Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, April 15, 2026

YouTube: Ca khúc TÔI VIẾT VẦN THƠ - Thơ: Sông Thu - Nhạc: Nguyễn Tuấn



TÔI VIẾT VẦN THƠ...


Tôi viết vần thơ tả ước mơ 

Gặp người trong mộng thỏa mong chờ 

Mắt in đáy mắt, hồn xao xuyến 

Cảm xúc dâng tràn muôn ý thơ.


Tôi viết vần thơ tả xóm quê 

Cánh diều lộng gió những trưa hè 

Dập dờn sóng lúa như triều lượn 

Người dắt trâu về trên lối đê.


Tôi viết vần thơ tả sáng mưa

 Xiên xiên sợi trắng, gió bay lùa

Cỏ cây tươi mát bung chồi biếc 

Trù phú quê nhà một thuở xưa.


Tôi viết vần thơ tả gốc mai 

Đón chào xuân đến, nhánh vươn dài 

Hoa vàng lộng lẫy trong màu nắng 

Phơi phới xuân thì bóng dáng ai. 


Sông Thu

READ MORE - YouTube: Ca khúc TÔI VIẾT VẦN THƠ - Thơ: Sông Thu - Nhạc: Nguyễn Tuấn

WHERE VOICES MEET and SEPARATE INTERVIEW by Emmanuel Chimezie with Thi Lan Anh Tran

Published on April 12, 2026 at 9:12 AM

https://www.the-literary-traveler.com/author-interviews/




Where Voices Meet and Separate Interview 

by Emmanuel Chimezie with Thi Lan Anh Tran

 

In this conversation, Emmanuel Chimezie speaks with writer Thi Lan Anh Tran about contemporary German poetry, migration, identity, and the evolving emotional geography of Europe.

  

About the Guest

 

Thi Lan Anh Tran was born and raised in Vietnam and later pursued her studies and research in both Vietnam and Germany. She currently lives and works in Germany. She holds a Master’s degree in Economics, specializing in Accounting, Finance, Taxation, and International Economic Relations, which has shaped her analytical thinking and understanding of global economic systems.

 

She has over 20 years of professional experience in finance, accounting, and taxation. She is the co-founder and CEO of OptiY GmbH in Estenfeld, Würzburg (Germany), a software company serving the automotive industry, and also provides free software to selected German universities for academic support. In addition, she runs her own financial and tax office in Aschaffenburg, supporting primarily small Vietnamese-owned businesses. 

 

Her engagement with poetry began later in life, following a personal upheaval, and was formally sparked in 2025 during her participation in the 7th Vietnamese Poetry Gathering in Germany in Berlin. For her, poetry is not a profession but a space of reflection, healing, and inner dialogue. 

 

Question 1

 

In today’s Germany, poetry seems to be evolving from speaking about migrant communities to listening to them directly. Do you see this shift as complete, or still in transition?

 

Thi Lan Anh Tran: In today’s Germany, poetry is gradually learning to listen more than it speaks. There are powerful voices emerging from Turkish-German, Arab, African, and other migrant communities themselves—voices that carry lived realities with authenticity and emotional precision. Yet, I must admit, some spaces of poetry still interpret these experiences from the outside. The transition is ongoing: from representation about communities to expression from within them. That shift, though incomplete, is deeply hopeful.

 

Question 2

 

Cities like Berlin are often described as culturally diverse and integrated. Do you think poetry reflects true integration, or does it also reveal subtle forms of distance and separation?

 

Thi Lan Anh Tran: Cities like Berlin are paradoxical poems in themselves. Poetry there reflects both integration and distance. It captures shared streets, shared rhythms—but also the quiet separations that persist in language, memory, and belonging. I believe poetry does not resolve this tension; it reveals it honestly, and in doing so, creates the possibility of deeper understanding.

  

Question 3

 

Has German poetry moved beyond political framing when representing refugee experiences, or does politics still shape the emotional lens? 

 

Thi Lan Anh Tran: German poetry has begun to move beyond political narratives when engaging with refugee experiences. Many poets now focus on the intimate emotional landscapes—loss, displacement, resilience, and fragile hope—especially for those from Syria, Afghanistan, and Ukraine. The most meaningful poems are not declarations, but whispers of human continuity in the face of rupture.

 

Question 4

 

How do you see poetry engaging with the fading industrial identity of regions like the Ruhr area?

 

 Thi Lan Anh Tran: In regions like the Ruhr area, poetry still carries the echoes of working-class dignity, though perhaps less prominently than before. Industrial decline has reshaped identities, and poetry sometimes struggles to keep pace. Yet, there are voices reclaiming these histories—writing not only of loss, but of endurance and quiet pride. 

 

Question 5

 

Afro-German writers are gaining visibility, but are they still being treated as “emerging” voices rather than foundational ones?

 

Thi Lan Anh Tran: Afro-German voices are increasingly central to German literature, yet they are still too often labelled as “emerging.” I believe this is a limitation of perspective rather than reality. These voices are not new—they are foundational, carrying histories that deserve recognition as integral, not peripheral, to German identity.

  

Question 6

 

Do you think German poetry has fully processed the emotional aftermath of reunification? 

 

Thi Lan Anh Tran: In Eastern Germany, the poetic processing of reunification is still unfolding. The emotional layers—identity loss, economic transformation, and political tension—are complex and cannot be resolved within a single generation. Poetry continues to explore these spaces, often with a tone of introspection rather than conclusion. 

 

Question 7

 

How do second-generation immigrant writers reshape the idea of German identity through poetry? 

 

Thi Lan Anh Tran: Second-generation immigrant writers often exist in a beautiful, sometimes painful duality. Their poetry becomes a bridge—where inherited culture and German identity do not compete, but converse. This negotiation creates a unique poetic language, one that is fluid, hybrid, and deeply contemporary. 

 

Question 8

 

Has rural Germany been neglected in contemporary poetic discourse? 

 

Thi Lan Anh Tran: Rural communities in Germany are less visible in contemporary poetry, which has indeed become more urban and, at times, academically inclined. However, there remains a quiet current of poets who write from and for these spaces—capturing stillness, tradition, and a different kind of solitude that deserves more attention. 

 

Question 9

 

How does German poetry engage with religious diversity and tension? 

 

Thi Lan Anh Tran: German poetry approaches religious diversity with sensitivity, though sometimes with caution. It often reflects coexistence rather than confrontation. While tensions between Christian, Muslim, and secular identities are present in society, poetry tends to explore these through personal narratives rather than direct debate—seeking understanding rather than division.

 

Question 10

 

What still remains underrepresented in German poetry today?

  

Thi Lan Anh Tran: If poetry is a mirror, then some reflections are still faint. I believe marginalized working-class communities, certain migrant subgroups, and rural populations remain underrepresented in mainstream discourse. Poetry must continue to expand its gaze—to include not only the visible, but also those who exist in the quiet margins of society. 

 

Closing Remark

 

Thi Lan Anh Tran: This conversation reveals a German poetic sphere still in motion and also shaped by migration, memory, and shifting identities. Poetry, to me, is not a fixed answer but a continuous act of listening: to cities that both connect and separate, to histories still being processed, and to voices that remain on the margins of visibility.

  

In a world of rapid cultural change, poetry is not only a mirror—it is also a bridge, holding space for what is still becoming.


&&&

More interviews on

https://www.the-literary-traveler.com/author-interviews

READ MORE - WHERE VOICES MEET and SEPARATE INTERVIEW by Emmanuel Chimezie with Thi Lan Anh Tran

Tuesday, April 14, 2026

ĐI TÌM TÊN GỌI CHO MỘT DÒNG SÔNG - Bài viết của Khê Giang / ĐƯỜNG LÊN THÁC CHỜNG - Ảnh của Nguyễn Như Khoa


Bài của Khê Giang (Bs Lê Văn Huấn), Ngãi Giao, Châu Đức, Bà Rịa - Vũng Tàu.



Hình của Nguyễn Như Khoa, Hải Hòa, Hưng Nhơn, Hải Phong, Hải Lăng, Quảng Trị




ĐI TÌM TÊN GỌI CHO MỘT DÒNG SÔNG

Khê Giang


Ô Lâu - Thác Ma là một hệ dòng chảy đi qua hai tỉnh Thừa Thiên và Quảng Trị, một con sông được bồi lắng với những trầm tích lịch sử, văn hóa Việt - Chăm. Một dòng chảy thi ca, nơi lưu giữ những áng văn chương, những thiên tình sử… rào rạt chảy từ suối nguồn giai thoại cho đến bãi bờ hiện thực. Thầm lặng cần mẫn, dòng chảy đã điểm trang cho vùng đất eo thắt lưng ong này những nét duyên dáng kiêu sa, một tuyệt phẩm thiên nhiên mà không phải nơi nào cũng có được. Chỉ tiếc rằng do xác định chưa thật rõ ràng về tên gọi và ranh giới, nên trong một khoảng thời gian dài rất nhiều tác phẩm, tài liệu đã mô tả không đúng về tên gọi của con sông này.


Ô Lâu - Thác Ma là một hệ thống sông đặc biệt, nơi có dòng chảy không nằm trong quy luật chung về địa lý. Theo lẽ thường các con sông được tạo thành từ nhiều phụ lưu nhỏ hợp thành dòng chảy lớn, càng về hạ lưu lòng sông càng rộng… sau đó được đổ ra biển bằng một cửa sông hay nhiều chi lưu. Nếu tuân theo quy luật này thì chẳng khó khăn gì trong việc xác định về tính phân cấp, hệ thống dòng chảy hay tên gọi, thế nhưng đây là hệ dòng chảy vô cùng rối rắm. 



Hệ thống dòng chảy này có hai nhánh chính đó là Ô Lâu và Ô Sa (Thác Ma). Về khởi thủy nhánh phụ lưu Ô Lâu (hữu ngạn) bắt nguồn từ thượng nguồn đỉnh núi Truồi, chảy lượn quanh co giữa núi rừng Tây Thừa Thiên, chảy xuôi về Phò Trạch, rồi chuyển hướng Tây bắc, qua Phong Mỹ, Phong Thu đến thị trấn Phong Điền cắt qua quốc lộ 1A sau đó cặp theo quốc lộ đến thôn Mỹ Chánh rẽ theo hướng Đông, đến địa phận Mỹ Cang con sông uốn lượn theo hình chữ S với bờ phải là Mỹ Xuyên, Phước Tích; bờ trái là Hà Cát, Hội Kỳ sau đó luồn qua cầu Phước Tích để hợp lưu với nhánh Thác Ma.

 

Nhánh Ô Sa - Thác Ma (tả ngạn) còn gọi là Tho Lai, Thu Lai hoặc Thu Rơi…, bắt nguồn từ nhiều con thác và suối nguồn từ vùng rừng phía Tây Quảng Trị, giáp với Thừa Thiên - Huế bao gồm: thác Lạnh, thác Chuối, thác Chồn, thác Quả, thác Vụng Tròn và cuối cùng là thác Cá Voi Đái… dòng chảy xuôi về hướng Đông nam, bên bờ Bắc là các thôn Khe Mương, Trầm Sơn, Tân Điền và Cồn Tàu của xã Hải Sơn; phía bờ Nam gồm các thôn Lương Sơn, Tân Lương, Vực Kè, Xuân Lộc, Mỹ Chánh thuộc xã Hải Chánh.

 

Điều đáng nói là sau khi hợp lưu, tính “thủy chung” của dòng chảy này không được kéo dài, mới “ôm nhau” qua một đoạn ngắn, đến Câu Nhi (Hải Tân) chúng đã vội vã “chia tay”. Liệu hai nhánh rẽ này có phải là hai chi lưu của hệ Ô Lâu - Thác Ma? Về hình thái phân chia nhìn có vẻ đúng, nhưng về quy ước thì không thể vì hai phân nhánh này không đổ thẳng ra biển mà chúng có một hành trình hết sức luẩn quẩn, phức tạp về phía hạ lưu, nhất là nhánh tả (Ô Giang).

 

Nhánh hữu chảy theo hướng Đông - Bắc chảy qua Mỹ Xuyên, Trạch Phổ, Ưu Điềm, Vĩnh An... ở bờ Nam; Câu Nhi, Văn Quỹ, An Thơ, Phú Kinh… ở bờ Bắc nhập vào sông Vĩnh Định qua cầu Vân Trình hòa vào phá Tam Giang.

 

Nhánh tả xuôi ra hướng Bắc (qua Lương Điền, Hà Lộc, Trường Sanh, Diên Sanh ở bờ Tây; Câu Nhi, Hà Lỗ, Văn Trị ở bờ Đông) khi đến Cây Da ranh giới của Diên Trường (Hải Thọ), xóm Càng (Hải Hòa) chúng bị thu hẹp dòng chảy đến độ người dân ở đây chỉ gọi là kênh hoặc hói, tại ngã ba này con sông lại chảy về hai hướng: bên trái chảy về hướng Bắc đến Trung Đơn (nhập vào sông Nhùng), sau đó theo sông Vĩnh Định đến Quy Thiện ngược ra Triệu Phong. Nhánh phải lại xuôi về hướng Đông đến ngã ba hói Dét (đoạn này trước đây được gọi là kênh Mai Lĩnh), tại đây chúng gặp sông Vĩnh Định và cũng chia thành hai lối, một lối chảy về hướng Bắc nhập vào Hiền Lương, Thạch Hãn, một nhánh chảy về hướng Nam nhập vào nhánh hữu của hệ Ô Lâu - Thác Ma tại Vân Trình để xuôi theo hướng Đông đổ về phá Tam Giang.

 

Sự nhầm lẫn trong việc xác định tên và dòng chảy này còn bị tác động rất lớn bởi những người làm công tác vẽ bản đồ. Rất nhiều các bản đồ hành chính, bản đồ về địa lý sông ngòi cấp quốc gia và thế giới hiện tại đã bỏ quên nhánh chi lưu (nhánh hữu) của hệ Ô Lâu - Thác Ma (từ Câu Nhi đến Văn Trình) kể cả Google Map, bản đồ trực tuyến, bản đồ vệ tinh… cho dù đó là phiên bản mới nhất (2017), thậm chí một số bản đồ cũng bỏ quên cả nhánh phụ lưu Thác Ma đoạn từ khởi nguồn đến cầu Mỹ Chánh. Không ai hiểu được tại sao những dòng chảy quan trọng như thế lại bị đánh mất trên hệ thống bản đồ. Điều đáng buồn hơn ngoài việc bỏ quên những dòng chảy, tác giả đồ họa còn ghi bừa lên toàn bộnhánh tả của hệ Ô Lâu - Thác Ma bằng cái tên là sông Ô Lâu (bao gồm sông Ô Giang, sông đào Ngô Đình Diệm và một phần của sông Vĩnh Định).

 

Nói về khúc sông từ Cây Da đến hói Dét, nguyên thủy đây là kênh Mai Lĩnh (Ranh giới tự nhiên giữa Phước Điền và Hội Điền). Năm 1926 Tri phủ Hải Lăng cho đào sông, mở rộng trên nền con kênh có sẵn, nhằm cải tạo giao thông thủy từ các xã vùng ruộng sâu với trung tâm huyện lỵ, vừa có tác dụng tiêu nước cho cánh đồng trũng Hải Hòa - Hải Thành.

 

Tương tự đoạn từ ngã ba hói Dét xuôi về Văn Trình không thể là sông Ô Lâu được, vì đây chính là sông Vĩnh Định, một con sông trung gian nối tiếp giữa hai hệ thống sông Thạch Hãn với hệ thống Ô Lâu - Thác Ma. Điều muốn nói thêm, đây cũng là con sông rất khó xác định phụ lưu và chi lưu. Nếu căn cứ vào hướng chảy chung của hệ thống sông ngòi miền Trung con sông này có hướng chảy Tây - Bắc đến Đông - Nam thì hai cửa nối tại Cây Da (chảy ra Câu Nhi) và hói Dét (chảy ra Vân Trình) là chi lưu, nhưng nếu tính theo quy tắc về độ rộng tăng dần của dòng chảy thì hai nhánh này là phụ lưu và chi lưu chính là cửa đổ ra sông Thạch Hãn.

 

Vậy nhánh hữu của hệ Ô Lâu - Thác Ma (nhánh bị xóa tên trên hầu hết hệ thống bản đồ) là sông gì? Đây là nhánh sông được coi là ranh giới giữa Thừa Thiên và Quảng Trị trừ Câu Nhi và Hòa Viện (Câu Nhi thuộc Quảng Trị nằm ở bờ Bắc nhưng có một phần diện tích đất của làng nằm ở bờ Nam và Hòa Viện thuộc Thừa Thiên nằm ở bờ Nam nhưng lại có một nửa diện tích đất nằm ở bờ Bắc).

 

Hầu hết các tác phẩm, tài liệu về địa lý, văn học… trong thế kỷ XX đều mặc nhiên gọi khúc sông này là sông Ô Lâu: “Sông Ô Lâu bắt nguồn từ vùng núi Tây Trị Thiên ở độ cao tuyệt đối xấp xỉ 905m, có chiều dài dòng chính 66 km, diện tích lưu vực 900 km2, độ dốc trung bình lưu vực trên 13m/km (ở phạm vi đồi núi trên 19m/km). Thoạt đầu sông chảy theo hướng Tây Nam - Đông Bắc, đến Phò Trạch chuyển hướng Đông Nam - Tây Bắc cho tới Phước Tích (chỗ hội lưu với sông Thác Ma), sau đó chuyển hướng Tây Nam - Đông Bắc cho đến Vân Trình lại chuyển hướng Tây Bắc - Đông Nam và đổ vào phá Tam Giang ở cửa Lác.” (Theo “Địa chí Thừa Thiên Huế” - Phần Tự nhiên - Nhà xuất bản Khoa học xã hội -năm 2005).

 

Tuy nhiên để có cái nhìn thấu đáo hơn cho câu hỏi này chúng ta chịu khó đi ngược dòng thời gian…

 

Khi tiếp quản châu Ô của Chiêm Thành, những dòng sông ở đây đã có tên gọi theo tiếng Chăm. Ô Lâu: nhánh chảy từ Truồi về đến Phước Tích; Ô Sa (Thác Ma): nhánh chảy từ Tây Hải Chánh đến Lương Điền (đối diện ngã ba Phước Tích ở bờ Nam); Ô Giang (Rào Cái): đoạn từ ngã ba Câu Nhi đến Cây Da; Ô Khê (sông Bến Đá): khởi nguồn từ phía tây thôn Trường Xuân hợp lưu với Ô Giang tại đoạn chảy qua Văn Trị. Trong Đất Việt trời nam - Thái Văn Kiểm đã mô tả:“Con sông Ô Lâu bắt nguồn từ dãy Trường Sơn, chảy qua vùng Ô Sa, chảy qua Phước Tích đến Lương Điền thì chia làm hai: Một nhánh chảy về Vân Trình ra phá Tam Giang, còn một nhánh chảy về Câu Nhi, Trung Đơn thì mang tên là Ô Giang, có chi lưu là Ô Khê tức khe Ô vậy. Bốn địa danh Ô Lâu, Ô Sa, Ô Giang và Ô Khê là di tích âm thanh hiếm hoi còn lại của châu Ô mà Chiêm Thành đã dâng cho ta năm 1306...”. Mặc dù bài viết xác định tên gọi gần đủ của các nhánh trong hệ Ô Lâu - Thác Ma, tuy nhiên tác giả cũng không mô tả nhánh chảy về Vân Trình có tên gọi là gì?

 

Rất may có rất nhiều tài liệu cổ đã chứng minh tính không phù hợp khi viết về dòng Ô Lâu trên nhiều tài liệu hiện nay.

 

Theo Phủ biên tạp lục - Lê Quý Đôn (1774): “... Ngày 7 tháng 12, (quân chúa Nguyễn - TG) vượt Độc Giang, tiến đến các xã Lương Phúc và Diên Sanh. Diệp công Hoàng Ngũ Phúc sai Trần lĩnh hầu Nguyễn Đình Khoan đốc xuất hậu quân và Thạc vũ hầu Hoàng Phùng Cơ làm tiên phong cùng nghênh chiến rồi phá tan, chém và bắt sống vô số, thu hơn 100 ngựa, hơn 30 voi. Thủy binh của chúng đến đánh ở Độc Giang cũng bị đại bại...”.

 

Con đường Lê Quý Đôn mô tả chính là đường Quan báo (Thiên lý) hay còn gọi là đường Kinh sư, chạy từ Phú Xuân đến trạm Hành cung Mỹ Xuyên qua bến đò Hôm Lạng đến Lương Điền (Lương Phúc), Trường Sanh, Diên Sanh… Truy tìm các tài liệu cổ cùng thời ta thấy đoạn sông này đều gọi là Độc Giang hay sông Đôộc chứ không nghe nhắc đến Ô Lâu.

 

Trong Hoàng Việt nhất thống Dư địa chí - Lê Quang Định - Do Phan Đăng dịch, trang 109 đã mô tả: “… Sông Lương Phước rộng 88 tầm, bờ phía Bắc giáp với đầu địa giới dinh Quảng Trị, tục gọi là sông Đôộc nước sâu 1 tầm, sông này một nửa thuộc dinh Quảng Đức một nửa thuộc dinh Quảng Trị. Đi ngược lên 13.444 tầm thì đến sở tuần cũ nguồn Ô Lâu, xuôi xuống dưới 30.091 tầm thì chảy ra phá Tam Giang rồi đổ ra cửa Nhuyễn…”.

 

Đây là tài liệu mô tả rất rạch ròi về tên gọi: Lương Phước (mới) và Độc Giang (cũ), cũng như phân định ranh giới rõ ràng về sông và nguồn: Ô Lâu (nguồn) và Lương Phước (sông). Điều này cho chúng ta thấy sông Ô Lâu đã dừng tên ngay khi đổ vào sông Lương Phước (Độc Giang) tại ngã ba Phước Tích.

 

Cũng từ tác phẩm trên đoạn mô tả về đường Thiên lý Bắc - Nam: “Đường từ Kinh sư đến lỵ sở Quảng Trị: 26.693 tầm, 1 thước, thành ra 123 dặm rưỡi, đi hết 1 ngày rưỡi… Từ phía nam công đường của lỵ sở, theo đường trạm đến thủ sở Thu Lai đầu địa giới là sông Lương Phước hết 13.000 tầm, 1 thước”.

 

Tương tự “Hoàng Việt nhất thống Dư địa chí” đã mô tả, trong Đồng Khánh địa dư chí của Quốc sử quán triều Nguyễn cũng cho biết Ô Lâu chỉ là nguồn chứ không phải là sông:

 

“... Một dòng sông từ nguồn Ô Lâu chảy xuống qua hai ấp Hoàng Liên, Thượng Nguyên, qua ngã ba xã Văn Quỹ (thuộc đạo Quảng Trị) giáp với sông Hoàng Lai (Ô Giang - TG) đạo Quảng Trị, quanh co chảy xuống Phước Tích, Phú Xuân, qua Bào Ngược đến cửa Lạc, đổ ra phá Tam Giang, dài 59 dặm rưỡi, lại từ cửa Lạc chảy đến Thế Chí Đông, Thế Chí Tây, qua Thành Công đến cửa Quán dài 19 dặm.” (Chương Phủ Thừa Thiên, mục huyện Quảng Điền, trang 1429. Sách do Ngô Đức Thọ - Nguyễn Văn Nguyên - Philippe Papin biên khảo và hiệu đính - Nhà xuất bản Thế Giới, Hà Nội, 2003).

 

Sách Đại Nam nhất thống chí cũng mô tả rất rõ: “Vùng biển Tam Giang - xưa gọi là “biển cạn” (Hạc Hải), năm Minh Mạng thứ 2 (1821), đổi tên là phá Tam Giang. Từ bờ phía Nam đến bờ phía Bắc dài 35 dặm, từ bờ phía Đông đến bờ phía Tây rộng độ 6 dặm; từ sông Lương Điền (Lương Phước - TG) chảy xuống vũng biển, phía Tây Nam có 3 ngã sông: Cửa Tả Giang, Cửa Trung Giang, Cửa Hữu Giang. Mỗi sông đều chảy 2 - 3 dặm rồi nhập lại, cho nên gọi là vũng biển Tam Giang…”

 

Chúng ta dễ dàng nhận ra tài liệu từ thế kỷ XVIII trở về trước gọi đoạn sông này là Độc Giang (sông Đôộc) các tài liệu từ thế kỷ XIX trở đi gọi là sông Lương Điền (Lương Phước). Thực tế khi quan sát thực địa bằng đường bộ, đường thủy hay qua không ảnh ta dễ dàng nhận thấy tính hợp lý của những tài liệu cổ trên: Dòng Thác Ma là dòng chảy chính (rộng, thẳng) và nhánh Ô Lâu là nhánh phụ (hẹp và tiếp góc với dòng chính), để dễ hình dung chúng ta tưởng tượng nhánh Ô Lâu là một con đường nối với một đại lộ và theo quy định tên của con đường phải kết thúc ngay lúc giao nhau với con đường lớn, chứ không thể lấy tên mình để đặt hết lên con đường chính được! Theo phân cấp Quốc tế của Horton-Strahler về cấp độ dòng chảy chúng ta thấy nhánh Ô Lâu chỉ là phụ lưu của dòng Thác Ma - Lương Điền chứ khó có thể xếp nhánh này cùng cấp 1 với nhánh Thác Ma (Hai dòng cấp 1 hợp lưu thành dòng cấp 2).

 

Riêng lý giải tại sao các nhà viết sử xưa gọi tên dòng sông này (đoạn chảy từ Phước Tích đến Vân Trình) là sông Đôộc hay Lương Điền (Lương Phước)? Căn cứ vào cách đặt tên sông ngòi tại nước ta, ngoài việc đặt tên theo sự tích, người khai phá, dựa theo tính chất đặc điểm về dòng chảy…, đa phần người ta thường gọi tên theo những “địa danh đặc biệt” nơi chúng đi qua. Đoạn sông này đã chảy qua địa phận hai ngôi làng nổi tiếng thời bấy giờ: Làng Đôộc - Phước Tích ở bờ Nam nơi sản xuất lu, đôộc (chum, vại) ngoài cung cấp vật dụng đồ gốm cho cả triều đình, còn là nơi trao đổi buôn bán với nhiều nước trong khu vực; Lương Điền (bờ Bắc): vùng đất có độ dài lớn nhất của con sông đi qua (thời điểm đó làng Lương Điền bao gồm một hành lang rộng lớn theo bờ sông: từ Cồn Tàu, Tân Điền, Trầm Sơn… chạy dài đến Câu Nhi), là địa phương có đường quan báo đi qua, có bến đò Hôm Lạng là huyết mạch giao thông thủy, bộ giữa hai tỉnh Thừa Thiên và Quảng Trị.

 

Để xác định và đặt đúng tên trở lại cho một con sông, một dòng chảy không phải là điều dễ dàng khi mà sự nhầm lẫn kéo dài quá lâu, điều này đã phần nào vùi lấp, mai một những dấu tích và tính xác thực. Tuy nhiên để hệ dòng chảy này cũng như những tác phẩm viết về nó tiếp tục mang lại những giá trị văn hóa đẹp cho quê hương đất nước, trong hiện tại và mai sau, rất mong những nhà viết sử, địa lý sớm có những bước đi tiên phong, có động thái rà soát, hiệu đính trên những trang viết cũng như hệ thống bản đồ Quốc gia để trả các con sông trở về với đúng tên gọi của nó.

 

K.G 

Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 278 tháng 11/2017


Đường lên Thác Chờng,

thượng nguồn sông Thác Ma

Ảnh của Nguyễn Như Khoa
















\
READ MORE - ĐI TÌM TÊN GỌI CHO MỘT DÒNG SÔNG - Bài viết của Khê Giang / ĐƯỜNG LÊN THÁC CHỜNG - Ảnh của Nguyễn Như Khoa

Monday, April 13, 2026

12 KHÚC ĐỘC VẬN TRƯỜNG THIÊN - Chùm thơ Đặng Xuân Xuyến

  •  
    Tác giả Đặng Xuân Xuyến

TÔI LẠI THỞ DÀI NGÓ XA XĂM

.

Tôi xa làng Đá đã nhiều năm 

Từ độ người ta tuổi chớm Rằm 

Cái tuổi xúi người say má thắm 

Thả hồn mơ mộng mãi xa xăm 

.

Tôi nhớ, người ta một cuối năm

Giữa chiều mưa ấy rét căm căm

Mặc tôi thảng thốt chặt tay nắm

Vẫn nhẹ lắc đầu ngó xa xăm.

.

Tôi biết người ta với làng Chằm

Ân tình riêng nặng đã nhiều năm 

Người ta lại giỏi cam chịu lắm 

Mặc kẻ làng Chằm biệt biệt tăm.

.

Tôi về làng Đá mỗi cuối năm

Nhìn người hóa đá giữa đêm Rằm

Tuổi xuân tự lấp sâu vạn dặm

Tôi lại thở dài, ngó xa xăm...

*.

Hà Nội, 26 tháng 01 năm 2026

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

.

.

VỀ THĂM HÀ NỘI

  • viết tặng Nguyễn Minh-

.

Tôi xa Hà Nội, xa Hà Nội 

Mới đó thôi mà bấy năm trôi

Bạn cũ gặp nhau nhìn rất vội

Nụ cười te tẻ hé trên môi.

.

Ờ gió heo may đã mỏng rồi

Mây chiều cũng ít bảng lảng trôi

Giờ còn ai đợi canh chừng tối

Dụ một tiếng reo thả chỗ ngồi?!

.

Tôi lặng nghe lòng chất vấn tôi

Người ta giờ đã khác xưa rồi 

Thời gian thì cứ trôi vồi vội

Tôi lại giam mình góc xa xôi.

.

Tôi biết nhưng mà biết vậy thôi

Chuyện xưa còn giữ được mấy hồi

Tôi về Hà Nội thăm Hà Nội 

Mua chút niềm riêng ngủ quên rồi...

*.

Hà Nội, ngày 9 tháng 2-2025

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

.

.

TÔI BIẾT

.

Tôi biết người ta cố quên tôi

Ước thề chỉ để thoảng đầu môi

Gặp tôi người cứ ne né vội

Như sợ chạnh buồn phía xa xôi

.

Tôi đã dằn lòng phải thế thôi

Người ta giờ đã khác xa rồi

Chữ tình khéo bẻ thành trăm lối

Dụ khách say tình, lén chuốc vôi.

.

Tôi sẽ về thăm lại lần thôi

Để nghe gió lạnh thốc mé hồi

Để xem u uẩn chiều loang lối

Để ngó mây trời lững lững trôi.

*.

Hà Nội, ngày 06 tháng 03-2024

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

.

.

EM RỦ RỈ RẰNG...

.

Em rủ rỉ rằng chỉ hôm nay

Gom mây nhột gió để nhốt ngày

Chả cần vịn đến lời bỏng cháy

Mà ánh trăng cuồng líu ríu say.

.

Em lại thì thầm chỉ đêm nay

Vãi trăng rắc sáng trải làm ngày

Cuộn gió làm mồi nhen lửa cháy

Cho khối kẻ khờ ngất ngư say. 

.

Em lại... Ừ thì, ta đêm nay

Kê nắng làm đêm gió làm ngày

Vì em ta nguyện làm mồi cháy

Đốt cạn đêm cuồng líu qíu say!

*.

Hà Nội, đêm 23 tháng 10/2023

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

.

.

CẠN LÒNG

  • viết tặng 1 người -

.

Ta trở về làng buổi chớm Đông

Đường xưa nhạt nắng vẹt gió đồng 

Gió chiều xưa đấy sao mà lộng

Mướt cả triền đê, mướt cả sông.

.

Ta ngẩn ngơ lòng đến bến đông

Hỏi dò từ đấy có về không?

Chín năm, ờ nhỉ, bao biến động 

Người ấy giờ sao chửa lấy chồng?!

.

Ta lặng lẽ tìm giữa thinh không

Ngược nắng mưa xưa ngược gió đồng

Chợt hiểu lòng người sâu hơn rộng

Nửa đời ngờ nghệch sắc sắc không.

.

Ta đành tạ lỗi với hư không

Tạo hóa trớ trêu nợ vợ chồng

Người ấy vì yêu mà sầu mộng

Vét cạn tơ lòng đốt cháy sông.

*.

Hà Nội, 08:08 ngày 23/07/2023

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

.

.

GỬI ĐÊM

.

Em lại ra ngồi ngóng đợi ai

Để se sợi nhớ thắt thêm dài

Để dìu ánh mắt thêm hoang hoải

Để ríu cười buồn thêm mắt ai

.

Em lại ra ngồi ngóng đợi ai

Để líu ríu đêm tiếng thở dài

Để ngân ngấn lệ đêm trống trải

Để nhói đêm dài một dáng ai!

*.

Hà Nội, 09:30 ngày 19/04/2023

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

.

.

THÌ ĐÃ NHỦ RẰNG... 

.

Thì đã nhủ rằng đừng ráng yêu 

Mà tin to nhỏ những mỹ miều 

Mà nhìn đăm đắm mùi hàng hiệu 

Mà tín ai kia bởi dáng kiều

.

Thì đã nhủ rằng đừng ráng yêu 

Mà than gió lạnh ngả ngớn chiều 

Mà vin nắng nhạt chao ôi điệu 

Mà vịn mây buồn lững lững phiêu.

.

Thì đã nhủ rằng đừng ráng yêu 

Mà sao khóe mắt lệ cứ nhiều 

Mà sao thổn thức từng ngữ điệu 

Mà dáng đổ dài bóng xiêu xiêu.

*.

Làng Đá, 03 giờ 35 - 09/04/2023

ĐẶNG XUÂN XUYẾN 

.

.

ĐỢI EM

  • với TTQT -

.

Thắc thỏm ta chờ em ghé chơi

Để ta được ngắm nụ em cười

Để ta tíu tít kìa em tới

Để giỡn nắng chiều líu ríu rơi.

.

Ừ, đến đi nào, đến ngắm chơi

Vườn xuân rúc rích gió vui cười

Kìa đôi én liệng, chừng như đợi

Một dáng kiều thơm, mặt sáng ngời

.

Ừ, đến đi nào, đến ghé chơi

Để đêm thêm đắm mắt em cười

Để vườn xưa đượm hương gió mới

Để rộn tiếng lòng yêu mến ơi.

*.

Hà Nội, 3G30 - 25/03/2023

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

.

.

TRAI LÀNG RA PHỐ ... 

.

Ừ thì rõ trai làng "lớ ngớ" 

Vốn chân quê nên sẵn khù khờ

Em cứ bẻ ngang chừng cụm gió 

Quất nát chiều cho bớt ngu ngơ 

.

Ừ thì rõ trai làng "quá dở"

Đã chân quê lại giấu ngù ngờ 

Em cứ đập cho chiều vụn vỡ

Để đêm nằm run cóng giấc mơ.

.

Ừ thì rõ trai làng "tưởng bở"

Chốn thị thành dễ dệt ước mơ 

Em cứ quẳng đại vào góc chợ 

Đốt cháy chiều cháy trụi "ham mơ" 

.

Ừ thì rõ trai làng "nịnh bợ" 

Đã "nhà quê" còn thích i tờ

Em cứ tẩm chiều cho ngọt lợ 

Trút nhiều cay để hết "gà mờ"

.

Người ta nói: Trai làng... Đến sợ!

*.

Hà Nội, trưa 24 tháng 11-2020

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

.

.

ĐÊM CUỒNG SAY...

.

Em nhé, một lần quậy cùng ta

Một đêm giả khướt lướt Ngân Hà

Một đêm vịn cớ vì ta đã

Mà hứng đêm cuồng say với ta?

.

Ừ, giả lần thôi, đâu chết a

Người ta thiên hạ vẫn thế mà

Thì bởi ả Hằng lả lơi quá

Mà dáng ai kia cứ nõn nà...

.

Thôi, ngả vào ta, cuộn vào ta

Để đêm thánh thót rót trăng ngà

Để làn gió thoảng loang hương lạ

Để trộn vào ta, nghiến nát ta..

*.

Hà Nội, 2G45 ngày 01-07-2020

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

.

.

TÌNH CHUNG

.

Mới hẹn mới thề nhất nhất tôi

Kiếp này, kiếp nữa chỉ yêu tôi

Thế mà tấp tểnh theo họ vội

Vất tuột hẹn thề bỏ sông trôi

.

Thì chữ chung tình rớt đầu môi

Biết rồi nên chỉ tự trách tôi

3 xu kiếm được duyên vài tối

Hà tất thở than đứng với ngồi.

.

Thế nhé, chữ tình chỉ vậy thôi

Đừng ví sông kia lúc lở bồi

Đừng than gió lạnh run chiều tối

Đừng mượn sao trời biện với tôi.

*.

Hà Nội, sáng 23-05-2020

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

.

.

NGƯỢC DÒNG

.

Hôm nọ có người ghé bến sông

Nói chuyện nhà bên đã gả chồng

Từ độ ngược dòng đi xây mộng

Chả thấy một lần ghé bến sông.

.

Tôi biết người ta chẳng ngóng trông

Chỉ mình tôi với mộng hư không

Chiều qua lạc bước về Kim Động

Tôi lại trắng đêm hứng gió đồng.

.

Tôi biết người ta đã gả chồng

Giờ là mệnh phụ giữa phố đông

Tôi buồn tôi giận tôi dại mộng

Say mãi đò ngang khách má hồng.

.

Đã mấy đông rồi, đã mấy đông

Bếp lửa nàng nhen có đượm hồng

Mỗi bận nàng ra cài then cổng

Có lạnh so người trước gió đông?

.

Nàng có còn quen nép cạnh chồng

Hững hờ dạo gót giữa phố đông

Lá vàng lả tả khi chiều xuống

Có thấm cô đơn bởi gió cuồng?

.

Tôi biết người ta chẳng đoái trông

Chỉ mình tôi với mộng hư không

Tôi buồn tôi giận tôi dại mộng

Lỡ cả chuyến đò khách sang sông.

*.

Hà Nội, Ngày 29 tháng 11-2014

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

 From: baothang_xuanxuyen@yahoo.com.vn

READ MORE - 12 KHÚC ĐỘC VẬN TRƯỜNG THIÊN - Chùm thơ Đặng Xuân Xuyến