Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, August 7, 2015

BÊN TRỜI - thơ Trần Ngọc Hưởng


Tác giả Trần Ngọc Hưởng


Bên Trời

Anh về, mắc võng hiên trưa,
Phả hồn quán xá cho vừa yêu nhau.
Làm sao anh ở được lâu,
Lần này, lại có lần sau, cõi tình …

Đợi em rũ áo thị thành,
Trái mơ hồng vấp vào anh nồng nàn.
Mùi hương chín tới giòn tan,
Ru anh thức ngủ bàng hoàng ngực thơm.

Chảy dòng sữa ấm tận hồn,
Hoa vườn nhụy ngọt môi hôn phiêu bồng
Mang mang thiên địa mù không,
Chập chờn khoảnh khắc tình nồng men say.

Chung nhau ấm chén rượu đầy,
Thả hồn vút cánh thơ bay tận trời.
Vẻ ngon ngon đọng vành môi,
Vẳng trong tâm thức muôn lời hoan ca.

Tạm rời nhau giữa chiều tà,
Anh còn thơm đọng hoàng hoa chén mời.
Một lần, lại một lần trôi,
Thương hoài người đứng bên trời liêu xiêu.


Trần Ngọc Hưởng
READ MORE - BÊN TRỜI - thơ Trần Ngọc Hưởng

NỖI LÒNG - thơ Trúc Thanh Tâm

  
Tác giả Trúc Thanh Tâm









NỖI LÒNG

              - Gởi Châu Đốc - Cà Mau

Hơn ba mươi năm, biền biệt Cà Mau
Bến tàu đó, em biết còn chốn cũ
Mái trường tỉnh tôi chưa lần được học
Rồi chiến tranh, từ đó cách xa mình!

Nước nổi nơi nầy, nhớ gió U Minh
Điên điển bông vàng nhớ tràm bông trắng
Mắm Châu Đốc hương vị còn sâu đậm
Than đước Cà Mau âm ấm nỗi lòng!

Hơn ba mươi năm, dấu bụi mù tăm
Nhưng dĩ vãng vẫn còn trong hơi thở
Cầu quay đó cũng một lần bỡ ngỡ
Mắt nhìn nhau, thương nhớ đến bây giờ!

Cà Mau em, là nét đẹp trong thơ
Châu Đốc tôi, dòng phù sa bồi mãi
Có thổn thức mới thấy lòng trống trải
Có xa quê mới thấu hiểu bao điều!


TRÚC THANH TÂM
READ MORE - NỖI LÒNG - thơ Trúc Thanh Tâm

Nguyễn Đức Tùng: Dùng 'quyền năng' đưa 10 nhà thơ nổi tiếng đến Việt Nam


Thật kỳ diệu, ngỡ ngàng và hạnh phúc khi được gặp gỡ, chạm mặt và “đụng độ” với 10 nhà thơ nổi tiếng, tinh hoa của thơ Bắc Mỹ trong cuốn tiểu luận, phê bình Thơ cần thiết cho ai (NXB Hội Nhà văn, 2015) đang “làm mưa, làm gió” trên các diễn đàn văn chương của tác giả Nguyễn Đức Tùng.

Cuốn sách Thơ cần thiết cho ai viết về các nhà thơ đương đại, gồm tám người từ Hoa Kỳ và hai người từ Canada, những bậc thầy của nghệ thuật ngôn ngữ, đã được nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Đức Tùng đưa vào và mở ra những tính cách, những số phận cả thơ và người một cách tinh tế, quyến rũ.

Một cuốn triết thơ lãng mạn

Cái cách lựa chọn “đích ngắm” của Thơ cần thiết cho ai cũng thật thú vị, những nhà thơ được tác giả “thổi đến” như William Carlos Williams và Wallace Stevens, vì họ “tạo ra bước ngoặt trong thi pháp thơ hiện đại”.

Hoặc Robert Frost và William Stafford vì ngôn ngữ tuyệt đẹp, một số thi sỹ như Elizabeth Bishop và Leonard Cohen “vì họ quá đau khổ” hay như Mary Oliver và Billy Collins được lựa chọn “vì họ quá sung sướng”, nhưng trên hết họ là những thi sỹ tài danh đích thực, mà Nguyễn Đức Tùng đã dẫn dụ “thơ giúp bạn nghe lại tiếng nói ấy”.



Nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Đức Tùng

Đánh giá về tập tiểu luận Thơ cần thiết cho ai, nhạc sỹ Nguyễn Trọng Tạo cho biết Nguyễn Đức Tùng là “con người cật lực, tận hiến cho thơ”, người mang đến những trang viết “đầy ý nghĩa, mới mẻ và bổ ích”.

Nguyễn Đức Tùng không hề xa lạ với văn giới trong nước, bắt đầu từ cuốn Thơ đến từ đâu cách đây 5 năm khiến không ít người trong giới phê bình sửng sốt và “nhấp nhổm không yên” bởi tri thức và hàm lượng văn chương trong cuốn sách, hay gần nhất là cuốn Đối thoại với văn chương (cùng với Trần Nhuận Minh, 2012) đã được giới thiệu tại Trung tâm Văn hóa Pháp Hà Nội, cũng gây được tiếng vang.

Thơ cần thiết cho ai dường như tiếp nối mạch phê bình thơ một cách công phu, trữ tình và hiếm có, trả lời hóm hỉnh, như một cuốn triết thơ, đầy lãng mạn cho câu hỏi của độc giả “Thơ đến từ đâu” của Nguyễn Đức Tùng.

Nhà thơ Mai Văn Phấn cho rằng Thơ cần thiết cho ai “thắp lên mười ngọn nến, mỗi ngọn nến tỏa một cường lực, soi bằng ánh sáng riêng biệt, chan hòa, ngự trị đời sống này, cho con người nhìn rõ thiện ác, hướng đến những mục đích cao đẹp”.



Bìa cuốn sách "Thơ cần thiết cho ai"

 “Hãy để chim chóc làm đầy bầu trời”

Nguyễn Đức Tùng sinh tại Quảng Trị, lớn lên và đi học tại Huế, hiện đang định cư tại Vancouver, Canada. Thơ cần thiết cho ai với 256 trang sách được nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Tùng hoàn thành tại Vancouver cách đây hơn một năm.

Nhà văn Vũ Thiên Kiều nhận định Nguyễn Đức Tùng có lối nói, lối viết “rất hút, lạ và rung, người đọc cảm giác như anh vừa bước ra từ một ngôi nhà bí ẩn nào đó, bàn tay đầy ký tự bí ẩn, đến ánh nhìn cũng cũng vang lên đầy bí ẩn, khó đón bắt, nhưng không thoát được khí hậu từ vùng bí ẩn đó bay ra”.

Cách đây vài năm, trong một lần Nguyễn Đức Tùng về nước, một buổi chiều mưa gió, trò chuyện đến tận đêm khuya ở một quán nhỏ trên phố cổ Hà Nội cùng với nhạc sỹ Nguyễn Trọng Tạo, nhà nghiên cứu triết học Bùi Văn Nam Sơn, nhà văn Đặng Thân, thấy anh thật giản dị và thâm tình với bạn bè, ngay cả với đám trẻ đang loay hoay, “pha màu” trong nghệ thuật. Lui cui ký sách tặng, thấy Nguyễn Đức Tùng lúc nào cũng nở nụ cười, ánh mắt bừng sáng, hồ hởi dù người đó là bạn mới gặp hay đã quen lâu.

Tôi hiểu rằng, vì sao con người xương thịt và cả trong những trang phê bình, tiểu luận văn học của Nguyễn Đức Tùng có sức quyến rũ đến kỳ lạ. Hỏi bí quyết, Nguyễn Đức Tùng cho biết nhà thơ nào cũng cần đọc đi đọc lại, nhưng có người cần đọc đi đọc lại nhiều hơn.

Lúc thì ở quán cà phê lơ đãng lật vài ba trang sách, lúc thì trên xe bus ồn ã hơi người và tiếng còi, lúc đọc giữa đêm khuya trên một chiếc giường, giữa nệm xưa và bóng đèn cũ, cả những lúc nào đó không thể nhớ nổi. Lúc nhẩn nha, anh lim dim đọc thơ của chính mình “hãy để chim chóc làm đầy bầu trời/ hãy để muối làm đầy môi chúng ta/ hãy để bông hoa đứng thẳng lên”, thật mát ruột và cao khiết.

Trao đổi với PV, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam khẳng định hoàn toàn bị thuyết phục bởi cách dịch, cách cảm thú vị ở những tiểu luận về thơ, người thơ trong Thơ cần thiết cho ai “có cảm giác Nguyễn Đức Tùng đang ở trong mỗi bài thơ và nói vọng ra cho chúng ta nghe trong đó có gì và như thế nào”.

Khúc Link Hương

Đã đăng trên báo Thể thao & Văn hóa
READ MORE - Nguyễn Đức Tùng: Dùng 'quyền năng' đưa 10 nhà thơ nổi tiếng đến Việt Nam

VỚI CỐ HƯƠNG - thơ Hoa Nguyên

Tác giả Hoa Nguyên





VỚI CỐ HƯƠNG

…Xin một lần về thăm cố hương
gánh tình quê qua những cung đường
lắng dòng Thạch Hãn sôi hồn trận
gió hạ Lào rám nắng xót thương

Mong một lần về thăm Thành Cổ
tìm cốt xương trong đất vùi tro
nghe dư âm bom rơi đạn nổ
từ cõi xưa, say cuộc sông hồ

Mong một lần Quảng Trị chờ tôi
thấu tình viễn xứ tự xa xôi…
hồn núi sông một thời rực lửa
cháy trong tim hằn vết cuộc thời

Qua truông đò ngược tới Triệu Phong
tôi về se thắt trận bão lòng
tủi buồn giọt nhỏ trưa Qui Thiện
đã vội khô theo gió trên Cồn

                              HOA NGUYÊN

hoanguyenmt404@gmail.com

Phan Rang - Ninh Thuận 

READ MORE - VỚI CỐ HƯƠNG - thơ Hoa Nguyên

CUỐI ĐỜI THI SĨ, GỬI THI SĨ NGUYỄN BẮC SƠN - Thơ Nguyễn Bắc Sơn, Nguyễn Khôi

Nguyễn Bắc Sơn, nhà thơ quê ở Bình Thuận, vừa qua đời ở tuổi 72do bị bệnh. Ông là hội viên Hội VHNT tỉnh Bình Thuận.

Giai đoạn trước 1975, Nguyễn Bắc Sơn dù chỉ in một tập thơ có tên Chiến Tranh Việt Nam Và Tôi (in năm 1972) nhưng ông được giới văn nghệ sĩ thời đó nể phục bởi thơ ông không chỉ là thơ tình lãng tử mà còn có những vần thơ yêu tự do, phản đối chiến tranh. Sau ngày thống nhất, ông có tập thơ thứ hai Ở Đời Như Một Nhà Thơ Đông Phương (NXB Đồng Nai 1995).

Lễ viếng nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn bắt đầu từ sau 19 giờ ngày 4.8 cho đến hết ngày 5.8, tại tư gia của ông ở 43/17 đường Trần Lê, P.Đức Long, TP.Phan Thiết (Bình Thuận). Lễ động quan lúc 6 giờ sáng 6.8. Sau đó di quan đi hỏa táng ở đài hỏa táng TP.Vũng Tàu. 


Chân dung Nguyễn Bắc Sơn được họa sĩ Đinh Cường ký họa

Chân dung Nguyễn Bắc Sơn được họa sĩ Đinh Cường ký họa

VNQT giới thiệu các bài thơ của nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn và nhà thơ Nguyễn Khôi giao lưu với nhau



Thương quý gửi Nhà thơ Nguyễn Khôi,
Nhân ghé chơi với thầy Tấn Tuệ Đinh Hồi Tưởng, được đọc thơ và chữ Hán của đại huynh viết, tiểu đệ rất lấy làm sướng khoái. Địa chỉ nhà tiểu đệ là 01 Chu Văn An- Phan Thiết- Tel : 816.740
 Nhân đây, tiểu đệ cao hứng viết vài ba chữ Phạn lõm bõm chúc đại huynh và gia đình an lạc, an vui.

 CUỐI ĐỜI THI SĨ
 Tặng : Nguyễn Khôi
        .................
Vầng trăng tâm nguyệt còn trong trẻo
tiếp tục rong chơi cõi bụi hồng
tranh như trẻ nít đùa trên cát
thơ cũng mây vờn trong gió sông.
                      Nguyễn Bắc Sơn

Nguyễn Khôi có phúc đáp :

GỬI THI SĨ NGUYỄN BẮC SƠN
"Bạch vân thiên tải không du du"
               ...................

Cứ ngỡ Bắc Sơn trên xứ Lạng
Ai ngời núi bắc ở trời nam
Chiến tranh đã qua bao năm tháng
mà hội chứng "đau" vẫn lặng thầm.
Viết cho Nhị Hồng thương không đám cưới
Gáy lên anh em...(1) nghe thật lạ kỳ
Ta sinh ra đâu để làm Thảo khấu (2)
"Khúc quân hành" không thích cứ phải đi (3) !
Ta sinh ra đâu phải để thế này
huynh đệ tương tàn, quê hương ruồng bỏ
Cây Phong du - gió thu reo thầm thĩ
Lịch sử qua rồi thoáng một gợn mây.
Mừng là được cầm tay qua thi tứ
chữ Phạn tặng nhau : Tâm một chữ Thiền
Đêm Phan Thiết (4) thả hồn cho sóng vỗ
Thơ là hồn xin được phút bình yên.
Thơ còn đấy là lầu, là núi
là Tình thơ ta viết gửi cho mình
máu  còn nóng còn yêu Đời cao đẹp
chút tơ lòng vương dòng lệ long lanh.

Góc thành nam Hà Nội 29-6-2003
                   Nguyễn Khôi
NR : 259/39 phố Vọng- Hà Nội. Đt 097 9 556 205

.........................................

(1; 2; 3) Các ý thơ của NBS
(4) Bài thơ "Đêm Phan Thiết"của Nguyễn Khôi -xem trên trangWeb"Newvietart..."
      
READ MORE - CUỐI ĐỜI THI SĨ, GỬI THI SĨ NGUYỄN BẮC SƠN - Thơ Nguyễn Bắc Sơn, Nguyễn Khôi

LỠ HẸN -Thơ Đặng Xuân Xuyến





LỠ HẸN
-Với T.L.A-


Người hẹn cuối tuần sẽ ghé chơi
Ta về khấp khởi đứng với ngồi
Hôm qua thứ 7 mưa dày quá
Tận chủ nhật này mưa vẫn mưa.

Người lại một lần lỡ ghé chơi
Ta lại chông chênh vỡ nụ cười
Ơi hỡi ông trời đùa dai thế
Rắc ngâu sao lại rắc mùa hè!

Hà Nội, đêm 14 tháng 07 năm 2014
         ĐẶNG XUÂN XUYẾN


READ MORE - LỠ HẸN -Thơ Đặng Xuân Xuyến

Thursday, August 6, 2015

Lê Văn Trạch - Tản mạn về THIÊN CHỨC CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ qua Văn học Dân gian


Lê Văn Trạch

Tản mạn về

THIÊN CHỨC CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ
                                            
qua Văn Học Dân Gian 


Trong sách Sáng Thế Ký: “Người phụ nữ được tạo dựng từ xương sườn người nam, vì cùng thân xác nên đưa đến một liên hệ khắng khít hơn cả liên hệ giữa người nam và cha mẹ  mình. Sự tạo dựng này như để đem lại cho nhân loại một yếu tố “không hoàn hảo”. Nếu không có yếu tố ấy thế giới sẽ không chạy tốt và khi người đàn bà nghe lời con rắn  để  ăn trái cấm trong Vườn Địa Đàng để không phải chết như đã có lời răn trước đó là: Ông Bà sẽ không chết, nhưng Thiên Chúa biết rằng ăn trái cấm xong, mắt Ông Bà sẽ mở ra với biết bao sự hiểu biết và cảm nhận và  rồi Bà Eva đem trái cấm ấy cho Ông ADong cùng ăn!


Điều hiểu biết và cảm nhận đầu tiên là những biểu hiện về Tình Yêu và như thế chúng ta cũng tự hiểu rằng nhân vật chủ động trong vấn đề này không ai khác hơn là Eva, người phụ nữ. Tuy nhiên, do yếu tố vật lý cấu thành thể chất và để ứng phó với môi trường chung quanh mà tồn tại, người đàn ông đã biểu lộ khả năng chinh phục của mình, từ đó tạo ra những quyền lực tuyệt đối, không chế toàn bộ cơ cấu tổ chức xã hội, đồng thời để thỏa mãn những tham ái, họ đặt ra những luật lệ ràng buộc, độc đoán, dưới nhiều nhãn hiệu, mỹ từ khác nhau, làm nên một tường thành kiên cố giam hãm, không cho người phụ nữ phát huy, thực hiện thiên chức của mình lúc ban sơ mà chỉ biết cúi đầu chấp nhận:

Cha mẹ đặt gióng sửa triêng
Phải sao chịu vậy chớ trùng triềng mà  đau vai!

Người Mẹ là nạn nhân ban đầu nhưng khi nhập vào guồng máy rồi thì phải tiếp tục quay vòng theo nó, có  khi rất hăng say và quyết liệt trong việc áp  đặt những tư tưởng kiểm soát tình cảm vào  đời con, đời cháu mình. Cha mẹ ở đây là  đại diện cho cả một quyền lực khổng lồ trong xã hội phong kiến.


Xin mở một dấu ngoặc để trở về lịch sử thời dựng nước: Vào đời Vua Hùng Vương thứ 3, công chúa Tiên Dung - người con gái độc nhất được Vua thương yêu nuông chiều, một hôm nàng đến bãi biển làng Chử Xá để tắm, tình cờ  gặp Chử Đồng Tử và bị ngay “tiếng sét ái tình”. Nàng cho người về cung trình báo với Vua cha để xin làm lễ thành hôn với chàng, nhưng đời nào nhà vua chấp thuận: Một  “cành vàng lá ngọc” lại đi kết nghĩa trăm năm với một kẻ chẳng có “khố rách áo ôm"! Mặc kệ, chàng và nàng vẫn cứ chung sống và lập thái ấp riêng rất trù phú. Vua tức giận cho quân lính đến hỏi tội, nhưng Chử Đồng Tử có thần thông và thế là chàng và nàng cùng bay về tiên cảnh, đó cũng là một cách thăng hoa, vượt thắng! Có thể nói Công Chúa Tiên Dung là người tiên phong trong thế chủ động tình yêu của người phụ nữ Việt Nam.


Trở về thời gian gần hơn, hãy nghĩ đến Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du, tuyệt tác một thời bị lên  án và cấm đọc (đàn ông chớ đọc Phong Thần, đàn bà chớ đọc Thúy Vân, Thúy Kiều). Nguyên nhân tại vì Thúy Kiều do tình yêu thôi thúc mà  đã dám cả gan hai lần chui tường qua gặp Kim Trọng, một hành động bị cho là  đồi trụy (nữ đáo nam phòng nữ tắc dâm!)

Nàng rằng:“Khoảng vắng đêm trường           
Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa           
Bây giờ rõ mặt đôi ta  
Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao!”

            

Kiều đã nắm bắt yếu tố: “Thiên - Địa – Nhân”  sau khi gặp nhau trong hội Đạp Thanh, hai bên “tình trong như đã, mặt ngoài còn e" nên Kim Trọng đến thuê nhà trọ gần nhà Kiều. Nàng biết, làm bộ đánh rơi trâm cài cho chàng nhặt  được rồi được trả lại và sau đó, lúc gia đình về quê ngoại, Kiều khai bệnh ở  nhà để tự do gặp Kim Trọng - nên trước mặt, qua mắt được cha mẹ để khởi đầu mối tình bất diệt với chàng.


...... Chứ  không có như cô gái nào đó:


Hôm qua anh đi trước cửa nhà nàng           
Thấy cha mẹ đập nàng, nàng khóc nàng than           
Nhà nàng cửa sổ song loan           
Anh muốn ghé lưng vô chịu 
Trận đòn oan cho nàng         


Nàng bị đòn là vi “đêm hôm” dám lén đi chơi với trai, một việc làm ngoài vòng lễ giáo, phải trừng trị thích đáng, đối với cha mẹ, chẳng oan chút nào cà. Nhưng điều gì đã kkiến cô liều mạng thế:


Em cứ  tưởng cha mẹ đập em vài ba roi
Chớ ai ngờ lại đập đến chín chục, một trăm roi            
Em bò lăn, bò lóc           
Em khóc đứng, khóc ngồi           
Anh ơi, dù bầm lưng máu chảy  
Em vẫn nguyện trọn đời yêu anh
          

Thật dễ sợ, sự rung động của con tim đã vượt qua tất cả mọi đớn đau của thân xác, trong bối cảnh của thời ấy mà dám khẳng định như  thế, chứng tỏ cường độ của tình yêu trong cô  gái đã đạt đến mức độ nào! Sự biểu lộ ấy làm chàng trai vô cùng xúc động, để diễn bày những động thái tình yêu cho lòng nàng ấm lại:

Cha mẹ đập em chín chục, một trăm roi
Đều vô một chỗ, máu đổ bầm da
Em ơi, đừng khóc, đừng có la
Rồi ta tìm nơi mô vắng vẻ           
Để ta bóp với thoa lần lần

            

Hai người đã tìm một nơi đồng không mông quạnh để tránh con mắt dị nghị của thiên hạ, nhưng chẳng có chuyện gì dấu được sau lũy tre làng. Chuyện thoa bóp đêm qua, sáng ra cả làng đều biết, chàng và nàng lại gặp nhau, kiểm chứng xem có sơ  suất ở “khâu” nào để ai đó thấy không, nhưng cả hai nhìn nhau mà lắc đầu:


Con mèo, con chó cũng không 
Bụi tre một chắc, ngoài đồng chẳng có ai!
       
Thế nhưng vẫn có những anh chàng đã không “ghé lưng vô chịu” mà khi nghe người yêu kể lể  sự đau đớn của mình lại không tin hay là giả  đò thế để được nhìn ngắm những lằn roi trên da thịt nàng?


Vì chàng thiếp bị đòn oan  
Không tin thì  dở áo: ngó lằn dọc lằn ngang trên mình

Mỗi cô gái có một thế đỡ khác nhau, nhưng tựu trung vẫn một lòng son sắt với người đã thệ ước.


Thầy mẹ đánh thiếp đàng trước           
Thiếp chạy ngõ sau 
Đạo can trường há dễ bỏ nhau sao đành!
            

Cũng có cô gái liều lĩnh bỏ ngoài tai cái chuyện  “Nam nữ thọ thọ bất thân”, thấy chàng rơi xuống nước đã không ngại ngùng:


Anh đi mô mà trợn trạo, trợn trạc           
Trúc cổ  xuống sông           
Em đây liều ướt áo 
Nhảy xuống sông bồng anh lên!


Nàng đâu biết đó là thủ đoạn của chàng trai!


Anh giả đò lộn cổ xuống sông           
Để  được em ôm, em bế, em bồng anh lên 


Trong thời xa xưa ấy, chuyện tình yêu gắn liền với hôn nhân, chứ không “văn nghệ” như bây giờ. Không yêu thì thôi, đã yêu thì phải nên vợ thành chồng chứ không lơ tơ mơ gì cả:


Đã thương thì thương cho chắc           
Đã trục trặc thì trục trặc cho luôn           
Đừng như con thỏ nọ  đầu truông 
Khi vui đùa bóng, lúc buồn giỡn trăng

 Và  có một chuẩn mực cân nhắc trước khi thực hiện vấn đề đó là “môn đăng hộ đối”. Những chàng trai khốn khổ thương cảm cho thân phận: ngại ngùng, lúng túng - nhất là những người tứ  cố vô thân - mặc dầu trong lòng đã yêu nàng da diết:


Một tay anh cầm chai rượu           
Một tay anh xéc buồng cau           
Đi ngõ sau cha mẹ chê anh khó           
Đi ngã trước chú bác nói anh nghèo           
Nhắm chừng duyên nợ cheo leo           
Sợ  nước to sóng vẫy           
Liệu có chống chèo chi được không?
          
Nhưng trái tim thì không biên giới và có một ngôn ngữ riêng của nó, cô gái không bận tâm đến những vinh hoa tầm thường, sẽ tìm mọi cách để thuyết phục:

Cha mẹ không thương anh           
Em đây miệng bẩm chân quỳ           
Em lựa lời năn nỉ  vân vi           
Rồi thương em chừng mô  thì thương anh chừng nấy 
Nỏ  can chi mô mà anh phiền
     
Cho dù là kín cổng cao tường với bao nhiêu răn  đe nghiêm cấm, chuyện yêu đương vẫn cứ xảy ra theo những tình tự hẹn hò, trông ngóng, nhớ  những ray rứt:


Trách anh sao vội ra về 
Để cho giông bão ê chề trong em

Đôi khi chỉ xảy ra một phía: Tình yêu đơn phương, nàng yêu thầm, nhớ trộm nhưng chàng đâu có hay, đành ấp ủ hình bóng ấy trong suốt cả cuộc hành trình và đến khi “trăng tàn bóng xế” lại hạnh ngộ, biết ăn nói gì đây:


Tuổi thanh xuân thiếp nỏ gặp chàng
Bây giờ ông sóm, mụ sém, hai đàng gặp nhau!
      
Không ai biết thời gian từ khi Bà Eva dâng trái Cấm cho ADong ăn đến bây giờ là bao nhiêu triệu năm?! Trí óc con người cũng đã làm thay đổi hoàn toàn bộ  mặt của trái đất chừng ấy lần !? Diễn tiến  đó cũng đã tạo ra trong xã hội, nhiều khu vực, nhiều giai tầng có những cách sống, nhu cầu phục vụ  và thụ hưởng hoàn toàn cách biệt.  Nhưng có một điều hình như không thay đổi, vẫn nguyên vẹn như ngày nào và hàng tỉ người đều có những động thái giống nhau, đó là Trái Tim với những yêu thương của nó do sự khởi  động từ người phụ nữ.

       
Trải qua chặng đường thật dài thăng trầm dâu bể của kiếp nhân sinh, yếu tố đó có những lúc như  chỉ âm ỉ dưới đống tro tàn, thân phận của họ, đôi khi bị đặt ở vị trí  thấp kém nhưng vẫn nuôi dưỡng được hạt giống để có cơ duyên là nẩy mầm, đơm hoa kết trái. Chính họ là người thừa hưởng và mang hạt giống ấy từ Bà Eva để đi vào tương lai.

       
Vinh danh không phải chỉ là những lời nói suông, khi đưa ra những thực chứng về sinh hoạt lứa đôi trong một giai đoạn cực kỳ khó khăn để hiểu được niềm tin, son sắt vào thế chủ  động của mình như là người giữ lửa, người nắm thiên chức tình yêu. Phải ghi nhận và thực sự  chia sẻ những điều ấy. Dâng tặng một bó  hoa cũng chẳng nghĩa lý gì bởi vì chính người phụ nữ là một đóa hoa tuyệt đẹp của nhân loại rồi và phấn hoa đã tỏa ra để tạo nên môi trường mát dịu cho quả đất.  

       
Ở khía cạnh vinh danh khác, xin mượn một câu nói của một người Mỹ: Women are half the population and the mothers of the other half ! (Người đàn bà chiếm một nửa tổng số của nhân loại và là Mẹ của một nửa còn lại). 
                              
                                                                           Lê Văn Trạch letrach@yahoo.com
READ MORE - Lê Văn Trạch - Tản mạn về THIÊN CHỨC CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ qua Văn học Dân gian

HOA SẦU ĐÔNG - thơ Nguyễn Hữu Minh Quân



HOA SẦU ĐÔNG

Mùa đông theo ta trong từng ngõ tối
Mà sao em bỏ lối quen gầy
Nhỏ nhắn tim anh một chiều còn đập
Xa quá rồi em vẫn là mây

Mùa xuân theo em về quê quán cũ
Như mưa nỗi nhớ cứ vơi đầy
Ướt nụ cười ai mưa chiều tháng Chạp
Se lòng vì những đợt heo may

Tạm biệt nhé mùa đông không ở lại
Nghe tin xuân cây lá đâm chồi
Chiều phố thị lang thang hoài câu hát
Ấm thơ người màu tím sầu đông rơi

Nguyễn Hữu Minh Quân
READ MORE - HOA SẦU ĐÔNG - thơ Nguyễn Hữu Minh Quân

CHẢ CÓ AI - thơ Chu Vương Miện



chả có ai

phản bội
tiếc là chả nói với nhau
một câu rất là vớ vẩn
dù hôm qua hôm nay mai sau
cũng chả bao giờ nói
dù mưa đá gió nổi
dù tuyết rơi chùm núi
hết canh bài
dù đứng ngoài cũng rách túi

*
cơn mưa quá bất thưòng
sấm sét quá bất thường
con trâu đang cày ruộng
bị sét phang chết
người nông phu còn nguyên
đứng khóc

*
con chó sủa gâu gâu
con mèo kêu meo meo
thực ra là tiếng kêu rất thật
con nhồng con sáo
con vẹt con yểng
người ta tập cho chúng
nói tiếng ngươì
chỉ biết lập lại nói theo
có con nói văn hoa
có con nói thô tục
nhưng dù nói kiểu nào
cũng chỉ là diễu kịch
nói để mà nói
nói không phải vậy?
có con lịch sự
có con mát dây

*
ở không thất nghiệp
không tiền
không trà không thuốc
không rưọu không đàn bà
thiếu đủ thứ
mở mắt không ra
nhìn ra chuồng gà
chả còn con nào
con què cũng mất
cáo tha


chu vương miện
READ MORE - CHẢ CÓ AI - thơ Chu Vương Miện

THỔN THỨC TIẾNG VE - thơ Bình Địa Mộc




thổn thức tiếng ve

tiếng ve nghe rất chi gần
nấp nơi đâu cũng ran lần lần ta
con đường thôn bóng tre ba
bốn năm đứa túm tụm à í ơi

tiếng ve khẽ chạm lại thời
chạy ùa khỏi cánh đồng phơi nắng vàng
chia phe đánh giặc giữ làng
bên nào thua cõng mây ngàn diêu dao

tiếng ve se giấc chiêm bao
ngắt bông phượng kết vòng trao tay người
sân trường rộn rã môi cười
tan vào gió cuốn bay mười phương xa

tiếng ve theo gót phong ba
cùng cơm áo dắt díu qua tháng ngày
chiều chiều nâng cốc rượu say
hai li cạn một li đầy cụng nhau

tiếng ve be bé vườn sau
nơi bời bời gió thốc nhàu áo xưa
em ngồi nghiêng nỗi nhớ vừa
rơi ra từ nét mực chưa ngã màu …

tháng 5, 2015
bình địa mộc

(0937.390.074)
READ MORE - THỔN THỨC TIẾNG VE - thơ Bình Địa Mộc