Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, January 21, 2011

HOÀNG CÔNG DANH – NÉN NHANG NGÀY TẾT



Hỏi ngày tết, người ta nhớ về cái gì đầu tiên? Có thể anh chị sẽ không trả lời, hoặc vô tình hoặc cố ý; nhưng chắc chắn trong thẳm sâu tiềm thức và bật dậy trước nhất phải là một nén nhang thắp lên ngọn khói thiêng liêng. Tôi đang ở xa quê, đôi khi muốn cố ý quên đi để giấu cái nhớ lắng xuống, nhưng ngọn khói kia cứ lôi tôi dậy. Và không thể nào quên được, mãi mãi, tôi tin thế!

Ông nội đã dạy cho tôi cách thắp nhang từ rất sớm. Khi đó tay tôi vói chưa tới cái lư hương trên bàn thờ, phải kê thêm cây ghế mới được. Nhưng mà thích, không hiểu vì sao thích, chỉ biết mỗi lần cắm cây nhang vào lư là như thấy mình được lớn thêm vậy. Mới đầu phải đi khắp ba cái bàn thờ để đếm số lư hương. Lần sau thì đã nhớ, cứ rút thẻ nhang mười chừa lại một cây là vừa. Tất thể nhà mình có tám lư hương, thêm ngoài trời một cây nữa là chín.

Cuối năm có lệ phải thay cát trong bát nhang. Cát trắng từ Rú Tường Vân người ta đem lên bán rất nhiều ngoài chợ Thuận. Cuối năm đi chợ chơi, thích đứng nhìn những mủng cát trắng đặt dọc đường; bâng khuâng nhớ cái truyện ngắn "Chú bé bán cát" của Hoàng Thái Sơn, hồi nhỏ nghe được qua Radio. Mua cát về, thỉnh lư hương xuống lau chùi sạch sẽ. Dùng một mẩu bìa cát-tông khoanh tròn bằng miệng lư, ở giữa cắt thủng một lỗ nhỏ để cắm hương. Chân nhang thắp quanh năm nhiều, phải nhổ đi bớt, chỉ chừa lại ba chân, số còn lại đem phát hoả.

Sáng ba mươi tết, anh em tôi vác cuốc chổi xuống cồn Mai để dọn dẹp quét tước lại lăng mộ tổ tiên. Người ta sống, cứ thích trang trí nhà cửa cho đẹp cho sang để đón tết, nhưng đôi khi lại quên đi việc làm ý nghĩa hiếu đạo này. Sau bữa cơm tất niên cuối năm, ông nội dắt tôi xuống cồn đất làng để thắp nhang. Con đường men qua những ngôi mộ cỏ may thiu thiu buồn, hình như cỏ may cũng đang đứng nghiêm làm nhang cho những ngôi mộ vô chủ. Cứ đến ngôi mộ nào ông cũng nói về người nằm ở dưới; đây là cụ Cố, hay chữ lắm; kia là cụ Cao, đức độ tài trí... Dòng họ Hoàng Công nhà mình xưa thông minh sáng dạ chăm học, nhưng do chiến tranh lưu lạc nên sau này thất học cả. Ông nói, năng đi thắp nhang sẽ được tổ tiên phù hộ cho đường học hành. Từ đó việc đi thắp nhang dưới cồn, ngoài việc hiếu đạo còn là để cầu mong ông bà phù hộ. Đi với ông độ ba lần là tôi thuộc hết vị trí mồ mả nhà mình. Những lần sau ông uỷ thác việc này cho tôi đi cùng với mấy đứa em.

Ngày nhỏ chúng tôi rất nghịch nên nhiều lần dùng nhang để đi doạ ma, tiếng Quảng Trị gọi là đi trến ma. Ban đêm, thắp một cây nhang rồi núp trong bụi. Thấy người nào đi tới thì đưa đầu nhang đỏ lửa vào miệng, cắn hai hàm răng vào cây nhang rồi khừ một tiếng cho hơi trong cổ phát ra. Khi đó ánh lửa đầu nhang đỏ rực lên tạo thành một cục lửa hồng, cùng với tiếng kêu gió y hệt là ma. Đêm ba mươi tết trời tối như bưng mà doạ ma là người ta khiếp hồn khiếp vía, cứ tưởng cuối năm ma về ăn tết.

Sắp đến giao thừa, mệ nội bày mâm ra giữa trời, đặt lên đó hoa quả, ít bánh trái và một chén muối. Đại ý chén muối là để cầu mong anh em trong nhà bà con làng xóm sống mặn mà với nhau, như câu "đầu năm mua muối cuối năm mua vôi".

Một chén gạo dùng làm bát nhang. Khi đó ông nội mặc áo dài đen chít khăn đóng, rút một thẻ nhang thắp lên đỏ rồi đứng giữa trời mà khấn thầm những lời mời tổ tiên về ăn tết cùng con cháu, lời cầu mong sự ấm êm trong năm mới... Tôi đứng bên hầu nước, ngọn gió giao mùa thổi nhẹ làm khói nhang bay vào mắt xao xuyến!

Ba ngày tết bàn thờ rạng đèn, nhang khói không được để lạnh ngắt một phút nào. Vậy nên ngày tết nhất thiết phải có người ở nhà tiếp khách và trực nhang trên bàn thờ. Sáng mùng một, thức dậy thắp hết một lượt nhang ở nhà, tôi lại cùng ông mệ nội lên chùa. Đầu năm lên chùa gọi là mừng tuổi Phật. Cắm nhang lên bàn thờ Phật xong, bác chủ lễ thỉnh một hồi chuông cho mọi người vía các Ngài. Ở chính giữa là Đức Bổn Sư Thích Ca, bên phải là Ngài Địa Tạng, bên trái là Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát... Đầu năm lên chùa gặp bác chủ, lễ bao giờ tôi cũng được nghe những câu chuyện hay và ý nghĩa, chuyện đời chuyện đạo...

Cạnh chùa làng có o Sương làm nghề hương. O Sương bị điếc, ai nói chi chẳng nghe, cứ cặm cụi suốt ngày nhồi bột cưa lăn lăn ra những cây nhang nhỏ rồi đem phơi ở sân chùa. Ngày nhỏ tôi thích lên nhà xem o làm nhang. O bày cho cách lăn nhang quanh nan tre, nhưng chẳng bao giờ tôi làm được. Thế là chỉ biết ngồi nhìn và phụ o dán bao giấy xung quanh ốp nhang thôi. Những lần đó hai bàn tay đỏ kè vì màu giấy bọc nhang thấm ra, nhưng mà thích lắm! Sân chùa vào tháng chạp rợp kín những tấm phiên kê lên tầm ngực, trên đó rải nhang vừa lăn xong. Mùi bột hương lan khắp xóm. Nghe đâu làm nghề nhang cũng ảnh hưởng đến sức khoẻ vì cái mùi bột rất độc. Tôi chẳng cần biết nó đúng đến đâu, nhưng trông o Sương vẫn mạnh khoẻ như thường. O nói làm nghề nhang là làm việc hiếu đạo, ông bà phù hộ chớ răng mà độc hại được.

Sau này có nhang điện, chẳng hiểu vì sao bà con ta lại mua thứ đó về cắm lên bàn thờ, không có khói có mùi gì cả. Ai thắp cứ thắp, nhưng nhà tôi nhất quyết không dùng. Tại sao lại cứ phải hiện đại (?) khi mà tổ tiên ta bao đời nay dùng nén nhang khói thơm để thể hiện lòng thành. Nhẽ nào đến cả tấm lòng cũng phải...hiện đại hoá?

Tết năm ngoái ở bên này, chúng tôi đi chợ của người Việt, mua được xấp giấy tờ vàng mã và nén nhang, mừng hơn cả được tiền. Đêm gần tết nấu xôi chè, kê bàn học làm mâm cỗ, thắp nén nhang như để vọng tưởng về quê nhà tổ tiên xa xôi. Trong phòng có cái máy phát hiện khói thuốc lá, vậy là chúng tôi gỡ ra, khoá phòng lại và thắp nhang. Ở xa nhìn nén nhang bùi ngùi lắm! Năm nay lại không về được, thêm một cái tết Cổ truyền xa nhà. Chợt có ngọn khói nào bay về từ những ngày xưa...

Minsk 12.2008

HOÀNG CÔNG DANH

* Bài đăng trên Đặc san Sở Thông tin và Truyền thông Quảng Trị - số tết Canh Dần 2010

READ MORE - HOÀNG CÔNG DANH – NÉN NHANG NGÀY TẾT

Thursday, January 20, 2011

ĐỨC TIÊN - LỘC XUÂN



Ta đã bao mùa hái lộc non

Những nụ xanh tươi những nét son

Mới chớm- rùng mình cơn nắng gió

Đã làm ta bãi hoãi mê hồn


Ơi những nụ chồi xanh biếc ấy

Có còn thắm lại nét tươi nguyên

Hay đã xanh xao màu héo úa

Tháng năm không giữ nỗi hoa huyền


Ta nhớ năm xưa cùng dạo ấy

Hoa tươi lộc biếc những xuân thì

Dâng hiến vô ưu theo ngày tháng

Ta hái lộc xuân cứ vô vi


Năm nay Xuân tới ta nhớ lắm

Đời ta thêm tuổi vẫn sung hồn

Nhớ buổi lộc lên xanh mướt mát

Hò hẹn ta về hái lộc non


Có lẽ giờ đây rừng đã cạn

Bao màu hoa tàn rũ tháng năm

Tìm kiếm hương xưa giờ đã vãn

Ta ước ao hoài chốn xa xăm


Lộc biếc bây chừ có còn chăng

Một rừng hoa tím đỏ giăng giăng

Ta kiếm hương thì trong mộng ảo

Thì thôi xin hẹn chốn mơ mòng...


Đ.T.

READ MORE - ĐỨC TIÊN - LỘC XUÂN

Wednesday, January 19, 2011

GIÓ PHƯƠNG NAM - GIÓ VỀ MIỀN TRUNG



Có một ngày Gió về miền Trung
mùa lũ qua trên đồng vàng lúa
nghiêng sườn đông mưa giăng mắc nhớ
chướng theo về rét buốt mùa thương

Ta sẽ qua góc phố con đường
nơi Thành Cổ khép rồi nhật ký
Đông Hà ơi hương người đất dậy
Bến Hải Cửa Tùng nối nhịp Hiền Lương

Ngút mắt nhìn màu xanh cao nguyên
nép vào nhau nghe chừng hơi ấm
bãi cát dài đùa vui ngập nắng
biển quê hương non nước hữu tình

Trên boong tàu về thăm đất đảo
Viên Ngọc Đỏ cháy giữa Biển Đông
em xin nâng bàn tay nho nhỏ
thả hồn hoa sóng bủa chập chùng

Mai xa rồi quê hương Đất Quảng
mùa xuân về nối những vòng tay
ở nơi anh hai mùa mưa nắng
gửi về nhau thương nhớ vơi đầy...

(11/2010)
READ MORE - GIÓ PHƯƠNG NAM - GIÓ VỀ MIỀN TRUNG

Monday, January 17, 2011

VÕ VĂN HOA - SLOW CÙNG XUÂN



Tay trong tay, slow cùng xuân.

Bỏ khoảng xa đi cứ lại gần

Điệu thức đến rồi mây vần vũ

Em có bao giờ giọt mắt ngân!

Anh slow cùng xuân

Bến phố còn hương chiều tóc biếc

Gặp em cả đời anh nuối tiếc

Ước còn chi, mãi slow cùng xuân !

Anh muốn một ngày,

một ngày thôi

Cho qua mùa hè buồn, mùa đông giá !

Cho qua những ngày tất tả

Để slow cùng xuân.

Tay trong tay, anh slow cùng xuân

Và Đất nước và tình người rộng mở

Và còn đây: vũ điệu nồng hơi thở ...

Slow cùng xuân !


V.V.H

READ MORE - VÕ VĂN HOA - SLOW CÙNG XUÂN

ĐỨC TIÊN - BÓNG XUÂN



Chừng như đông đã tàn phai

Bóng xuân thấp thoáng hiên ngoài nắng lên

Nụ đào nhen lửa qua đêm

Vườn tươi sắc lá xanh thêm đợi mùa

Chợ làng đông kẻ bán mua

Quanh gốc đa cổ gió lùa áo bay

Thơm từng cọng lá trầu cay

Quả xanh vàng đỏ nhuộm say môi hường

Quê ơi một nhớ mười thương

Dáng em nghiêng nón để vương tóc chiều

Giữ hồn năm tháng mà yêu

Ai về phố thị dập dìu mặc ai

Em dầu nắng sớm mưa mai

Cành quê lá trỗ hình hài cũng quê

Hương xuân nhè nhẹ theo về

Đượm trong ánh mắt câu thề bờ vai

Năm dài thì tháng thêm dài

Đời tươi như thể hoa nhài tinh sương

Em đi nắng ngập con đường

Đồng quê lúa ngậm làn hương lên ngày

Rượu làng thơm chút men cay

Ủ bao năm tháng để say đất trời

Gió xuân cất tiếng gọi mời

Tình quê ấp ũ trọn đời với quê !


Đ.T

READ MORE - ĐỨC TIÊN - BÓNG XUÂN

VÕ VĂN LUYẾN - NÕN XUÂN


Bừng thức sau giấc đông dài

Hàng cây nẩy chồi nhú lộc

Tóc xanh hết mình của tóc

Mắt môi biếc nụ hoa cười


Con đường như dòng sông chảy

Muôn hồng nghìn tía thập thành

Gió xuân ngập ngừng sau cửa

Tiếng chim lên màu bức tranh


Sớm mai cõng mùa về tuổi

Nhốt hương hong khói đẫm chiều

Mẹ già ngồi canh bánh tết

Lửa cười giãn nếp nhăn nheo


Các em đẹp như ngày cưới

Thong dong gót ngọc kinh kỳ

Mùa xuân cũng vừa mang tới

Nụ hôn chín mọng dậy thì


V.V.L

READ MORE - VÕ VĂN LUYẾN - NÕN XUÂN

MAI THANH TỊNH - NIỆM KHÚC XUÂN


Từ tinh sương niệm khúc em nghi ngút, giấc mơ xinh phác thảo nụ cười gửi cho ngày hoang dại

Ca khúc "Happy new year" nhè nhẹ, góc phố run run bên kia ai hát "Trái tim mùa đông" cong rét ngọt muộn màng

Gió mang hương tóc em rối rắm sau đêm dài trằn trọc, mặn mòi nỗi nhớ còn vương ...

Con tim nóng lên hâm nụ hôn lành lạnh, mơ màng mùa sang, phía không nhau vẫn còn xanh hy vọng

Mặt trời hồng tròn trịa em vẽ sớm mai,viết tên nhau lên ngàn nhung nhớ đốt ta cháy giữa vô cùng

Tuyệt khúc mùa đông ...lung linh...bừng cháy...

Thêm một lần ghi nợ lời hẹn hò, môi chạm môi ngọt lịm hoa trái miền nhau

Khép chơi vơi độc thoại cùng bình minh,bình minh của ngày thưa nắng

Thần tượng rũ buồn (mà không! Vui)

Đợi...

Ta lặng im! lặng im...đóng băng nỗi nhớ ướt lạnh

Chờ xuân...


M.T.T


READ MORE - MAI THANH TỊNH - NIỆM KHÚC XUÂN

Saturday, January 15, 2011

TIẾNG QUẢNG TRỊ - Linh Đàn sưu tầm

Một giếng cổ ở Gio An

 
CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM

Rú Cấm Hà Trung xeng ngát ngát
Đôộng cát Nhĩ Thượng trắng phau phau
Cơm keng một dịa mắm tràu
Đố ai cưới được o Giàu ôông Sang
Bán mua mấy rổ khoai lang
Chạy thừ chợ Bạn - chạy sang chợ Cầu
Mạ ơi ! Quan Phó đòi hầu
Mau may áo mới, xức dzầu* cho thơm
Đứa thì cấy dzũi, cấy nơm
Đứa thì trèng sáo vô đơm Chợ Nò
Trèo lên côi núi U Bò
Ngó về Cẩm Phổ mấy o kén chồng
O Chút, O Thí đã xong
Lại thêm O Éc mà long nao nao
Lội lên lội xuống Xóm Rào
O nào cũng chảu, ả nào cũng hay
Cấy mồm cho chí cấy tay
Đi cuốc đi cày nỏ sợ chi ai
Đêm đêm mấy chú choai choai
Chuyện chi rình rập ngồi hoài sau nương
Có chú lộn cổ xuống mương
Có chú nằm rường thiên hạ tới coi
Kể từ ngày sáo chẹp (dẹp) mẹng oi
Đi chưa đến nơi chợ đã sèm méng ngon
Béng ướt cho chí béng đòn
Lại hàng béng đúc ăn ngon ả hè
Ăn rồi ngồi thở è è
Chộ hàng mít chín cũng đè mua thêm
Tưởng mà dư rứa là êm
Về dà eng hắn cũng đêm đêm tính lần
Mạ mi đừng nói lần hân
Chơ cua rạm mấy một giần ba mươi
Mạ mi nói thiệt, nói cười
Cua rạm rẻ thể nớ, e thôi mần nghề
Cua miềng cua trớng cua dzèm
Mỗi con hai rượi ai sèm nấy mua
Năm ni sắn mắt gạo thua
Người ta lo lấy bựa, chơ ai lo chi cua với càng
Cua rạm mỗi trự mỗi tràng
Chơ eng mi tưởng dư ở dà cục vàng lưu ly
Nguyễn Đình Kiện 1897 - 1989, quê Lan Đình, Gio Linh
( Linh Đàn sưu tầm)
_______________________
chú thích * 1) dz đọc như chữ " the" trong tiếng Anh
ví dụ : dĩa dầu đọc là dzịa dzầu
2) mỗi trự (đồng tiền) mỗi tràng (cái sàng gạo)
3) về dà = về nhà





BÀI CÙNG ĐỀ TÀI ĐÃ ĐĂNG:
THỬ XEM QUA MỘT SỐ TỪ VỰNG QUẢNG TRỊ - NGUYÊN NGUYÊN
READ MORE - TIẾNG QUẢNG TRỊ - Linh Đàn sưu tầm

Đóng góp của L. Cadière vào phương ngữ học tiếng Việt qua tác phẩm Ngữ âm tiếng Việt

Léopold Cadière (14/2/1869 - 6/7/1955)


Hội thảo Cadière - Đề tài “Đóng góp của L. Cadière vào phương ngữ học tiếng Việt qua tác phẩm Ngữ âm tiếng Việt (phương ngữ Trung)”

Vương Hữu Lễ - Phó Giáo sư Tiến sĩ Ngữ học Hoàng Dũng



0. Để nói về bà Suzane Karplès, Giám đốc viện Phật học Phnom-Penh, người đã sưu tập và xuất bản những sáng tác của Kram Ngoy – nhà thơ nổi tiếng nhất khắp đất nước Campuchia vào đầu thế kỉ này, Khing Hoc Dy và Jacqueline Khing có cho rằng: “Không phải tất cả người Pháp toàn là bọn thực dân, mà trong số họ có những nhà bác học biết bảo vệ nền văn hóa dân tộc Khmer”. (1)

Câu nói đó cũng có thể áp dụng cho Léopold Cadière, người đã dành cả đời mình – cho đến hơi thở cuối cùng – để nghiên cứu hầu hết các lĩnh vực của văn hóa Việt Nam và đã để lại một sự nghiệp khoa học đồ sộ (2) mà ngày nay những nhà Việt Nam học không thể nào không tham khảo.

Riêng trong lĩnh vực ngôn ngữ học, ông cũng lưu lại nhiều công trình đặc sắc khiến những kẻ hậu sinh chúng tôi sinh lòng ngưỡng mộ và nảy ra tham vọng muốn đánh giá toàn bộ những đóng góp của ông cho ngôn ngữ học nước nhà. Bài này được coi là bước khởi đầu cho tâm trạng đó.

1. Cuốn Ngữ âm tiếng Việt (phương ngữ Trung) (3) được Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp xuất bản năm 1902. Ngoài ba mục phụ là Lệ ngôn, Dẫn nhập và Phụ lục, sách gồm ba phần chính: Phần I. Chuyển hóa nguyên âm, Phần II. Chuyển hóa phụ âm, Phần III. Chuyển hóa thanh điệu.

Mỗi phần chính được chia ra từng mục nhỏ để trước hết, trình bày từng nhóm tương ứng ngữ âm giữa phương ngữ Trung và tiếng phổ thông với những ví dụ minh họa phong phú, và sau đó đưa ra những nhận xét liên quan, hoặc thuyết minh thêm về những đặc điểm của phương ngữ Trung hoặc chỉ rõ địa bàn xuất hiện của chúng, hoặc so sánh chúng với các hình thức tương ứng ở các phương ngữ khác (kể cả các phương ngữ Trung Quốc)... Ở cuối Phụ lục, để kết thúc cuốn sách, tác giả còn cố gắng rút ra một nhận định tổng quát về phương ngữ Trung.

Như vậy, sớm sủa nhất và là tiên phong về phương ngữ học tiếng Việt, công trình của L. Cadière đã cho ta một hình ảnh rõ nét về phương ngữ Trung ở đầu thế kỉ XX.

2. Ngày nay, hơn một trăm năm trôi qua, đọc lại tác phẩm của ông, chúng tôi có mấy suy nghĩ sau đây.

2.1. Trước hết, phương pháp xuyên suốt của L. Cadière để xác định phương ngữ Trung là đối lập tiếng nói vùng này với tiếng phổ thông, tuy ông không quên so sánh với tiếng nói của phương ngữ Bắc hay phương ngữ Nam.

Cách làm này có thể bị phản đối, nhất là đối với những người không chuyên môn. Rất thông thường là những phản bác kiểu: “Đấy không phải là tiếng miền Trung vì ở làng X thuộc miền Bắc (hay miền Nam) cũng thấy có cách nói ấy.” Lập luận này thoạt nghe hữu lý, nhưng trên thực tế sẽ khiến cho ngành phương ngữ học không thể tiến thêm dù là một bước. Vì nếu thế, thì bất cứ một sự miêu tả phương ngữ học nào cũng đứng trước nguy cơ đổ sụp chừng nào chưa tiến hành điều tra tỉ mỉ tất cả các địa phương trên cả nước, một việc gần như không thể thực hiện được.

Cho nên, phương ngữ học không thể đi theo con đường nào khác với cách làm của L. Cadière. Chính ở góc độ này, mà ta hiểu cả những chỗ chưa thoả đáng của L. Cadière khi ông nhất loạt cho rằng tiếng phổ thông là gốc, còn hình thức phương ngữ là biến thể chuyển hóa (modifications). Ở đây hợp lí hơn, là dùng từ tương ứng (correspondences). Tuy vậy, đặt trong cái thế đối lập tiếng phổ thông / phương ngữ, thuật ngữ biến thể chuyển hóa của L. Cadière, không nên hiểu như một sự biến đổi trong khoa Ngôn ngữ học so sánh lịch sử, mà chỉ có nghĩa là biến thể địa phương so với cái được cho là chuẩn mực.

2.2. Theo L. Cadière, tiếng Việt gồm có ba phương ngữ Bắc, Trung và Nam với những ranh giới sau:

Phương ngữ Bắc (Tonkin): ở Bắc bộ và Thanh Hóa;

Phương ngữ Trung (Haut – Annam): từ Vinh đến Đà Nẵng;

Phương ngữ Nam (Bas – Annam): từ phía Nam Đà Nẵng đến hết Nam bộ.

Điểm chưa thoả đáng duy nhất trong quan niệm của ông là ranh giới giữa phương ngữ Trung và phương ngữ Nam: nó không phải ở phía Nam Đà Nẵng mà là ở đèo Hải Vân. Nhưng điều này thì về sau (năm 1931), ông cũng đã điều chỉnh rồi. (4) Dầu sao, quan niệm đó – của một người không chuyên môn – vẫn còn đúng hơn nhiều so với những quan niệm khác của một số nhà chuyên môn đi sau.

2.3. Trong nội bộ phương ngữ Trung, ông phân biệt những hình thức phương ngữ (formes dialectales) và những hình thức thổ ngữ (formes patoises). Ví dụ, các hình thức như mi đi mô rứa? Tui vô kinh, tui đi trong rú làm củi được coi là thuộc phương ngữ, còn những cách nói như uống riệu (rượu), nác lút tlốc cúi (nước lút đầu gối), sợ đi cắt ló (thợ đi cắt lúa) được coi là thuộc thổ ngữ.

Theo ông, một hình thức được coi là phương ngữ tuy rất phổ biến như mi, ni, vô, nhưng không bắt buộc phải được dùng khắp địa bàn, còn thổ ngữ thì thay đổi từ làng này đến làng khác, từ thôn này đến thôn khác, từ cá nhân này đến cá nhân khác sống trong cùng một làng.

Ông còn lưu ý rằng ranh giới giữa phương ngữ và thổ ngữ không phải khi nào cũng rõ rệt và do đó rất khó xác định, bởi vì do ảnh hưởng của các nguyên nhân khác nhau, một từ hay một cách nói nào đó là thổ ngữ ở một nơi nào đó lại được dùng thường xuyên và phổ biến ở một nơi khác.

Như vậy, quan niệm về phương ngữ và thổ ngữ của ông chưa được rành mạch, thậm chí hình như ông còn lẫn lộn thổ ngữ với cá ngữ (idiolecte); lí do dễ thấy là do ông không nhận thức những tiêu chí phân biệt phương ngữ và thổ ngữ, mặc dù qua các ví dụ và lập luận của ông, “tính phổ biến” đã được sử dụng như một tiêu chí.

Dầu sao, sự phân biệt các hình thức phương ngữ và thổ ngữ của ông cũng đã giúp ta hiểu thêm bức tranh phương ngữ Trung vốn rất phức tạp với nhiểu thổ ngữ và cả đảo ngữ nữa.

2.4. Để miêu tả phương ngữ Trung, L. Cadière nói rõ là ông dựa chủ yếu vào tiếng Quảng Bình và có liên hệ so sánh với các tiếng địa phương Quảng Trị và Thừa Thiên. Ông cho biết sự khác biệt giữa hai bên không lớn lắm như người ta tưởng: một hình thức nào đó được dùng ở Quảng Bình sẽ chắc chắn được bắt gặp ở một làng nào đó của Quảng Trị hay Thừa Thiên.

Vô hình trung, ông đã coi tiếng Quảng Bình là tiêu biểu cho phương ngữ Trung. Quan điểm này không phải là vô lí, bởi vì tiếng Quảng Bình không chỉ nằm giữa một bên là hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh và một bên là hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên trong địa bàn phương ngữ Trung, mà còn mang những đặc trưng ngôn ngữ nối liền cả hai bên.

Mặt khác, một thủ pháp đáng lưu ý của L. Cadière trong việc nghiên cứu phương ngữ là ông không chỉ so sánh phương ngữ Trung với hai phương ngữ Bắc và Nam mà còn so sánh nó với cách đọc Hán Việt cũng như các đọc của các phương ngữ Trung Quốc, và ông chỉ ra rằng những khác biệt phương ngữ của tiếng Việt có liên hệ với những hiện tượng mà người ta nhận thấy trong chính tiếng Trung Quốc. Ý thức được rằng phần nghiên cứu đó của ông chưa đầy đủ và chưa cho phép rút ra những kết luận chắc chắn, nhưng ông nhấn mạnh nếu một khi nó được tiến hành một cách đúng phương pháp và triệt để thì nó sẽ đem lại những kết quả rất quan trọng để hiểu biết về nguồn gốc và các đơn vị ngữ âm của tiếng Việt.

Rõ ràng đó là một hướng nghiên cứu mới mẻ; nếu ta không quên rằng mãi mười năm sau (1912) Henri Maspéro mới vận dụng được nó trong công trình nghiên cứu quan trọng của mình về lịch sử tiếng Việt (5). Một điều cần nói thêm là tiếc thay hướng nghiên cứu thú vị đó rất ít được chú ý trong giới phương ngữ học Việt Nam kể từ đó đến nay.

2.5. Một điểm đáng học tập nữa trong quan điểm của L. Cadière là ông phân biệt chuyển hóa tự nhiên (modifications naturelles) và chuyển hóa cố ý (modifications volontaires ou conventionnelles).

Chuyển hóa tự nhiên, theo ông, diễn ra một cách vô ý thức theo những quy luật tự nhiên chi phối sự cấu tạo và phát triển của tiếng Việt. Ông nhấn mạnh đây là những hiện tượng quan trọng nhất cần được nghiên cứu trước tiên và nhờ chúng người ta có thể hiểu biết bản chất đích thực của các âm thanh tiếng Việt cũng như sự chuyểnhóa của chúng

Chuyển hóa cố ý là do sự tránh né cách phát âm tên của một nhân vật quan trọng nào đó hay của các bậc ông bà đã quá cố. Những hiện tượng này kém quan trọng hơn, nhưng không thể bỏ qua được vì chúng cho ta biết theo quan niệm thông thường của người bản ngữ thì những âm nào là tương đồng với nhau; và nếu so sánh những chuyển hóa cố ý với những chuyển hóa tự nhiên, người ta sẽ có thể có những mối liên hệ đáng chú ý và sẽ nhận thấy rằng đôi khi hai loại quy tắc đó củng cố cho nhau.

Rõ ràng là sự phân biệt tự nhiên/cố ý một cách hiển ngôn và sự nhận thức mối quan hệ qua lại như thế thật là sớm và rất có ý nghĩa về mặt lí luận trước con mắt ngạc nhiên của những người đi sau một thế kỉ. Một điều lí thú khác là theo ông, những chuyển hóa cố ý chỉ có ở những nguyên âm mà không xuất hiện ở phụ âm và thanh điệu. Đây là một nhận định đáng suy nghĩ thêm và chắc chắn nó sẽ đưa ra những hệ quả liên quan đến đặc điểm riêng của âm tiết tiếng Việt...

3. Tác phẩm của L. Cadière còn đáng quý ở chỗ nó cung cấp cho ta những chi tiết về hình ảnh phương ngữ Trung với những cứ liệu khá đầy đủ. Sau đây, chúng tôi liệt kê tất cả những tương ứng ngữ âm chính giữa tiếng phổ thông và phương ngữ Trung mà ông đã trích xuất được. (6)

NGUYÊN ÂM

Chuyển hóa tự nhiên

Tương ứng Bối cảnh Ví dụ

a (e ngắn): e - nh, -ch anh: eng; lạch: lẹc

a: ê - n ban: bên

a: ô - n, -t bản: bổn; hạt: hột

a: â - i, -o cái: cấy; gạo: cấu

â: ă - y đây: đay

â: ơ - ng, -c trấng (7): trớng, bậc: bợc

â: ơ/i - n chân: chơn/chin

e: a - 0 mẹ: mạ

e: ê - 0 mẹ: mệ

e: en - 0 mè: mèn; nhẹ: nhén

ê: ên - 0 rễ: rẹn; nghệ: nghẹn

i: in - 0 bí: bín; chỉ: chỉn

i: uy - 0 thi: thuy; thị: thụy

i: ê - nh bình: bềnh; mình: mềng

ô: u - 0, -l, -n, -t cố: cú; tôi: tui; hôn: hun; đốt: đút

ô: uô - ng công: cuông

u: ô - 0 củ: cổ; cũ: cỗ/cộ

ư: i - 0, -t ừ: ì; bứt: bít

iê: e - ng miệng: mẹng; miếng: méng

uô: o - 0, -it, -ng, -t lúa: ló; muối: mói; ruộng: roọng; ruột: roọt

ươ: a - 0, -ih, -c lửa: lả; lưới: lái; nước: nác

ươ: iê - u hươu: hiêu; rượu: riệu

uâ: u - n, -t huấn: hún; luật: lụt

ao: ô vào: vô

âu: ô đậu: độ

âu: u bâu: bu; nâu: nu

eo: e/ê kẻo: kẻ/kệ

Chuyển hóa cố ý

ă: ươ - c mặc: mược; mắc: mước

ă: iê - m, -u năm: niêm; sáu: siếc

ă: ươ/ơ - y bảy: bưởi/bởi

a: ơ - 0, -m, -i ba: bơ; tám: tớm; hai: hơi; thái: thới

a: iê - o cao: kiêu; đạo: điệu; hậu: hựu; lâu: lưu

i: ơ - 0, -n khỉ: khởi; chín: chớn

i: ươ - ng bình: bường

o: uô/ươ - ng lòng: luồng/lường; phong: phuông/phương

o: ươ - c học: hược

iê: ơ - n tiền: tờn; thiện: thợn

ươ: ơ - i mười: mời

ươ: a - n, -c mượn: mạn, trước: trác

PHỤ ÂM

v: b ve: be; vui: bui

v: ph vỡ: phỡ; vỗ: phỗ

th: s thạp: sạp; thèm: sèm

h: s (8) họ: sọ; hắn: sắn

nh: gi nhà: già; nhọc: giọc

tr: tl trâu: tlâu; tre: tle

tr: l trỗ: lỗ; trồng: lông

ch: l trợt: tợt; trọn: tọn

ch:tr chài: trài; chữ: trự

ch: gi cha: gia; chồng: giồng

gi: ch giận: chận; giữ: chữ

gi: tr già: tra; giữa: trữa

s: th sai: thai; sau: thau

s: tr sào: trào; sàng: tràng

s: t sóc: tóc

d: gi /j/ dao: giao; dác: giác

d: đ dao: đao; dầm: đầm

d: r diều: riều; dác: rác

d: th dột: thốt; dỗ dành: thỗ thành

g: c gà: ca; gáy: cáy

g: kh gải: khải; gàu: khau

g: c gà: ca; gáy: cáy

g: gi (9) gặp: giặp; gọi: giọi

g: ng gần: ngân

kh: x khiêm: xiêm

r: t rít: tít

PHỤ ÂM CUỐI

n: m cắn: cắm

n: nh/ng nhện/ nhệng/nhệnh

nh: ng anh: eng; bánh: béng

ch: c ếch: ếc; lạch: lẹc

THANH ĐIỆU

sắc: nặng báng: bạng; đốm: độm

nặng: sắc gạo: cấu; vụng: bống

huyển: ngang gà: ca; vò: bo

ngã: nặng cũi: cụi; giữ: chự

(L. Cadière còn cho biết ở Quảng Trị và Thừa Thiên, thanh ngã lẫn lộn với dấu hỏi, còn ở Quảng Bình, thanh ngã lại lẫn lộn với thanh nặng.)

4. Cần lưu ý là bảng kê những tương ứng trên đây chỉ là những trường hợp L. Cadière cho là chính yếu. Trong phần nhận xét về các tương ứng này, ông cung cấp thêm một số tương ứng khác, không được đưa vào bản kê vì sự lựa chọn hình thức này hay hình thức kia chưa dứt khoát (ví dụ đàng – đường đều được sử dụng trong cả ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên, “khó nói chính xác là hình thức nào chiếm ưu thế” (tr. 10), hoặc vì chỉ được sử dụng ở cấp thổ ngữ. Sau đây là những cứ liệu bổ sung đáng ghi nhận:

a: o (10) (tìm thấy ở Kẻ Hạc, Phú Kinh (Quảng Bình) và một số làng ở Quảng Trị, Thừa Thiên, chủ yếu là vùng cận sơn)

o ngắn: o dài (bối cảnh –ng, –c), ví dụ: cong, trong.

ô ngắn: ô dài (bối cảnh –ng) (11), ví dụ: không, trông.

uâ: i (bối cảnh –n, –t), ví dụ: quần: quỳn; tuất: tuýt (L. Cadière cho biết trường hợp này rất hiếm và chỉ bắt gặp ở một vài nơi).

ch–: x– ví dụ: chuối: xuối; chín: xín (một số làng ở Bắc Quảng Bình như Hòa Ninh, Vĩnh Phước)

d–: đz/đj/đi ví dụ: đao: đzao/đjao/điao (Quảng Bình và một số vùng ở Quảng Trị; tùy theo từng làng mà ta có một trong các biến thái đó).

5. Công trình của L. Cadière không chỉ cung cấp danh sách các tương ứng ngữ âm, mà qua các ví dụ ông dẫn ra, ta còn hưởng được một điều thú vị là bắt gặp khá nhiều từ địa phương hiếm quý với số lượng gần 300 từ. Xin ghi lại một số trường hợp đáng chú ý:

oẹ: oạ, thi (xác chết): thuy; bối rối: búi rúi; liệm: lượm; trước: trác; sữa: sã/trã; làng: lường; bảy: bưởi; hai: hơi; ba: bơ; cả: cở; mười: mời; mắc: mước; sáu: siếu; sau: siêu; tiền: tờn; thiện: thợn; chín (9): chớn; mỹ (đẹp): mỡi; học: hược; lòng: luồng/lường; nhất: nhắt; (con) bét: vét; vu (khống): bu; vùi: bùi; vữa: bữa; gió: chó; tóc: sóc; (buổi) sáng: tráng; dạy: rạy; guốc: cuốc; gươm: cươm; gương: cương; khác: xác; (con) dũ dĩ: rụ rị/tụ tị/tụ rị.

6. Dưới con mắt của ngữ âm học hiện đại, dĩ nhiên, người ta dễ dàng thấy một số chỗ nhận định và trình bày của tác giả cuốn Ngữ âm tiếng Việt (phương ngữ Trung) chưa được chính xác và thỏa đáng, và còn thiếu tính hệ thống. Chẳng hạn, tác giả nhiều khi không phân biệt ngữ âm học với âm vị học, không phân biệt sự biến đổi âm vị thực sự trong hệ thống với sự biến đổi tạm thời trong ngữ lưu (ví dụ các từ không có trọng âm cái, mới, với có thể biến đổi lần lượt thành kế, mí, ví hay v); hoặc không tách biệt những tương ứng tác động đến tất cả các từ có liên với những tương ứng chỉ tác độn đến một số từ nào đó mà thôi...

Nhưng, nếu lấy đó làm lời phê phán L. Cadière thì, thiết nghĩ, hơi bất công, bởi vì ta không nên quên rằng ở đầu thế kỉ này, không chỉ ở riêng nước ta mà là cả trên thế giới, ngữ âm học vẫn còn nằm trong giai đoạn non yếu. Cần phải nhớ rằng cuốn Ngữ âm tiếng Việt (phương ngữ Trung) của L. Cadière xuất bản ngay từ năm 1902, mà mãi đến năm 1939, tức gần 40 năm sau, tác phẩm Các nguyên lý âm vị học của N. Trubetzkoy khai sinh khoa âm vị học hiện đại mới ra mắt bạn đọc. Trong tình hình như vậy mà ông đã có thể phân tích được hầu hết các đặc trưng của phương ngữ Trung thì đó đã là điều đáng khâm phục rồi. Và chắc chắn không ai phủ nhận rằng công trình này, cùng với tác phầm Le dialecte du Bas-Annam, Esquisse de phonétique, (12) đã đưa L. Cadière lên địa vị nhà phương ngữ học tiếng Việt đầu tiên.

V H L – H D

CHÚ THÍCH

1. Khing Hoc Dy et Jacqueline Khing – ‘Les recommandations de Kram Ngoy’, Mon – Khmer Studies VII, tr.145.

2. Theo Louis Malleret (trong L. Cadière, Croyances et pratiques religieuses des vietnamiens. Paris: BEFEO, 1957), L. Cadière có đến 248 công trình lớn nhỏ đã công bố. Trong đó, chúng tôi thấy có hơn 20 công trình về ngôn ngữ học. Ngoài ra, ông còn có nhiều bản thảo của những công trình khác mà nay đã thất lạc.

3. Nguyên bản là Phonétique annamite (dialecte du Haut – Annam). Paris: Imprimerie Nationale, 1902.

4. Cadière, L. 1931. ‘Ethnographie (Populations – Langues – Religions)’ trong L’ Annam. Hà Nội: Imprimerie d’ Extrême – Orient, , tr.69.

5. Mapéro, H. 1912. ‘Études sur la phonétique historique de la langue annamite, les initiales’, BEFEO XII, pp. 1-126.

6. Bảng kê này có sửa đổi và phụ chú về bối cảnh để dễ so sánh với các tác giả khác; có một trường hợp không thích đáng bị loại bỏ là h: f (hôn phối: phôn phối) vì thật ra đây chỉ là một hiện tượng đồng hóa.

7. Tiếng phổ thông hiện nay là trứng.

8. Mối quan hệ giữa th và s làm nảy sinh hiện tượng h>s khi ngay trước h là âm cuối –t: một họ > một sọ; bắt hắn > bắt sắn... Cadière cho đây là trường hợp chắp dính hay ít ra cũng là bắt đầu chắp dính, một hiện tượng kì lạ và rất hiếm trong tiếng Việt.

9. Cadière miêu tả gi ở đây là một âm ngạc (dịu): gặp được phát âm là giiặp ‘như thể là có hai i trước ă’ (tr.73). Vậy, gi ở đây không phải là /j/ bình thường mà là /j/ có tính ngạc rất mạnh.

10. L. Cadière miêu tả đỏ lả một âm nghe như ô hay o hoặc ao (tr.6), nhưng ông nói thêm rằng đó là ‘một âm a bị biến chất, rất hẹp và rất điếc’ (tr.7). Những chỉ dẫn ấy đủ cho chúng ta hình dung đó là một âm a sau tròn môi.

11. L. Cadière cho cách đọc ong, oc, ông trong các thổ ngữ của phương ngữ Trung là một âm o, ô rộng trước một âm mũi hay âm gốc lưỡi (tr.20, 23). Ông còn cho rằng nói chung, ô trong ông phát âm như ô hay au tiếng Pháp. Như vậy, có thể tin chắc rằng ông đã đề cập đến cách phát âm o, ô dài với –ng, –c không ngậm môi. Đáng ngạc nhiên là ông không nói gì về trường hợp óc.

12. BEFEO, XI (1911), số 1 – 2, tr.67 – 110.

Vương Hữu Lễ - Hoàng Dũng

Nguồn: http://tonggiaophanhue.net

READ MORE - Đóng góp của L. Cadière vào phương ngữ học tiếng Việt qua tác phẩm Ngữ âm tiếng Việt