Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, March 15, 2013

NGUYỄN NGỌC HƯNG - VIẾT TỪ LÒNG BIẾT ƠN CUỘC ĐỜI - Phỏng vấn nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng - PV VNT thực hiện


Nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng
“Gần ba thập niên rồi hầu như mình nằm một chỗ. Như một cái ao tù. Chẳng còn cách gì khác là cố gắng tự lắng trong, tự khai mở dòng chảy dù nhỏ nhoi để hòa vào sông, biển cuộc đời. Mỗi ngày…”  NNH











NGUYỄN NGỌC HƯNG:
VIẾT TỪ LÒNG BIẾT ƠN CUỘC ĐỜI
 
Phỏng vấn nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng, 
phóng viên tạp chí Văn Nghệ Trẻ thực hiện

Hát lên những vui buồn, nhớ thương, trăn trở… 

· Anh vừa cho ra mắt một tập thơ dày dặn với 99 bài có nhan đề Bài ca con dế lửa. Anh có thể chia sẻ đôi điều về tập thơ mới này của mình?
- Ra mắt một tập thơ mới luôn là một khó  khăn với bất kỳ ai. Mình cũng vậy. Và có  lẽ với hoàn cảnh riêng của mình thì càng khó khăn hơn. Nhớ lại tập thơ-người-lớn Những khúc ca trên cỏ cũng đã ra đời cách đây những 5 năm rồi. Mặc dù trong khoảng thời gian đó mình đã in 2 tập thơ thiếu nhi: Bốn mùa cho bé yêu- NXB Kim Đồng, 2010 và Đường em đến lớp- Sách tài trợ của Nhà Nước, NXB Kim Đồng, 2012. Nhưng bằng hữu và bạn đọc đây đó vẫn động viên mình in tập thơ mới. Thêm nữa, một số bạn văn đã viết bài bình, bài cảm nhận về thơ mình mà 13 bài trong số đó mình đã cho in vào phần phụ lục của tập thơ mới như một lời tri ân. Về bản thảo, mình là người không có ý nghĩ “văn mình vợ người” nên luôn lắng nghe, cầu thị. Vì vậy mà mình đã gửi bản thảo đến khá nhiều các nhà văn, bạn thơ để nhờ đọc và chọn giúp. Khâu này mất đến gần 1 năm. Sở dĩ mình cẩn thận như thế vì nghĩ bây giờ sách thơ xuất bản khá nhiều và cũng bị chê không ít, nếu mình sơ sót, nhầm lẫn hoặc chọn lọc không kỹ thì sẽ tạo ra một sản phẩm kém chất lượng- đồng nghĩa với phí phạm công sức, tiền của, thời gian và có lỗi với những người chọn đọc thơ mình.
Sau nhiều nỗ lực, Bài ca con dế lửa được ra đời nhờ công sức của rất nhiều “bà đỡ” đặc biệt là những nhà văn Tạ Duy Anh, Nguyễn Thiên Hương, Sông Thao, Thúy Hằng và những anh chị em làm việc ở NXB Kim Đồng đã giúp mình in ấn, gửi sách đến những địa chỉ cần gửi. Mình cũng vô cùng cám ơn những bạn học thời trung học, đại học và một số những anh chị em bạn khác đã không ngại giúp mình phát hành tập thơ này và những tập thơ trước. Giữa thời buổi văn chương “ế” như chợ chiều, có thể nói nếu không có sự ủng hộ nhiệt tình của các bạn ấy thì thật khó để mình quyết định in thơ. 

· Đọc 99 bài thơ của anh trong tập Bài ca con dế lửa, có thể phân thành nhóm các chủ đề, như Mẹ, Kí ức, Em…. Tuy nhiên, anh đã không sắp xếp chúng theo dạng chủ đề như vậy. Hẳn anh có một ý tưởng nào đó muốn chuyển tải đến độc giả trong cách sắp xếp các bài thơ của mình? 
- Đúng như bạn nhận xét tập thơ này có khá nhiều chủ đề và có thể xếp thành nhóm. Tuy nhiên mình đã không làm thế vì nghĩ những gì mình viết chỉ là tiếng lòng của bản thân, đôi khi là những suy tưởng về cõi người vốn dĩ rộng lớn và vô thường. Bi ca thường ở rất gần hoan ca, đó là không muốn nói trong hoan ca đã có mầm móng của bi ca và ngược lại. “Con dế lửa” bất chợt hát lên một “bài ca” nào đó thì mình cũng vậy. Với mong muốn được người đọc lắng nghe và đồng cảm với mình về những nỗi niềm “ướt khô trần thế” luôn đan xen, chống chéo mà mỗi người phải tiếp nhận và vượt qua.   
Thật ra mình cũng có “sắp xếp”  một chút về bài mở đầu “Tạ ơn đời mỗi sớm mai” và bài cuối “Bài ca mới về  những câu chuyện cũ”…  
      
· “Bài ca con dế lửa” gửi gắm thông điệp gì của tác giả? 
- Con dế lửa là một loại côn trùng nhỏ  bé rất gần gũi thân thuộc với những người sống ở vùng nông thôn. Nhất là với lứa tuổi thơ  và lớp… người già như mình. Nắng nghe dế kêu mưa cũng nghe dế kêu. Đêm nghe dế kêu ngày cũng nghe dế kêu. Tiếng dế kêu lúc réo rắt khi rỉ rả từng ngày từng ngày nhập vào mình lúc nào không biết nữa. Nó như những bài ca không tên, không lời mà vô cùng thiết tha, sâu lắng. Nó hồn nhiên ám ảnh mình như mùi đất ải, phân hoai, mùi cây, hương lúa, ánh trăng,  nắng nôi, bão lũ và rất nhiều những thứ vô danh khác mà chỉ những người từ nhỏ gắn bó với ruộng đồng, nương rẫy, sông suối quê hương mới cảm nhận được. Có lẽ vì mình là “dân gốc rạ” chính tông nên bị/được tiếng dế nhập vào và “định cư” trong tâm hồn luôn. Sống với nhau riết rồi đâm thân thiết như tri âm tri kỷ, đến nỗi nhiều khi mình tự thấy mình cũng là một loài dế- một “ca sĩ đồng quê” rút ruột rút lòng hát lên những vui buồn, nhớ thương, trăn trở… của bản thân và làng mạc quê hương. 

    
Không được  đầu hàng hoàn cảnh dù nghiệt ngã đến đâu 

· Cuộc đời của anh, để được như ngày hôm nay, là một nghị lực sống phi thường. Anh thường tâm niệm điều gì trong những lúc hoang mang, suy sụp nhất?
- “Nghị lực sống phi thường” là một cụm từ mang ý nghĩa quá to lớn, mình không dám nhận đâu. Nhưng quả thật mình đã trải qua khá nhiều “những lúc hoang mang, suy sụp” và đã cố gắng vượt qua. Những lúc sắp “chìm”, khi mẹ còn sống thì là mẹ, khi mẹ mất rồi thì bạn chính là những “chiếc phao cứu sinh” của mình. “Tâm niệm” của mình những lúc khó khăn nhất là nhất định không được đầu hàng hoàn cảnh dù nó nghiệt ngã đến đâu, không được buông xuôi mọi thứ, không được rời bỏ cuộc đời trước những người đã hết lòng thương yêu, không ngại cưu mang, nâng đỡ kiếp đời khốn khổ của mình dù chính họ cũng đã oằn vai trăm gánh… 

· Dù phải chịu đựng một số phận không may mắn, nhưng khi đến với thơ của anh, không hề thấy sự oán thán, chán chường, mệt mỏi. Điều gì đã giúp anh giữ được một tinh thần thơ trong trẻo, an nhiên như vậy?
- Với hoàn cảnh của mình, nếu nói không buồn không xót không đau không chán chường mệt mỏi thì không đúng. Mình đã buồn đã xót đã đau tột cùng, đã từng chán chường, mệt mỏi đến mức chẳng còn quan thiết đến bất cứ điều gì trên đời nữa. May mà mình đã kịp nghĩ và xác định: Mẹ đã hết lòng chăm lo nuôi mình ăn học nên người, bạn bè người thân cũng đã hết lòng giúp đỡ, chăm sóc mình dù cảnh sống của họ đầy khó khăn- nhất là những năm trước đổi mới, mở cửa- cả những người khác nữa, chẳng có quan hệ gì họ cũng tỏ lòng thông cảm, giúp đỡ… Vậy thì số phận- gắn liền với bệnh tật- chỉ do nơi mình mà ra thôi. Mình làm- dù là không cố ý, không biết đã làm gì- mình chịu! Than vãn, trách móc ai? Nếu “tinh thần thơ” mình có chút gì “trong trẻo, an nhiên” như bạn cảm nhận thì có lẽ nó được xuất phát từ xác tín trên cộng hưởng với tình người quá đẹp đẽ, lớn lao mà mình đã, đang và tin rằng sẽ còn được nhận từ cuộc đời! Những gì mình viết đều xuất phát từ lòng biết ơn cuộc đời, cám ơn những tấm lòng nhân hậu đã giang tay cứu vớt, đón nhận mình trong những lúc đau buồn, bế tắc và mở ra cho mình con đường sáng- con đường sống sao cho có ích. Và nói như nhà thơ Tố Hữu là “đời yêu ta ta phải thắng cho đời…”.    

· Anh vượt lên số phận đời mình để dốc sức cho một “số phận chữ”. Hành trình nào khiến anh mệt mỏi hơn?
- “Hành trình” nào cũng mệt mỏi, nhọc nhằn lắm! Nhưng dù sao “số phận đời mình” và “số phận chữ” cũng luôn song hành với nhau. Đó là không muốn nói 2 số phận này luôn ở trong nhau, vịn vào nhau, nương tựa  nhau để cùng tồn tại và gượng đứng lên, nhích lên từng chút một. Người mệt thì chữ đỡ, chữ mệt thì người nâng…   

· Có giới hạn nào trong sáng tác mà anh luôn tự nhắc mình phải vượt qua? 
- Cõi thơ là cõi cao xa dài rộng vô cùng, cuộc sống và trí tuệ con người nói chung, nhất là bản thân mình lại rất hữu hạn. Mình rất hiểu những gì mình đã viết là chưa được gì nhiều, chưa đi đến đâu . Và rất có thể người đã đến cuối đường mà thơ vẫn còn ở vạch xuất phát. Như bạn biết đấy, gần 3 thập niên rồi hầu như mình nằm một chỗ. Như một cái ao tù. Chẳng còn cách gì khác là cố gắng tự lắng trong, tự khai mở dòng chảy dù nhỏ nhoi để hòa vào sông, biển cuộc đời. Mỗi ngày…  

· Nhiều nhà thơ luôn đặt ra yêu cầu cách tân, đổi mới trong các sáng tác của mình. Còn anh thì sao?
- Cách tân, đổi mới là nhu cầu bắt buộc của người cầm bút nói chung. Mình cũng không ngoại lệ. Nhưng cách tân, đổi mới thế nào cho hợp lý và hiệu quả? Mình nghĩ mỗi người có một khả năng khác nhau, cái “tạng” cái “gu” thẩm mỹ khác nhau, tốt nhất là phát huy sở trường của bản thân chứ đừng chạy theo phong trào. Không khéo lại rơi vào tình cảnh “bỏ mồi bắt bóng” như chơi. Dù muốn không muốn văn học nói chung và thơ nói riêng luôn luôn có sự tương tác giữa tác giả- tác phẩm- người đọc. Cách tân, đổi mới luôn cần thiết nhưng không nên cực đoan thái quá. Người đọc không hiểu, không cảm được, không nhận được những hứng thú tinh thần thì tác phẩm dành cho ai?
   Mình là con cháu của những người nông dân thứ thiệt nên chắc là cả đời lẫn thơ phải “sống ghì gốc rạ chết  ôm khói đồng” thôi. 

· Thơ hay – trong suy nghĩ của anh – là gì?
- Bài thơ hay luôn là một chỉnh thể của sự kết hợp hài hòa giữa nội dung và hình thức. Nói cách khác thơ hay phải có nội dung sâu sắc, mới lạ và được diễn đạt bằng một hình thức phù hợp, tương thích, văn minh. Như một người đẹp thực sự phải có cả thanh và sắc.
Mặt khác mình cũng rất thú vị  với tư tưởng của nhà triết học Căng : cái  đẹp không phải ở đôi má hồng thiếu nữ  mà nằm trong đôi mắt kẻ si tình. Có thể  bạn cho rằng đây là quan điểm duy tâm, chủ quan? Mình cũng nghĩ thế, cái đẹp phải có tính khách quan, tức là bản thân nó phải đẹp- cái đẹp ấy được mọi người (hoặc đa số người) công nhận. Nhưng ở một bình diện khác mỗi người là một tiểu vũ trụ, mang trong mình vô số điểm khác biệt so với phần còn lại của thế giới nên để tác phẩm được cả một dân tộc, một thời đại… đồng cảm, yêu thích là cực khó và cực hiếm. May ra chỉ những bậc thiên tài mới làm nổi.
   Với một người viết còn nhiều hạn chế như mình, nếu có bạn đọc nào thích một bài, thậm chí một vài câu nào đó trong cả một tập thơ  thì đã là một hạnh phúc rồi. May mắn có được một ý thơ nào đó đi được vào lòng người và làm tổ ở đó thì… tuyệt vời!
    
· Câu chuyện của chúng ta đã đề cập đến nhiều vấn đề. Liệu còn điều gì đó anh muốn chia sẻ với Văn nghệ Trẻ?
- Cho mình được nói thêm một chút. Mình sống được đến bây giờ, như bây giờ là nhờ lòng thương yêu và nhân hậu của rất nhiều người. Xin được thành kính tri ân tất cả mọi người. Và cũng xin mọi người rộng lòng tha thứ cho những non kém, lỗi lầm Nguyễn Ngọc Hưng đã vô minh phạm phải.
   Cám ơn Văn nghệ Trẻ đã cho mình một cuộc trò chuyện thú vị, nhiều  ý nghĩa này!  
  
· Văn nghệ Trẻ cũng xin được chúc anh luôn vững vàng trước những thử thách khó nhọc của đời sống này, để viết lên những bài thơ có sức sống lâu bền. 

PVVNT thực hiện

Văn nghệ Trẻ số 11 (ra ngày 16, 17 – 3- 2013)

Nguồn: Nguyễn Ngọc Hưng gởi đăng
READ MORE - NGUYỄN NGỌC HƯNG - VIẾT TỪ LÒNG BIẾT ƠN CUỘC ĐỜI - Phỏng vấn nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng - PV VNT thực hiện

LINH HỒN MẦU TÍM - Truyện ngắn Nguyễn Bá Trình






       Khu đất Mò Ó thuộc xóm Cồn Thiên từ trước đến nay là khu dất hoang nằm chênh vênh bên sườn đồi trọc, chỉ mọc toàn là cây mua. Về diện tích, lồi  lên, lõm xuống ven theo triền đồi không thể đo đạc chính xác, chỉ tính những đám bằng bằng chắc cũng được hai hec-ta. Mùa hè khu đất Mò Ó đẹp lộng lẫy như một bức tranh thiên nhiên. Chỉ nội cái màu tím của nó, ai có một chút  đầu óc hội họa  pha thêm một tí  mầu mè của  tâm hồn hoa lá cành thì không thể không sững sờ bởi cái mầu tím cực kì  rực rỡ. Mầu tím của bạt  ngàn hoa mua, mà dân quê ở đây gọi bằng cái tên không mấy thân thiện, là loài  me hoang. Mùa hoa mua nở từ tháng ba chuẩn bị kịp đón ngọn gió Lào nóng khô thổi như sấy tóc.Trong lúc con người ở đây quay quắt với cái nóng gió Lào chết tiệt  thì hoa mua nở tưng bừng.Tím từ lá non, cánh hoa, đến  nhị hoa. Nhị hoa có hương vị  ngọt thanh, nhai một chút là đôi môi của thiếu nữ Cồn Thiên chợt sáng lên một mầu tim diệu kỳ  mà không có loại son môi nào có thể sánh được. Son Hàn Quốc nghe  nổi tiếng vậy nhưng cũng chỉ là mầu tím tối. Có lẽ chẳng nước nào trên thế giới chế biến được một loại son môi, để các cô gái tân thời có  một làn môi xinh đẹp như môi cô gái xóm Cồn Thiên, khi nhai một chút nhị hoa mua thuở đó. Nói thuở đó vì kể từ năm 1972, quân đội Mỹ đem các loại xe cơ giới tối tân đến cày cạt mô đất Mò Ó để biến triền đồi nầy thành một căn cứ quân sự, nhằm cắt đứt con đường tiếp tế cho các các chiến khu đâu đó xa tắp trên dãy Trường Sơn, mà đứng từ Mò Ó nhìn lên chỉ thấy toàn núi non trùng điệp, xanh rì. Lính Mỹ từ ngày lập căn cứ nầy đổ máu không ít, vì phải chiụ đựng những trận pháo kích của quân Giải Phóng. Ruộng của xóm Cồn Thiên không nhiều, không mầu mỡ, nhưng chính nó đã sản xuất ra những hạt vàng cho Bộ đội những năm tháng chiến tranh ác liệt. Triền đồi hoa mua đã bị bào trọc, họa chăng chỉ còn sót một vài đám tiếp cận với bờ ruộng. Nhưng rồi hoa mua  cũng không còn mầu tím nữa, bởi những đoàn công voa suốt ngày đêm chở đạn lên về căn cứ, đã phủ lên cây cỏ  ở đây một mầu đỏ chạch của bụi đất pha  bazan. Số phận của hoa mua trên triền Mò Ó cũng mang nỗi thăng trầm như người dân ở đây.

        Sau khi đất nước thông nhất, những đám cây  mua còn sót lại một lần nữa  bị đào xới tận gốc rễ, bởi chính bàn tay những  người dân Cồn Thiên thiếu đói. Không phải họ đào cây mua lên mà ăn.Thứ cây nầy chỉ làm đẹp chứ không thay được miếng cơm manh áo. Nhưng người dân Cồn Thiên có lẽ từ thời tổ tiên ông bà khai phá ra xóm Cồn Thiên đến nay, chưa hề có được một ngày thư thái để có thể nhận ra vẻ đẹp của quê hương mình. Lấy đâu cảm hứng để nhận ra vẻ đẹp của loài me hoang !  Nói tiếp cái ý do đâu gốc mua bị đào xới. Sau 1975 trước cảnh thiếu đói, căn cứ quân sự Mỹ ở Mò Ó đã đem lại một vài hạt  cơm trợ đói, nhưng nó cũng lấy đi sinh mạng không ít những đứa trẻ và cả ông bà già. Khi ngày ngày họ lên đây đào xới tìm sắt thép, gõ đầu đạn lấy nhôm. Chiến tranh qua đã gần chục năm thế mà trên triền đồi Cồn Thiên thỉnh thoảng  lại vang lên những tiếng nổ rung chuyển đất đá, với những  cụm khói ùn lên như tai nấm khổng lồ ghê rợn. Tiếp theo đó là tiếng gào khóc thê thảm, lúc thì ở đầu xóm,  lúc thì cuối xóm. Tiếng gào khóc nghe  quá uất ức đau đớn.  Hơn cả tiếng gào khóc của người dân Cồn Thiên lúc có người chết thuở còn chiến tranh.

        Một đợt rà mìn trên cồn Mò Ó do Tỉnh đội tổ chức. Sau đó một khu công nghiệp được hình thành.Từ đấy có một câu chuyện về rừng mua, vô tình biến nó  thành khu vườn quái dị như trong  chuyện cổ  tích.

        Mấy năm sau, nói thì mấy năm nhưng cũng đến gần cả chục năm, tính từ khi khu công nghiệp hóa chất bắt đầu hoạt động, vùng ruộng lúa đã từng cho bộ đội những hạt thóc vàng dần dần mất mùa liên tiếp.Có gieo, có cắt, nhưng hạt lúa thu được mùa sau ít hơn mùa trước. Những năm gần đây cây lúa không còn lên được nữa bởi những dòng nước vàng quánh hoặc đen sì  từ khu công nghiệp đổ ra. Trước đây dân Cồn Thiên chết vì chiến tranh thì nhiều bởi đây là căn cứ chìm của Cách mạng. Tiếp theo là chết vì  người dân đào xới để lấy đầu đạn. Hai cái chết tức tưởi mới hết gieo rắc trên xóm Cồn  Thiên, giờ đến lượt cái chết âm thầm đau đớn, nhưng cũng hết sức nghiệt ngã: Chết vì bệnh ung thư! Mấy năm qua số người bị căn bệnh nầy chỉ rải rác. Nhưng mỗi ngày thấy có vẻ nhiều hơn, khiến chính quyền địa phương phải quan tâm. Vừa rồi Bộ Y tế về khám sức khỏe cho người dân Cồn Thiên đã có kết luận: Số người mắc bệnh ung thư  giai đoạn đầu đã lên tới xấp xỉ con số mười. Đó là  chưa kể những bệnh nhân  giai đoạn sau đang điều trị ở các bệnh viện.

       Vợ chồng chị Lành người  xóm Cồn Thiên, trước đây ở cùng cha mẹ, nay cùng một số hộ  được Ũy ban xã cấp cho mấy lô  đất thuộc  vườn mua cổ tích, phiá ngoại vi khu công nghiệp. Hai vợ chồng chị làm công nhân cho một nhà máy hóa chất ở khu Mỏ Ó. Tính đến nay đã hơn bốn năm. Hai vợ chông đang làm ăn khỏe mạnh, dành dụm được ít nhiều, đùng một cái tai họa giáng xuống. Thằng con trai đầu của anh chị đang học lớp mười, một buổi tối ăn xong ôm bụng quằn quại. Ra trạm xá xã uống thuốc đau bụng nhưng  không bớt. Lên bệnh viện Huyện xổ lãi cũng  không có. Vượt tuyến thấu bệnh viện tỉnh chụp hình, thấy khối u trong bụng. Thế là hết! Nó mới mất tháng mười năm ngoái, tính ra đã chín tháng mười hai ngày. Đứa con trai mất, kéo theo cơ nghiệp anh chị góp nhặt gầy dựng bấy nay cũng xem như đổ xuống sông. Anh chị chỉ có một đứa con, đúng là om treo đầu giàn. Giờ đã vỡ tan tành. Từ đó đến nay, anh Lành sinh ra nát  rượu, bỏ bê công việc, chẳng hề bén mảng đến nhà máy. Chị thì bỏ cái  gì  đâu quên đó, chẳng tính toán làm ăn gì được. Một  hôm chị thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình sa sút, sức khỏe cả hai vợ chồng đều suy giảm. Chị hồi tỉnh trước anh. Chị năn nỉ anh bỏ uống rượu:                             
       -Trời thương sẽ cho mình đứa con khác.Cố gắng làm lụng tích lũy cho con cái sau nầy. Mình đang còn trẻ không thể sống hoài như thế nầy được… Chị nói với chồng như vậy. Dù ăn ở chung với nhau một nhà, ngủ chung một giường, mà như thể lần đầu tiên anh nhìn thấy mặt vợ.  Anh trông chị xác xơ mà động lòng. Lỗi nầy chẳng do ai cả, chỉ tại  số trời thôi. Anh hứa sẽ không uống rượu nữa. Một sáng nọ chị mừng khấp khởi khi thấy  anh đến nhà máy xin đi làm trở lại.                             




      Cả vùng đất quanh nhà chị bốn năm trước đây khi chị cùng chồng đặt lát cuốc đầu tiên đắp cái nền nhà, thì cỏ đuôi gà mọc phủ. Đó đây còn  một vài bụi mua tím ngắt lắt lay trước gió. Giờ thì nó biến thành một khoảnh xám xịt, cát chẳng ra cát, đất chẳng ra đất, đang lan dần  tới trước thềm nhà chị. Mấy khóm hoa vạn thọ, mười giờ, anh Lành trồng trước ngõ cho vui cửa vui nhà đều lần lượt bỏ anh chị theo gió bay lên trời. Anh Lành bàn với chị đào một cài rãnh ngăn không cho nước thải từ các nhà máy thấm qua vườn nhà mình.

        Anh Lành đi theo xe áp tải hàng vào thành phố. Ở nhà  những lúc không làm ở nhà máy, chị tiếp tục đào rãnh một mình. Đây là thứ công việc không đẻ ra đồng lợi nhưng không làm không được. Cái mùi  hắc không ra hắc, thối không ra thối, cứ xông vào mũi mỗi khi trời đứng gió. Không ai ăn ở kiểu nầy được. Vậy là phải làm. Nhưng phải làm vào ngày chủ nhật hoặc tranh thủ ngoài giờ lao động. Do vậy từ hôm anh Lành đi rồi, chị đào xới đến hơn bảy giờ tối mới vào lo cơm nước. Ăn một mình cũng khỏe.
      Hôm nay chị định nghỉ tay vì thấy đã chạng vạng tối, nhưng nghĩ còn mấy thước nữa là con rãnh ăn thông ra ruộng. Đến đó là thôi. Chị cố gằng đào thêm một chút nữa, để ngày mai có thể hoàn tất. Vừa vung mạnh lưỡi cuốc xuống chỗ đất cứng chợt lưỡi cuốc  chạm vào một cái gì đó kêu một tiếng rắc giòn như bẻ nhánh củi khô. Chị chú  mắt  nhìn xuống.  Trong thứ bóng tối nhờn nhợt của đầu hôm, chị thấy một bóng người ăn vận  y phục tím ngắt từ dười đáy rãnh lồm cồm chui lên. Chị Lành hết hồn vía, chị thét lên một tiếng, ném cái cuốc ra xa, vắt chân lên cổ chạy. Nhưng chợt có tiếng kêu cất lên từ phía dưới  rãnh:        

       -Chị kia đừng chạy, tôi không làm hại chị đâu.

      Chị Lành nghe ai đó gọi mình, thanh âm không có vẻ gì là tiếng hú dọa  ma quái, chị dừng lại và quay đầu lui nhìn. Bây giờ thì chị thấy  rõ: Một cô gái vận một thứ trang phục mầu tím kỳ lạ. Đặc biệt đôi môi đánh một loại son gì mà phát quang tím rực rỡ. Da mặt thì xanh ngắt như mầu lá.  Từng bước tiến về phía chị. Chị Lành vừa bước  thụt lùi miệng vừa lắp bắp hỏi –Cô là ma? Là Hồ li tinh?

      -Tôi không phải  ma. Cũng không phải yêu tinh -Bóng cô gái  mầu tím trả lời-Tôi là một linh hồn. Linh hồn khác với tinh ma, chị biết không.

        Chị Lành tiếp tục thụt lùi vừa lắc đầu. Bóng cô gái kỳ quái không tiến thêm nữa. Thấy vậy, chị Lành cũng đứng lại nhìn . Cô ta  cất tiếng hỏi lạnh như băng giá khiến chị  rùng mình:

        -Chỗ nầy của tôi ở đã lâu sao bỗng nhiên chị vác cuốc đến đào phá?

        -Khu đất nầy là vườn của tôi mà – Chị Lành cãi - Nhà tôi kia kìa cô  không thấy sao?               
       -Nhà chị cũng thuộc vườn của tôi –Vẫn với giọng âm u  lạnh lẽo bóng  cô gái tự xưng mình là một linh hồn trả lời.

       -Nhưng tôi được chính quyền cấp sổ đỏ kia mà.

       -Nhưng đây là đất của tôi, chị nghe rõ chưa?

       -Đây là đất hoang từ xa xưa, có phải là vườn tược của ai đâu.

       -Có đấy

       Giờ thì linh hồn mầu tím tỏ vẻ bực tức, gằn giọng 
       -Vườn của dòng họ tôi đấy.

       Rồi vặn hỏi chị Lành:

       -Vậy tôi hỏi: Chị nhận cái mà chị gọi là sổ đỏ nhà nước cấp cho chị từ lúc nào?

       -Lâu rồi .

       -Lâu là mấy năm?  Bóng cô gái  mầu tím kỳ quái vẫn chưa chịu buông tha.

       -Cũng gần năm năm nay.

       -Vậy thì trước hay sau ngày mà khu đất nầy còn là vườn hoa mầu tím?

       -Tất nhiên là sau.

       -Thế  thì được rồi, chị hãy đến đây. Linh hồn mầu tím vừa nói vừa bước đến  rãnh, chỗ chị Lành vừa đào. Nhưng chị Lành không dám tới. Bóng mầu tím giục:

       -Chị  đến đây tôi giải thích cho nghe. Tôi không bao giờ làm  hại ai cả.

       Chị Lành vẫn không dám bước tới. Thấy vậy, Linh hồn mầu tím cúi xuống rãnh lấy tay lay lay một cái gì đó rồi kéo lên.

       - Trời ơi-Chị Lành kêu lên kinh ngạc-Một bụi mua tràn đầy hoa tím sáng rực. Linh  hồn mầu tím hỏi:

        -Chị đã hiểu chưa?

       Chị Lành vẫn  lắc đầu tỏ dấu không hiểu.

       -Nầy nhé, tôi ở đây từ thuở có những  bông hoa nầy, mà theo chị nói, chị được cấp giấy phép đến ở khu đất nầy lúc không còn một bụi hoa mua mầu tím nào nữa.  Có phải vậy không?  Nghĩa là chị đến đây sau tôi. Giờ thì rõ rồi chứ.

       Chị Lành vẫn lắc đầu. Chợt linh hồn mầu tím nổi giận:

       -Hãy rời khỏi nơi nầy gấp, đây là đất  lành của hoa mua mầu tím. Bọn các ngươi đã đến đây biến nó thành một vùng đất nhiễm độc, đầy chết chóc .Thấy chưa! -Linh hồn mầu tím chỉ tay lên  những đám khói tỏa ra từ những ống khói trong nhà máy, đang vần vũ trên trời, rồi nói -Tử khí bao trùm trời đất!.Các ngươi đã tận diệt những bông mua mầu tím chúng tôi. Vừa nói, linh hồn mầu tím vừa quất mạnh những nhánh mua, làm những bông hoa biến thành những tia sáng cực tím bay thẳng  vào mắt chị. Hốt hoảng chị Lành bỏ chạy. Nhưng ở đâu chị cũng thấy những tia sáng  tím ngắt từ trên trời xuyên qua những đám khói chiếu thẳng vào chị,  khiến toàn thân chị đau đớn. Chị Lành thét lên.

       Anh Lành đang say ngủ bên cạnh vợ chợt  nghe chị Lành thét, anh giật mình vùng dậy lay vai chị.Chị Lành tỉnh giấc ôm chồng run rẩy

       -Em nằm mơ gì vậy?  Anh Lành ôm chặt vợ cho chị bớt hốt hoảng rồi dịu dàng hỏi.

        Đang cơn kinh hoàng chị Lành không trả lời chồng nổi nữa. Chị rúc đầu vào ngực anh khóc rưng rức. Một lát chị nói:

       -Ta dọn nhà đi ở chỗ khác thôi anh ạ. Giọng  chị chưa hết kinh hãi.

       Chặp lâu sau, chị Lành bình tỉnh trở lại, chị kể cho chồng nghe câu chuyện mình nằm mơ.

       Anh Lành an ủi vợ:

       -Có lẽ em buồn và lo lắng quá sinh ra mộng mị vậy thôi, ngủ đi

       Anh ôm chị thật chặt  vào đôi tay rắn chắc của mình, dỗ chị ngủ.

       Sáng  mai chị Lành nhất định đòi chồng phải ra chỗ  cái rãnh chị đào dở hôm qua, tiếp tục đào sâu hơn để coi có gì dưới đó không. Đào xuống  gần  một tấc nữa,  anh Lành kéo lên một tụm cây ruỗng mục. Nhìn lại đó là một bụi cây mua bị chôn vùi lâu ngày chưa hoai hết. Cũng chẳng có gì lạ. Vùng nầy  trước kia là khu  rừng mua  thì thân cây mua bị chôn vùi dưới đất chưa kịp mục hết là  chuyện bình thường. Có điều là  tối qua chị Lành lại nằm mơ thấy Linh hồn mầu tím kéo một bụi mua từ chỗ nầy lên. Cái đó mới lạ. Trong những câu chuyện thần thoại hai vợ chồng chị đọc hồi nhỏ chỉ có những loại cây cao bóng cả mới  có thần linh tọa. Chẳng hạn cây lê ở đầm Dược Long ,Tào Tháo vì chặt nó để làm nóc cung điện nên bị thần linh hại chét. Còn thân cây mua cao chưa quá đầu đầu gối thì thần nào mà tá túc. Hai vợ chồng chị Lành nhìn nhau  lấy làm khó hiểu.

     Câu chuyện đến tai của một cụ ông trong  xóm Cồn Thiên. Cụ đã sống qua ba thế kỷ tại khu đất nầy. Cụ giải  thích với mọi người theo một quan niệm thần học, và lấy thực tế để chứng minh hẳn hoi.Cụ bảo thằng Mỹ qua đây bào trọc rừng mua nên bị giết. Người dân xóm Cồn Thiên lên đào phá gốc mua nên  cũng gặp tai họa. Những người kinh doanh lên đây thành lập những nhà máy, thải ra chất độc hại làm cây cối bị hủy diệt, nên con cháu cũng mang những căn bệnh ngặt nghèo. Cụ kết luận: Hoa cỏ thiên nhiên cũng có linh hồn. Khi con người tàn phá thiên nhiên chắc chắn sẽ bị báo ứng.

      Ông cụ nói  vậy thì nghe vậy, còn đúng sai chỉ có trời mới biết. Có điều chắc chắn là khi con người đã đầu độc thiên nhiên, thì bằng cách nào đó, thiên nhiên cũng sẽ đầu độc lại con người.

Nguyễn Bá Trình

 bichlien101046@yahoo.com.vn


READ MORE - LINH HỒN MẦU TÍM - Truyện ngắn Nguyễn Bá Trình

KỶ NIỆM MỘT THỜI “MÂY ĐÓT” - Bút ký Nguyễn Xuân Hòa

Tác giả Nguyễn Xuân Hòa (người thứ 2 từ phải sang)

                                          
                Đã hơn 30 năm, hình ảnh vùng Bãi Hà (thuộc xã Vĩnh Hà, huyện Vĩnh Linh) vẫn hiện về trong tôi với biết bao kỷ niệm. Ngày đó, sau khi nghỉ Tết âm lịch, đầu xuân 1982, học sinh khoá 3 chúng tôi được lệnh “hành quân” vào miền tây huyện Vĩnh Linh (thời đó còn đang huyện chung Bến Hải, gồm Vĩnh Linh và Gio Linh ngày nay và thuộc tỉnh chung Bình Trị Thiên) để khai thác đót, nhập cho Ngoại Thương. Phương tiện đầu tiên mà chúng tôi đi từ Đồng Hới vào ga Sa Lung, Vĩnh Linh là Tàu chợ, còn gọi là Tàu Thuận Lý - Huế. Đã quen với cảnh nhảy tàu thời sinh viên nên đến Sa Lung sức khoẻ của cả đoàn hầu như chẳng hề hấn gì. Vấn đề là tìm phương tiện để lên Bãi Hà, cách ga Sa Lung khoảng 10 km; số thì đón xe Lâm trường, số thì xin xe Trâu của dân địa phương đi khai thác gỗ, còn đa số cuốc bộ. Sau 5 tiếng đồng hồ, đến 7 giờ tối, toàn bộ đại quân cũng có mặt tại trường  UNESCO của xã Vĩnh Hà và nhanh chóng ổn định đội hình sinh hoạt, ăn nghỉ để sáng mai là có thể toả ra dọc đường 15 (Đường Hồ Chí Minh ngày nay) và các rẫy của dân bản để khai thác đót.

Đón và giúp đỡ chúng tôi là anh Hồ Xan, xã đội trưỏng Vĩnh Hà. Dân ở đây chủ yếu là đồng bào Vân kiều. Bản tính của bà con Vân kiều bao đời vẫn rất tốt bụng, nhưng tập tục lạc hậu và đặc biệt là ăn ở thiếu vệ sinh. Ở nhà sàn nhưng trâu bò, lợn gà lại nuôi ở dưới sàn nên rất bẩn và hôi mùi khó chịu. Ngoài nhiệm vụ chính, đoàn chúng tôi còn làm công tác giúp dân vệ sinh xóm bản, giao lưu sinh hoạt văn nghệ với Đoàn thanh niên địa phương. Mọi hoạt động diễn ra trong khoảng thời gian một tuần với đầy ắp kỷ niệm. Tôi còn nhớ lớp tôi có một cô bạn bị đau bụng quằn quại. Bệnh viện thì xa, phương tiện giao thông không có, dân bản khuyên nên đưa đến nhà thầy giáo Roàng. Tôi nghĩ đau ốm sao lại đưa đến nhà thầy giáo, nhưng không còn sự lựa chọn nào khác, sau khi hội ý chớp nhoáng, quyết định cuối cùng là đưa đến nhà thầy giáo xem sao. Khi đưa cô bạn lên nhà sàn của thầy thì điều bất ngờ nữa lại đến, thầy bị mù... Nhưng đến lỡ rồi, đành cất tiếng trình bày yêu cầu của mình. Đón chúng tôi là một người dân tộc chính hiệu, tóc xoặn, da ngăm đen, dong dỏng cao và rất nhanh nhẹn. Sau khi hỏi một số triệu chứng, thầy bắt đầu thăm khám và kết luận : không phải ruột thừa, không biết thầy chẩn đoán có đúng không, nhưng thực sự kết quả thầy nói làm cho anh em chúng tôi nhẹ cả người. Nếu bạn ấy bị ruột thừa chắc chắn phải đưa ngay đi bệnh viện Vĩnh Linh, mà bệnh viện cách Bãi Hà gần 20 km, phương tiện thì không có, chắc chắn phải gánh bộ với một quãng đường như thế…mới nghĩ mà đã nao lòng. Nghe thầy phán không phải ruột thừa…thật hú vía. Hình như thầy tự tin với “kết luận chẩn đoán” của mình nên thầy quay sang rót nước tiếp chuyện chúng tôi, những người đi theo bệnh nhân. Thầy kể, thầy tên là Roàng; người Vân kiều, Pa Kô lấy họ Hồ của Bác làm họ chung nên tên họ đầy đủ của thầy là Hồ Roàng. Quê thầy ở miền tây Quảng Trị, theo gia đình tập kết ra vùng Bãi Hà này. Thầy học sư phạm cấp tốc 3 tháng, dạy học trò người Pa Kô Vân Kiều và cả người kinh nữa từ lớp vỡ lòng đến lớp 4 với khoảng 15 em từ 6, 7 đến 12, 13 tuổi. Thầy vừa dạy chữ vừa kiêm luôn bảo mẫu, y tá… do vậy mà thầy rất rành về các loại bệnh thông thường. Ngừng lại giây lát, thầy lấy que cời cời bếp lửa giữa gian nhà lấy ra mấy củ sắn nướng, thầy bảo em nào khéo dỗ cho bệnh nhân ăn tạm để chuẩn bị uống thuốc. Thầy nói phải khéo miệng mới dỗ được người ốm ăn. Sau khi nghe chúng tôi nói bạn đã ăn lưng bát cháo ở nhà rồi, thầy đứng dậy đi về phía cuối nhà sàn, vói tay lấy một gói giấy xi măng ở trên xà nhà. Thú thật với các bạn, kiến thức y học thời đó của tôi không như bây giờ nhưng khi nhìn thấy thầy lấy gói thuốc bằng bao xi măng lại đen nhẻm khói bếp thì tôi lo lắm. Nhưng đã lỡ phải lần, đã đau tất phải uống thuốc. Tôi đứng dậy đỡ lấy gói thuốc và nói: Thầy để em. Và định bụng nếu mở ra mà thuốc mốc thì giã vờ cho bạn uống rồi vận động anh em gánh đi bệnh viện ngay. Vẫn phong cách đỉnh đạc như chưa bao giờ mù, thầy nói em mở ra giúp thầy và lấy cho thầy hạt màu đỏ ấy. Khi tôi lần lượt mở từng lớp giấy bao xi măng ra thì trong cùng là một lớp ni lông màu xanh, tôi đoán là bao gạo “4 bì” Trung Quốc viện trợ cho ta thời chiến tranh. Đựng trong đó rất nhiều loại hạt và rễ cây, thân cây, dây leo…đã phơi khô, thơm mùi…thuốc Bắc. Tôi thật sự yên tâm khi thầy nói vui: - Đó là tủ thuốc của thầy, cứu cả vùng Bãi Hà này đấy! Chữa từ bệnh đạu bụng, đau đầu; rắn, rết, bò cạp cắn và tất nhiên, sau khi sơ cứu là chuyển bệnh nhân về viện, vì thầy là thầy thuốc dân gian chứ đâu phải là Bác sĩ.

            - Nói vậy chứ cũng được việc ra phết đấy các em ạ! Nói xong, thầy lại cười rất hồn hậu.

            - Nào, chọn cho thầy hạt màu đỏ chưa, đưa đây.

            Tôi đưa cho thầy và hỏi, hạt chi rứa thầy?

            Thầy ôn tồn nói hạt vôông, theo tiếng người kinh có vùng gọi là bôông. Cây này rất hay, lá có tác dụng giãi nhiệt, hạt trị đau bụng. Nhưng cái khó khi hạt rụng lại là món khoái khẩu của loài chuột và sóc. Tủ thuốc này là công lao của nhiều học sinh cũ của thầy và thanh niên trong bản. Sau khi nghe thầy mô tả từng loại rễ, từng loại hạt, loại cây, các cậu ấy lại miệt mài tìm về giúp thầy để cứu dân bản, các cậu lại phải theo dõi cây để dự đoán khi nào hạt rụng để thu nhặt ngay trước khi lũ chuột và sóc đến kiếm thức ăn.

            Thầy bảo, em nào khéo tay bỏ hạt vôông lên tấm tôn nhỏ trên bếp rồi dùng que cời đảo qua đảo lại giúp thầy, khi nào thấy da đổi màu vàng vàng và có mùi thơm là được. Tôi làm như thầy hướng dẫn và sau khi để nguội, để xuống đất ở gầm nhà sàn( sau này tôi mới biết công đoạn đó gọi là “khử thổ”)

             Sau khi uống xong chừng nửa tiếng, tất nhiên khoảng thời gian đó là tôi áng chừng vì khi cho bạn uống thuốc xong, chúng tôi lại bị cuốn hút vào những câu chuyện kể của thầy. Bạn tôi khoẻ hẳn, không còn đau nữa và nhoẻn miệng cười theo các bạn khi thầy kể đến những đoạn vui. Suốt 10 ngày ở Bãi Hà, ngày đi đót, tối chúng tôi lại tụ họp tại nhà thầy Roàng để nghe thầy kế chuyện đời, chuyện chiến tranh và đặc biệt là truyện cổ Vân Kiều. Sau này có dịp đọc bộ sưu tập này của nhà văn - chiến sĩ biên phòng Trần Công Tấn, tôi lại phục kiến thức và trí nhớ của thầy Roàng.

           Khoảng năm 2000, tôi có dịp quay lại Bãi Hà để khảo sát tình hình Nông trường Quyết Thắng chuẩn bị sáp nhập vào Công ty Cao su Quảng Trị thuộc tập đoàn cao su Việt Nam. Tìm lại cảnh cũ người xưa, tôi lại gặp anh Hồ Xan - người Xã đội trưởng năm nào nay đã lên Chủ tịch xã Vĩnh Hà. Đường Hồ Chí Minh đi qua Bến Quan làm thay đổi nơi đây. Khi tôi viết bài này thì Bến Quan đã là một thị trấn sầm uất với bạt ngàn cao su, hồ tiêu của huyện Vĩnh Linh.

           Qua trò chuyện, anh Hồ Xan kể thời chiến tranh từ vùng Bãi Hà cho đến Bến Tắt là bãi tập kết lương thực, đạn dược…của hậu phương miền Bắc trước khi vượt hàng rào điện tử Macnamara để chi viện cho tiền tuyến anh hùng. Vì vậy nên Bãi Hà là “túi bom” của không lực Huê Kỳ nhằm huỷ diệt đường tiếp tế của Miền Bắc vào Nam và qua Lào. Hàng ngày không biết bao nhiêu trận oanh kích của B.52, F.4H, F.105. Nhưng quân và dân vùng Bãi Hà vẫn vững vàng với sứ mệnh lịch sử của mình và vinh dự mảnh đất này đã được phong tặng danh hiệu Đơn vị Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân.

           Khi tôi hỏi về thầy Hồ Roàng, mặt anh Hồ Xan đượm buồn, anh kể: Hồ Roàng mất cách đây 10 năm, tức là sau thời gian chúng tôi đến Bãi Hà khai thác đót khoảng 7,8 năm thì thầy mất. Tôi bày tỏ tâm nguyện muốn đến viếng mộ thầy. Anh Hồ Xan tâm sự, theo phong tục, người Vân Kiều chết được chôn trong khu nghĩa địa chung gọi là Rú Ma. Người dân tộc khi an táng xong rất sợ ma bám theo về nhà nên thường bỏ chạy. Hơn nữa cũng đã gần 20 năm rồi, do nhiều điều khách quan nên anh không thể xác định được mộ thầy Roàng ở đâu.

            Nhìn về xa xăm, anh Hồ Xan tiếp lời: Anh Hồ Roàng là lớp đàn anh của Hồ Xan. Anh là thầy giáo giỏi, rất thương học sinh và mọi người. Trong một trận bom B.52 Mỹ rải thảm xuống Bãi Hà, khu vực trường của thầy bị cháy. Để cứu các em học sinh, thầy đã phải hy sinh đôi mắt của mình. Thầy không lấy vợ. Từ sau ngày bị mù, thầy sống chủ yếu bằng tiền trợ cấp thương binh và tình thương của dân Bản, đồng thời làm thầy thuốc dân gian để giúp mọi người và một trong những nghĩa cử cao đẹp đó là giúp bạn tôi vượt qua cơn nguy kịch.

            Bãi Hà xưa, nay cách đường Hồ Chí Minh khoảng 5km đã về phía Tây, là một vùng cao su bạt ngàn của Nông trường Quyết Thắng, thuộc Công ty TNHH MTV Cao su Quảng Trị. Màu xanh hôm nay như muôn vạn cánh tay che ấm những người một thời giữ yên cho mảnh đất này, cho sự thống nhất của Tổ quốc, trong đó có hương hồn của thầy giáo thương binh Hồ Roàng.
            Đầu năm 2013, có dịp về Bãi Hà công tác, tiếp tôi tại Nông trường là Giám đốc Lê Tư Thông, cùng đi với tôi có anh Trần Văn Quốc - nguyên là kế toán trưởng Nông trường, nay là Phó trưởng phòng Tổ chức Công ty và anh Văn Đức Dũng nay là Phó Tổng Giám đốc công ty TNHH MTV cao su Quảng Trị. Chúng tôi là những cựu học sinh của Trường Trung cấp Kinh tế Bình Trị Thiên (nay là Trường Cao đẳng Kinh tế Quảng Bình), lại cùng chung công tác ở lĩnh vực cao su nên có dịp đi công tác chung là trãi bầu tâm sự về trường, về lớp, về một thời “Mây, Đót”. Chúng tôi tự hào là lớp học trò đầu tiên của Trường Trung cấp Kinh tế Bình Trị Thiên. Một thời cơm độn không đủ no, áo quần không đẹp; thời gian học hơn 3 năm, lao động nhiều, cơ sở vật chất quá thô sơ đúng nghĩa “ nhà tranh, vách đất”. Thế mà thầy trò vẫn vui, coi nhau như bạn vong niên. Lớp học trò thời đó của chúng tôi có người đã nghỉ hưu, có người đang đảm đương những trọng trách của các Tỉnh, các Ngành, các Doanh nghiệp của vùng duyên hải miền Trung và cả của nước bạn Lào, Căm Pu Chia. Mỗi người mỗi phương nhưng chắc chắn trong tâm khảm mọi người sẽ không quên một thời “ Mây, Đót”.

           Lướt mạng tìm Trường Trung cấp Kinh tế Quảng Bình, thấy một chùm ảnh nóng : Ông Nguyễn Xuân Quang – UVTV, Phó Chủ tịch Thường trực tỉnh Quảng Bình đến chúc mừng, tặng hoa cho các thầy cô nhân ngày 20 tháng 11. Thế mới biết sự quan tâm của lãnh đạo tỉnh nhà với trường. Ngắm nhìn cơ ngơi trường mới khang trang qua ảnh mà không thể nào định vị được ngôi nhà ngói trát xi với một dãy giường 2 tầng của B.2/K.3 đang ở vị trí nào. Nhìn những thầy cô đông đảo, tươi trẻ. Nhìn lớp học trò hồn nhiên, ngây thơ như chúng tôi ngày nào, một liên tưởng chợt đến trong ý nghĩ: Không biết trong số các thầy cô trẻ và lớp học trò trong những tấm ảnh tôi nhìn hôm nay, có ai có mối quan hệ với những người một thời “sắn, mì”, một thời “Mây, Đót” tuy gian khổ, nhưng rất đỗi tự hào của lớp học trò chúng tôi ngày trước hay không.

              Đang miên man hồi ức thì đầu dây bên kia chuông điện thoại reo, Ngô Thanh Nghị - Nguyên B trưởng B.1/K.2, nguyên là Chủ tịch UBND huyện Triệu Phong, nay là Chủ nhiệm Liên minh HTX Việt Nam tỉnh Quảng Trị, Trưởng ban Liên lạc Cựu học sinh Trường  TC Kinh tế nhắc tôi, chủ nhật tuần này họp mặt để chuẩn bị ngày 30 tháng 3, là ngày Hội trường kỷ niệm 35 năm thành lập. Đã ngoại ngũ tuần và trải qua bao nhiêu cuộc hội ngộ, thế mà khi nghe lời nhắc của bạn, tôi vẫn thấy nôn nao niềm vui khó tả.

                                    Quảng Trị, tháng 3 năm 2013
                                        NGUYỄN XUÂN HOÀ
                                  Nguyên B trưởng B.2/K.3
                            Trường Trung cấp Kinh tế Bình Trị Thiên

READ MORE - KỶ NIỆM MỘT THỜI “MÂY ĐÓT” - Bút ký Nguyễn Xuân Hòa

Thursday, March 14, 2013

Vân Trinh PHAN KỶ SỬU - TRÁI TIM CỦA NÚI BÀ ĐEN




Rực sáng ngàn năm một trái tim
Núi Bà lòng mẹ vốn vô biên
Đạn bom tàn phá càng vươn thẳng
Chất độc chôn vùi vẫn ngẫng kên
Bền bỉ đá thêm xanh khát vọng
Vững vàng dạ mãi đỏ niềm tin
Cứ trông dáng đứng mà suy nghĩ
Hãy giữ cho cao cách sống mình.  

         Vân Trinh PHAN KỶ SỬU
READ MORE - Vân Trinh PHAN KỶ SỬU - TRÁI TIM CỦA NÚI BÀ ĐEN

LỠ CHUYẾN ĐÒ - Ngọc Tình



Nhung nhớ bồi hồi gọi tiếng em
Tim chàng loạn nhịp đến làm quen
Ngẩn ngơ thấy bóng hương chiều thoảng
Bối rối nhìn ai mái tóc mềm
Đã biết chờ mong mưa gió tạt
Mà còn ngóng đợi lửa tình nhen
Qua đò lỡ chuyến nên ân hận
Nhung nhớ bồi hồi gọi tiếng em.

TN 12-3-2013
Ngọc Tình
READ MORE - LỠ CHUYẾN ĐÒ - Ngọc Tình

DÁNG KHUYA - Thơ xướng họa của Lê Viên Ngọc, Lê Đăng Mành, Trần Ngộ


DÁNG KHUYA

Lòng luống bâng khuâng những sự tình
Lên chùa niệm PHẬT với cầu kinh
Sao nghe trong dạ niềm hư tưởng
Vẫn để ngoài tai chuyện bất bình
Một áng xuân đi nào hẹn ước
Mấy cành hạ cháy đứng làm thinh
Liễu buồn rủ xuống bờ trăng rụng
Chìm với dáng khuya một bóng hình


LÊ VIÊN NGỌC 

(ĐÀ LAT)

Bài họa 1:
TUỆ GIÁC


Cảnh vật quanh đây lắm đạo tình
Thanh hương tĩnh lặng cũng lời kinh
Sáng nghe gió gõ tâm hằng tịnh
Chiều ngắm mây trôi ý vẫn bình
Vạn pháp vô thường năng thốt gọi
Hạnh tròn bất nhiễm lặng âm thinh
Mong cầu đã nguội thân như thị
Bát nhã quán soi tỏ bóng hình


LÊ ĐĂNG MÀNH


Bài họa 2:
BÓNG TRĂNG


Tằm nhà tơ trao cuộn mối tình
Đôi bờ sinh tử thấy mà kinh
Hơn thua dục ý nào an ổn
Thắng bại xui tâm ấy khó bình
Nhìn áng mây trôi vào cảnh sắc
Nghe làn gió thổi tới hư thinh
Trăng vàng ôm bóng cành xuân mộng
Rụng xuống cho tôi lượm đóa hình

TRẦN NGỘ 
(LÂM ĐỒNG) 
READ MORE - DÁNG KHUYA - Thơ xướng họa của Lê Viên Ngọc, Lê Đăng Mành, Trần Ngộ

BÊN GÓC GIÁO ĐƯỜNG - Châu Thạch

       (Tặng Hòa và Tâm)

                                
Bên góc giáo đường mưa bụi bay 
Rặng liễu hiên ngoài cơn gió lay 
Đợi em như đợi từ nguyên thủy 
Chuông vọng tên người em có hay.  

Những phút chờ em rất ngọt ngào 
Lòng thành khấn nguyện Chúa trên cao 
Cho em sớm đến trời mưa lạnh 
Sưởi ấm anh bằng tia mắt trao. 
  
Em đến như là thiên sứ xa 
Bước đi gót ngọc nở đầy hoa 
Mắt em như cả trời thu ấy 
Lặng lẽ nhìn anh bao thiết tha.  

Lòng anh hạnh phúc biết bao nhiêu 
Chúa đã cho anh thật quá nhiều 
Đời có riêng em là tất cả 
Bạc vàng đâu đổi được em yêu.

                                   Châu Thạch


READ MORE - BÊN GÓC GIÁO ĐƯỜNG - Châu Thạch

Hoàng Yên Linh - HOA SOAN




Em có bao giờ nhắc chuyện xưa qua
Trời tháng Năm gió Lào khô tóc rối
Đêm sâu thẳm người yêu tôi rất vội
Lối đi về thoang thoảng múi hoa soan .

Ơi con đường dẫn đến những chia xa
Đưa nhau tới cuối quảng đời xa lạ
Em mắt nâu một phương trời nắng hạ
Có giữ tình tôi năm tháng vơi đầy.

Ở nơi này mong gặp lại hoa soan
Mùa hoa ấy đợi người xưa trở lại
Sao đôi mắt vẫn mịt mù xa thẳm
Gọi lòng tôi bao khắc khoải băn khoăn .

Kỷ niệm buồn chôn kín với thời gian
Mùa hoa nắng ... Nhắc tình ai lỗi hẹn
Như tháng Năm về ... Khi mùa hoa đến
Như tôi và ... Thương nhớ mắt nâu ơi .

HOÀNG YÊN LYNH
READ MORE - Hoàng Yên Linh - HOA SOAN

NỐI TIẾP MẠCH TRĂNG NGÂN - Phan Kỷ Sửu đọc thơ Nguyệt Quế

Nhà thơ NGUYỆT QUẾ

     Cách  đây hai tuần, Nguyệt Quế đã ghé lại nhà tôi tại Thị xã Tây Ninh và trao tặng tập thơ thứ hai của cô: TÓC RAU HẸ. Thật mừng cho Quế bởi vì tập thơ này cũng chính là một sự khẳng định rõ ràng là cô đã vượt qua những hạn chế của tình trạng bệnh tật để tiếp tục bước trên con đường của mình một cách rất vững vàng.

     Vâng! Cái mạch cảm xúc từ một cõi trăng ngân hình thành năm năm về trước đã được nối tiếp với hình ảnh thân thương của một lọai rau đặc sản của vùng quê Gò Chùa - Xóm Mía của cô: Rau hẹ.      

      Với Nguyệt Quế, cây hẹ chính là hình ảnh của quê hương, tóc lá hẹ là những dòng tóc dài. Mềm mại chảy xuống đôi bờ vai của những thiếu nữ quê nhà trong đó tất nhiên là có mái tóc  của bà, của mẹ cô và của chính cô thời xuân sắc.Với hình ảnh cây hẹ đơn sơ, mộc mạc trên những, thửa đất rẩy êm đềm dước bóng mát ngôi chùa Cao Sơn cổ kính, Nguyệt Quế còn ấp ủ trong tận nơi sâu lắng nhất của lòng mình cái tình yêu rất đổi thiêng liêng đối với mảnh đất chôn nhau, cắt rốn của mình.

       Là một người làm thơ, một người bạn thơ, tôi muốn trình bày sau đây một vài cảm nhận của mình khi đọc “Tóc rau hẹ” của Nguyệt Quế. Chỉ một vài cảm nhận thật khái quát mà thôi!

    Nguyệt Quế là một trong những cây bút nữ hiếm hoi ở Tây Ninh được người yêu thơ chú ý. Là một giáo viên đã về hưu tức là Quế không còn trẻ nữa. Thế nhưng thơ của cô không hề hằn lên những nếp nhăn của tuổi đời chồng chất mà trái lại nó rất trẻ, trẻ từ trong ý nghĩ, đến những từ ngữ, hình thức mà cô sử dụng. Bản chất của cô từ khi chấp chửng bước vào thơ cho đến nay là chân tình, giản dị và dạt dào những cảm xúc rất nữ tính. Nó tóat lên vẻ đẹp của tâm hồn người phụ nữ đất phương Nam. Cô không hề tạo nên một sự lập dị nào cũng không hề tạo cho mình một thế giới nào có vẻ bí ẩn, lạ lùng chỉ có mỗi riêng cô là có quyền đặc chân đến. Đó là cái điều mà một số người làm thơ hiện nay đang làm để rồi vô tình biến mớ ngôn ngữ của họ trở thành một thứ vật chất không hồn. Người ta đọc thơ mình mà không biết mình muốn nói đến điều gì, thế thì mình làm thơ để làm gì? Điều đó theo tôi không phải là một sự khám phá, một sự tìm tòi mới lạ nào cả! Khám phá cái gì? Mới lạ chỗ nào mà sau khi đọc những dòng chữ gọi là thơ ấy xong, người đọc đành thất vọng, lắc đầu và than thờ: Mình đọc thơ mà chẳng thấy thơ ở đâu cả!

      “Tóc lá hẹ” của Nguyệt Quế hôm nay là  một chuổi nối tiếp những âm thanh của vầng trăng ngày trước. Những âm thanh không hề co cụm lại trong một phạm vi cố định nào mà nó dạt dào hơn, thanh thóat hơn, cô đọng hơn, sâu lắng hơn và ngân xa hơn.

   Bài thơ  đầu tiên  của Nguyệt Quế mà tôi đã  đọc đi, đọc lại nhiều lần: Lá, chỉ có một từ Lá thôi vậy mà sức gợi cảm lại mang cấp số nhân: Từ những chiếc lá khô âm thầm rơi trong đêm, rơi vào nỗi nhớ. Cái âm thanh rất thầm đó ru cô vào những kỷ niệm đã xa.

         “Lá ngủ trên tay
           Đêm dài mộng mị
           Người chưa trở lại
           Lá phai xuân thì..”

    Êm êm như thế, du dương như thế mà lại dễ nhập vào cái cảm giác man mác, bâng khuâng khi mộng đã trôi qua.

                        Ảo ảnh tan đi
                       Lá như bở ngỡ…”       
       
    Bài thơ mang cái tựa“Không đề” nhưng vẫn ấp ủ những gì mà tác giả muốn nói đến đó chính là cái hình bóng quê nhà miên man trong ký ức. Bài thơ mang hơi hướng Đường luật nhưng hòan tòan không cũ:

                   “Man mác trầu xanh buồn lá úa
      Ngậm ngùi cao rụng nhớ vườn xưa
      Rưng rưng tiếng dế bờ ao cũ
      Gối đá mơ màng bóng nguyệt xưa”

       Điều đáng trân trọng nhất ở Nguyệt Quế là một điều hòan tòan khác hẳn với khuynh hướng của giới trẻ hiện nay: Giới trẻ họ chỉ loay quay với mớ từ ngữ đã quá sáo mòn, nhàm chán như hẹn hò, gian dối, dỗi hờn, yêu đương, nhung nhớ … Cũng như các giai điệu trẻ không hề thóat khỏi hai đại từ anh và em. Còn Nguyệt Quế thì khác. Cô đi sâu vào những điều tưởng chừng như rất gần gũi, bình thường trong cuộc sống nhưng lại rất cao cả, thiêng liêng. Đó là hình ảnh của những buổi chiều quê Xóm Mía có tiếng bìm bịp kêu khắc khỏai chạnh lòng … Đó là cái giàn bông giấy buồn rụng tím chiều mưa trên con đường cô về thăm thầy cũ. Đó là những làn nắng Gò Dầu long lanh trải mật gợi nhớ mãi.

                   “ Những ngày đi học
                      Đường hoa dầu áo lụa trắng bay…”
                                                      (Thương lắm Gò Dầu)

Đó là “Cánh đồng bưng trĩu lòng bông lúa gọi…” dội vào ký ức cái thuở lưng trâu, mùa nước nổi, cứ làm cô xót xa tưởng nhớ đến nghĩa mẹ, công cha những ngày  dưỡng nuôi gian khó.

                    “Con cua đồng kho chua lá bứa
                      Bàn tay cha mưa nắng bùn lầy
                      Rau hẹ ghém rối bời tóc mẹ
                      Con no lòng cơm độn sắn khoai..”
                                                    (Hương lúa)

Nỗi nhớ mẹ càng xé lòng hơn đối với Nguyệt Quế khi bóng mẹ hiền đã khuất nhòa  phía bên kia cuộc đời:
                  
                  “Nghe thèm một chút heo may
                    Nhớ mùa rau hẹ dáng gầy mẹ yêu…”
                                                   (Tóc rau hẹ)
                   
   Tưởng nhớ  đến đấng sinh thành, không ai có thể thề bỏ quên hình ảnh  những người muôn năm cũ đã tạo nên hình hài của họ. Đó là cái đạo làm người, cái truyền thống “uống nước nhớ nguồn” từ ngàn đời của dân tộc Việt nam. Vậy mà những hình ảnh thật thân thương, khả kính đó lại xa dần trong thơ của những người trẻ tuổi bây giờ! Đó là ông bà nội, ngọai. Bài thơ “Ngọai ơi” thật giản dị. Cái giản dị làm cho người đọc muốn rưng rưng :

     Con đã về đây với Bến Cầu
     Giữa mùa lúa trổ trắng hoa cau
    Vười xưa chim hót trên cành bưởi
    Bóng ngoại tìm đâu? Lạnh khóm trầu.

  Thơ Nguyệt Quế còn trải dài trên nhiều chủ đề phong phú khác. Nói chung, những cảm xúc của cô là những cảm xúc thật, do đó, nó dễ chạm vào tâm tư người khác. Cuộc sống bây giờ rất cần có những vần thơ như thế! Xin chúc mừng thành công mới của Nguyệt Quế, và riêng tôi cũng có một vần thơ ngắn tặng người bạn thơ Nguyệt Quế với tựa đề MỘT VÒNG NGUYỆT QUẾ TẶNG EM.

        Với những tâm tư mộc mạc, quê mùa
        Tôi kết lại tặng em vòng Nguyệt Quế
        Tặng những vần thơ xanh lá hẹ Gò Chùa
        Và trong vắt tiếng chuông Cao Sơn rơi lặng lẽ

        Những lá hẹ  mượt mà như tóc bà,tóc mẹ
        Và tóc em thời thiếu nữ xa rồi
        Thắm vào tôi như hương đồng Xóm Mía
        Như  một chất men rất nồng ấm tình đời

        Ơi từng câu thơ yên ả đất trời
        Lắng hơi thở  của em và cuộc sống
        Và tôi hiểu nó không hề lẽ bóng
        Và bơ vơ  như như chiếc lá khô rơi…!


                                                 PHAN KỶ SỬU
READ MORE - NỐI TIẾP MẠCH TRĂNG NGÂN - Phan Kỷ Sửu đọc thơ Nguyệt Quế