Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, December 2, 2019

ĐỌC “TRẢ LẠI TA” THƠ MẠNH TRƯƠNG - Châu Thạch


                             Nhà thơ Mạnh Trương 



TRẢ LẠI TA

Trả lại ta chuỗi thời gian
Tuỗi thơ êm đẹp mơ màng bướm hoa
Không gian ơi, trả lại ta
Núi sông rừng trảng bao la một vùng

Trả ta một khoảng không trung
Trời xanh mây trắng trập trùng sơn khê
Trả ta một bóng trăng thề
Đường xưa lối cũ đi về bên nhau

Trả ta ân ái buổi đầu
Tình ta mới chớm đẹp màu thương yêu
Trả ta hình dáng yêu kiều
Của người thiếu nữ rất nhiều nhớ thương

Trả ta một thuở quê hương
Mái tranh vách đất ngôi trường xa xa
Xin trả lại hết cho ta
Những gì đã mất đã qua một thời

Trả ta năm tháng qua rồi
Với bao kỷ niệm một đời không quên.

                                   Mạnh-Trương
                                  Washington DC


   
                   Nhà bình thơ Châu Thạch


ĐỌC “TRẢ LẠI TA” THƠ MẠNH TRƯƠNG
                                                          Châu Thạch

“Trả Lại Ta”, một bài thơ thật rõ ràng. Đúng ra không có gì để bàn, vì bài thơ như lời của một người đi đòi nợ, kể ra thứ tự những thứ mình đòi lại. Bài thơ không hay không dỡ, nhưng nó khiến cho mỗi người đọc đều cảm nhận được rằng, mình đã mất quá nhiều những điều rất quý trong cuộc vô thường. Bài thơ làm người đọc cảm thấy hụt hẫng bởi cảm nhận được rằng, những thứ mình bị mất không bao giờ đòi lại được, vì không biết ai là người lấy nó đi.

Thật ra thì nhà thơ có gọi "Không gian ơi, trả lại ta" nhưng không gian cũng là thứ mà nhà thơ bị mất đi chứ không phải là chủ thể đã lấy đi tất cả quá khứ của đời người. Nếu phải đòi không gian trả lại thì đòi thời gian đúng hơn, nhưng thời gian cũng là một thứ vô tình, là công cụ của một thế lực nào đó không lộ diện để cho ta biết đó là con nợ đã lấy mọi sự của mình.

Vậy câu thơ “Không gian ơi, trả lại ta” cũng minh chứng cho nỗi đau của Mạnh Trương, vì phải kêu la, tán thán đòi nợ một cách rất vu vơ, hoặc gọi không gian như gọi người yêu đi biền biệt. Vậy câu thơ nhấn mạnh nỗi nhớ không gian sống ngày xưa, để đòi ai đó trả lại cho mình, chớ không nên hiểu rằng không gian là con nợ của nhà thơ.

Những người theo Thiên Chúa cho rằng Đức Chúa Trời tể trị mọi sự nhưng lại tin rằng Ngài làm cái gì cũng tốt. Vậy thì làm sao dám đòi Ngài trả lại những thứ mất đi trong cuộc đời mình. Những người theo Phật Giáo thì tin rằng mọi việc là do nghiệp của mình, mình gây ra nhân nào ở những kiếp trước thì nhận lại quả nấy ở kiếp nầy. Vậy thì mình đòi mình sao được.

Hóa ra Phật và Chúa đều nói giống nhau: “Lỗi tại tôi mọi đường”.

Bởi vì vậy, ta thấy Mạnh Trương chỉ đòi trả nợ mà không chỉ tên con nợ của mình. Đọc thơ, ta vô tình nên không thấy sự thâm thúy ở đây. Thật ra, chính sự đòi mà không biết con nợ là ai, gợi trong tiềm thức ta một nỗi đau cho sự phi lý của đời người, một nỗi trắc ẩn bởi những ấm ức vì kiếp sống luôn kề bên hố thắm mà ta rất dễ rơi vào đó, một nỗi trắc ẩn khác bởi những ấm ức vì kiếp sống của ta luôn nhận chịu sự bất công mà không thế lực nào cứu vớt được.

Đầu tiên Manh Trương đòi lại tuổi thơ của mình:

Trả lại ta chuỗi thời gian
Tuổi thơ êm đẹp mơ màng bướm hoa

Tất nhiên tuổi thơ của ai cũng đẹp, dầu tuổi thơ ấy trong nghèo hèn và gian khổ. Tất nhiên người đòi chỉ đòi lại những niềm vui có trong thời ấy như được gần mẹ gần cha, gần anh em và cô bé nhà bên.
Thế rồi từ nỗi trăn trở về tuổi thơ ấy, Mạnh Trương nhớ đến không gian sống, là nơi chôn nhau cắt rốn, là quê hương yêu dấu, hay nơi mình định cư trong buổi thanh xuân:

Không gian ơi, trả lại ta
Núi sông rừng trãng bao la một vùng
Trả ta một khoảng không trung
Trời xanh mây trắng trập trùng sơn khê

“Rừng” là nơi nhiều cây cao bóng mát. “Trảng” là nơi có vùng đất trống với cỏ, với tranh, với rau dại và với những loài bụi cây lúp xúp khác. Thường trảng ở ven rừng hay ở giữa các rừng. Trảng nhỏ có, rộng có, đôi khi nằm ven núi ven sông, bao la một vùng thơ mộng dưới ánh trăng.
Đọc bốn câu thơ nầy ta dễ liên nghĩ đến 15 năm chăn dê của nhà thơ Bùi Giáng. Ông đi chăn dê ở miền núi đồi Trung Việt có núi, có sông, có rừng, có trãng, không khác mấy với nơi mà Mạnh Trương đã sống. Bùi Giáng đã làm thơ:

"Đồi tăm tắp chạy về ôm chân núi.
San sát đồi phủ phục quấn núi xanh.
Chiều xuống rồi tơ lòng rộn ràng rối.
Trời núi đồi ngây ngất nhảy dê nhanh

Thôi từ nay tha hồ em mặc sức
Nhảy múa tung sườn núi vút giòng khe

Thôi từ nay tha hồ em mặc sức
Vang vang lên đồi núi giọng be be".
                           (Nỗi lòng Tô Vũ)

Có lẽ nếu Bùi Giáng cũng đòi như Mạnh Trương thì ông ta sẽ đòi trả lại cả dê, vì thuở ấy ông nuôi dê bởi yêu mến dê chớ không phải để ăn hay để bán.

Những câu thơ kế tiếp, Mạnh Trương đòi lại tình yêu:

Trả ta một bóng trăng thề
Đường xưa lối cũ đi về bên nhau
Trả ta ân ái buổi đầu
Tình ta mới chớm đẹp màu thương yêu
Trả ta hình dáng yêu kiều
Của người thiếu nữ rất nhiều nhớ thương

Bằng những nét phát họa đơn sơ, Mạnh Trương đã vẽ ra nhừng bức tranh ước lệ về khung cảnh cuộc tình, về hình dáng người tình, về những gì rất đẹp và đầy yêu thương trong cuộc tình đó.
Đọc thơ ta hiểu ngay những gì nhà thơ muốn đòi lại. Ta thấy ngay nhà thơ sẽ thất vọng. Thế nhưng, trong tận đáy lòng ta cũng đồng cảm với thơ, cũng thất vọng như thơ. Ngoài ra, những bức tranh ước lệ Mạnh Trương vẽ ra trong thơ cũng gợi nhớ trong tâm hồn ta những ngày tháng yêu đương thắm thiết và thơ mộng của một mùa dĩ vãng xa xôi nào đó.

Thơ đâu cần phải kích động bằng những từ ngữ nặng nề, đâu cần phải dấu đầy những ẩn dụ bên trong mới làm nên sự rung động. Tất nhiên nhừng điều đó cũng cần nhưng có lúc không cần phải thế. Thơ đôi khi là những lời rất bình dị, rất trắng nhưng rất trong, thẩm thấu vào lòng ta tất cả sự tinh hoa của tâm hồn thi sĩ, tưới thắm hồn ta như dòng nước trong thấm vào rễ, nuôi cho cây xanh tốt.

Và cuối cùng nhà thơ Mạnh Trương đòi hết lại những gì của mình đã có trong quá khứ, dầu đó chỉ là mái tranh vách đất của một ngôi trường xa xa:

Trả ta một thuở quê hương
Mái tranh vách đất ngôi trường xa xa
Xin trả lại hết cho ta
Những gì đã mất đã qua một thời
Trả ta năm tháng qua rồi
Với bao kỷ niệm một đời không quên.

Thật là quá lắm, thật là thật thà, chưa nói là ngây thơ nữa. Mạnh Trương càng lúc càng đòi hỏi thêm, như một người lăn xả vào con nợ của mình để bấu víu, đề kêu la, để đấu tranh đòi đến tận cùng cái mình có đã bị lấy mất năm xưa. Những cái bị mất đó là “năm tháng qua rồi/Với bao kỷ niệm một đời không quên”. Tất nhiên con nợ không trả bao giờ.

Tất nhiên vì con nợ không trả nên những món nợ đó nằm hoài trong tâm khảm thi nhân, lắng sâu trong đáy con tim, để mỗi khi tâm hồn dậy lên bão tố, mưa lũ sẽ chảy về lênh láng thành dòng sông ký ức, trên đó nhấp nhô hàng trăm con thuyền kỷ niệm. Những con thuyền kỷ niệm ấy sẽ không trôi êm đềm và sẽ bị vùi trong dòng sông ký ức kia hay vùi sâu ngoài biển khơi trong một hoàng hôn của đời người.
Buồn làm sao và vô lý làm sao!!!

Mạnh Trương là một nhà thơ ẩn dật. Ông đã xuất bản nhiều tập thơ, hình như chỉ để lưu lại cho riêng mình những kỷ niệm mà ông đòi không được, hơn là để quảng bá tên tuổi với thi đàn. Vì thế thi hữu và bạn đọc biết đến ông rất ít. Thơ ông có nhiều bài hay, nhưng hay không làm cho tôi viết nên cảm nhận của mình. Tôi chỉ viết được cảm nhận khi mà tầng số của tâm hồn tác giả trong bài thơ nào đó, gặp tầng số của tâm hồn tôi, ở một thời điểm nhất định mà duyên nợ cho phép được đến cùng nhau.

“Trả Lại Ta” là một bài thơ đòi nợ mà không có con nợ bao giờ. Ngẫu nhiên tôi lại thành con nợ văn chương của bài thơ đó. Nó buộc tôi phải viết vì những cảm xúc cũng dậy lên trong lòng tôi, chắc cũng giống như trong lòng những ai đọc bài thơ nầy.

Chúng ta ai cũng muốn đòi lại tất cả những gì mình đã mất trong đời, mà chẳng bao giờ đòi lại được, cho nên dễ đồng cảm với dòng thơ đòi nợ của Mạnh Trương

                                                                      Châu Thạch

READ MORE - ĐỌC “TRẢ LẠI TA” THƠ MẠNH TRƯƠNG - Châu Thạch

LỖI HẸN - Thơ Lê Kim Thượng


 
     Nhà thơ Lê Kim Thượng




LỖI HẸN

Tôi về… đốt lửa trong mưa
Tìm trang Tình Sử… ngày xưa yêu người…            
Em xưa… thuở mới hai mươi
Xuân thì vừa đến cho người ngẩn ngơ
Dáng xa như thực như mơ
Tóc thề trong gió hững hờ buông lơi
Liêu trai mắt biếc in trời
Bờ môi hé mở gọi mời nụ hôn
Tiếng cười rơi nhẹ vào hồn
Pha lê vỡ hạt vô ngôn dịu hiền
Chiều châu thổ… sáng bình nguyên
Nhìn em thơ trẻ hồn nhiên cánh chuồn
Yêu nhau yêu tới ngọn nguồn
Cái vui xẻ nửa… cái buồn chung nhau…           

“Ông Tơ ghét bỏ chi nhau
Chưa vui sum họp đã sầu…”  riêng ai
Em xa… hoang phế đền đài
Thềm rêu, ngói vỡ, tường phai bụi mờ
Thuyền trôi lạc bến lạc bờ
Bóng chim tăm cá bơ vơ bềnh bồng
Gọi người lạc tiếng chênh chông
Nghe trong đồng vọng hư không vỡ òa
Mưa Ngâu tháng bảy nhạt nhòa
Cầu Ô Thước… dải Ngân Hà tàn phai
“Một mai ai chớ bỏ ai
Chỉ thêu nên gấm, sắt mài nên kim…
Tìm em như thể tìm chim
Chim bay biển bắc, anh tìm biển đông…”

Mai người lỗi hẹn về không ?
Buồn lên héo ngọn Sầu Đông… sầu đời…
Bỏ tôi… lạc giữa đất trời
Em đi… vui với cuộc đời tư riêng
Trời cho nợ… chẳng cho duyên…
Sao cho trọn nỗi muộn phiền mình tôi ?…                      

                  Nha Trang, tháng 12. 2019
                       LÊ KIM THƯỢNG

“...” Ca dao

READ MORE - LỖI HẸN - Thơ Lê Kim Thượng

BÌNH LUẬN BÓNG ĐÁ - Thơ Hoàng Đằng



      Tác giả  Hoàng Đằng


BÌNH LUẬN BÓNG ĐÁ 1
(SEAGAMES 30 Ở PHILIPPINES)

Sút hoài, bóng chẳng lọt cầu môn.
Độ nhạy cái chân mất... nỏ còn!

Lừa dở đổ hô do cỏ vướng,
Chuyền sai quy lỗi tại sân trơn.

Ném biên, nhắm chỗ, nhằm... nên giỏi!
Phạt góc, đá vòng, trúng... mới ngon!

Xong trận, chuồi mình nằm... rệu rã,
Hai bên đều đuối dẫu thua, hơn...

                                29/11/2019
                            (04/11/Kỷ Hợi)


BÌNH LUẬN BÓNG ĐÁ 2
(Xem trận Việt Nam vs Indonesia ở Seagames 30 tại Philippines)

Hớ hênh để lọt vô rồi,
Người ta sung sướng. Con ơi! Mẹ buồn.
Thôi... con phải gắng, phải vươn!
Hoạ may vớt vát không hơn thì hoà.
Nghe lời Mẹ, con xông pha.
Cuối cùng lật ngược, cả nhà vỗ tay...

Trước chê dở, chừ khen hay.
Cái miệng tráo trở... thiệt tài đó nha!

                                  Hoàng Đằng
                                   01/12/2019
                                (06/11/Kỷ Hợi)

READ MORE - BÌNH LUẬN BÓNG ĐÁ - Thơ Hoàng Đằng

Sunday, December 1, 2019

BÊN DÒNG BẰNG GIANG - Thơ Nguyễn An Bình

Nhà thơ Nguyễn An Bình


NGUYỄN AN BÌNH 
BÊN DÒNG BẰNG GIANG 


Bên đôi bờ cỏ xanh 
Nước Bằng Giang chảy xiết 
Em có thấy tình anh 
Trôi xuôi dòng mải miết. 


Chờ sương hứng chút nắng 
Sưởi ấm một ngày đông 
Tiếng chim gầy rất mỏng 
Bay dọc suốt triền sông. 


Cầu bắc qua sông nhớ 
Em thả tóc dịu dàng 
Qua cầu cây đứng gió 
Nên tình còn lang thang. 


Mây tràn qua đầu núi 
Phố ngủ vùi trong sương 
Có nghe tình vẫy gọi 
Sông chùng chình nhớ thương. 


Khẽ khàng thôi em nhé 
Chiếc lá vừa nghiêng chao 
Môi hồng người em gái 
Tình đi đâu về đâu?


 Cao Bằng 8/11/2019
N.A.B
luongmanh2106@gmail.com

READ MORE - BÊN DÒNG BẰNG GIANG - Thơ Nguyễn An Bình

TIẾNG NÓI VÀ CHỮ VIẾT CỦA VIỆT NAM - Hoàng Đằng


 
         Tác giả Hoàng Đằng


TIẾNG NÓI VÀ CHỮ VIẾT CỦA VIỆT NAM
                       (Ngôn ngữ và văn tự)
                                                           Hoàng Đằng

Thời gian này, có ý kiến trái chiều về việc lấy tên giáo sĩ Francisco De Pina và giáo sĩ Đắc Lộ (Alexandre De Rhodes) đặt tên cho hai con đường nào đó tại Đà Nẵng.
Qua những ý kiến đưa ra, tôi thấy đang có sự lẫn lộn giữa TIẾNG NÓI và CHỮ VIẾT (Ngôn ngữ và văn tự) ngay cả trong giới trí thức.

Vì vậy, tôi xin lên tiếng!

Từ khi có người Việt trên trái đất này, chắc chắn đã có tiếng nói để giao tiếp với nhau, ấy là tiếng Việt - Việt ngữ. Lẽ dĩ nhiên, qua quá trình lịch sử, tiếp xúc với những ngôn ngữ khác, đụng chạm với thực tế cuộc sống, tiếng Việt đã tiến hoá, đã có ít nhiều biến đổi về ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp, số lượng ngữ vựng... Điều đó không thể nào tránh khỏi.

Tôi chỉ muốn nói người Việt từ xưa đến giờ chỉ có một tiếng nói.
Còn về chữ Viết (văn tự) thì khác.
Tôi có đọc tài liệu nói rằng thời xa xưa, người Việt đã có chữ viết - Việt tự.
Do thời gian Bắc thuộc quá dài, dân ta sống kiếp nô lệ, không có điều kiện dùng và phát triển chữ Việt xưa ấy, nên nó yểu mệnh, ngày nay, di chỉ không đủ để nghiên cứu tử tế.
Đến thời Bắc thuộc, giới trí thức học chữ Hán - Hán tự, dùng chữ Hán trong việc công.
Giáo dục chưa mở mang, số người mù chữ chiếm đại đa số; vì vậy, công văn ít người Việt đọc và viết được. Oái oăm thay! Do chữ viết không thể hiện tiếng nói, công văn ngay cả đem đọc, quần chúng cũng không hiểu được, nếu không có người diễn giải.
Khi nước ta giành được độc lập rồi, suốt cả chiều dài lịch sử, qua các triều đại tự chủ, chữ Hán vẫn được dùng trong việc công - công quyền và công chúng.
Nòi giống Việt có bản tính tự chủ, chữ Hán ở Việt Nam đã không đọc âm như bên Tàu, người Việt có cách đọc riêng, gọi là “âm Hán Việt”; dù vậy, văn bản Hán văn, vẫn như thời Bắc thuộc, cũng chỉ một ít người có học mới viết được, đọc được, hiểu được.
Hán tự đóng vai trò như thử là “quốc gia văn tự” của nước ta; tình trạng ấy đã làm cho mọi công việc ở tầm quốc gia, tầm xã hội, tầm gia đình rất khó khăn vì tiếng nói và chữ viết không đi đôi với nhau. Đó chắc cũng là một trong những lý do khiến nước ta, dân ta chậm tiến.

Trước tình trạng tréo ngoe đó, một số trí thức (nho sĩ) Việt nghĩ ra chữ Việt, gọi là chữ Nôm – “Nôm” là Nam nói trại.
Chữ Nôm là loại chữ bắt chước cách viết của chữ Hán để ký âm tiếng Việt.
Những ai đã sáng chế ra chữ Nôm và việc sáng chế khởi sự từ lúc nào; câu trả lời cho câu hỏi ấy bây giờ còn bỏ ngõ. Chỉ biết đời nhà Trần, đã có cụ Nguyễn Thuyên dùng chữ Nôm để viết văn bản.
Văn bản bằng chữ Nôm đọc lên, hễ là người Việt, ai cũng hiểu. Vì vậy, chữ Nôm có thể gọi là chữ Quốc Ngữ đầu tiên của nước ta - “Quốc Ngữ hệ chữ Hán”.
Tiếc là chữ Nôm không được đem dùng trong công quyền (triều nhà Hồ và triều Tây Sơn có dùng nhưng không đáng kể) để có thể trở thành “quốc gia văn tự”; ấy có lẽ do óc bảo thủ của vua quan qua các triều đại – họ quá tôn sùng chữ Hán, không muốn chữ Nôm phổ biến, sợ mất địa vị, uy quyền độc tôn của họ trong chính quyền và trong đời sống xã hội.
Giá như chữ Nôm được dùng trong công quyền, thành “quốc gia văn tự” qua các triều đại thì nó đã tiến hoá như chữ Nhật hay chữ Hàn, và biết đâu bây giờ nó vẫn được dùng như người Nhật, người Hàn đã dùng chữ Nhật, chữ Hàn tại nước của họ!  Và nếu được dùng chính thức, hình thái của nó ngày nay chắc chắn không còn rườm rà như ngày xưa mà đã được đơn giản hoá để dễ dàng phổ cập. Như vậy, tôi nghĩ rằng chữ “Quốc Ngữ hệ chữ La Tinh” không còn chỗ để chiếm lĩnh vị trí “quốc gia văn tự” như hiện nay.
Do chữ Nôm không được vua quan xem trọng, chỗ trống “quốc gia văn tự” mới được chữ “Quốc Ngữ hệ La Tinh” trám vào.

Chữ “Quốc Ngữ hệ chữ La Tinh” do các cố đạo Tây Phương đến truyền đạo Ki-Tô vào thế kỷ 16, 17 nghĩ ra – dùng mẫu tự La Tinh ghép vần để ký âm tiếng Việt. Sáng kiến của họ là để dễ dàng việc truyền giáo. Ban đầu, nó chỉ sử dụng trong mục đích ấy.
Qua thế kỷ 19, Pháp bắt đầu bảo hộ Việt Nam, nó đi vào học đường, công quyền bảo hộ, rồi đi vào sinh hoạt văn học, nghệ thuật, được giới nho sĩ tiến bộ đánh giá cao, được nhân dân đồng tình vì việc học dễ dàng. Nó khoác lên mình tên chữ Quốc Ngữ, nhưng nếu xếp đúng, nó là chữ Quốc Ngữ thứ 2 của Việt Nam.
Từ năm 1945 – khi Việt Nam độc lập - đến giờ, nó trở thành “quốc gia văn tự” không kèn không trống.

Mấy giáo sĩ Tây Phương đặt nền móng cho “chữ Quốc Ngữ hệ chữ La Tinh” đang được dùng chẳng bao giờ nghĩ đến sau này sẽ được Việt Nam vinh danh đặt tên đường, dựng tượng đồng, bia đá ... Họ, vì đức tin, hiến mình cho Chúa và tìm mọi phương tiện để hoàn thành sứ mạng và chữ Quốc Ngữ hệ chữ La Tinh cũng là một phương tiện.
Nước Việt Nam bây giờ muốn vinh danh họ vì đạo nghĩa “uống nước nhớ nguồn” - họ đã cho mình một công cụ văn hoá để sử dụng.

Theo tôi, người có công với đất nước Việt Nam không phải chỉ những người xông pha trận mạc mà còn có những người dựng xây, bảo vệ văn hoá, những người đưa ra kế hay, mưu giỏi để phát triển đất nước, không kể họ là người Việt Nam hay người nước ngoài.

                                                        Hoàng Đằng
                                             01/12/2019 (06/11/Kỷ Hợi)

READ MORE - TIẾNG NÓI VÀ CHỮ VIẾT CỦA VIỆT NAM - Hoàng Đằng

Chùm ảnh BÔNG BỤP - Chu Vương Miện











READ MORE - Chùm ảnh BÔNG BỤP - Chu Vương Miện

TÌNH MƠ - Nhạc: Mai Hoài Thu - Thơ: Trần Tố Uyên - Ca sĩ: Đông Nguyễn

READ MORE - TÌNH MƠ - Nhạc: Mai Hoài Thu - Thơ: Trần Tố Uyên - Ca sĩ: Đông Nguyễn

CHÙM THƠ TÌNH LÃNG MẠN - Phạm Ngoc Thái

CHÙM THƠ TÌNH LÃNG MẠN - PHẠM NGỌC THÁI
     
Nhờ đâu 3 cô gái Thái được mệnh danh nữ thần tắm suối?-7

               EM TẮM
                 Kỷ niệm với người nhi nữ xa

                                    *
Anh ngắm nhìn em tắm
Tấm thân trần mênh mông
Biển tình tràn say đắm
Em của anh biết không !?

Tấm thân em bảo vật
Của tạo hóa sinh ra
Dành cho anh yêu đó !
Mãi còn ở tít xa...

Tấm thân em trắng ngần
Từng đừng viền anh ngắm
Hai bầu sữa thơm lành
Chờ ngày anh uống cạn

Ngã ba em suối ngọt
Chảy róc rách bên trong
Có rừng xanh bao bọc
Chờ ngày anh vô thăm

"Em đêm nhớ, ngày mong
Tan nát cả cõi lòng"...
Em bảo anh như vậy
Anh lại càng thương em.

Giữa đất trời bão giông
Tình ta còn cách trở
Nhưng trong trái tim anh
Cưng mãi nằm ở đó !

Anh nhìn em yêu tắm
Qua màn hình zalo
Hãy chờ ngày anh đến
Tặng em cả trời mơ...

    Hà Nội, phố
  



                   ĐỘNG THIÊN THAI CỦA EM
  
                   Rõ màu trong ngọc trắng ngà,
                Dầy dầy sẵn đúc một tòa thiên nhiên
                            ( Kiều Nguyễn Du )
                                      *
Em đưa anh vào trong "Động thiên thai"
Đôi sườn núi bên, như hai vầng trăng khuyết
Ríu rít bướm đàn. Thì thào em hát...
Bản tình ca muôn thuở giống nòi.

Em ngước nhìn anh, ánh mắt sáng ngời
Con chim hót vang trời... Cánh rừng xanh tốt...
Không rậm rạp um tùm, động em thoáng mát
Hòn núi nhỏ chon von ? Mặt trời đỏ mọc bên trong...

Em là Nàng công chúa của lòng anh
Một lãng tử độc hành, trên đường thiên lý
Đi qua thôn hương, gặp người ái nữ
Bên bờ biển xanh, hát khúc tình chiều

Đời người sống được bao nhiêu ?
Yêu anh ! Em trao không tưởng tiếc
Cả tòa động thiêng liêng ! em dâng hết...
Để cùng anh sớm tối vẹn lời nguyền

Ngẫm đất trời cũng khéo vén chữ "duyên"
Tuy mới gặp mà nồng nàn, tha thiết
Anh cứ ngỡ câu chuyện tình cổ tích
Chàng dong buồm... vượt biển đón gái xinh...

Em mang hồn Thánh Nữ cõi nhân gian
Người đàn bà có trái tim bất diệt !
Tất cả tụ trong một "Hang cẩm thạch"
Khai sinh giống nòi, nuôi nhân loại lớn khôn.

Ôi, "Tình yêu và cuộc sống" muôn năm !

             18.4.2019
              P.N.T.
READ MORE - CHÙM THƠ TÌNH LÃNG MẠN - Phạm Ngoc Thái