Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, September 5, 2014

Thơ Võ Văn Hoa - NÚI MAI, KÝ ỨC THANH XUÂN, TIÊN ĐIỀN

Trích từ tập thơ Còn Ta Với Mình, tác giả Võ văn Hoa, NXB Thanh Niên, 2004.


NÚI MAI

Vắt kiệt cằn khô ruộng đất
Mùa xuân mai nở non cao
Mai nở vàng sông, rực suối
Đại ngàn dát nắng ca dao.

Bản nhỏ, em gùi hoa chuối
Anh đến, vít cong rượu cần
Thịt rừng nướng thơm, thết khách
Già làng khéo tiếp khách tân.

Núi Mai, chiều buông sương mỏng
Khách lên chớ vội mau về
Luân vũ  bập bùng đêm trắng
Không gian vàng tận ngoài kia

Ở đây một thời bão lửa
Già làng kể chuyện mê say
Sông Hãn thượng nguồn  " đá dựng "
Xuân như đến sớm nơi này !




KÝ ỨC THANH XUÂN

Đất đã có từ lâu
Còn người thì rất trẻ
Thanh Xuân rất thanh xuân
Em dịu dàng nói thế !

Mùa xuân như về sớm
Từ buổi sớm mai này
Về đâu hoa đào cũ
Còn chào gió đông nay

Anh một lần qua phố
Lãng quên tình đắm say
Thượng Đình em còn nhớ
Hoa sữa nào quanh đây !

Anh về với vầng trăng
Đọc thơ tình năm tháng
Này em, hát lời rằng :
Tình ai còn sâu lắng ...

Hà Nội, 29/10/1997



TIÊN  ĐIỀN

Làng nghèo như bao làng quê khác. Sóng Cửa Hội vẫn vỗ vào đất liền âm ba của thơ. Tôi qua Tiên Điền không phải bất ngờ. Chữ " Tâm" kia lâu rồi, Nguyễn nói.
Khu di tích: " Nhà Tư Văn" các danh sĩ từng ngồi. Chuyện thơ văn đâu chỉ việc xếp bằng tròn. Còn lớn hơn luận về kinh bang tế thế. Danh gia vọng tộc như Nguyễn, có thể kể thêm làng bên có Uy Viễn tướng công.
Tôi cảm phục trước văn bia Nguyễn Nghiễm ngợi ca công đức thân phụ Nguyễn Quỳnh. Và đền thờ Nguyễn, mộ Nguyễn. Người đời sau ghi nhớ tài danh " Bất tri tam bách dư niên hậu ", chưa đủ ba trăm năm sau, tôi đã đến và mừng Nguyễn mãi sống.
Tế Hanh có " Bài học nhỏ về nhà thơ lớn", chuyện hôm nay có khác hơn. Trẻ em ở đầu làng đã đọc thuộc Kiều, đương nhiên, còn chỉ tận tường cho tôi đường về mộ Nguyễn.
Tiên Điền tôi qua, chỉ mới lần đầu thôi. Nhưng người giảng Kiều lâu năm trong tôi sẽ nhập thần hơn từ buổi sớm mai này.

                                                                            Võ Văn Hoa
READ MORE - Thơ Võ Văn Hoa - NÚI MAI, KÝ ỨC THANH XUÂN, TIÊN ĐIỀN

YÊU THƯƠNG TỪ ĐỘ - thơ Ngưng Thu



YÊU THƯƠNG TỪ ĐỘ

Đêm từ ...
nắng rụng xuống chiều
hoàng hôn biệt dạng phía
nhiều núi non
mây hồn nhiên phía
mênh mông
hồn nhiên nước chảy theo dòng
lững lơ.

Bình minh từ
hạt sương mơ
lung linh ngọn liễu vươn chờ
nắng mai
mùa trôi
đời cũng miệt mài
tiếng chiều rơi khẽ chạm vào vách không

Yêu thương từ
tiếng tơ lòng
gõ lên phím nhớ bềnh bồng điệu ru
cung đàn vỗ nhịp
thiên thu
lời từ tâm mẹ ban từ ...
nguyên sơ.


NGƯNG THU
READ MORE - YÊU THƯƠNG TỪ ĐỘ - thơ Ngưng Thu

CẢM ƠN CHỊ CHỈ MỘT LỜI THĂM HỎI - thơ Phan Minh Châu



CẢM ƠN CHỊ CHỈ MỘT LỜI THĂM HỎI

(Thân tặng chị HHT ) 

Chỉ môt tin nhắn
Chỉ một cú phone
Chỉ một lời thăm hỏi
Sao ấm áp cõi lòng ta đến thế
Bao yêu thương cứ vậy tràn về
Ta đâu ngờ đâu đó... một hồn quê
Một đuôi mắt một cái nhìn thân thiện
Hởi cô gái miền Nam
Chưa một lần đưa... tiễn.
Với giọng nói trong như màu cánh kiến
Chảy mơ hồ trong suốt những đêm sâu
Chị có những bài thơ
Nhức buốt những niềm đau
Thơ thường viết về một thời quá vãng
Thơ thường viết về một thời tao loạn
Khói lửa quê mình để hai đứa... xa nhau
Và cứ thế lớn lên
Như một phép nhiệm màu
Chị chợt nhớ lại tình yêu một thuở
Và những câu thơ chập chờn nhảy múa
Bỗng bồi hồi trong những trái tim xanh
Những câu thơ như giòng suối ngọt lành
Làm ấm lại những tâm hồn đơn điệu
Cảm ơn chị vầng trăng non vừa chiếu
Xuống quãng đời, ta cạn kiệt bão giông.
Cảm ơn chị một tình yêu vừa đủ
Để cho ngườì ấm lại những đêm đông. 


        PHAN MINH CHÂU
READ MORE - CẢM ƠN CHỊ CHỈ MỘT LỜI THĂM HỎI - thơ Phan Minh Châu

LƯNG CHỪNG HƯƠNG TÓC - thơ Bình Địa Mộc



LƯNG CHỪNG HƯƠNG TÓC

Thu Sài Gòn
Dường như hơi ồn ã
Con đường nào
Cũng lăm lắm kẻ qua
Đèn đỏ bật
Hằng trăm người chờ đợi
Chị ve chai
Cúi xuống nhặt bóng mình

Những cơn mưa
Cuối mùa tuôn riết róng
Nước thụt thò
Trước mỗi bậc cầu thang
Phố thành sông
Sông ngược dòng vào phố
Chiếc dép trôi
Chẳng biết đến nơi nào

Thu Sài Gòn
Mong manh từng sợi nắng
Vươn má em
Chặp nữa mới ửng hồng
Chiếc khẩu trang
Che nỗi buồn muôn thuở
Sau mỗi lần
Đài báo giá xăng lên

Người ở quê
Ra Sài Gòn làm việc
Lá me rơi
Quay quắt nhớ mẹ hiền
Ngày tất tả
Vỉa hè sâu lát cắt
Níu gót giày
Lần lữa kiếp tha hương

Thu Sài Gòn
Thời gian chừng đếm ngược
Tiếng búa băm
Lục bục khắp công trình
Ngồi bệt xuống
Công viên chiều thứ bảy
Choàng vai em
Hương tóc bỗng lưng chừng ...

Sài Gòn, Thu 2014

Bình Địa Mộc
READ MORE - LƯNG CHỪNG HƯƠNG TÓC - thơ Bình Địa Mộc

NẮNG QUA VƯỜN CỎ NON - thơ Thế Lộc

NẮNG QUA VƯỜN CỎ NON
     Hoài niệm sinh nhật con trai Dương Thế Kinh Luân



Cây bằng lăng đã hai mùa thay lá
Con không quay về để Mẹ ngóng trông
Nắng qua vườn rò cải đã lên ngồng
Sao con vẫn bôn ba nơi cõi vắng

Con đi công trình trời chiều tắt nắng
Giun dế trong vườn hòa điệu bi ai
Con ở đâu, nghe có tiếng thở dài
Mẹ quay quắc nhớ con từng nhịp thở

Rượu mềm môi, cha điên ngoài góc chợ
Con có nghe người khóc gọi con về
Con có nghe thản thót giữa cơn mê
Người ú ớ gọi tên con... gọi mãi

Sông vẫn chảy nước đi không trở lại
Con cá theo dòng đã quay lại chốn xưa
Hai năm qua rồi, con sắp về chưa !...
Mẹ để cửa chờ con và... cha đợi

Cây bằng lăng hai mùa thay lá mới
Cha chết trong lòng, mẹ vật vả rối loạn thần kinh
Nhiều lần con đi giám sát công trình
Sao mãi mãi lần nầy không trở lại

Cha biết rằng tử sinh và thực tại
Yêu thương con cha bất lực nhìn trời
Dù Âm Dương con sống mãi con ơi
Đến nhắm mắt cha vẫn còn thương nhớ.


06.05.2014
Thế Lộc
READ MORE - NẮNG QUA VƯỜN CỎ NON - thơ Thế Lộc

Truyện ngắn của Phan Trang Hy - TRĂNG HÒA VANG VẪN THẾ



TRĂNG HÒA VANG VẪN THẾ

Gần đến Trung thu, thằng Quân háo hức chi lạ. Nghe cô nói năm ni các học sinh lớp 6 phải làm lồng đèn để chơi. Cô khuyên, đã lên học trung học rồi, nên làm chớ không nên mua. Có thế mới thấy ý nghĩa của cái Tết Trung thu. Chớ mua dù có đẹp nhưng cũng chẳng có kỷ niệm gì sau này. Nghe cô nói vậy, thằng Quân chỉ biết thế, chứ nó chưa thấy ý nghĩa, kỷ niệm gì cả. Nhưng nó nghe lời cô. Nó phải nhờ ba nó hướng dẫn nó làm mới được.
Mấy năm trước, ba mẹ thương nó nên thường mua lồng đèn bán sẵn. Có khi là lồng đèn xe hơi, con cá, hay thứ gì khác, đều là lồng đèn bằng nhựa có pin… Có thể, một thời hợp mốt đối với trẻ con. Nhưng rồi, vài năm trở lại đây, mốt lồng đèn được sản xuất tại Trung Quốc không còn hợp thời. Xu hướng chọn đồ chơi cho trẻ có khác trước.
Và qua lời cô, nó biết lồng đèn thắp bằng pin không phải là lồng đèn truyền thống. Và nó cũng từng nghe cô giáo nói có một số lồng đèn do Trung Quốc làm có chứa độc, nên nó sợ. Nhưng gần đến Trung thu rồi, lấy chi chơi đây, nên nó lại hỏi và nhờ ba:
- Ba ơi! Con không thích lồng đèn nhựa của Trung Quốc. Ba đừng mua nghe. Con thích chơi lồng đèn tự làm. Ba bày con làm nghe.
Nghe Quân yêu cầu, ba nó chép miệng:
- Tiếc thật! Ba muốn cùng con làm. Nhưng ba bận quá. Con nhờ nội đi. Nội con bày là nhất đó.
Quân năn nỉ ba, nhưng ba vẫn nói bận. Không còn cách nào khác, Quân nói lí nhí:
- Dạ. Con sẽ nhờ nội bày.
Mấy bữa nay, thằng Quân chưa dám nhờ nội. Nó đợi chiều, đi học về, nó sẽ nói với nội mới được. Trung thu gần đến rồi mà. Không nhờ nội thì làm sao có lồng đèn chơi.
Vừa vào nhà, thằng Quân thấy nội đang tưới nước mấy chậu mai, nó bèn chạy lại bên nội, nói:
- Nội ơi! Gần Trung thu rồi, nội bày con làm lồng đèn nghe!
Vừa tưới nước, lão cười nói:
- Cái thằng, bữa ni bắt nội bày làm lồng đèn, lạ ghê, Mà sao con biết nội làm được?
Nghe thằng Quân kể lại là ba nó nói thế, lão Thạc thấy vui vui. Lão cười:
- Cái thằng cha mi! Được, nếu con thích thì ông cháu ta cùng làm.
Thế là, hôm sau, lão Thạc tìm tre. May mà quê lão vẫn còn tre. Dù quê có thay đổi, làng như phố, nhưng tập tục, ruộng vườn vẫn còn. Những lùm tre bên sông vẫn còn. Chiều chiều có những con chim về đậu. Chiều chiều vẫn khói đồng sau mùa gặt. Vẫn những tiếng cười, tiếng nói mộc mạc đậm chén mắm cái chấm với rau lang, rau muống luộc. Lão gật gật cái đầu, mỉm cười một mình. Mắt lão nhìn con đường bê tông trước mặt. Quê lão có cuộc sống hiện đại hơn. Rồi điện về. Nhà lão có ti vi màn hình phẳng. Thằng con lão lại bắt cả kỹ thuật số. Nhiều kênh chi lạ. Không những phòng khách có cái ti vi to đùng, mà phòng ngủ của thằng con lão cũng có. Bọn trẻ bây giờ sướng thật. Quê mà có tủ lạnh, quê mà có máy giặt, xe hơi…
Vừa đi vừa ngẫm nghĩ, lão thấy sướng cả bụng. Chợt lão nghe tiếng gọi:
- Nè, ông Thạc ơi, đi đâu đó? Có rảnh ghé tôi uống chén nước chơi. Có chút chè của thằng cháu mới mua.
Thì ra lão Đôn. Là bạn từ thời còn học trường làng đến giờ. Hơn 50 năm là bạn của nhau. Có chút vui, chút buồn họ đều chia sẻ cùng nhau. Thấy lão Đôn ra tận cổng đón, lão Thạc nắm tay bạn, nói:
- Được thôi. Nhưng không ngồi lâu đâu nghe. Tôi phải đi tìm tre làm lồng đèn cho thằng cháu nội.
- À, ra rứa. Tưởng chi, chứ tre nhà tôi có. Mình uống nước, nói chuyện chơi chút đã, rồi tôi đưa tre cho.
- Rứa là may cho tôi rồi.
Hai lão ngồi uống nước, nói chuyện. Chén nước chè làm tuổi già vui thêm. Tình quê đậm đà qua chén nước.
Và cái tình quê của hai lão lại rôm rả, xôm trò qua trò chuyện. Dù cảnh quê có thay đổi, nhưng tình làng xóm vẫn như ngày nào. Nhiều khi mưa gió, đúc được cái bánh xèo họ cũng đem cho. Có con cá tràu bắt được, làm mỳ, cũng mời nhau. Nhà có giỗ, cũng đem phần kỉnh hàng xóm. Nếp quê vẫn như cái thời hai lão còn con nít.
Hai lão nói không biết bao nhiêu chuyện. Nào là chuyện chuẩn bị tế Thu; nào là chuyện chuyển cơ cấu cây trồng sao cho hợp với hoàn cảnh khi Hòa Vang có chính sách hỗ trợ nông dân. Toàn chuyện vui. Mà không vui sao được, khi tuổi già thấy con cháu yên ấm, thấy làng xóm thương yêu nhau. Tình làng nghĩa xóm như hàng tre cứ xanh trên bờ sông Túy Loan, như hương lúa ngày mùa, như làng vào hội đình nhân lễ Kỳ yên, cầu quốc thái dân an… Hai lão cũng bàn chuyện năm đến làng tổ chức lễ hội. Hai lão đều ước năm đến lễ hội đình làng Túy Loan cũng được nhiều người tham dự như làng Phong Lệ ở Hòa Châu tổ chức lễ hội Mục đồng vừa rồi.
Rồi, chuyện cũng vãn. Lão Đôn tìm mấy khúc tre đưa cho lão Thạc. Cầm tre từ tay bạn, lão Thạc cười nói:
- Cảm ơn ông nghe!
Tiễn lão Thạc ra tận cổng, lão Đôn vỗ vai bạn:
- Thôi, ông về.
Những ngày sau đó, khi hai ông cháu rảnh, lão hướng dẫn thằng Quân làm lồng đèn. Thực ra, lão làm đủ thứ, nào là chuốt tre, chặt theo kích cở. Thằng Quân chỉ ngồi bên hỏi đi hỏi lại cánh làm. Nó cũng cột được vài chỗ. Đặc biệt, khi dán giấy màu trên lồng đèn, thằng Quân nói với lão:
- Ông bày con vẽ bản đồ Việt Nam có quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa nghe ông.
- Được thôi. Ông sẽ bày.
Rồi lão hướng dẫn thằng Quân vẽ đường cong hình chữ S. Tiếp đến lão chỉ cách tạo thành 2 quần đảo với những chấm nhỏ xinh xinh. Nhìn cũng được. Rõ ràng trước mắt hai ông cháu là hình ảnh nước Việt Nam thân yêu với hai quần đảo như châu ngọc trên biển Đông. Nhìn cây cọ chấm màu trên tay thằng Quân, lão như thấy đó là bàn tay của lão khi còn bé, học ở trường làng. Ngày xưa, ngày xưa, đối với lão như mới đây. Lão cũng làm lồng đèn, nhưng giấy dán chỉ là giấy vở, đâu đẹp như bây giờ. Còn màu thì lấy nào than, nào gạch, nào nghệ, lá cây... giã ra, cho tí nước vào. Thế là cũng thành hoa, thành chim, gà, cá… được vẽ cho lồng đèn thêm đẹp.
Đến Trung thu, thằng Quân đem lồng đèn cùng mấy đứa trẻ dạo chơi quanh xóm. Trống múa lân rộn ràng. Lão Thạc cũng rộn ràng theo nhịp trống. Lòng lão rộn lên lời hát: “Bóng trăng trắng ngà, có cây đa to, có thằng Cuội già ôm một mối mơ…”.
Quê lão còn biết bao chuyện còn phải làm. Lão mơ như thằng Cuội già năm nào. Giấc mơ của lão không là tiếng hát xẩm của con dế mèn. Mà giấc mơ của lão là thấy quê thay đổi. Càng già, lão càng hiểu sự thay đổi nào cũng phải trải qua những trở trăn, lột xác. Có trở trăn, lột xác nào được êm ả? 
Tiếng trống vẫn rộn ràng. Trăng trên trời ngời sáng. Trước mắt lão là xóm làng lão, là ngôi nhà lão, là con cháu lão. Và trên tay thằng Quân là ánh đèn ngôi sao lung linh. Trên tay bọn trẻ là những ánh sáng nhảy múa theo nhịp trống múa lân. Lão thấy hình bóng của lão, hình bóng của lão Đôn, của bạn bè trong làng ngày xưa hiện về. Tất cả đang rước đèn mừng Trung thu.
Lão thấy bản đồ Việt Nam có cả Hoàng Sa, Trường Sa trên lồng đèn. Quê lão mừng Trung thu trong ánh đèn con trẻ. Hòa Vang quê lão rộn ràng trong tiếng trống múa lân.
Đêm khuya. Trăng sáng dịu hơn. Cả làng yên bình dưới trăng ngà như mọi khi. Trăng Hòa Vang đêm nay vẫn thế!
                                      Tháng 8 – 2014
                                     Phan Trang Hy
                     






READ MORE - Truyện ngắn của Phan Trang Hy - TRĂNG HÒA VANG VẪN THẾ

Thursday, September 4, 2014

GẶP GỠ NHÀ THƠ PHAN KỶ SỬU VỚI TÁC PHẨM BIÊN KHẢO ĐẦU TIÊN Ở TÂY NINH - Nguyễn Thị Hương Giang

              
Nhà thơ Phan Kỷ Sửu

Nói đến Phan Kỷ Sửu, độc giả yêu thơ trong ngoài tỉnh đều biết đấn anh ở góc độ một nhà thơ. Vâng! Gần 40 năm anh luôn là một người tình chung thủy của nàng thơ. Thơ anh đã nhiều lần đạt giải thưởng ở Thành phố Hồ Chí Minh, đã vang lên trên Đài Tiếng nói Việt nam, Đài Tiếng nói Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đài PTTH Bình Dương, Tây Ninh… Anh đã góp mặt trên 40 tuyển tập thơ nhiều tác giả xuất bản trong cả nước và riêng anh đã có 2 tập thơ được xuất bản.

Thế nhưng vào đầu năm 2014 này anh đã xuất bản tác phẩm biên khảo đầu tiên của mình trong tỉnh. Một lĩnh vực thật mới mẽ của nhà thơ ra đời trong lúc anh đã bước vào tuổi 65 sau 5 năm anh được nghỉ hưu. Đó là tập Biên khào: TÌM HIỂU PHẬT GIÁO VÀ TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN Ở TÂY NINH, tập sách dày  350 trang do Hòa thượng Thích Niệm Thới, UV Ban Trị sự Giáo hội PG VN, Phó trưởng ban Trị sự Giáo hội PGVN Tỉnh Tây Ninh chủ biên và đề tựa.  Sách do NXB Tôn Giáo (Hà Nội) xuất bản. Tôi là một trong nhiều bạn thơ thân thiết của anh hết sức bất ngờ  và hết sức phấn khởi trước một thành quả mới của anh và sau 5 tháng sách được phát hành tôi mới có dịp gặp gỡ anh để trao đổi về tác phẩm ấy trong Mùa Vu Lan Thắng hội năm nay.

Hỏi :- Thưa anh! Có lẽ đây là tác phẩm đầu tay của anh trong thể loại biên khảo?  Trong quá trình sáng tác của mình anh đã bước vào lỉnh vực biên khảo tự bao giờ?  Anh đã viết biên khảo với những chủ đề nào?

Trả lời:-Đúng vậy đây là tác phẩm biên khảo đầu tay của tôi. Thực ra trong quá trình làm báo, sáng tác thơ văn, tôi đã đến với lỉnh vực biên khảo từ cuối thập niên 70 thế kỷ trước. Tôi đã có nhiều bài biên khảo đăng trên báo Văn nghệ Tây Ninh trước khi có hội VHNT Tây Ninh hiện nay, báo Tây Ninh, Đài PTTH Tây Ninh và một số báo chí khác  trong, ngoài tỉnh. Tôi viết biên khào chủ yếu là tập trung vào các lỉnh vực văn học nghệ thuật, văn hóa dân gian,tôn giáo và dân tộc. Viết để phổ biến trên báo chí. Có thể tôi sẽ biên tập lại để in thành sách một số tác phẩm biên khảo của tôi trong thời gian tới.

Hỏi: Anh đã biên soạn tác phầm "TÌM  HIỂU PHẬT GIÁO VÀ TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN  Ở TÂY NINH" từ bao giờ? Anh có thể cho biết động cơ nào thôi thúc anh hoàn thành tác phần và  khái quát về nội dung cuốn sách ?

Trả lời: - Tôi bắt tay vào việc biên soạn cuốn sách ngay sau khi tôi được nghỉ hưu tức là hơn 5 năm qua, Trở lại với đời thường không còn bận bịu với công việc thường ngày của một cán bộ quản lý nên tôi đã lao vào công việc viết sách rất thoải mái, có điều kiện và thời gian nhiều hơn để nghiên cứu và sưu tầm các tư liệu cần thiết. Đây là tác phẩm đầu tiên  biên khảo về Phật giáo .một tôn giáo lớn đã đến Tây Ninh sớm nhất từ khi những bước chân khai phá đầu tiên có mặt trên vùng đất mới này.Tây Ninh cũng là nơi có nhiều tín ngưỡng dân gian chưa được giới thiệu và nghiên cứu. Tôi nghĩ biên soạn và xuất bản tập biên khảo này nhằm cung cấp cho mọi người nhất là các bạn trẻ những kiến thức cần thiết để hiểu  thêm và yêu quý hơn quê hương Tây Ninh của mình. Việc biên soạn cuốn sách đã được nhiều bạn bè khuyến khích, nhất là những người sống nhiều năm trên quê hương này. Anh Nguyễn Cảnh, người bạn nhiếp ảnh thân thiết đã góp công thực hiện hàng trăm tấm ảnh minh họa cho các bài viết của tôi là người động viên tôi nhiều nhất! Bây giờ mình đã có tuồi, tôi nghĩ biên khảo là một thể loại thích hợp nhất!
Cuốn sách của tôi chia làm 3 phần. 
Phần thứ 1: Phật Giáo;
Phần thứ 2: Tín ngưỡng dân gian ở Tây Ninh;
Phần thứ 3: Những trang văn, những vần thơ.

Hỏi: Anh có thể cho biết rõ hơn về phần thứ 3 của cuốn sách?

Trả lời:  Phần thứ 3 là tập hợp các bút ký,hồi ức , thơ, ca cổ  xoay quanh những kỷ niệm tuổi thơ, các sáng tác về các thắng cảnh thờ tự nổi tiếng trong tỉnh cũng như các bài thơ, ca cổ về tình cảm gia đình, đất nước, quê hương! Trong phần này có sự tham gia của cô Nguyệt Quế, người bạn gái thân thiết của tôi cũng là một cây bút nữ hiếm hoi ở Tây Ninh.

Hỏi: Trong hướng tới anh có dự định thực hiện các tác phẩm biên khào nào khác không?

Trả lời: Tôi sẽ tiếp tục thực hiện tập 2  "Tìm hiểu Phật giáo và tìn ngưỡng dân gian ở Tây Ninh". Bố cục cũng có 3 phần như tập I và độ dày cũng khỏang trên 300 trang. Sách sẽ được xuất bản vào cuối năm nay. Ngoài ra tôi sẽ tiếp tục thực hiện các tác phầm biên khảo khác về lịch sử ở địa phương.

Rất cảm ơn nhà thơ Phan Kỷ Sửu, Rất mong  được tiếp tục đọc những tác phẩm biên khảo mới của anh. Tin tưởng đó sẽ là những tác phẩm rất  cần thiết đáp ứng nhu cầu nâng cao kiến thức các bạn trẻ. Chúc anh khỏe và ngày càng vững vàn hơn trong cuộc đời cầm bút của mình.

                                            Nguyễn Thị  Hương Giang

                                                      ( TP/HCM)


READ MORE - GẶP GỠ NHÀ THƠ PHAN KỶ SỬU VỚI TÁC PHẨM BIÊN KHẢO ĐẦU TIÊN Ở TÂY NINH - Nguyễn Thị Hương Giang

Thơ Huy Uyên - Ở LẠI VỚI TAM KỲ, CƠN MƯA CUỐI CHIỀU, SÀI GÒN VÀ NGƯỜI ĐÀN ÔNG BUỒN



Ở lại với Tam-Kỳ

Mười năm quay về chốn cũ
bên sông nước chảy qua cầu
con đường dài chi thương nhớ
bỏ quán bên đường quạnh hiu .

Trên sông thả bóng cùng thuyền
ngày em lưng ong quảy gánh
phổ nhỏ Tam-Kỳ lặng im
ai lên chiều về
Huỳnh-thúc-Kháng .

Chiên-Đàn tối màu tháp ngũ
ngày xưa từng nổi đợi chờ
quê xưa mối tình xa cũ
cầm tay người dạ ngẫn ngơ .

Trời chiều nhuộm bóng sông Đầm
xương rồng,cỏ may lớp gió
cát bay mù trời dặm sông
mái tranh ,con thuyền,xóm nhỏ .

Em nghèo áo chằm nón lá
rặng dừa hồng nắng sớm mai
Bàn-Thạch níu sầu đời đá
cho em thở vắn thương dài .

Phú-Ninh bao la trong xanh
làng quê cây đa bến nước
lúa về đẹp hội vào xuân
tím màu lan-rừng-hồ-điệp .

Đường Phan-chu-Trinh thẳng tắp
bên sông ngã bóng giáo-đường
sáng chiều lời kinh An-Mỹ
gió thổi về đâu An-Sơn .

Trở lại ngã ba Trường-Giang
câu hò xa người buổi trước
tình qua nắng cát Tam-Thanh
trao ai làm sao quên được .

Mây trôi về đâu Tam-Tiến
hoàng hôn ngũ sớm chân trời
ra đi một đời sông biển
Tam-Kỳ ở lại trong tôi ./.



Cơn mưa cuối chiều

Nữa mùa thu về đêm sương đầu ngõ
quán cà-phê lạnh buồn hắt hiu
có phải lá thu rơi đâu đó
để em đi lang thang cùng với trời chiều .

Em còn lặng im bước ở trong vườn
dỗ dành hoài chi từng chiếc lá
tôi đớn đau treo trên thập-tự-buồn
tím chiều ầm ào chuông rung đổ .

Bên ngoài hình như thu về vội
thổn thức bên hồ nhốt gió riêng ai
tiếc chi nhau giọng cười tiếng nói
giữ chi thu hoài ngũ muộn trên vai .

Nữa đêm em rưng lòng khõa thân
giấc mơ theo từng phút giây hấp hối
mây ở trên cao khẻ liếc mắt thầm
ngã-ba-đời em
thẹn thùng giận dỗi !

Tôi tháng tám khi trăng chưa mọc
bỏ tình ai mãi chạy loanh quanh
xưa lắm rồi em thôi rưng lệ mắt xanh
đứng giữa trời mà ôm mặt khóc .

Những hàng cây đen cháy đỏ bên đường
quanh em thơm mùi ngai ngái
hư hao nhiều em tắm giọt thu sương
nhắm mắt ép hương trời vời vợi .

Sao em chờ chi mùa đông gần đến
trả lại cho người dìu dịu ngất ngây
quán người say cầm trái đắng
lòng ai phai nghẹn cứng tháng ngày .

Tiếng chuông gió dỗ đêm quá buồn
thu qua bỏ em ở lại
tuổi dại khờ treo tim quanh vết thương
bên đường chờ chết người đàn ông năm mươi tuổi .

Chiều thu choàng lạnh giá
chim bướm bay đầy trời sương pha
hấp hối lời kinh đọng trên cây thánh-giá
để lại bên đời hiu quạnh hồn ma .

Nghĩa trang thu treo nghiêng quá vội
quanh đây tiếng gọi
thu về
cuối chiều và những cơn mưa ...



Sài-gòn và người đàn ông buồn

Rồi cũng một lần quay mặt
dòng sông xưa vĩnh biệt đò xưa
chỉ một lần thôi và mất
còn gì tóc xanh
mòn mỏi đợi ai ngày về .

Dấu mắt môi một thời đi qua
quên nghìn trùng lặng lẽ
chia tay từ độ ấy đến giờ
người đàn ông biết buồn
tháng ngày đóng cửa .

Quán rượu nghèo se buồn buốt lạnh
bóng hình em lẫn quất phố đêm
ru hồn ai giọt sầu cay đắng
nhớ em tôi mãi đi tìm .

Rằng tôi sẽ quay lại Sài-gòn
đã qua những con đường thay tên ngày cũ
gởi ba-ngôi bên cạnh Thánh-đường
đứng một mình bên chợ Bến Thành
gởi lại tình cố-xứ.

Rằng tôi sẽ về bên dinh-độc-lập
ngậm ngùi xưa súng đạn sa-trường
ngày tiễn tôi em đứng khóc
mấy mươi năm lệ kín hoàng-hôn .

Cho dù đêm trời có mưa,sao
quên hết chưa câu thề buổi cũ
những hàng cây bên đường câm nín niềm đau
chiều cuối tháng lang thang ngoài phố nhỏ .

Catinat em phai màu áo tím
Sài-gòn trôi dặm dài bước chân
người đàn ông bây giờ
trái trên cây héo chín
tình yêu dang tay nằm chết bên đường .

Chốn cũ sân ga,cầu cảng,bến xe
bơ vơ đầu dốc cuối chợ
Sài-gòn đi mà không có ngày về
mùa hạ lá vàng trên cây
đầy tràn nỗi nhớ .


                     Huy Uyên
READ MORE - Thơ Huy Uyên - Ở LẠI VỚI TAM KỲ, CƠN MƯA CUỐI CHIỀU, SÀI GÒN VÀ NGƯỜI ĐÀN ÔNG BUỒN