông chén xuống. Vẫn. Cho anh cái hẹn. Suốt bữa cơm cứ hẹn hẹn khiến Hoa không nuốt nổi miếng cơm. Mẹ Hoa quở: ơ cái con bé này, hôm nay sao thế? Bố thì biết ý, liếc mắt qua: ngày trước bà cũng thế, báu lắm đấy!

Lên giường nằm, Hoa vẫn không sao xóa được cái câu hẹn hồi chiều. Càng cố quên thì nó càng rõ ràng hơn, giọng nói chắc chắn như đinh đóng. Hoa thầm nhủ thôi kệ, cứ thử gặp anh ấy một lần xem sao. Nghĩ đến đấy thì Hoa ngủ ngay. Cứ như chuyện an bài. Sáng hôm sau thức giấc, Hoa liền nhắn tin cho Sanh, hẹn chiều nay gặp.

Buổi chiều gặp gỡ. Bờ hồ sóng nước lăn tăn. Quán cà phê dựng trên triền cỏ thoai thoải. Chiều có sương. Sương làm ướt cỏ. Cỏ làm trượt gót giày. Hoa ngã vào Sanh. Sanh cầm lấy tay. Và tay trong tay. Diễn hay như phim Hàn Quốc. Có ít mưa rắc rắc. Ướt át hẳn, cả lá cả Hoa cả Sanh. Bữa nay giám đốc Sanh không đóng sơ mi cà vạt mà mặc một chiếc áo nút dây kết kiểu đại gia hào hoa. Ăn nói cũng mỹ miều. Sanh có một anh bạn nhà thơ, hôm qua mới gặp nhau, thế là hôm nay Sanh nói y như thơ.

- Người ta bảo sanh đẹp bởi gốc và lá, nó là thứ bon sai nói theo kiểu người Nhật. Nhưng anh nghĩ nếu sanh có hoa thì nó sẽ là biểu tượng của hạnh phúc theo kiểu người Việt mình.

Vừa nói Sanh vừa chỉ tay ra chậu cây kiểng trước mặt. Hoa cúi xuống, nín cười. Bây giờ mà cười thì vô duyên lắm. Câu nói vừa rồi của Sanh nghe nó cứ ươn ướt sường sượng thế nào, vậy mà Hoa cũng thấy hay hay. Yêu rồi đấy!

Buổi hẹn thứ nhất coi như đẹp. Tuần sau Sanh gọi điện rủ đi ăn tối. Hoa cũng giả vờ nói em bận rồi. Sanh lại bảo cho anh cái hẹn. Tuần sau nữa Sanh gọi đi siêu thị. Hoa đang ngập ngừng (cũng như lần trước) định từ chối thì Sanh nhanh nhảu cho anh cái hẹn. Vài lần gặp gỡ, Hoa nhận thấy cái anh giám đốc không đến nỗi khô khan. Dù cho cách hẹn hò có hơi thô nhưng Sanh luôn đúng giờ. Thế là đem lòng tin tưởng. Đàn bà họ thích đàn ông ở chỗ chính xác ấy. Hoa nghĩ. Một người chồng có kế hoạch thời gian rõ ràng và biết chấp hành thì còn gì bằng.

Hoa đến thì thì hoa phải nở. Hoa nhận lời yêu Sanh mới hai tháng trước, giờ lấy nhau cũng được rồi. Thời đại công nghiệp, mọi thứ đều nhanh. Với lại, Hoa cũng sợ mất Sanh. Xung quanh chàng giám đốc trẻ ngời ngời sự nghiệp có lắm bươm bướm rập rình.

Cưới nhau rồi, những cuộc hẹn hò tình tứ thưa hẳn. Đã là của nhau còn gì hẹn hò. Tuy thế Sanh vẫn là con người mẫu mực về thời gian. Xong việc cơ quan về nhà ngay. Trong lúc Hoa lúi húi làm cơm trong bếp thì Sanh đi tắm rửa. Bữa cơm luôn có vợ có chồng. Dù bận rộn đến mấy Sanh cũng cố gắng thu xếp để về ăn cơm ở nhà.

Cánh phụ nữ ở cơ quan luôn lấy Sanh ra làm gương cho chồng mình. Tổ dân phố tuyên dương anh chị Sanh Hoa là điển hình nếp sống văn hóa mới. Hàng xóm bảo cái nhà hai tầng ấy sống hạnh phúc. Họ gọi Sanh là anh chàng rô bốt. Làm việc cứ như máy. Nghe khen thế Hoa cũng sướng trong bụng. Nhưng nghe chữ rô bốt hoài thì cũng đâm ra ngán. Mình lấy chồng chứ có phải lấy cái máy đâu nhỉ? Nghĩ lại, Hoa càng thấy biệt danh rô bốt thật hợp. Mọi hoạt động của Sanh đều răm rắp giờ giấc, kể cả chuyện vợ chồng. Hoa không phải lẳng lơ, không phải loại đàn bà thích gió trăng, nhưng Hoa cần phải tươi. Không lẽ đến cái chuyện ấy mà vợ cũng phải góp ý cho chồng. Rồi chẳng đặng đừng, Hoa cũng thỏ thẻ tâm tình. Sanh nhất quyết không nghe. Người đúng hẹn, người nhất nhất chỉn chu, thường cũng là người bảo thủ.

Hoa thèm cảm giác ngập ngừng hẹn hò, những thoáng chốc lãng mạn của Sanh những ngày chưa là vợ chồng. Hình như đôi nào lập gia đình rồi cũng thế cả, lãng mạn bay hết chỉ còn khói bếp bay lên.

Lần ấy Sanh đi công tác ba ngày. Từ thành phố xa xôi cách nhà năm trăm cây số, Sanh gọi điện về nhắn với Hoa là tối nay đúng chín giờ anh sẽ về đến nhà. Hoa dạ vâng tỏ vẻ mừng rỡ. Biết tính Sanh nói là giữ lời nên Hoa đi chợ mua thật nhiều đồ ăn về làm cơm tối thịnh soạn. Xong xuôi hãy còn sớm. Trước chín giờ tối, nghĩa là Sanh chưa về nhà. Nghĩa là Hoa có quyền làm mọi việc mà cô muốn.

Hai tiếng đồng hồ qua đi, cưỡi gió cưỡi mây cưỡi trăng. Hoa tỉnh giấc sau cơn mụ mị êm đềm, cô cầm lấy chiếc đồng hồ: đã chín giờ ba mươi rồi ư? Hoa giật mạnh chiếc áo vắt hờ trên lưng gã đàn ông đang nằm ngủ ngon. Dậy dậy, về đi. Hoa giục. Gã đàn ông mặc nhanh áo quần rồi rút lẹ. Hoa cũng đã mặc xong áo quần, đang ngồi trước gương soi trang điểm lại. Đã là chín giờ bốn lăm phút. Vậy là Sanh trễ hẹn. Ngày trước Hoa yêu Sanh vì sự chính xác. Nhưng giờ ngồi trước gương, vừa kẻ lại son môi Hoa vừa cười nhẹ. Chợt nàng thấy yêu cái sự trễ hẹn của Sanh quá đi.

Ở nơi quán cóc gần nhà Hoa, có một người đàn ông sơ mi đóng thùng, cổ thắt cà vạt, đang ngồi uống rượu một mình. Người ấy trông rất giống Sanh, chồng Hoa. Ừ, đúng là Sanh rồi. Còn chồng Hoa thì hình như không phải!


08/09/2010

HCD


Nguồn : http://daibieunhandan.vn (truyện + minh họa)

READ MORE - HOÀNG CÔNG DANH - HẸN