Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Thursday, January 28, 2016

MÙA XUÂN - Thơ Nhật Quang



 Tác giả Nhật Quang













MÙA XUÂN

Xuân sang
bình minh hồng thức giấc !
long lanh những giọt sương
loang vào màu nắng ấm
xua tan giá lạnh mùa Đông

Xuân sang
nắng trải dài mênh mông...
dáng Xuân thướt thal
khoe màu áo mới
Vàng tươi những cánh đồng
ngan ngát phù sa

Xuân sang
chim ríu rít hót ca
xôn xao đàn én lượn
bên hiên mai,đào nở
ong bướm về nhở nhơ

Xuân sang
đong đầy những ước mơ...
rạo rực lòng nhân thế
Xuân xanh tươi hy vọng
khắp muôn người chờ mong.

                       Nhật Quang
                         (Sài Gòn)


READ MORE - MÙA XUÂN - Thơ Nhật Quang

TRỜI ẤM LÊN RỒI... - Thơ Nguyễn Khôi



Tác giả Nguyễn Khôi. Sinh 1938.
Quê: Phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
Đ/c: P12A05. Nhà 17T6 Đường Hoàng Đạo Thuý. Q Thanh Xuân TP Hà Nội


TRỜI ẤM LÊN RỒI...

"Văn phi sơn thủy vô kỳ ý
Nhân bất phong sương vị lão tài"
                                   Thơ cổ
             
Trời ấm lên rồi...Đào xuống phố
Cúc ngạo tình xưa đượm hương thu
Trải qua sương tuyết đằm nỗi nhớ
 Ngỡ mình còn đang ở Sa Pa ?
                    
Nắng hửng cả Mỹ Đình rạng rỡ (1)
Những cao tầng thắp sáng trời cao
Cởi khăn trùm mặt đi "bát phố"
Em đẹp như Thơ má ửng đào.
                    
Du xuân ta phượt lên Châu Mộc
Vương tình luống cuống  mấy bờ lau (2)
Về Tản Viên Sơn lòng chan chứa
Hớp hồn mây trắng giũ hồn đau.
                    
Trời ấm lên rồi...chim hí hửng
ríu rít bình minh, hứng khởi đời
Vợ chồng líu ríu lên Yên Phụ (3)
Dạo xem Đào, Quất...sắm hoa chơi.

                        Hà Nội 28-1-2016
                         NGUYỄN KHÔI

---

(1) Khu đô thị mới Mỹ Đình, một trung tâm hiện đại ở Thủ đô Hà Nội.
(2) Thơ Quang Dũng :
         Ai lên Châu Mộc chiều sương ấy
         Có thấy hồn lau nẻo bến bờ...
(3) Một chợ hoa tết ở Thủ Đô Hà Nội.
            
READ MORE - TRỜI ẤM LÊN RỒI... - Thơ Nguyễn Khôi

MƯA BỤI - Thơ Hiệp Kim Áo Tím



                    Tác giả Hiệp Kim Áo Tím



MƯA BỤI

Hạt bụi nào bay bay
Bám trên đôi vai gầy
Hôn lên làn tóc rối
Rồi tan vào gió mây

Đà lạt sáng hôm nay
Ủ ê buồn suốt ngày
Cơn lạnh về buốt gáy
Hoa cỏ hờn lay lay

Mây xám che mặt trời
Gọi hoài chẳng thèm ơi
Hay là trốn đi chơi
Thế là mưa rơi rơi

Ui sao mình trẻ con
Thích mưa trên lối mòn
Ta rong chơi cho thoáng
Để tâm hồn đi hoang

Hạt bụi mưa tung tăng
Nhẹ nhàng trốn cái nắng
Hoa hồng màu trăng trắng
Vui... buồn chẳng nói năng

          Hiệp Kim Áo Tím
         Đà Lạt, 27/1/2016

READ MORE - MƯA BỤI - Thơ Hiệp Kim Áo Tím

ĐƯỜNG XUÂN - Thơ Trương Đình Đăng






ĐƯỜNG XUÂN

Bỏ xa
Tuổi phượng hồng sen ngát
Ta đi qua
Mùa lá chín cúc vàng
Ơi những gì đang tơ vương vấn vít
Để cành đào nuối tiếc ngọn đông ngang!

Phía trước là đường xuân
Là tươi xanh, sức sống
Là óng ả thanh tân
Là tai mèo bén nhọn...
Nung ngọn lửa tình sưởi buồng tim lạnh
Thức niềm tin lấp lánh phía chân trời .

Kìa !
Nụ mai mở cánh đón mời
Rủ áo tàn đông tô hồng môi thắm
Xuân đi trong ấm nồng sắc nắng
Mạch đời reo dậy sáng vầng dương
Tình em trao
Dào dạt phía yêu thương !

              27/1/2016  
         Trương Đình Đăng

READ MORE - ĐƯỜNG XUÂN - Thơ Trương Đình Đăng

Wednesday, January 27, 2016

SÀI KHAO, ƠI SÀI KHAO - Thơ Nguyễn Khôi



Tác giả Nguyễn Khôi. Sinh 1938.
Quê: Phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
Đ/c: P12A05. Nhà 17T6 Đường Hoàng Đạo Thuý. Q Thanh Xuân TP Hà Nội


SÀI KHAO, ƠI SÀI KHAO
"Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi"
                        Thơ Quang Dũng
                   ----------
Lời dẫn : Bản Sài Khao, xã Mường Lý, huyện Mường Lát, cách Tp Thanh Hóa 300 Km. Từ trung tâm xã Mường Lý lên Sài Khao phải vượt 20 Km đường đất theo triền núi cao, trời nắng có thể đi xe máy, còn trời mưa thì lội bộ cả ngày đường trầy trật. Bản có 80 hộ dân ở nơi đỉnh núi cao nhất tỉnh Thanh Hóa, chưa có điện, canh tác nương rẫy, nhờ trời, tỉ lệ đói nghèo 100%.Trường tiểu học Tây Tiến có 76 học sinh...vừa qua có mưa tuyết...Mừng là có nhóm thiện nguyện "vì trẻ em vùng cao" của Thanh Hóa & Thủ Đô đã quyên góp được trên 50 triệu VNĐ lên cứu trợ Sài Khao kịp thời. NK xúc động, xin có đôi vần :

Sài Khao ơi, 70 năm rồi nhỉ ?
Vẫn "bản Mèo" đỉnh núi mù sương
Trời mưa tuyết, lối lên chẳng dễ
"Súng ngửi trời" lội bộ đường trơn...
                    
Thương bản nhà mái gianh vách đất
Thương các em quần áo phong phanh
Thương cô giáo quanh năm "cắm bản"
thức với trăng sao gieo con chữ yên lành...
                    
Vẫn còn có những tấm lòng thiện nguyện
từ Thủ Đô, Thanh Hóa lên thương :
-Quần áo rét, chăn màn, gạo muối
đến với Sào Khao chẳng quản dặm ngàn...
                    
70 năm,
"Người đi Tây Tiến" đã về Trời lẫm liệt
Giấc mơ xưa "Độc lập- Tự Do..."
vẫn còn RÉT thấu xương, buốt thịt
Thương Sài Khao
đỉnh núi sương mờ...
          
Hà Nội, 25-1-2016 những ngày rét 6 độ C
    NGUYỄN KHÔI

READ MORE - SÀI KHAO, ƠI SÀI KHAO - Thơ Nguyễn Khôi

TUYẾT RƠI … NGHỊCH CẢNH - thơ Trường Hải Lê Văn Đông





TUYẾT RƠI … NGHỊCH CẢNH

                   Những ngày giữa tháng Chạp
                   Kề cận Tết cổ truyền
                   Trời giáng trận rét hại
                   Tuyết rơi trắng vùng biên !
                   Dân tình chạy nháo nhác
                   Gia súc chết hàng đàn
                   Cây cối rũ tàn hết
                   Lấy gì Tết với Xuân ?
                   Lũ trẻ thiếu quần áo
                   Tuyết cứ rơi phũ phàng
                   Người lớn mặt nhàu nhĩ
                   Thở dài thắt ruột gan !
                   Thế mà xe rồng rắn
                   Du lịch xem tuyết rơi
                   Vui đùa, ảnh tự sướng
                   Thỏa thuê nơi cổng trời.
                   Núi rừng gội tuyết trắng
                   Dân nghèo chịu tai ương
                   Người dư thừa tiền, sức
                   Được dịp ngắm tuyết vương !

                   Đỉnh Sơn, 25/1/2016
                   Trường Hải Lê Văn Đông
READ MORE - TUYẾT RƠI … NGHỊCH CẢNH - thơ Trường Hải Lê Văn Đông

KHỈ TRONG THƠ VĂN - Trần Ngọc Hưởng




Trần Ngọc Hưởng

Khỉ Trong Thơ Văn

Tản mạn


Wikipedia Tiếng Việt viết về hình tượng con khỉ trong văn hóa như sau:

Trong văn hóa đại chúng và trong hư cấu, hình ảnh con khỉ cũng có một vị trí nhất định. Trong 12 con giáp, Thân là con Khỉ đứng hạng thứ 9 của 12 con vật trong Thập Nhị Địa Chi.[1] Loài Khỉ có đặc tính giống loài người, thuộc loài có vú, sanh con, thường ở trong rừng, ưa nhảy nhót, đu chuyền từ cây này sang cây khác, sống từng đoàn, thông minh hơn các thú vật khác, cho nên thường bắt chước loài người. Khỉ đi vào đời sống văn hóa người châu Á qua năm thân, tháng thân, ngày thân, giờ thân. Trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao Việt Nam, khỉ cũng được người đời nhắc đến.  Ở Nam Bộ, chiếc cầu tre bắc qua kênh rạch ở vùng sông nước được gọi là cầu khỉ…

Cũng ở Nam bô, tiếng địa phương gọi khỉ là mai. Hang Mai là hang khỉ:
Tháng ba cơm gói ra Hòn,
Muốn ăn trứng nhạn phải lòn Hang Mai.
(Ca dao)

Nhà văn Phi Vân tác giả tập phóng sự đồng quê nổi tiếng từng doạt giải thưởng hội Khuyến Học Cần Thơ năm 1943, tựa là Đồng Quê đã viết:

" Kinh Hang Mai ở làng Khánh Lâm, Cà Mau, bắt đầu từ kinh Biện Nhi trổ ra Tiểu Dừa. ( ... ) Ở hai bên bờ người ta có thể gặp những con trúc, rái, kỳ đà, chồn, ong mật và vô số cá " và khỉ dĩ nhiên.


Dân gian ta thường nói Khỉ ho cò gáy để chỉ nơi hoang vắng hẻo lánh xa xôi khô cằn sỏi đá khó thể mưu sinh hay tạo dựng sự nghiệp.

Nói “Mặt nhăn như khỉ ăn ớt” hay Nhăn nhó như khỉ ăn gừng để chỉ người đang khổ tâm, khó chịu đau buồn quạu quọ.

Nói “ Rung cảy nhát khỉ “để chỉ sự  hăm he hù dọa không đạt đươc hiệu quả gì, chẳng đi đến đâu cả. Bởi vì gặp người khỉ tót lên ngọn cây, dưới gốc cây người có hù dọa rung cây khỉ bám chặt vào cây không bị sao cả.

Hay nói “ Nuôi ăn tay áo, nuôi khỉ dòm nhà “ để chỉ những việc không nên làm . Vì khỉ là con vật nghịch ngợm phá phách, nuôi nó như nuôi người xấu kẻ gian trong nhà thật là bất lợi.

Chuột chù chê khỉ rằng hôi
Khỉ lại trả lời: cả họ mày thơm?

Khi chê bai dè bỉu ai điều gí đều phải cẩn thận coi chừng chính mình có mắc phải điều đáng bị phê phán đó không?


Tương cận hay cùng tộc với khỉ là vượn. Người ta hay nói Hứa hươu hứa vượn để chỉ hứa cho qua chuyện chẳng đáng tin vì hươu hay vượn là những con vật thoắt hiện thoắt mất, khi có khi không.

Má ơi, đừng gả con xa
Chim kêu, vượn hú biết nhà má đâu?!

Câu ca dao là tâm sự cô gái mới lớn không muốn rời xa cha mẹ lập mái ấm riêng nơi góc biển chân trời xa vợi.

Chim kêu, vượn hú chỉ nơi hoang vắng.

Khỉ ho cò gáy cuối đất cùng trời.


Vượn lìa cây có ngày vượn rũ
 Anh xa nàng mặt ủ mày chau!

Câu ca dao này diễn tả tình yêu lứa đôi khăng khít thắm thiết keo sơn nên khi chia xa mỗi người mỗi ngả thì  chàng trai ủ rũ mặt mày như vượn phải lìa cây hay chim phải xa rừng.

Mồ hôi gió đượm
Thiếp thương chồng thiếp phải chạy theo
Con ơi, mẹ dắt lên đèo
Chim kèu bên nọ, vượn trèo bên kia!

Câu này diễn tả tình cảm của người vợ thương chồng băng đèo vượt núi bất kể khó nhọc gian truân đường xa trắc trở.

Đó là khỉ trong ca dao tục ngữ.

Còn trong thơ?

Từ đời nhà Trần, thiền sư Huyền Quang  (1254-1334) đã nhắc tới vượn con vật cùng họ với khỉ trong bài phú tả cảnh chùa Hoa Yên núi Yên Tử:

 Chim óc (=gọi) bạn, cắn hoa nâng cúng
Vượn bồng con, cời cửa nghe kinh

Hay Nguyễn Trung Ngạn (1289-1370)  tả cảnh chùa Long Động cũng núi Yên Tử:

Tựa tháp không lời ...  sư ngắm núi
Cách rừng u hận, vượn gào trăng

Nguyễn Trãi (1374-1442)  cũng vậy, đã phác họa lại cảnh nhà minh:

Cửa song giãi xâm hơi nắng
Tiếng vượn vang kêu cách non

Ông cũng nói:

Thề cùng viên hạc trong hai ấy
Thấy có ai han chớ đãi đằng

Viên hạc là vượn hạc hai con vật biểu trưng cho tâm hồn quân tử bạn thân của kẻ tu hành người ẩn dật thời xưa.

Han là từ cổ là hỏi han.

Ý nhà thơ nói đừng vì thấy người ta hỏi han mà mình thiết tha với những mối quan hệ xã hội buộc ràng.

Đó là văn học cổ điển.

Sang thơ ca hiện đại, ta bắt gặp tiếng vươn lâm tuyền trong thơ Đinh Hùng với cảnh núi rừng Việt bắc những năn bốn mươi:

Ta mê tiếng vượn sầu muôn kiếp
Chim núi cầm canh, hoẵng gọi bầy
( ...)
Rồi những đêm sâu, bỗng hiện về
Vượn lâm tuyền khóc rợn trăng khuya
( ...)

Trải sông nước vượt qua từng châu thổ
Ta đến đây nghe vượn núi kêu sầu.

Gần hơn là thơ Bùi Giáng, ông hay nói đến Đười ươi , con vật cùng họ nhà khỉ và có khi tự xưng mình là Đười ươi thi sĩ. Nhà phê bình Đặng Tiến cho rằng: Đười ươi ở đây, là hoài vọng con người tiền sử, tâm hồn "dã nhân " chưa tiêm nhiễm tập tục, lề luật và thành kiến :

Đi về giũ áo đười ươi
Đăm chiêu khách địa từ người tặng ta
( ...)

Ấy là thơ thuở chưa điên
Ở trong dấu ngoặc quàng xiêng reo cười
Bây giờ xoang điệu đười ươi
Diệu hoa lầu các ngậm ngùi dấn thân

Có thể nói trong văn học, con khỉ là hình tương khá quen thuộc. Người đọc có thể thấy Tề Thiên Đại Thánh trong “Tây Du ký”, sự tích con khỉ…. trong truyện cổ. Con khỉ là cầm tinh người tuổi thân. Nhiều người tin rằng  Người sinh tuổi khỉ (tuổi thân) thường có nhiều năng lực, thuộc trong 4bốn tuổi tứ sinh Dần, Thân, Tỵ, Hợi. Những người nằm trong nhóm tuổi này thường có sức mạnh đặc biệt không về thể xác thì cũng về tinh thần nên năng động hoạt bát, và là một trong những con giáp có số đào hoa bậc nhất. 

Năm mới này, năm Bính Thân 2016, mong sẽ là năm của sự thành đạt về tài chính, mang lại nhiều vận may và sức khỏe cho tất cả mọi người chứ không riêng gì cho những người tuổi thân vì đây chính là năm của con khỉ nhanh nhẹn thông minh có tiếng xưa nay ai cũng biết và tin như vậy.
                                  
                                                                TNH










 
 























READ MORE - KHỈ TRONG THƠ VĂN - Trần Ngọc Hưởng

ĐỜI KHÓI - Tản văn Phan Nam




 - 

Phan Nam

ĐỜI KHÓI

Tản văn


1.      Chớm đông. Những hơi lạnh quê nhà tràn qua chiếc áo mỏng manh khi bố ra đồng. Đất trời vội chuyển mình qua những cơn mưa ngày. Tôi chợt đưa tay hứng từng giọt mưa thấm vào lòng người nỗi buồn man mác khó tả. Thương bố trải qua bao biết bao mùa đông mà cái rét thấm vào khuôn mặt bao vẻ âu lo. Dựng lên một trại nhỏ, bố thắp lên ngọn lửa ấm trong những chuyến đi bứt mây rừng, bẻ măng, bắt ốc… Bố đốt lửa vừa để sưởi ấm vừa để um khói xua đuổi muỗi cho qua giấc ngủ đêm đông nơi rừng sâu nước độc. Chỉ khi xa ánh điện đêm vào rừng mới thấy sự quý giá của ngọn lửa giúp con người có thể trụ vững mưu sinh trong hoàn cảnh tăm tối. Đời bố gắn bó với sương khói trong những đêm mùa đông như thế, để nuôi tôi ăn học thực hiện giấc mơ trên giảng đường đại học. Chỉ ở quê nhà tôi mới cảm nhận hết bếp lửa thắp sáng yêu thương.
Khói chờn vờn quanh bếp rồi bay lên bầu trời chất chứa xúc cảm trong vô định. Khói cay cay mắt mẹ cho tôi bữa cơm gia đình đầy ấm áp, hạnh phúc mà chắc chắn bao đứa trẻ nào trên cõi đời nào cũng một lần thèm khát. Bàn tay gầy của mẹ lam lũ nắng mưa cũng chỉ mong muốn những đứa con trưởng thành, có thể tự lập trong cuộc sống. Dẫu biết bếp gas, bếp điện có hiện đại đến đâu cũng không thể thay thế được bếp lửa của mẹ, với cái kiềng ba chân vững chải tạo ra những đốm than hồng. Làn khói bốc lên dẫu có mong manh đến đâu cũng tạo ra sự ấm ấp cho bao kiếp người, gắn kết miền yêu thương gói trọn trong gian bếp nhỏ.
2.      Có đi qua bao mùa đông mới thấy hết ánh lửa ngọt ngào luôn cháy rực trong tâm can con người. Dẫu biết có trải qua cay đắng, sự hi sinh lam lũ mới cho ta thành quả thơm tho trong từng tâm hồn giản dị, mộc mạc. Những con người “chôn nhau cắt rốn” ở nơi chốn thôn quê luôn cảm nhận được điều kỳ diệu từ những làn khói chiều chôn dấu qua từng hạt bụi, từng dấu chân. Mùa này người dân quê tôi lại tất bật với mùa làm đồng, để ươm mầm hạt giống chờ mùa vàng vẫy gọi. Lòng tôi bâng khuâng nhớ những chiều tháng ba nắng dát vàng qua cánh đồng lúa vàng ươm. Cánh diều căng gió trải dài qua bước chân tuổi thơ một đời mải chạy trên cánh đồng lúa thơm ngát nghĩa tình của làng quê.
Giấc mơ ấp ủ trong mầm lúa chợt vút cao trên bầu trời quê thương, gió mang theo hình hài của hương khói đốt đồng vẫy gọi nơi nào đó tưởng chừng xa xôi lắm. Tôi chỉ biết mỗi lần nhắm mắt lại là hương khói lại nồng nàn đôi môi, cay xè sóng mũi, hiện hình trong trái tim. Tôi thấy giọt mồ hôi của ba mẹ một đời lam lũ, tôi thấy nụ cười hạnh phúc của ba mẹ khi gánh lúa vàng nặng trĩu trên lưng, tôi thấy giọt nước mắt của ba mẹ ngày tôi cầm giấy báo đậu đại học chạy qua đồng làng… tất cả như ẩn hiện qua làn khói tưởng chừng hư vô. Miên man từng gốc đất quê hương cho ta niềm riêng thăm thẳm. Trải qua tháng năm đắm mình trong hình hài của sợi khói vô tri.
3.      Những nẻo đường quê Việt dường như đều nặng vương sợi khói ẩn chứa biết bao điều diệu kỳ. Ở đâu có khói là ở đó trái tim luôn ấm áp bởi bếp lửa cội nguồn. Sợi dây gắn kết tâm hồn con người luôn bắt nguồn từ những điều nhỏ bé mà ta khó lòng hình dung ra được. Khói sương đi vào tiềm thức của mỗi chúng ta từ khi chôn nhau cắt rốn đến khi mang đi hạt cát quê nhà bay đến khoảng trời xa lạ. Có lẽ làn khói mong manh có linh hồn muốn chúng ta phải trân trọng, gìn giữ. Mỗi độ xuân về trông thấy khói lam chiều là lòng tôi có một cảm giác đặc biệt rất khó diễn tả, vừa náo nức lại vừa bâng khuâng muốn quay về quê nhà đón giao thừa. Khói gắn bó với con người chỉ trong giây phút và khoảnh khắc ngắn ngủi nhưng nó chính là một mảnh của đời người. Từng góc cạnh của làng quê đều thấp thoáng làn khói: từ bếp đun trà của ông, tách cà phê nóng buổi sớm của ba, khói trưa khi mẹ vào bếp, đám lá khô được gom đốt lúc hoàng hôn, khói đốt đồng vấn vương mỗi chiều… Đặc biệt nhất vẫn là khói nghi ngút chiều cuối năm bốc lên từ nồi bánh Tết. Cả nhà quây quần gói bánh trong không khí ấm áp ngập tràn. Dường như khói được sinh ra để cho mỗi chúng ta cảm nhận được hạnh phúc gia đình tỏa ra từ gian bếp. Nồi bánh Tết thường rất lớn nên ba phải chọn khoảng đất trống lớn ở đầu ngõ để đặt ông Táo, rồi cả nhà lại quây quần đợi bánh chín, hàn huyên nói cười vui vẻ. Tự bao giờ làn khói đã chìm sâu vào tâm thức tôi một cách tự nhiên như dòng chảy ngọt ngào của sữa mẹ nuôi dưỡng tâm hồn.
Mỗi khi về quê tôi luôn được uống giọt mê say của mùa xuân trong vô hình, bắt nguồn từ những điều giản dị rất khó nhìn thấy, nhường chỗ cho xúc cảm lên ngôi. Tình cờ tôi đọc được bài thơ “Mùi khói” của tác giả Trần Sang (An Giang), in trong tập thơ “Sông muôn đời vẫn thế”, những vần thơ lay động tâm hồn tôi: “mười năm con vẫn không phải là người của phố/ nhớ khói bếp nhà mình quá/ mẹ ơi!/ mười năm sao con không rứt ra được phố?/ con cũng không biết mình đang/ chờ đợi một điều gì/ và mắc nợ một nơi để đi về/ mênh mông thương nhớ…”. Khói luôn mang lại trong lòng tôi một chút gì đó cao quý, thiêng liêng nhưng cũng vừa giản dị, gần gũi. Có lẽ vì khói gắn bó với người dân quê tôi một đời từ lúc còn nghe câu hát nằm nôi. Đối với tôi khói chính là linh hồn phác họa yêu thương, nuôi dưỡng tâm hồn từ những điều bé nhỏ.

                                                                                     PHAN NAM


READ MORE - ĐỜI KHÓI - Tản văn Phan Nam

CHIỀU MƯA THÀNH PHỐ - thơ Vũ Trầm Tư





Chiều  Mưa  Thành  Phố

Chiều mưa qua thành phố
Buốt lạnh đôi vai gầy
Con đường xưa hun hút
Mái tóc hờn nhẹ lay

Chiều nay mưa qua phố
Không có em bên đời
Dấu chân mềm lá cỏ
Lời thầm cố nhân ơi

Ta theo đời mỏi mệt
Chạy hoài đã mòn hơi
Em chưa hề ngó lại
Ta gọi chẳng nên lời

Một lần đôi mắt biếc
Ru hồn ta chơi vơi
Áo bay chiều lộng gió
Sóng tình lên ngất trời

Chiều nay mưa về tới
Chờ hoài cánh chim bay
Phố lên đèn xanh đỏ
Còn đâu một vòng tay

Mai nầy thành phố cũ
Mưa không về nữa đâu
Đã khô rồi nước mắt
Người đi phương trời nào?

Tiếng chim vườn tình ái
Đâu còn giọng hót quen
Nhà ai giờ khép cửa
Không còn sang ánh đèn

Vũ Trầm Tư
READ MORE - CHIỀU MƯA THÀNH PHỐ - thơ Vũ Trầm Tư

Tuesday, January 26, 2016

DUYÊN QUÊ - Truyện ngắn Trương Thị Thanh Tâm





Trương Thị Thanh Tâm

DUYÊN QUÊ

Truyện ngắn

        
"Hỡi cô đi dọc bờ đê
Áo tung sắc tím, không chê chỗ nào."

Tôi dừng bước,đặt cái giỏ xuống đất, phe phẩy chiếc nón, quay nhìn dưới ruộng.
 “Ủa giờ nầy còn ở đó sao anh?”
 “Ờ, gần xong rồi, thấy trời mát nên anh nán lại một chút. Em mới về hả Tâm?”
“Dạ, em về thăm ba má và cả anh nữa nhớ quá ... hi hi...        
Nhớ anh em ngủ không ngon        
Về thăm đôi bữa,cùng làng xóm thôi         
Mau mau về nhé anh ơi         
Trà thơm, em đợi bánh ngon em mời.
Em về trước, tối qua nhà chơi nha anh Vũ.”
“Ừ, ừ em về anh mừng quá Tâm ơi, nôn quá rồi đa.”
Tôi cười rão chân về nhà,chỉ còn độ trăm thước mà sao xa như hàng ngàn cây số....rồi thì cửa nhà cũng thấp thoáng đàng trước , hai cây Anh đào uốn cong đầy hoa tim tím ...
“Ba má ơi,ba má ơi con về nè.”
Tiếng má từ phía sau đi lên.
“Ai vậy,con nào mà về?”
Bà Tư từ đàng sau bước lên tay che trán nheo nheo đôi mắt rồi hai tay lau vạt áo bước lại gần.
“Đứa nào vậy bây, tổ cha mầy sao bây giờ mới về hả con, cả nhà trông gần chết,sao không về sơm sớm chút phụ má hả con?”
Tôi cúi xuống hôn đôi gò má của má,nhìn từng nếp nhăn mà nghe trái tim mình khóc,cả đời má chỉ quanh quẩn tảo tần hôm sớm cực khổ gian nan nuôi các con khôn lớn,giờ còn chăm nom cả cháu ngoại nữa...
 “Má khoẻ không? Xưa rày còn nhức mỏi không? Con có mua mấy chai dầu nóng xoa bóp nè,có cả thuốc nữa,hihi trong uống ngoài xoa mới kết quả, má nhớ đó đừng có quên đa, còn có cả vitamin cho ba má uống nữa nè”
  “Ba và Hoài An  đâu rồi mà nhà vắng tanh vậy má?”
  “Ừ, ba mầy lên xóm trên từ trưa xấp nhỏ cũng xin đi theo, nghe đâu mợ ba mầy bị vấp té sao đó mà nằm một chỗ kìa,đâu mai con lên thăm không thôi cậu trách đó.”
 “Ủa, vậy sao, già rồi hay vậy xương khớp không còn cứng cáp như hồi trẻ nên ba má phải cẩn thận đó đừng có mà ỷ y.”
 “Thôi đi rửa mặt cho mát rồi chờ ba mầy về ăn cơm,có gì ăn nấy nha.”
 “Má đừng lo,con có mua bún,bánh hỏi thịt quay và cả 2 con vịt quay nữa má coi đem biếu cho bác hai má anh Vũ nha,còn bánh mì , trà bánh đủ thứ hết.”
 “Con mua chi cho tốn kém,phải dành dụm mai kia còn lo cho bé Hoài An nữa tội cho con bé không có cha, nó cứ hỏi má hoài, là ba con đâu hả ngoại, má chỉ còn biết nói ba má con giận nhau nên không ở chung, rồi sẽ có ngày con biết mà,bà Tư chép miệng bây liệu mà thu xếp, lớn tuổi rồi, má thấy thằng Vũ cũng đàng hoàng lo làm ăn, nó lại thương con, má có hỏi nó sao không lấy vợ đi, nó nói chờ con đó.”

Tôi lặng thinh suy nghĩ chắc là phải...Tôi vào trong thay áo rồi ra hông nhà rửa mặt, ở quê hay để chứa một hàng lu nước mưa hình ảnh của thôn quê. Quê  tôi đó đất bùn cỏ dại ba má tôi dư chuyện để làm , vài công ruộng ít công vườn sớm tối gìn giữ đất đai ông bà ngoại để lại.Tôi nghĩ thôi thì ưng đại anh Vũ cho  rồi còn  được gần con và phụng dưỡng ba má già, má thì cứ phải chăm sóc hết cháu nầy gởi đến cháu kia cũng mệt ngất ngư,  anh chị em tôi cứ có việc là đùng cho ba má,được cái là ông bà thương con thương cháu hay nói, mệt thì mệt thiệt nhưng vui,trong nhà đở quạnh quẽ.

Tôi soạn thức ăn bày ra bộ ván, tôi rửa rau, sắp bún ra dĩa, chặt thịt.....Má làm nước mắm,nói đến nước mắm mà nghe thèm, má làm nước mắm thì "bá chấy" luôn nhìn tô nước mắm vàng óng ánh,tỏi ớt nỗi lềnh bềnh trên mặt thật là đẹp ăn vào vị chua ngọt thêm ghiền,có khó gì đâu, ấy mà tôi ...mà làm thì... Ai cũng ..cũng chê, không chua thì ngọt, không ngọt thì lạt, có khi lại mặn sẳn lè, nói dễ mà khó đòi hỏi phải có kinh nghiệm và vị giác phải tốt nữa chứ.....    
Lại kể về nhà tôi, không có cái tủ thờ tổ tiên như người ta mà chỉ là cái bàn cao cao và dài,chính giữa trên cao là thờ Phật, thấp hơn là thờ cửu huyền, có lần tôi nói với má, mình thờ như vầy con thấy không nên chút nào,mỗi khi có giỗ cúng đồ mặn ai dám về ăn, má cười nói:
 “Ôi con lo gì cúng là tự mình tưởng nhớ ông bà chứ có ai ăn đâu chỉ là thọ hưởng nhang khói và tấm lòng con cháu thôi ,vái tên ai thì về chứng nhận, còn quên tên thì nhịn đói, má cười nói ,còn Phật cũng vậy có trái cây mà, mạnh ai thọ hưởng vật nấy,mâm cao cổ đầy cũng có ai ăn đâu, chỉ người sống ăn thôi còn chọn món mình thích chớ có cúng theo đúng ý người chết đâu, trời Phật cũng chứng giám tấm lòng, Phật, Bồ Tát hay Thần Thánh cũng vị tha đâu chấp nhứt cũng nhìn hoàn cảnh thôi con à.”
 Trong khi chờ đợi ba về tôi soạn đồ ra.
“Con có mua cho má mấy xấp vải cho má nè,má nhờ chị Tư kế bên may cho mặc mấy ngày tết đi, bỏ mấy bộ xỉn màu đi,cứ mặc riết mấy cái áo quần cũ rích đó hoài không khéo họ cười con cái không lo cho ba má,còn mấy xấp nầy may cho ba, còn có mua cho ba 2bộ bijama cho ba mặc khi trời lạnh,còn má có áo lạnh, khăn quàng cổ khi trời lạnh má mặc, quấn cho ấm, ba má lại dể ho phải giữ sức khoẻ mà ... trả nợ cho con cháu nữa hi hi.”
“Tổ cha bây, thì ra có thương yêu cha mẹ gì đâu, làm bộ lo như có hiếu lắm chỉ là sợ có gì không ai lo cho con bây đó mà.”
“Má nói oan không, con có con cái rồi làm sao không biết công ơn dưỡng dục của ba má chứ, còn đây mấy bộ cho con bé chắc là xinh lắm đây nha. Ba má già rồi phải chú ý đến sức khoẻ mệt thì nghỉ khoẻ thì làm cho đở buồn công việc nặng nhọc khó khăn thì mướn người ta làm, đau thì xuống trạm y tế khám bệnh mua thuốc uống, ăn uống cũng đừng có hà tiện, cứ tha hồ sai vặt anh Vũ, biết đâu sau nầy anh ấy sẽ là rễ đó,nghe nói má tôi chộp liền.”
 “Thiệt hả con, bây đừng kén chọn nữa má thấy nó được lắm hay qua đây làm giúp việc nọ việc kia lại thương con An.”

  Nghe tiếng lao xao ngoài ngõ tôi nhìn ra thì thấy ba và con tôi về, thấy tôi Hoài An reo.
“ A … mẹ về mẹ về,” rồi chạy đến ôm lấy tôi, hôn lấy hôn để. “Con nhớ mẹ quá hà,mẹ ơi.”
Nghe con nói mà nước mắt rưng rưng trong lòng. Con trẻ có tội gì đâu mà phải chịu cảnh xa cha xa mẹ. Cũng tại người lớn mà ra. Tôi ôm con mà lòng đau như cắt.
Nhớ lại chuyện trước kia mà ân hận. Ra trường tôi đi dạy một thời gian rồi quen một người, nhưng qua lại một thời gian, tôi dễ tin người rồi trao thân ... Khi biết tôi có thai thì kiếm cớ nầy nọ rồi đi biệt tăm, bỏ lại tôi trong tình thế không chồng mà có con. Tôi đau khổ, mấy lần định quyên sinh, nhưng ba má tôi cản ngăn thương con cháu nói trẻ không có tội gì đâu có thì nuôi. Chòm xóm tìm hiểu thì nói chúng nó định cưới thì thẳng vắn số chết rồi, đành vậy thôi con cháu mình thì mình cưu mang. Lòng cha mẹ là vậy đó. Sanh xong, tôi gởi con cho ba má nuôi rồi lên thành phố sống,  kiếm tiền nuôi con và cũng tránh những ánh mắt xăm xoi của một số người.      
Tôi giật mình cắt đứt dòng suy nghĩ, khi nghe ba tôi hỏi:
“Bây về lâu mau rồi chơi vài bữa, hả con?”
“Dạ, con mới về khoảng 4 giờ ba ạ, nghe má nói ba thăm mợ ba có sao không ba?”
“ Ôi già rồi, chỉ vấp cái hàng ba thôi mà gãy xương chậu mà có hay đâu, ra nhà thương về nhà mình mới hay đó chứ.”
 “Thôi, ba sấp nhỏ rửa mặt rồi ăn cơm,” tiếng má nói.
Bỗng có ai thấp thoáng, thì ra anh Vũ qua tới.
“A, tới rồi, đánh hơi hay quá, thôi sẳn đây ăn cơm luôn đi con, chưa ăn phải không?”
 “Dạ con chào dì dượng, con thấy em Tâm về nôn quá chưa kịp ăn cơm chạy qua liền nè hi hi. Hoài An đâu ? Có kẹo cho con nè.”
 “Anh đừng chiều hư nó nha .”
 “Đâu có, nó ngoan lắm mà, em không biết đó thôi.”
Tôi nhìn anh súng sính trong bộ áo túi nam, anh cũng khá đẹp, cao ráo, lớn hơn tôi 4 tuổi, hiền lành, không có tai tiếng gì, chất phác, lo làm ăn lắm vì là con một mà trong ngoài đều một tay anh lo liệu. Gái trong thôn ngấp nghé anh dữ lắm, nhưng tôi biết anh thương tôi và thương cả bé Hoài An nữa, nhưng tôi mặc cảm nên còn do dự.
   Cơm xong, cả nhà ra sân trước quay quần bên bộ ván uống trà, hôm nay sáng trăng vì là 14 mà bầu trời đầy sao, gió mát, hỏi thăm nhau người nầy người nọ, má tôi bắt chuyện chúng tôi.
Tôi vui vui nhìn anh nói.
“Có ai nói gì đó còn nhớ không cà?” như hiểu ý anh vội nói.
 “Nhớ sao không, chỉ sợ ai đó không ưng thôi.”
 “Vậy thì về lựa lời mà thưa bên đó, chỉ sợ chê gái một con,” anh lật đật nói.
  “Trông mòn con mắt.”
   “Phải không, chỉ để nhìn thôi sao?”
   “Ý hổng phải vậy đâu, em hiểu anh mà.”
   “Hiểu thì hiểu, chỉ sợ thời gian cũ rồi thay lòng đổi dạ, chê bai nầy nọ.”
   “Thôi anh về đi, khuya rồi, mai qua chơi.”
Anh đứng dậy chào ba má tôi rồi về. Nhìn dáng anh đi mà nhớ chuyện ngày xưa. Nhà hai chúng tôi chỉ cách nhau mười căn, chơi chung từ lúc còn để ủng, hai nhà thân thiết cũng nói chơi chơi hai đứa lớn lên sẽ cho chúng kết nghĩa vợ chồng. Năm này tháng nọ, chúng tôi lớn dần, anh bản tánh đàn ông thích nhường nhịn che chở, tôi thì ỷ được chiều chuộng nên hay nhỏng nhẻo dỗi hờn, bắt anh năn nỉ, đòi anh hái hoa bắt bướm. Chúng tôi cùng chia nhau từng trái me chua, dành nhau từng trái bần chan chát, từng miếng xoài sống chấm mắm ruốt. Anh luôn nhường tôi phần nhiều. Nhớ những buổi trưa hè, hai đứa lén nhà lội mương mò ốc hái rau, chiều chiều chơi tạt lon ăn từng những bao thuốc lá xếp lại, chơi chán rồi rủ nhau thả diều, mỏi tay thì kiếm chỗ cột rồi nằm nhìn cánh diều no gió bay cao. Rồi mơ ước tương lai. Dù là con gái, tôi cũng mơ khi lớn lên sẽ làm phi công hay tệ lắm cũng làm tiếp viên hàng không, để được bay lượn nhìn mây trắng trên bầu trời, để được nhìn xuống những cánh đồng bao la xanh ngát, núi đồi chập chùng uốn khúc, nhìn đất nước mình hình cong như chữ S ra sao. Anh thì giản dị mộc mạc gắn bó với làng quê ước mơ của anh không cao xa chỉ muốn làm nhà giáo dạy i tờ cho trẻ. Anh nói đừng chê cấp nhỏ đó mới là mầm non là những thiên thần tài hoa nếu ta  uốn nắn sao cho chúng lớn lên thành người tốt có lợi ích cho xã hội...và anh đã thực hiện  được ước mơ đó.   
Nhưng còn tôi thì thời gian đã làm mòn ước mơ của tôi khi 1975 hiền hiện những đau buồn vì hoàn cảnh nên không thực hiện được, dạy học không bao lâu, rồi lỡ sa chân lầm lỡ vì tin lời ngon ngọt ....      
Vũ hiểu hoàn cảnh tôi vẫn yêu tôi và chờ đợi dù sao lúc nhỏ chúng tôi cũng chơi trò đám cưới nhưng tôi không thể ích kỷ để anh gánh trách nhiệm nặng nề nầy, tôi nhiều mặc cảm và như chim bị tên một lần, thấy cung, bỗng sợ.
Vì thế đã 6 năm qua, anh và tôi cùng nhìn nhau mòn mỏi, nhưng giờ đây tôi nghĩ phải tìm cho Hoài An một người cha để được yêu thương.Tôi tin anh yêu tôi thì sẽ yêu thương con tôi.          
Tôi hy vọng tình yêu của anh dành cho tôi với tấm chân tình mộc mạc, bản chất hiền hoà của người thôn quê, tôi thấy mình đã yêu anh, và anh mãi mãi sẽ là Thiên Chúa trong lòng tôi.

              TRƯƠNG THỊ THANH TÂM
               THÁNG 1-2016, Mỹ Tho

READ MORE - DUYÊN QUÊ - Truyện ngắn Trương Thị Thanh Tâm