Nhân kỷ niệm 4 năm ngày thành lập
trang văn học nghệ thuật Đât Đứng, ban quản trị DatDung.Com đã ra mắt tuyển thơ
Đất Đứng 3, qua sự sàn lọc của ban tuyển chọn gồm có nhà văn La Ngạc Thụy, nhà
thơ Vũ Miên Thảo và nhà thơ Vĩnh Thuyên đã tập hợp 207 tác phẩm tiêu biểu từ
những bài thơ tâm đắc của 35 tác giả.
Tuyển thơ có hình thức trình bày đẹp mắt và nội
dung phong phú, lung linh một rừng văn chương với ngàn hoa tươi đẹp sắc màu.
Văn Nghệ Quảng Trị xin chọn theo chủ
quan của mình mỗi tác giả một vài câu thơ để kết thành một lẳng hoa tươi đẹp
chào mừng sự thành công của Ban quản Trị và anh chị em thi hữu DatDung.Com.
Trang đầu của tuyển tập là bài của nhà
thơ Kha ly Chàm, tác giả đã nhìn ra dị bản của mình sau cơn đam mê và chợt
tỉnh:
Ai đứng khóc mắt nhìn man dại
quá
Chợt tỉnh hồn - dị bản của ta
ơi!
(Đam mê&Dị bản)
Tác giả thứ hai Nguyễn Trung Cấp thì
nước và trăng và em lồng vào nhau nơi bến Ninh Kiều tuyệt đẹp:
Em hẹn trăng lên lồng bóng
nước
Em cũng lồng bóng nhỏ dưới
trăng xiêu
(Bến Ninh Kiều)
Nhà thơ Hàm Chương thỏa lòng với cái
vận may mà không mấy ai dễ chi có được ở đời:
Cũng may cùng bước còn tri kỷ
Chẳng uổng nhân sinh một kiếp
người
(Cũng may)
Hoa Tím tâm sự mình thường lặng lẽ
bên góc thơ, để rồi bên góc thơ nàng trách móc một người, và lời trách móc nầy
sẽ làm cho ai đó chắc ân hận một đời:
Ví mà ai đó cứ chờ
Đợi em khôn lớn thì giờ đâu xa
(Lỡ phận)
Với nhà thơ Kim Sơn Giang, tình là giọt, là tơ, là hương, là bóng:
Giọt tình rơi đọng trước thềm
Tơ tình lấp lánh buộc êm cõi
lòng
Hương tình len giấc mơ hồng
Bóng tình thấp thoáng giữa
dòng mơ sa!
(Tình)
Trần Thị Quỳnh Hoa, một nhà thơ bác
sĩ với bài thơ có 10 chữ nghiêng không làm cho cuộc đời chao đảo mà đem lại vô
vàn hạnh phúc với hai câu cuối như sau:
Mắt nghiêng tìm bóng hình ai
Đầu nghiêng tìm một bờ vai ân tình
(Nghiêng)
Nhà thơ Thái Lệ Hoà, út nữ trong một
gia đình toàn thi sĩ nên phong cách thơ chỉnh chu và đường bệ vô cùng:
Đời không tình ái, đời vô vị
Rượu thiếu men tình rượu nhạt hơi
(Lỡ làng)
Với hai câu thơ bình dị, nhà thơ Vũ Thiện
Khái đã tôn vinh được tình yêu, phẩm chất người nữ của mình:
Vai gầy gánh gồng vất vả
Bếp lạnh hồn em giữ lửa
(Dặm về)
“Bếp lạnh hồn em giữ lửa” là một câu
thơ như viên ngọc quý trong thơ.
Nhà thơ
nữ Nguyễn Xuân Khanh với bài thơ xóm Cà Na vẽ ra một bức tranh thanh bình tuyệt
đẹp:
Dưới gốc Ca Na nhặt trái chín thơm
lừng
Lời hẹn thề-cành lá cũng rưng rưng
Cây đỏ lá như chị chờ ai mắt đỏ.
( Xóm Cà Na)
Cõi mộng của nhà thơ Nghiêm Khánh
lãng mạn trên cái trăng nước bình thường. Đó là sông núi mà tổ tiên ươm mầm yêu
thương để lại:
Mênh mang sông núi ngàn năm
Tổ tiên mầu nhiệm ươm mầm yêu
thương
( Cõi mộng)
Nhà thơ Hoàng Tuấn Kiệt với bài “Tây
Ninh, thu nồng nàn” thật vô cùng nồng nàn làm cho dẫu ai chưa biết Tây Ninh vẫn
thấy nhớ tây Ninh:
Dìu dịu nắng hây hây sắc phố
Du dương lá hát ngẫn ngơ hồn
( Tây Ninh, thu nồng nàn)
Nhà thơ nữ Đàm Lan hẹn yêu trong
những chiều mà ánh sáng cũng ngân lên thành giai điệu:
Những bóng hoàng hôn xuống vội
Ngân lên giai điệu lòng mình
(Yêu nhé, hẹn ngày)
Nhà thơ nữ Hoa Lý với những bài Đường
thi và lục bát khuôn mẫu vô cùng:
Chạnh lòng tiếng dế tỉ tê
Tưởng như tiếng của anh về gọi em
( Về thăm trường cũ)
Nhà thơ Kha Tiệm Ly với “Bài phú tặng vợ”, “Trường Sa tâm thư phú”, và
“ Hoàng Sa tiếu ngạo phú” vô cùng độc đáo, phải đọc toàn bài mới thấy cái hay
của nó, không thể trích ra đây câu nào trong cái toàn thể lý thú kia.
Nhà thơ Thanh Liêm đau đáu với hình
tượng thể hiện tình yêu quê hương quá đẹp:
Như cau xanh nọc trầu vàng
quyện mãi
Đợi người về thời gian phủ rêu xanh
( Lời tự tình cùng quê)
Và nhà thơ Thái Quốc Mưu với chùm thơ
tứ tuyệt mà mỗi 4 câu là một điều suy nghiệm sâu xa:
Những gì ta thấy hiện nay
Ngỡ là hiện thực lại là như không
Những gì cứ tưởng như không
Lại là hiện thực trong vòng tử sinh
( Thực, không)
Tình bạn trong thơ Nguyễn Quốc Nam vô
cùng đậm nét và hình ảnh bạn trong thơ Nguyễn Quốc Nam cũng đầy vẽ triết nhân:
Bạn vẫn như là một triết
nhân
Trầm
tư ngồi nắm cõi dương trần
(Lần trở lại thăm bạn)
Nhà thơ Thanh Nhàn đem tâm hồn và cả
báu vật của mình tặng hết cho em để chỉ gởi theo em một lời nhắn nhủ mà thôi:
Một mai em bước theo chồng
Đừng quên anh nhé quạt nồng tặng em
( Tặng em chiếc quạt trầm hương)
Lục bát đi suốt cuộc đời nhà thơ Phú
Nhuận là giấc nồng, là tim vui, là bầu trời màu xanh, là những thăng hoa và
hạnh phúc:
Đường trần vạn nẽo xa xôi
Câu thơ lục bát cùng tôi đồng hành
(Lục bát đời tôi)
Với nhà thơ Minh Phương cơn mưa không
đem lại nỗi buồn mà cơn mưa đem đến tình yêu như mùa xuân đã tới:
Tình thăng hoa từ cơn mưa đông lạnh
Tạnh mưa rồi xuân lại tới …với anh
(Mưa)
Nhà thơ Vũ Mạnh Quang tìm em xứ Huế
và với hai câu thơ mà nói được cái cô liêu đầy mộng đầy mơ, đầy hương đầy nhớ
của đất thần kinh:
Hỏi sen hương ngát trong tim
Mà xa thăm thẳm bóng hình em
ơi!
(Tìm em)
Đào Thái Sơn với những câu thơ mang
đầy âm điệu thâm trầm và khắc khỏi suy tư:
Nỗi bi thống vùi theo năm tháng đổ
Lệ ngập ngừng trong máu cỏ hồn
cây
(Tồn sinh lời tháp gọi)
Nhà thơ Trúc Thanh Tâm với chùm lục
bát, tình yêu trãi rộng trên từng địa danh, trên phong cảnh và trên con người
trong đó có em:
Từ ta nhận áo đăng trình
Và em biết khóc, ngày xanh môi cười
(Và em biết khóc)
Nhà thơ Phạm Bá Thái Tâm với bài thơ
có đầu đề là “Thả” thanh thoát, ý vị và cuối cùng:
Gập
gềnh muôn dặm nẽo xa
Thương em anh thả…ơi à…lời ru!
(Thả)
Và nhà thơ nữ Ngọc Tình với bài thơ “
Muốn lên Khau vai” thấm đẩm nước mắt và bài thơ khác mong một tiếng cười đến 40
năm:
Bốn mươi năm ấy là đâu?
Một mùa nước nổi trắng màu mênh mông
(Mong một tiếng cười)
Nhà thơ Châu Thạch có một lời khuyên
kỳ lạ, cả thế giới hãy đi xin và đi xin từ tốn:
Đến từng nhà xin chớ gõ tay nhanh
Cứ từ tốn như ngày xưa Chúa gõ
(Lời khuyên kỳ dị)
Nhà thơ Phạm Ngọc Thái với những lời
thơ trầm buồn mang chiều sâu thăm thẳm và ánh lên từ đó nhiều vẽ đẹp như mơ:
Đôi
mắt em đong những áng mây
Người
đàn bà trắng!
(Người đàn bà trắng)
Nhà thơ Vũ Miên Thảo mượt mà trong
mỗi câu thơ và mỗi bài thơ là một lẳng hoa thơm lừng mùi hương thanh nhã:
Mùa lâm bồn khai nhụy rét non tơ
Trời vẫn nắng sao nghe hồn ơn ớn lạnh
( Chờ bao la xanh)
Nhà thơ Lê Văn Thật với bài thơ Tình
Quê là tiếng lòng của chính anh, đồng thời nói hộ giùm tiếng lòng của nhiều nhà
thơ khác:
Cao hứng hát, bằng cả trái tim nghệ thuật
Dâng cho đời hương sắc
Luyến láy gọi hồn người Việt thiết
tha
(Tình Quê)
Nhà thơ Lê văn Thuận thì niềm hy vọng
bừng sáng mỗi ban mai:
Trằn trọc suy tư thao thức mỗi đêm dài
Cho nắng hồng bừng sáng mỗi ban
mai
( Ký ức một dòng sông)
Nhà thơ Vĩnh Thuyên với rất nhiều cảm
xúc chứa trong thơ, và từng câu thơ ngân nga phát ra từ tâm hồn lãng tử:
Có gã khờ lang thang thành phố
Vác nỗi buồn đi tặng người dưng
(Mưa chiều)
Nhà thơ La ngạc Thụy với bài thơ
“Ngỡ” hửng hờ mà thi vị biết bao:
Ngỡ đời như nỗi tình cờ
Ngỡ tình như nỗi bất ngờ trong tôi
Ngỡ em còn đó bên đời
Ngỡ anh giữ mãi những lời thủy chung
(Ngỡ)
Nhà thơ Phieuvan_ThlangDu với bài thơ
“Vấp” là cái vấp của con người, của cuộc đời và của cả thiên nhiên nhưng vô
tình ta lại vấp chính ta là điều trăn trở nhất:
Tim rộn nhịp vấp mạch đời băng giá
Bởi vô tình ta lại vấp chính ta
(Vấp)
Nhà thơ Nguyễn Sơn Thủy bỏ lại một đôi
vai thon nơi xứ Lạng một đầu mùa đông và có lẽ làm cho biết bao người nuối tiếc
khi đọc bài thơ:
Chợ biên ai ngóng ai chờ
Người đi bỏ lại một bờ vai thon
(Xứ lạng đầu đông)
Cuối cùng là nhà thơ nữ Sơn Trâm phác
họa hình ảnh của thầy thành ra hình ảnh của anh vô cùng tình tứ:
Trách con chữ kia sao khéo sắp vần
để tiếng “ anh”
ngập ngừng cuối
mắt!
( Phác họa…anh)
Văn Nghệ Quảng Trị thành thật cảm ơn
sách tặng của Ban quản trị Đất Đứng, cảm ơn các nhà thơ với những sáng tác tâm
đắc và xin giới thiệu cùng quý bạn đọc tuyển tập thơ Đất Đứng 3, một tuyển thơ
cung cấp cho ta nhiều bài thơ hay rất nên thưởng thức. Trân trọng .
Hồi mệ ngoại tôi còn sống, khi nào bị bệnh
phải đi viện, mệ đều nói: "Đi nhà
thương." Tôi lấy làm lạ, hỏi thì mệ giải thích: "Đi bệnh viện là đi nhà
thương, vì nơi ấy cần nhất tình thương." À ra thế, đầu óc non nớt của tôi
biết thêm một điều về lòng nhân ái. Đi viện nếu thiếu vắng tình thương giữa con
người với nhau thì hoang vu biết chừng nào.
Nhưng bây giờ người ta sợ nhất là đi viện. Dĩ
nhiên, trước hết ai lại muốn mình hoặc người thân gặp phải ốm đau, tai nạn. Nhưng
không phải hễ muốn là được.Vậy là hầu như ít ai tránh được bệnh viện. Người ốm
đau, hoạn nạn thì đông mà bác sĩ lại thiếu, bệnh viện, nhất là bệnh viện tuyến
tỉnh, tuyến trung ương lại thường xuyên quá tải. Rất nhiều thầy thuốc phải làm
việc bận rộn, căng thẳng, nhiều lúc mệt mỏi quá sức.Vào viện phải chen nhau, ra
viện cũng phải sốt ruột đứng chờ làm thủ tục. Ngay cả cấp cứu lắm khi cũng phải
điên đầu chờ đợi vì nhiều lý do chính đáng và không chính đáng.Vậy là nảy sinh
tiêu cực, vậy là phải viện đến những mối liên hệ quen biết,và đương nhiên không
loại trừ phải "lót tay". Thế rồi thành lệ, ai cũng phải chịu đựng với
môi trường bận rộn, mệt mỏi, căng thẳng và ta thán, vẫn phải "sống chung
với lũ", từ bệnh nhân, người nhà cho đến cả y, bác sĩ. Rồi mọi người cũng
phải quen như thể cuộc đời sinh ra vốn thế. Mà thầy thuốc cũng là một nghề đặc
biệt nhạy cảm với môi trường xã hội, cũng phải nhọc nhằn làm dâu trăm họ, trong
khi đồng lương hành chính ít ỏi thì làm gì đủ sống? Trong khi để trở thành một
bác sĩ, người học phải có năng lực,ý chí theo đuổi suốt một thời gian khá dài, đầu
tư trí tuệ, tâm lực và bạc tiền khá lớn mới thành nghề. Công bằng mà nói, nhiều
thầy thuốc được bệnh nhân quý trọng, được xã hội thừa nhận. Công lao của họ không
nhỏ. Nhưng một số người khác không được như thế.Vậy là bao tiếng than phiền,
chê trách và bức xúc. Biết làm sao được, có thể lời chê có chỗ bất công nhưng
cơ bản là vẫn có lý do của nó. Mà thầy thuốc thì vẫn phải sống, vẫn phải hành
nghề, vẫn phải làm dâu trăm họ cho dù cuộc đời còn đủ tiếng khen chê.
Nhưng sợ nhất bây giờ vẫn là sợ đi viện. Hai
tiếng "nhà thương" không hiểu sao đã vắng hẳn đi trong lời nói hàng
ngày. Một người nước ngoài đã nói rằng:"Yêu thương con người, đó là nhiệm
vụ khó khăn kinh khủng!" Có đúng vậy không, hỡi bạn, dù người ấy chưa một
lần đặt chân đến Việt Nam.
Thanh niên trong thời chiến thì dù muốn hay không cũng phải đi lính, không
bên nầy thì bên kia. Thiệt cũng vậy. Anh ở miền Nam, anh phải làm lính Việt Nam
Cộng Hoà, nói nôm na là lính chế độ cũ hay lính nguỵ như bây giờ người ta
thường gọi.
Không biết có phải vì vóc dáng thư sinh gầy yếu, mắt kính
cận hay là nhờ chạy chọt mà Thiệt được điều động về ngành quân nhu, làm nhân
viên hành chính tài chính cho đơn vị. Và cũng không biết Thiệt đã làm lính được
bao lâu, nhưng khi chuyển đến đơn vị đóng
gần vành đai phi trường Đà Nẵng thì anh ta đeo lon trung sỉ, một vợ, hai con.
Thời buổi chiến tranh mà được làm lính văn phòng thì số dách, lại thêm được cô
vợ khoẻ mạnh, to béo như vỏ sĩ su-mô thì
khỏi lo tốn tiền thuốc thang hoặc bị mấy tay sĩ quan gạ gẫm.
Đơn vị quân nhu mới thành lập, lính tráng chưa quen thân
nhau. Doanh trại cũng mới dựng ít nhà dành riêng cho bộ chỉ huy, nhà kho
và lính bảo vệ. Lính văn phòng chưa có
nhà ở, thoạt đầu còn phải thuê nhà dân, sáng đi, tối về như công chức.
Thiệt ở nhà thuê hơn một tháng thì khu gia binh dành cho sĩ
quan và lính văn phòng được khởi công trên khu đất cách doanh trại chừng nửa
cây số. Khi xe ủi đến san lấp bãi hoang đầy lau lách, cây dại và ao hồ để tạo
măt bằng thì người ta phát hiện được rất nhiều mô đất tròn dẹt như cái nong mà
người ta nghi là những nấm mồ hoang. Hỏi dân địa phương thì họ bảo đó là những
mả hời, có tiếng là linh thiêng. Người quanh vùng chẳng mấy ai lai vảng đến đó
vì người ta đồn rằng ban đêm có ma hời tụm lại xoả tóc khóc tỉ tê. Những người
lính công binh dù sợ nhưng cũng phải làm. Họ mời thầy cúng, thuê người bốc được
dăm bảy bộ hài cốt, bỏ vào tiểu, đem chôn một nơi khác. Cũng chỉ bốc được những
mồ nào còn nấm, chứ những cái tàn rồi, bằng phẳng với mặt đất, thì biết đâu mà
tìm.
Rốt cục thì khu gia binh cũng được dựng xong. Các sĩ quan ưu
tiên chọn lựa. Chỉ có một mình Thiệt là hạ sĩ quan nên phải nhận lô sau cùng.
Lính công binh nói lô đất ấy có nhiều mả hời, nhưng Thiệt đành phải chịu. Thiệt
dắt vợ con vào ở, dấu nhẹm chuyện mả mồ.
Thế nhưng chưa đầy một tuần thì có chuyện kỳ quặc xảy ra.
Nửa đêm Thiệt đang ngủ với vợ thì giật mình thức giấc vì những tiếng động lạ.
Thoạt đầu là tiếng ly chén chạm nhau, sau đó là tiếng bàn ghế di chuyển như có
ai đang dọn nhà, tiếng chân chạy trên mái tôn, tiếng rên rỉ, tiếng thở hì hục.
Thiệt thức dậy bật đèn tìm kiếm nhưng không tìm thấy ai, chỉ có mấy chú chuột chạy kêu chút chít.
Mọi vật vẫn ở yên vị trí, không hề di chuyển. Những đêm tiếp theo, không đêm
nào mà không xảy ra chuyện tương tự. Thiệt đã từng tham gia trận mạc từ lúc còn
binh nhì nên chẳng mấy sợ, nhưng cô vợ quá khiếp hãi nên dứt khoát đòi đi thuê
nhà ở hoặc phải về quê. Quê Thiệt thuộc vùng giải phóng nên không thể về, còn
thuê nhà thì không có tiền vì số tiền dành dụm đã dùng sạch vào việc mua sắm đồ
đạc trong nhà. Lại còn nợ đơn vị mấy tháng lương. Ngược lại ở trong khu gia
binh chẳng tốn một đồng xu tiền điện
nước, lại được an toàn. Thiệt tạm thời xin cho vợ con vào ngủ trong văn phòng,
còn mình thì ngủ ở nhà. Lính tráng mà sợ quái gì ma mũi.
Được một tuần thì Thiệt có vẻ kiệt sức, mặt mày hốc hác vì
mất ngủ. Đêm nào cũng phải thức dậy vì tiếng động lạ rồi nằm chong đèn đến
sáng, không thể chợp mắt. Có lúc anh phải xin nghỉ ốm đi viện, nhưng sợ mất
việc, phải đổi ra tiền tuyến nên cố gắng đi làm.
Thiệt báo cáo chuyện nhà mình với đơn vị trưởng và được cấp
trên điều động một binh nhì đến giúp việc văn phòng ban ngày, ban đêm thì về
nhà ngủ với Thiệt.
Trong thời gian ấy, đơn vị có hai sĩ quan người Mỹ đến làm
cố vấn ở lại trong doanh trại. Một người biết tiếng Việt trọ trẹ ngỏ ý muốn dạy
tiếng Anh cho vợ Thiệt để làm thông dịch. Vợ Thiệt đã học gần hết phổ thông nên
cũng biết đôi chút tiếng Anh. Được học tiếng Anh với người Mỹ chính gốc là một
cơ hội rất hiếm nên cả hai vợ chồng Thiệt đều ô-kê.
Ban ngày vợ Thiệt ở nhà, ban đêm vào học tiếng Anh trong
doanh trại nên chẳng mấy chốc vợ Thiệt nói tiếng Anh như gió và được cử làm
thông dịch viên cho đơn vị. Hai người Mỹ đi đâu cũng có vợ Thiệt cặp kè. Đôi
khi họ đi công tác vài ba ngày mới về. Người ta tiếng vào tiếng ra, đồn đãi bậy
bạ nhưng Thiệt không có ý kiến gì bởi đồng lương vợ Thiệt kiếm được khá lớn,
chẳng bao lâu có thể trả xong nợ và mua nhà riêng. Lúc ấy Thiệt sẽ không cho vợ
làm thông dịch nữa. Hơn nữa lúc ấy chắc sẽ có sĩ quan thông dịch được cử đến,
có làm người ta cũng không cho.
Lúc Thiệt được thăng chức thượng sĩ cũng là lúc biết vợ mình
có bầu. Mấy người vợ lính to nhỏ rằng không biết Thiệt ngủ với vợ lúc nào mà cô
ta có bầu. Chuyện đó chỉ có hai vợ chồng họ biết, làm sao người ngoài biết
được! Không ban đêm thì ban ngày chủ nhật. Làm tình kiểu lính thì đánh nhanh,
thắng lẹ, chớ có như dân thường đâu. Hồi Thiệt còn ở quân trường, mỗi lần chủ
nhật vợ đến thăm, hai người kéo nhau ra bãi tập, che tấm pông-xô là xong. Hơn
nữa, vợ chồng Thiệt vẫn vui vẻ hạnh phúc, chẳng mấy khi to tiếng. Người khác
lại bảo rằng vợ Thiệt to béo, khoẻ mạnh thế kia thì nếu có chuyện gì xích mích thì Thiệt cũng
không dám hó hé. Nó quật một cái thì rồi đời! Sắp đến ngày vợ sinh thì Thiệt
cũng đặt cọc một ngôi nhà hai tầng giữa trung tâm thành phố. Người sĩ quan Mỹ
tốt bụng đã nhường cho Thiệt chiếc xe Jeep lùn
của anh ta trước khi về nước.
Chẳng mấy thượng sĩ có được xe riêng. Thiệt
lấy làm hãnh diện khi chở vợ đi khám thai hàng tháng. Sau khi mua được
nhà cho vợ con ở, Thiệt sẽ đi về bằng chiếc xe nầy.
Đến ngày vợ sinh thì Thiệt
lấy xe chở vợ đi bệnh viện. Thiệt được nghỉ phép ba ngày để lo cho vợ
con.
Sau ba ngày thì Thiệt một mình lái xe về. Không nói không
rằng, anh ta rinh tất cả đồ đạc trong nhà ra đường và lấy xe cán bẹp. Lúc ấy
vào sáng sớm, sắp tới giờ làm việc. Người lính gác doanh trại hớt hãi chạy đi
báo sĩ quan đơn vị trưởng: Thưa đại uý, em thấy thượng sĩ Thiệt hai tay cầm hai
quả lựu đạn đi vào văn phòng, dáng vẻ căng thẳng .
Khi viên đại uý dẫn lính đến đến thì phòng hành chánh tài chánh đã bị khoá chặt
cửa bên trong. Tiếng Thiệt la to: Các người đi đi, nếu không thì chết cả đám
bây giờ.
Ngay khi mọi người vừa kịp nằm xuống khì hai tiếng lựu đạn
nổ ầm ầm. Văn phòng bay tốc mái và người ta tìm thấy Thiệt chết ngay tại chỗ.
Có người đi kiếm vợ Thiệt để báo hung tin nhưng chị ta đã bỏ đi
khỏi bệnh viện, chẳng biết về đâu.