Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, October 11, 2010

NGUYỄN ĐỨC TÙNG - BILLY COLLINS: MỘT NGÀY NỮA THÔI

Billy Collins, nhà thơ Mỹ, sinh 22/03/1941

Mới đây, có dịp đi qua một bức tượng trong công viên, tôi bất giác nhớ đến bài thơ của Billy Collins. Tôi thầm cảm ơn ông về điều này.
Giữa những khuynh hướng khác nhau của thơ đương đại, hình như ngày càng trở nên khó hiểu đối với đa số người đọc, Billy Collins là một người đi ngược dòng. Thơ ông dễ hiểu. Hơn thế nữa, đó là một nhà thơ của đời sống đương thời, của những chi tiết bình dị hàng ngày. Đọc Collins tôi luôn luôn ngạc nhiên: nhìn quanh mình, ở đâu tôi cũng nhìn thấy những điều mà ông vừa mới chỉ ra, chỉ có điều là trước đó thì tôi không thấy được.
Sinh năm 1941 ở thành phố New York, tốt nghiệp tiến sĩ Anh văn ở Đại học California, Riverside với luận văn về Wordsworth và Coleridge, cặp nhà thơ tri âm tri kỉ, Billy Collins hiện sống ở New York. Hai lần là nhà thơ danh dự (poet laureate) của Hoa Kỳ. Được xem là người được công chúng mến mộ nhất hiện nay (1).
Collins thường trò chuyện với độc giả, không bao giờ quên độc giả trong thơ của ông. Đó là một cuộc trò chuyện không ngớt, bài này qua bài khác, ngày này qua ngày khác, miên man bất tận. Lần nào ông cũng có khả năng làm chúng ta ngạc nhiên.
bạn cảm thấy thế nào đây
nếu bạn biết
tôi viết những dòng này
thay vì bạn
I wonder how you are going to feel
when you find out
that I wrote this instead of you (2)
Hình như từ xưa đến nay, khi sáng tác, trong cơn cảm hứng, khác với các nhà văn, các nhà thơ thường chỉ viết cho mình. Trước hết, họ trò chuyện với chính mình. Billy Collins thì khác, ông đối thoại với người đọc trực tiếp hay kể chuyện cho họ nghe với một ngôn ngữ bình dân như thứ tiếng mà chúng ta vẫn nói mỗi ngày. Có lẽ vì vậy mà ông được nhiều người yêu mến, tìm đọc và đôi khi được gọi là nhà thơ của nhân dân.
Những bức tượng trong công viên
Anh nghĩ về em hôm nay
khi dừng chân trước bức tượng kỵ sĩ này
trong công viên
Em từng chỉ cho anh
những tư thế đẹp ý nghĩa thế nào.
Ngựa chồm hai vó lên cao
là người kỵ sĩ đã chết trên chiến trường
Còn một chân đưa lên:
kẻ ấy đang trúng thương
Nếu cả bốn chân đều chạm đất,
như bức tượng này -
móng đồng bám chặt vào nền đá -
kỵ sĩ vẫn còn trên lưng ngựa
Kẻ đăm đăm nhìn nhà hát đóng cửa bên kia đường
đã chết vì một nguyên nhân nào khác không phải chiến tranh
Trong bóng râm của bức tượng
anh thầm nghĩ về bao người khác
đã giản dị đi qua cuộc đời
không ngựa, không yên, cũng chẳng có gươm
người bộ hành không bao giờ nữa
đặt chân này lên trước chân kia.
Anh hình dung bức tượng
của người bệnh co quắp trên giường đá lạnh,
của kẻ tự tử chạm ngón chân mình lên mép gạch đá vân,
tượng của những nạn nhân
bịt mắt, của kẻ bị giết rồi tay còn che vết thương,
của người chết đuối lặng im trôi nổi trên bầu trời.
Và anh chôn chân ở đó,
trên nền cẩm thạch xám hồng
gần những bụi cây công viên,
tên anh và ngày tháng khắc trên bảng đồng,
Quỳ gối, mắt ngước nhìn lên,
cầu nguyện với mây trời
bay qua, mãi mãi xin thêm một ngày, một ngày nữa thôi.
Statues In The Park (3)
I thought of you today
when I stopped before an equestrian statue
in the middle of a public square.
you who had once instructed me
in the code of these noble poses.
A horse rearing up with two legs raised,
you told me, meant the rider had died in battle.
If only one leg was lifted,
the man had elsewhere succumbed to his wounds;
And if four legs were touching the ground,
as they were in this case –
bronze hooves affixed to a stone base –
It meant that the man on the horse,
this one staring intently
over the closed movie theater across the street,
had died of a cause other than war.
In the shadow of the statue,
I wondered about the others
who had simply walked through life
without a horse, a saddle, or a sword -
pedestrians who could no longer
place one foot in front of the other.
I pictured statues of the sickly
recumbent on their cold stone beds,
the suicides toeing the marble edge,
statues of accident victims covering their eyes,
the murdered covering their wounds,
the drowned silently treading the air.
And there was I,
up on a rosy-gray block of granite
near a cluster of shade trees in the local park,
my name and dates pressed into a plaque,
down on my knees, eyes lifted,
praying to the passing clouds,
forever begging for just one more day.

Hãy xem ông mở đầu như thế nào:
Anh nghĩ về em hôm nay
Cũng có thể là:
Em nghĩ về anh hôm nay
Hay:
Tôi nghĩ về bạn hôm nay
Vân vân.
Đó là điểm thuận lợi của một số ngôn ngữ như tiếng Anh. Điểm thuận lợi nào bao giờ cũng kèm theo nhược điểm. Nhưng đó là chuyện khác.
Câu mở đầu của một bài thơ là câu quan trọng. Vì nó là cánh cửa dành cho người đọc, mở vào thế giới riêng của bài thơ. Nhưng quan trọng hơn cả, cánh cửa ấy hầu như tác giả không tự mình chọn được. Bởi vậy khi lần đầu đọc câu thơ này tôi đã dừng lại một lát: hôm nay có gì lạ? Sao anh lại nghĩ về em hôm nay? Khi mỗi ngày đều nghĩ về em thì hôm nay anh có nghĩ nhiều hơn chăng? Câu mở đầu của Collins là một câu thơ trúng chỗ, không thể di lệch được, nhưng nó lại rất bình thường. Bất cứ một nhà thơ nào cũng có thể làm một câu tương tự.
Vấn đề là vào lúc nào?
Khi dừng chân trước bức tượng kị sỹ này
Chúng ta được dẫn đến trước một bức tượng trong công viên. Tưởng tượng bạn đi dạo chơi một mình, ngẩn ngơ lạc bước, dừng chân trước nó hồi lâu. Rồi bạn làm gì? Đưa máy ảnh lên chụp hình về khoe với bạn chăng? Im lặng thở dài? Hay mua một cây kem vừa mút vừa quay đi?
Ở trên tôi vừa nói thơ Collins dễ hiểu. Đó là nhờ ông dẫn chuyện tài tình. Tôi nhận ra rằng trong hầu hết các bài thơ hay, tiếng Việt hay tiếng nước ngoài, ngôn ngữ của nhà thơ thì dễ hiểu, nhưng chính nhà thơ thì không. Bạn được nghe kể chuyện một cách thong thả, có một khoảng cách giữa người nói và người nghe, nhưng khoảng cách đó không lớn, bao giờ cũng thân mật, nhờ tính hài hước ngấm ngầm bên trong.
Đã chết vì một nguyên nhân nào khác không phải chiến tranh
Té ra một người anh hùng cũng có thể chết vì bệnh viêm phổi chẳng hạn, hay vì một tai nạn xe cộ lãng xẹt, hay vì tuổi giá âm ỉ tới trong nhà dưỡng lão không con không cháu mà trợ cấp hưu trí không đủ sống.
Không ngựa không yên cũng chẳng có gươm
Chúng ta để ý rằng tính hài hước trong thơ Collins nhuốm phong cách u mặc phương Tây, nghĩa là nếu xem nó không phải hài hước thì cũng đúng. Bởi vì đó là sự thật được lật ra một cách thông minh.
Hình ảnh có tính ẩn dụ (metaphors) trong thơ có hai loại: những ẩn dụ mang tính trang trí và những ẩn dụ chức năng. Thơ càng non tay, loại thứ nhất càng nhiều. Thơ già dặn, loại thứ hai nhiều hơn.
Đặt chân này lên trước chân kia
Là một câu thơ chuyển tiếp, là một liên tưởng mạnh mẽ và quyến rũ vì nó liên hệ mật thiết với hình ảnh kỵ sĩ trên lưng ngựa. Nó đưa ta trở về với cuộc đời thường, nơi mà thông điệp của Billy Collins bắt đầu. Đó là một ẩn dụ có tính chức năng.
Chúng ta trở lại với hình ảnh ban đầu. Người kỵ sĩ là biểu hiện của cuộc chiến đấu, nhưng là cuộc chiến đấu nào? Đó là cuộc chiến đấu giữa các quốc gia, giữa con người và thiên nhiên hay giữa con người và con người trong xã hội? Hay là cuộc chiến đấu nội tâm ở mỗi cá nhân?
Kẻ trên yên ngựa đăm đăm nhìn về một nhà hát đóng cửa bên kia đường. Cuộc đời là sân khấu với những trò yêu ghét, say mê, nhầm lẫn, sự thật và giả dối, vinh quang và ảo vọng, như tấm vải nhiều màu dệt nên một đời người, một dân tộc, sự suy tàn của các phẩm chất tưởng như có tính di truyền vĩnh viễn.
Thực ra sự giản dị của Collins là sự giản-dị-hoá. Ông biết chọn những góc nhìn bất ngờ, thậm chí kì quặc, để từ đó tiến đến gần những tính chất quen thuộc hơn của sự vật. Từ một bức tượng đến số phận của người kỵ sĩ, từ người kỵ sĩ đến số phận của con người. Từ kẻ chiến thắng đến người chiến bại, từ anh hùng đến nạn nhân. Đó là đi từ cái riêng đến cái chung, đi từ phía bên này đến phía bên kia của lịch sử.
Kết thúc bài thơ, người kể chuyện bỗng hoá thân vào câu chuyện, biến thành một nhân vật trong bức tranh bao quát. Nhờ sự hoá thân này, anh hùng không đứng cao hơn nạn nhân. Tác giả đã dịu dàng chuyển chúng ta từ tầng sâu suy tư đến hình ảnh gần gũi. Sự dịch chuyển mau lẹ như thế tìm thấy nhiều thí dụ của nó trong thơ Billy Collins. Tuy là thí dụ, chúng không thể bắt chước được.
Tôi nói thí dụ, cũng bởi vì Collins thường dẫn chúng ta quay lại với những hình ảnh cụ thể, hàng ngày, ở cuối mỗi bài thơ của ông. Đọc Collins, không nên dẫn dắt suy luận trừu tượng đi quá xa: ông gần gũi với phương Đông ở điểm này.
Anh thấy gì? Anh thấy mình quỳ xuống, biến thành một bức tượng khác, tên anh và ngày tháng được khắc trên bảng đồng. Sự hi sinh nào đó của anh đã được các nhà viết sử công nhận, đã được một giai đoạn công nhận, thậm chí có hy vọng trở thành vĩnh viễn. Anh bị chôn chặt vào bức tượng của mình, đóng đinh vào cây thập tự thời gian và cây thập tự không gian.
Thì lúc ấy anh ao ước điều gì?
mãi mãi xin thêm một ngày, một ngày nữa thôi
để được sống giữa mọi người, sung sướng một cách tầm thường và phẫn nộ một cách cao cả như chúng ta, chán nản và hi vọng như chúng ta.
© 2009 Nguyễn Đức Tùng
© 2009 talawas blog
________
Chú thích
(1) Tạp chí Poets & Writers, Sep/Oct 2008
(2) Billy Collins, “You, Reader”, The Trouble with Poetry and Other Poems, NXB Random House, 2005
(3) Billy Collins, The Trouble with Poetry and Other Poems, NXB Random House, 2005
READ MORE - NGUYỄN ĐỨC TÙNG - BILLY COLLINS: MỘT NGÀY NỮA THÔI

Wednesday, October 6, 2010

TRƯƠNG THỊ PHƯỢNG - CỬA TÙNG CHIỀU TÍM

Trương Thị Phượng hiện nay là phó hiệu trưởng trường THCS Lương Thế Vinh, thị xã Quảng Trị



Biển trách nắng sao nỡ vội dấu mình


Cho hoàng hôn buông sắc tím

Vắng em!

Sóng đi tìm vội vã

Ngẩn ngơ đến cả bạc đầu

thương nhớ em

Sóng tìm em cuối đất cùng trời

Rồi bỗng thấy dấu chân in hình trên cát

Rồi tung mình xô bờ ào ạt

Hôn!

Đắm đuối một đời

Rồi tan giữa hư vô

Sóng mang theo cả lâu đài

dã tràng xây trên cát

Con dã tràng không còn ngơ ngác

Biết biển đa tình nên chỉ lặng im!



TTP


READ MORE - TRƯƠNG THỊ PHƯỢNG - CỬA TÙNG CHIỀU TÍM

Tuesday, October 5, 2010

LÊ QUANG THÁI - THANH ĐÀM VỀ AN THƯỜNG CÔNG CHÚA

Phủ An Thường Công Chúa (Nguồn ảnh từ Internet)

Xem chừng cái cổng gỗ vừa bình dị vừa cổ kính ở đường Nguyễn Công Trứ có tiền thân là đường Chợ Cống, trong khoảng hơn 100 năm trở lại, lần lượt thay đổi địa chỉ theo một loạt mã số 21, 27, 29, 31, 33, 47, 63... như đã nói lên tiếng lòng của dân gian trước tốc độ phát triển nhanh chóng của đô thị Huế.

Dân gian nghĩ Bà chúa giàu sang, sao lại không bỏ tiền của ra để xây một cái cửa Tam quan ra vào cho đệ trạch của mình xứng danh với con gái thứ 4 của vua Minh Mạng mà lại chọn mô hình một cái cổng gỗ phía trên lợp ngói quá ư khiêm tốn, thể hiện tính cách thanh cao: công dung ngôn hạnh. Hỏi ra mới biết người sao thì của vậy. Đó là cái cổng truyền thống mà lúc sinh thời từ năm 1841 đến 1891 Bà chúa ưa thích nhất. Từ đó cho đến nay, khuôn viên ấy trở thành di tích AN THƯỜNG CÔNG CHÚA TỪ được du khách phương Tây hiếu kỳ dừng lại thu hình vào ống kính.
Năm 1960, một học sinh xứ Huế hoài niệm nét đẹp dung dị của ngôi nhà vườn vừa là nhà thờ An Thường công chúa đã sáng tác bài tứ tuyệt:
Con đường trưa nắng, gió hiu hiu
Ngây ngất người qua, tiếng sáo diều
Đây chốn An Thường công chúa nghỉ
Lưng chừng khóm trúc dáng liêu xiêu
(Đồng Di Đỗ Hà)
Ngày xưa, nơi công chúa nghỉ có đến 9 ngôi nhà quay mặt ra bờ sông theo cách gọi của ngôn ngữ cung đình: 8 nhà ngơi và một nhà cối để dự trữ lương thực trong kho lẫm và các người phục dịch xay, giã, sàng, dần lúa gạo. Dưới sông sau đệ trạch là bến nước có đến năm chiếc đò nhiều mui che đậu sẵn để đưa Bà chúa và con cháu theo hầu đi vào cung vua, lên sơn lăng, ra quê chồng ở Quảng Trị bằng đường thủy và đi chợ xa gần mua hàng cho vừa ý.
Chợ Cống có tự bao giờ? Lẽ tất nhiên chợ phải có sau cống thoát nước cho nên mới mang tên CHỢ CỐNG. Các mương nước đều chảy qua cống trước khi đổ ra sông Lục Bình, một khúc sông của sông Thiên Lộc - đổi tên thành Thọ Lộc dưới thời vua Tự Đức sau khi chùa Thiên Mụ đổi tên thành Linh Mụ vào năm 1862 cho thuận lẽ trời đất. Nhớ lại, năm 1841 Bà chúa An Thường hạ giá về nhận đất lập đệ trạch gần bên xưởng đóng thuyền của thủy binh hoàng gia, cư trú theo sắc chỉ của vua Thiệu Trị cho phép Bà chúa cưng chìu xe duyên với Phò mã Đô úy Phan Văn Uýnh, con trai thứ của Hậu quân Đô Thống Chưởng Phủ sự Phan Văn Túy mà quốc sử phiên âm thành Phan Văn Thúy. Thiết nghĩ đó là đầu dây mối dợ cho người đời nay cãi nhau về chùa Túy Vân hay Thúy Vân, với nhiều lý do khác nhau. Chùa có tên chữ là THÁNH DUYÊN ở núi Túy Vân tiền thân là núi Mỹ Am bên cửa biển Tư Hiền. Gia phổ họ Phan ở làng Đạo Đầu, tổng An Lưu, huyện Đăng Xương đã ghi và phiên âm thì làm sao mà “cại lại được”.
Đoán chừng thì cống nước xây sau năm 1814, năm đào sông An Cựu nắng đục mưa trong. Trước đó, chợ Cống có tên là chợ Áo Tơi. Nay dùng áo mưa đủ loại thì ngày xưa dùng tơi kè che nắng đổ lên vai mà yên tâm cày cấy, tơi mang chống mưa lạnh theo lối mưa tạt gió vầy. Cao sang nhất như vua Minh Mạng mà còn mang áo tơi xây bằng lá đọt và đội nón ra vườn Thiệu Phương trong Đại Nội để xem các phi tần, công chúa trồng rau quả. Trong các mẩu áo tơi ở các làng quê vùng Thuận Hóa, nổi tiếng nhất là tơi chợ Chùa. Chợ này ở đâu? - Ở làng Hà Tây nằm bên bờ Nam cửa Việt. Tơi bán tại chợ này là một sản phẩm nông nghiệp nổi tiếng của xứ Thuận Hóa: Quạt Phương Ngạn, tơi Chợ Chùa. Quạt Hoa Ngạn nổi tiếng, đủ loại: quạt tre, quạt lụi, quạt tán đinh đồng, đinh bạc quạt nhiều nan lợp bằng giấy dó hoặc bằng lụa... Vì kỵ húy chữ “Hoa”, tên mẹ vua Thiệu Trị mà đổi tên làng Hoa Ngạn ra Phương Ngạn. Chuyện tơi, chuyện quạt lại dính liền với chuyện hai chùa Diệu Đế và Báo Quốc: Quảng Trị Trung Kiên, Thừa Thiên Dạ Lê. Trung Kiên và Dạ Lê là hai làng phát sinh nhiều bậc danh tăng của xứ Thuận Hóa. Làng Phương Ngạn sát bên làng Đâu Kênh, làng Bích Khê (tên cũ Hồng Khê), đối chênh qua sông Thạch Hãn là thôn Trung Kiên. Chúa Nguyễn Phúc Tần đã từng ngự giá ở làng Đâu Kênh, huyện Võ Xương thăm chùa Thiên Tân và được dân làng dâng quạt; chúa ngự để biển chùa bằng chữ vàng, tặng tượng Phật và đồ thờ quý giá. Quạt Phương Ngạn là đặc sản của tỉnh Quảng Trị đã từng được chọn làm sản phẩm dự hội chợ Đông Dương thời Pháp thuộc vào đầu thế kỷ 20, khi mà ngành du lịch Việt Nam bước đầu phát triển. Thời ấy, con vua cháu chúa ở chốn cung cấm cảm thấy ngỡ ngàng trước những biến chuyển buổi giao thời, thay cũ đổi mới của làn sóng Âu hóa.
An Thường Công chúa sinh ngày 13 tháng 6 năm Đinh Sửu (26/ 7/ 1817) là chị khác mẹ với Tùng Thiện vương và Tuy Lý vương, cùng mẹ với Hàm Thuận công Nguyễn Phúc Miên Thủ, con trai thứ 9 của vua Minh Mạng; mẹ là Mỹ nhân Nguyễn Thị Bân, người huyện Minh Linh, tỉnh Quảng Trị. Về sau chia huyện Minh Linh, và lập huyện mới Địa Linh, đổi thành Gio Linh vào năm 1886. Quê ngoại của bà công chúa thuộc huyện Gio Linh, nơi có sản vật sắn dây, khoai mài, môn sọ, môn chúm nổi tiếng dùng làm phẩm vật tiến cung vua.
Lúc còn nhỏ tuổi, hoàng nữ có tên là Tam Xuân, lớn lên được vua cha Minh Mạng, dựa vào bản chất và tính khí của con gái mình mà đặt tên là Nguyễn Phúc Lương Đức.
Về tiểu sử của Bà chúa là người con chí hiếu và mẫu mực thì xưa nay ngoài quốc sử đã ghi chép còn có thêm tạp chí Tri Tân số 113 ra ngày 23.9.1943 với bài viết của học giả Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố, giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ cũng viết trong tạp chí ấy nói về lòng hiếu thảo của An Thường công chúa và vào thập niên 60 thế kỷ 20, nhà văn Trịnh Văn Thanh chọn dùng lại trong cuốn từ điển Việt Nam danh nhân lịch sử, tập II.


Một góc của phủ An Thường Công Chúa

Năm Mậu Thân 1848, Đức bà được tôn phong là AN THƯỜNG CÔNG CHÚA. An Thường là thuật ngữ Phật học vừa là tên một địa danh làng xã của tỉnh Bắc Ninh, nơi có nhiều người đẹp thông tuệ, nết na và thùy mỵ. Chuyện tình duyên của Bà chúa có chút oái ăm mà hơn một năm sau ngày cưới long trọng ở Tôn Nhân phủ mới rò rĩ xuất phát từ dư luận quần chúng.
Nhờ đọc PHAN GIA THẾ PHỔ và lắng nghe chuyện kể kiểu Liêu Trai chí dị mới biết: Đường vào tình duyên của Đức bà muôn vàn ngõ ngách. Con trai thứ của Hậu quân Đô Thống Chưởng Phủ sự là PHAN VĂN TÚY có trước một đời vợ ở làng quê Đạo Đầu, tổng An Lưu, huyện Đăng Xương (Triệu Phong ngày nay). Ngày xưa ở xứ đồng ruộng phì nhiêu, có lệ tảo hôn. Cha mẹ thường sớm cưới vợ cho con trai và lại chọn những cô thôn nữ lớn tuổi đảm đang việc nhà. Quan Hậu quân trong một lần bệ kiến vua Minh Mạng, nhà vua ướm hỏi: Khanh có con trai nào đến tuổi trưởng thành mà chưa lập gia thất không? Quan Đô Thống bẩm tâu Hoàng thượng: Bẩm dạ có, nhưng con nhà võ có nét chân phương thô thiển, xin Bệ hạ rủ lòng thương. Lời tâu khá xẳng xái như thể hiện đáp ứng được yêu cầu của người hỏi chuyện. Quan Hậu quân Đô Thống nghĩ lại đã lỡ lời thì khó lòng thu lại, sợ mang tội bất kính. Phụng mệnh thì phải lo thu tóm việc nhà cho ổn thỏa. Hoàng thượng ướm hỏi tức là tinh sớm chuyện tương lai: muốn kết tình thông gia, bằng lòng gả công chúa Lương Đức cho con trai của Đại thần gốc quan võ là Phan Văn Túy. Ngoài những chiến công hiển hách được khắc tên vào bia Võ công ở Võ miếu, Hậu quân Đô Thống còn có công trạng lớn lao trong việc đào sông Vĩnh Định thông đường giao lưu mở từ Kinh kỳ ra đến tỉnh Quảng Bình. Nhờ vậy mà nhà vua ngự giá ra Thăng Long bằng đường thủy rất tiện lợi, còn dân chúng thì đi lại dễ dàng bằng những chuyến đò dọc từ kinh đô Huế ra các tỉnh thành phía Bắc.
Đã trót buông câu đã lỡ thì phải lần. Vào thời bấy giờ quan Đô Thống đầy quyền lực trong tay, giữ chức Phó Tổng trấn Bắc Thành như một Phó vương. Sở dĩ nhà vua không lập chức Tổng trấn nhằm ngăn ngừa hậu hoạn như đời vua trước mà Tiền quân Nguyễn Văn Thành đã từng là nạn nhân vì có định kiến với Tả quân Lê Văn Duyệt xuất thân là hoạn quan.
Sau đó, quan Phó Tổng trấn trở về quê nhà thu xếp đưa con dâu và cháu nội ra Bắc Hà “tỵ nạn”, hủy bỏ việc hôn phối của con trai mình, bằng con đường “ly dị” khác nào chuyện hôn nhân giả tạo ngày nay để tiện việc xuất cảnh ra nước ngoài vậy.
Mọi việc hoàn thành như dự tính. Ngày dẫn cưới đã đến: cành vàng lá ngọc xe duyên với bách tánh theo nhạc tấu bài “loan phụng hòa minh” đưa nàng công chúa ra miền Ô Châu ác địa bái yết gia đường hương hỏa. Bà chúa chẳng hề nghe dư luận gì xôn xao ở chốn thôn dã. Bài bản sắp xếp có hương lý, trưởng lão tín cẩn đồng tình ủng hộ. Nếu có ai “bật mí” thì xem như nhẹ tội: Phò mã đã có con riêng và nay đã ly dị vợ nên vẫn độc thân chưa vợ. Lợi ích chung cho làng thì ai mà chẳng ưa: trồng tre cậy một phía, trồng mía cậy một hàng. Cái lối bọc lót, che chắn ấy thì người dân quê khá sành sỏi, tùy thời mà ứng biến để bảo vệ làng xã sống đời bình an.
Về sau nhà vua và An Thường công chúa biết chuyện xưa nhưng vì nể tình và chuyện đã thành nên đành lờ đi: sự thành bất thuyết. An Thường công chúa có tấm lòng cao thượng, rộng lượng không hề phiền trách mà lại coi con chồng ở xa ngàn dặm như con của mình vậy. Chính vì thế mà sau này đã hình thành một nhánh của chi tộc họ Phan ở Bắc Hà, có danh có phận nở mặt với đời.
Gia phong nhà chồng được Bà chúa hun đúc ngày một rạng rỡ như ý nghĩa của hai vế câu đối bằng chữ Hán treo ở nhà thờ An Thường công chúa:
Tích thiện bội căn miên thế trạch
Truyền kinh giáo tử hoán nhân văn
Tạm dịch:
Tu nhơn tích đức gia cảnh đẹp
Giữ ngọc gìn vàng lẽ thường an
Ngày nay, đọc chính sử thời xưa nhiều khi không nhớ hết, thỉnh thoảng nghe chuyện dã sử bổ sung thêm để nhớ biết chuyện “thiệt lục” thuở xa xăm, đã tan loãng và hòa điệu với dã sử hoặc bổ sung cho quốc sử. Làng nước, họ tộc cũng có chính sử và dã sử. Gần chết rồi, đức ông chồng mới nói cho vợ con nghe chuyện thật trước giờ ly biệt cõi trần: chuyện ông ông biết, chuyện bà bà hay. Chuyện thế gian đúng 100% là như rứa đó!
Bà chúa thông tuệ và đạo hạnh, cho nên dễ dàng nhận ra lẽ vô thường. Bà tu Tiên, tu Phật, tu theo đạo nhà và thậm chí tu ở chợ Cống, chợ Được, chợ Xước Dũ, chợ Đông Ba là có thật. Bà chúa An Thường có chút của hồi môn, có quà tặng của các vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Kiến Phúc, Đồng Khánh và Thành Thái. Nhưng tiền vào rồi lại đội nón ra đi. Bà lo việc nhà chồng, việc hầu kỵ ở sơn lăng và triều miếu, thậm chí ban phát lại cho cháu con, cho cư dân quanh vùng chợ Cống khó nghèo, tật bệnh và cô quả. Đến nỗi đất vườn cũng nhường lại cho em trai là Hoàng tử Miên Thủ để chị em ở gần nhau dễ dàng bao bọc che chở cho nhau. Bà đi mua hàng không bao giờ ép giá tại các chợ ở phủ Thừa Thiên và tỉnh Quảng Trị. Con cháu bên chồng ở làng Đạo Đầu vào thăm Đức bà đều được tặng quà và lộ phí đi đường; bà con bên ngoại ở huyện Gio Linh cũng hưởng được ân sủng quý giá ấy.
Cuối đời, Đức bà tu Phật, có đạo hiệu THANH TỪ nhưng chắc chắn là đi chùa TƯỜNG VÂN cùng với ngài Tuy Lý vương đã quy y với Tổ TỊNH HẠNH. Phủ Tuy Lý là phủ đệ duy nhất ở Huế vào thời xưa có đến hai ngôi chùa thân thuộc. Chùa Phước Huệ ở gần bên phủ Tuy Lý và chùa Thiên Hòa ở làng Dương Xuân thượng.
Di sản của Đức bà để lại ở An Thường công chúa từ là tượng ĐỨC QUAN THẾ ÂM bằng thủy tinh trong suốt đặt trong khán thờ.
Bà mất ngày 6 tháng 4 năm Tân Mão (13.5.1891) thọ 75 tuổi ta. Vua Thành Thái và Phụ chính Đại thần kiêm quản Tả Tôn chính Tôn Nhân phủ là Tuy Lý vương vô cùng thương tiếc.
Khâm Thiên giám, phủ Thừa Thiên, Tôn Nhân phủ và gia đình định ngày lành tháng tốt để chung lo việc tống táng. Chọn cho ra ngày lành để làm lễ đưa tang là điều cực kỳ nan giải. Cuối cùng đành phải chọn phương án quàn linh cữu tại khuôn viên hơn một năm. Đến đầu tháng giêng năm Quý Tỵ, 1893 mới cử hành lễ đưa tang. Chuyện có thật và đã có bút tích của con cháu ghi lại.
Thừa hưởng ân đức cao dày của ngài Đô Thống Chưởng Phủ sự, con cháu của Đức bà đã sống đúng theo quan niệm Cư Nho Mộ Thích như ý nghĩa câu đối mà nhà văn Trần Thanh Mại viết nhân lễ viếng anh rể của mình là cụ Phan Văn Dư, cháu gọi Đức bà bằng bà nội mất vào ngày 26 tháng 7 năm Kỷ Mão (9.9.1939) mà học giả Phan Văn Dật đã ghi chép lại:
Hỷ xả suốt một đời, chẳng tụng niệm, chẳng trai chay;
thuyền đạo cũng đưa về cõi Phật;
Gia đình gồm mấy họ, nào nấng nuôi, nào giúp đỡ;
quả lê không thẹn với chàng Trương.
Đôi dòng ghi lại vài mẩu chuyện chọn lọc để nhớ mãi về An Thường công chúa, nhân ngày húy kỵ thứ 118 của Đức bà danh giá, xuất thân từ chốn cung đình và trưởng thành giữa lòng dân gian. Trải qua biết bao thăng trầm, nhưng hạnh phúc thay cuối đời Đức bà biết tìm đến chốn Thiền môn và để lại tiếng thơm quý giá hai mặt ĐẠO-ĐỜI hòa quyện, lưu luyến gió Túy Vân, trăng Thiên Mụ và còn cả núi Mai sông Hãn của miền Thuận Hóa.
Mùa Phật Đản, PL. 2553
L.Q.T



BÀI CÙNG CHỦ ĐỀ:
AN THƯỜNG CÔNG CHÚA (1817-1891)
READ MORE - LÊ QUANG THÁI - THANH ĐÀM VỀ AN THƯỜNG CÔNG CHÚA

Sunday, October 3, 2010

NGUYỄN KHẮC PHƯỚC - CON BÁO



Truyện ngắn

(Nhân vật Thìn trong truyện này được xây dựng từ hình ảnh anh Võ Thìn, một người bạn của tác giả vừa qua đời đột ngột tai Quảng trị)


Cả thị trấn đều xôn xao về cái tin trong rừng bảo tồn vừa xuấtt hiện một con báo. Chẳng biết ai đã tận mắt trông thấy con báo nhưng rồi tin dữ cứ lan truyền và cho dù cứng đầu mấy rồi cũng phải tin.

Thoạt đầu người ta nói đó là một con báo, thế thôi. Dần dà người ta tả chi tiết hơn, làm như nó đứng yên đấy làm mẫu cho người ta ngắm.. Con báo đã ở tuổi trưởng thành, lớn bằng một con nghé ba tuổi, mình nó dài cả mét rưởi, chưa kể chiếc đuôi dài nửa mét thường cúp xuống như đuôi cáo.Sức mạnh có thể sánh bằng một con sư tử. Lông nó màu đen mượt, chắc là nhờ ăn đâỳ đủ thịt rừng , kể cả thịt người.. Mắt nó đỏ ngầu, sáng rực như hai hòn lửa . Con báo chỉ xuất hiện ban đêm mà thôi, lại là màu đen , nên nếu nó núp trong bụi rậm thì đố ai mà biết nó đang rình ở góc tối nào. Chỉ cần trông thấy hai hòn lửa là hồn xiêu phách lạc, bấn loạn tâm thần, chân cẳng tê cứng, mắt trợn miệng há mà không thốt được một lời rồi bất tỉnh nhơn sự , đành làm mồi cho nó xơi. Người ta rỉ tai với nhau như vậy.

Dân thị trấn đều là dân từ xa đến lập nghiệp, mỗi người một xứ. Goị là thị trấn cho oai chớ nó chỉ là một khu chợ nhỏ nằm bên con lộ mới mở. Ngày xưa khu này là rừng hoang, thú rừng vô số, gổ quý vô số, chẳng có loài nào mà không có. Nhưng rồi con người đến và tiêu diệt sạch. Từ con sóc cho đến con hổ, từ con trút cho đến chim trỉ, từ cây nấm cho đến cho đến cây dó, cây lim. Người dân trở thành lâm tặc thì đố rừng nào mà còn, con gì mà sống sót. Để giữ rừng, người ta đật tên cho nó là rừng bảo tồn, rồi đưa mấy người kiểm lâm đến , mặc dù chẳng còn gì quý giá mà giữ cho mất công. Người dân vẫn vào rừng kiếm củi tự do bởi cây lớn đã đốn rồi thì nhánh nhỏ vẫn nằm phơi khô, nếu không khai thác thì rất dễ làm mồi cho lửa. Nói vậy chớ người ta vào rừng chặt cây nhỏ rồi để đấy, mười ngày nửa tháng sau trở lại chở về thì cái gì mà không khô ? Ỏ khu chợ nhỏ ven lộ có một quán nước có bán cà phê, một quán hớt tóc, một đồn công an, một trụ sở xã, một bưu trạm ... Nghĩa là có đủ điện -đường - trường - trạm và có một anh chàng tên Thìn, tóc dài thậm thượt, có vẻ là thầy giáo bỏ việc hay nghệ sĩ thất nghiệp gì đó, là người nghiện báo, thường xuyên đến bưu trạm lấy báo từ dưới xuôi gởi lên. Không biết vì quá bận hay không biết chữ, mà mọi người xung quanh chẳng ai mượn báo để đọc.Có lần ở quán nước, Thìn đọc tin có liên quan đến kiểm lâm, lâm tặc thì bị mọi người xí xà phản dối, không muốn nghe. Ngay cả tin thầy giáo đổi điểm lấy tình, giám đốc hiếp nhân viên, thì người ta cũng xem như là chuyện trên trời, chẳng có một lời bàn luận.

Thìn chỉ đọc báo một mình.

Nhưng kể từ khi con báo xuất hiện đến nay thì anh bưu tá không thấy đến và anh chàng tóc dài mê báo có tên là Thìn cũng không đến bưu trạm.

Người ta nói con báo có tài xuất quỷ nhập thần. Nó có khả năng tàng hình như ma, độn thổ cũng gỏi, đằng vân cũng tài. Trong nháy mắt nó có thể xuất hiện , xiết cổ bất cứ ai nhắc đến tên nó. Chỉ cần nói " báo" là chết ngay tại chỗ. Dần dà người ta cữ luôn mọi cụm danh từ có từ báo như báo cáo, dự báo thời tiết . Cha mẹ không chửi con là đồ báo hại, báo cô, báo đời. Người ta cũng cữ luôn tên gọi động vật hoang dã ăn thịt khác như beo, cọp, hổ, chó sói bởi chúng là bạn bè, thường chơi với nhau. Nghe giống như chuyện thời chống khủng bố, cứ ai mở miệng nói tiếng " bom" hoặc " chất nổ " thì được mời ngay vào bót mà ngồi.

Lúc đầu Thìn không tin. Anh ta thuyết phục vợ rằng chẳng qua bọn giữ rừng muốn rảnh rang để chuồn về ngủ với vợ nên phao tin đồn nhảm. Nhưng rồi hằng ngày hắn bị vợ hắn thuyết phục ngược lại bằng những bằng chứng không thể chối cãi được mà chị ta nghe kể như là dấu chân, cục phân, tiếng gầm... của con báo. Người dân quanh khu thị trấn chuyên sống nhờ rừng nay không vào rừng được, đời sống của họ đang gặp khó khăn. Một nhóm thanh niên thường ngày vào rừng đốn cây làm củi bán độ nhật thì nay tập trung ở quán nước uống cà phê, bực tức chưởi thề gây gổ lẫn nhau, nhưng không đứa nào dám chửi con báo.

Nghe quán có người đông, Thìn bớt sợ, mang báo cũ ra quán ngồi đọc. Thấy Thìn đang đọc báo , một đứa giận dữ la lên : Vứt cái thứ chết tiệt đó đi, không thì chết cả đám. Một thằng khác nhào tới giựt phăng tờ báo, bật quẹt đốt ngay. Hình như ngọn lửa kích thích sự phẫn nộ, cả bọn xông vào đánh Thìn tới tấp.

Thìn bỏ chạy về nhà, uất ức không thể tả, nằm liệt mấy ngày mới dậy được.Một chiều lúc chạng vạng,có hai vợ chồng đi làm về không tìm thấy đứa con gái năm tuổi ở nhà liền hô hoán : Chằng tinh bắt con tui rồi, bà con ơi ! . Một nhóm đàn ông tức tốc đi tìm kiếm nhưng nhanh chóng trở về nhà vì đêm tối là lúc con báo hoạt động, không chừa một ai. Đêm ấy , nghe nói có người thức khuya để nghe ngóng xem con báo có xuất hiện ở nhà Thìn không, nhưng chỉ nghe hắn ta ú ớ như mọi hôm.

Sáng sớm hôm sau khi hai vợ chồng còn ngủ thì nghe tiếng con bé khóc ngoài cửa, kêu đói. Thì ra nó rúc vào đồng rơm ngủ suốt đêm.

Không có báo để đọc, không dám ra khỏi nhà vì sợ con báo đã đành, còn sợ mấy thằng tiều phu đuổi đánh, Thìn trút sự bực tức lên vợ con. Hắn thường la mắng vợ con vô cớ. Vợ Thìn kể với người hàng xóm hầu như đêm nào anh ta cũng nói mớ , kêu "báo, báo", không biết là báo gì, rồi sau đó vùng vẫy như là đang bị con báo xiết cổ, đạp hết vợ con, mền chiếu xuống đất. Vợ Thìn, mặc dù sợ báo, cũng phải trải ni-lông xuống đất ngủ riêng. Hàng xóm, nghe chuyện, hoảng sợ vì nếu con báo nghe được thì nó sẽ đến ăn thịt cả xóm.Họ bàn với nhau làm sao cho Thìn hết ngủ mớ kêu báo. Dần dà rồi cả thị trấn làng mạc quanh đấy đều biết chuyện đêm nào Thìn cũng kêu báo. Không ngày nào mà không có người đến đe doạ.

Chuyện nóng giận gì thì có thể tự kiềm chế chứ chuyện ngủ mớ thì đến thánh cũng phải chịu. Để tránh ngủ mớ, Thìn phải thức suốt đêm và ngủ suốt ngày. Thế nhưng ngủ ngày hắn ta cũng mớ và mớ to hơn, và lúc ấy hàng xóm đều thức nên ai cũng nghe được. Thìn gầy rộc như con mắm , nước da xanh xao, vàng võ vì mất ngủ. Thần kinh bắt đầu có vấn đề. Trí nhớ chập chờn , lúc tỉnh lúc mê.Người ta đồn Thìn bị ma ám. Vợ Thìn mời một ông thầy đến cúng nhưng bị Thìn rượt đuổi chạy.

Một sáng nọ Thìn tỉnh giấc thì nhận thấy tay chân mình bị trói chặt vào một băng-ca. Ở hai đầu giường là hai nam y tá lực lưỡng mặc áo bờ-lu trắng. Thìn gọi vợ nhưng không nghe tiếng trả lời. Người ta khiêng Thìn bỏ vào xe cấp cứu và chở đi. Hỏi cả thị trấn và dân làng quanh đó không ai biết Thìn được chở đến bệnh viện nào. Người ta trở lại vui vẻ như vừa vứt đi một của nợ. Họ lại vào rừng chặt cây làm củi, bẻ măng , tìm nấm mặc dù chẳng có thông báo chính thức nào về việc con báo không còn xuất hiện.

Nguyễn Khắc Phước

READ MORE - NGUYỄN KHẮC PHƯỚC - CON BÁO

Saturday, October 2, 2010

NGUYỄN ĐẶNG MỪNG - CHỊ VỀ BÊN NGOẠI











Truyện ngắn

Chị Hà cùng tuổi với tôi, tuổi Thìn. Chị bảo nam Thìn nữ Tỵ nên đời chị sẽ lận đận long đong, đời tôi sẽ hanh thông. Mới mười hai tuổi mà chị như người lớn, lúc nào cũng gọi tôi bằng cậu, cậu em. Bên ngoại chị không còn ai, chỉ bà con xa. Bác Ca, cậu ruột chị là người cuối cùng trong chi, bị Tây bắn lúc mới mười tám tuổi. Mỗi lần ai nhắc đến Bác Ca là O Hát mẹ chị Hà khóc tấm tức, bảo sao trời không cho O chết thay cậu ấy. Tuyệt tự! Điều đó khiến O Hát càng quý bên ngoại hơn. Mỗi năm đến ngày chạp mả O Hát dắt cả ba đứa con về. Anh Thổ là lực điền đúng nghĩa, cao to như Tây, da ngăm, mặt chữ điền. O Hát bảo giống dượng như đúc. Dượng cũng bị Tây bắt đi rồi chết đâu mất xác năm sinh chị Hà. Anh Điền thư sinh hơn, da trắng như con gái. Chị Hà gầy nhom, vác cái cuốc chét chạy lăng quăng theo hai anh. O Hát chỉ cho các con đây là mộ ông ngoại bà ngoại, đây là ông bà cố…Biết bao nhiêu người đã khuất, từ ông nội O Hát trở xuống. Đến trước mộ Bác Ca o Hát khóc òa lên, quỳ xuống lạy. Cậu ơi răng chết đi. Răng không nối dõi tông đường. Tuyệt tự rồi cậu ơi. Chị Hà quỳ bên cũng khóc. Hai anh trai vẫn thản nhiên dùng cuốc xẻng vun lại nấm mộ. Một lát ngôi mộ như được mặc áo mới, trắng toát cát rờn rợn bên tiếng khóc O Hát.

O Hát thương tôi như cháu ruột, quý ba tôi như em ruột. O bảo phụ nữ chỉ một đời, vài đời sau con cháu sẽ kể nghe nói đời thứ mấy, thứ mấy có mệ ni mệ tê lấy chồng đâu bên làng Đông làng Tây mô đó. . .

Nhà tôi ở làng Tây gần quận lỵ, cách làng Đông khoảng năm cây số. Thường hàng năm O Hát nói với ba tôi nghỉ hè cho cháu về ở với O, cho có bạn với chị Hà. Tôi cũng thích rong chơi ở vùng quê, nhất là được cởi trâu ra đồng cùng chị Hà. Tôi ngồi sau lưng chị, ôm eo chị trên lưng con trâu to béo đi qua những cánh đồng sau mùa gặt thích lắm. Lúc trâu lội qua sông chị Hà cười sang sảng, bảo tụi mình đi xe lội nước. Chị còn giải thích: “ Cậu biết Hà là chi không, là sông đó. Anh Thổ là đất, anh Điền là ruộng”. Tôi bảo: “Ruộng đất không có nước thì không có khoai lúa, chị Hà là quan trọng nhất”. Chị cười thích thú. Suốt mùa hè chúng tôi ở ngoài đồng, bên dòng sông nhỏ. Ăn cơm trưa trong cái mo cau với cá kho ngon tuyệt. Ăn rồi tắm, tắm rồi ăn.

Lũ trẻ nhà quê tinh nghịch cặp đôi tôi với chị, tôi bảo bà con, đừng nói bậy O Hát đánh chết. Tụi trẻ nhảy tưng tưng hát vè tục tằn, “bà con hai họ, lọ mọ cả đêm, chị trống em kèn, tùng xèng tùng xèng…” Chị Hà cầm roi tre rượt đuổi đám trẻ. Áo chị bị gai tre móc rách tơi tả chị vẫn rượt. Ngã lăn xuống ruộng lại bò đứng lên rượt đuổi đến cùng. Tụi nhỏ sợ chị chạy tán loạn. Chị ngồi bệt bên giường ruộng khóc rống riết. Tôi run rẩy đến gần, cầm tay kéo chị đứng lên, chị dằn tay lại trừng mắt kêu: “Đồ hèn, con trai mà hèn”. Tôi ngồi trên giường ruộng nhìn mặt trời lặn. Gió Nam giật từng cơn, rặng tre lào xào lao xao. Tôi cúi mặt trên hai đầu gối khóc thút thít. Ngửng lên thấy bóng chị xấp xãi trên đường bạn, tôi vội vã chạy lúc thúc theo về. O Hát hỏi chuyện chi rứa, chị bảo tụi nhỏ cặp đôi con với cậu Thìn. O Hát cười, “ Cặp đôi có chết ai mô. Bên ngoại bốn đời là lấy nhau được. O sẽ gã con Hà về bên ngoại để lo hương khói mả mồ”. Chị Hà đấm thùm thụp vào lưng mẹ, kêu lên “ Bà con mà, bà con mà…, con không chịu mô”.

Suốt buổi sáng hôm sau chị Hà không thèm nói chuyện với tôi. Buồn. Buổi chiều tôi theo anh Điền đi bừa ruộng. Anh Điền hiền như ruộng, cho tôi đứng lên chiếc bừa gỗ thích lắm. Dù vậy tôi cứ mong trời chiều để về gặp chị Hà. Chị đứng chờ tôi trước ngõ, bảo vô tắm rồi ăn cơm học bài. Chị cầm tay tôi dắt ra giếng, cởi áo cho tôi rồi bảo ngồi xuống. Chị dội nước lên đầu tôi kỳ cọ. Lúc chị toan đụng phía dưới tôi hất tay chị ra. Chị cười khúc khích bảo thôi tự tắm đi, không sạch là ăn roi nghe chưa.

Một tối Chị Hà kêu Thìn ơi ra đây chơi. Chị ngồi dưới bụi tre trước sân nhà, dưới am thờ, bên cạnh cái cối đá. Cái cối để dưới am thờ nhỏ, chị đã thắp lên đó ba cây nhang. Tôi toan ngồi lên cối thì chị kéo tay bảo không nên. Cái cối này là kỷ vật của ông ngoại, linh lắm. Cái cối đá sứt tai đen thủi nằm dưới am thờ thì linh nỗi gì, tôi thắc mắc trong lòng. Chị kéo tay tôi ngồi gần, thì thào: “ Cậu có tin không, cối đá cũng có linh hồn. Cái chi cũng có linh hồn hết, mụ Thà nói rứa”. Mụ Thà là cô đồng bóng, mỗi lần vong nhập vào mụ nói giọng lơ lớ kiểu người âm phủ. Bọn trẻ chúng tôi thường tụm lại xem mỗi lần mụ lên đồng. Tôi hỏi mụ Thà nói chi. Chị Hà giọng nghiêm trọng kể: “ Cái cối này là hồi môn của ngoại. Mạ kể Tây đốt nhà cả thảy mười ba lần, cái chi cũng cháy, chỉ còn cái cối này, nó bị bom phạt sứt tai”. Chị đưa tay xoa rờ lên chỗ sứt rồi tiếp: “ Mạ kể Mệ ngoại mất lúc sinh cậu Ca. Ông ngoại mất mạ mười sáu tuổi, cậu Ca mười bốn. Ông ngoại trối lại rằng, con trâu và hai sào ruộng để lại cho cậu Ca sinh sống và lập gia đình nối dõi tông đường. Nhà cửa chẳng còn chi để hồi môn cho con gái. Chỉ còn chiếc cối đá cha tặng con làm kỷ niệm. Nó không đáng giá nhưng có linh hồn của cha mạ trong đó. Rồi ông nhắm mắt ra đi. Mạ còn kể cái cối là chứng tích ghi lại mối tình của ngoại. Hai người tỏ tình với nhau bên chiếc cối này sau khi giả gạo và hò đối đáp. Một lần đến làng mệ ngoại hò giả gạo, ông hò: Hơ hơ…Anh ngồi bên ni tai cối/Em ngồi bên tê tai cối/ Tôi thấy em mặc áo nối vải đà tóc búi vải bao. Tôi không phải là phường vô phương tắc đạo mà băng hói lội rào tới đây”. Mệ “ bí” không “đối đặng” bèn hò: hơ hơ…Đến đây thì ở lại đây, khi mô tốt rể xanh cây thì về”. Ông ở lại “mần rể” ba năm thì cưới. Mệ ngoại theo chồng mang theo chiếc cối đá này làm kỷ niệm, lại đặt tên con là Ca Hát”.

Trăng hạ tuần. Dập dờn gió Nam từng đợt. Tre pheo cúi xuống vờn lên, chiếu bóng những hình thù ma quái vật vã trên am thờ, lên cối đá. Nhang cháy nhòe lay động. Nhìn chiếc cối đá đen đủi chỉa ba cái tai nhọn hoắt như nhúc nhích, tôi lạnh toát người. O Hát ngủ sớm. Anh Điền đi đâu từ sẩm tối chưa về.Trong nhà còn ngọn đèn dầu lấp loáng trên bàn thờ chực tắt. Xóm làng im ắng, chỉ còn tiếng lào rào trên ngọn tre. Chị Hà cầm tay , níu đầu tôi nói nhỏ: “ Anh Thổ gửi thư về bảo mạ nên cho anh Điền ra tỉnh làm chi cũng được, đừng ở nhà, bất trắc lắm. Anh nói anh đi lính Cọng Hòa trong Nam sình lầy cực khổ lắm. Sang năm anh mới có phép về thăm. Chị đọc thư cho mạ nghe, xong mạ bảo đốt đi. Hôm qua chị nghe anh Điền nói với mạ là đừng để cậu ở đây nữa, không hay”. Chị ghé sát tai tôi thì thào, “Anh Điền theo du kích, có súng. Cậu đừng nói với ai nghe chưa. Mai chắc chị em mình không còn gần nhau nữa, Thìn buồn không”. Chị quàng vai tôi thút thít, bập bệu, “ Cậu về trên đó đừng nói chi với ai về chuyện anh Điền nghe. Khi nào chị đi chợ Huyện sẽ ghé thăm cậu”. Tôi và chị vào nhà sửa soạn đồ đạc để mai cùng chị về nhà. Cả đêm đó tôi không ngủ được. Nằm trên tấm phản nghe gió xào xạc trên mái tranh. Anh Điền vẫn chưa về. Gà gáy canh ba chị Hà đã dậy nấu cơm. Ánh lửa rơm chập chờn bóng chị trên vách, lòng tôi đau thắt, nằm khóc thầm.

Chị Hà lại bới cơm vào mo cau như thường lệ, nói với O Hát: “Con đưa cậu Thìn về nghe mạ, chiều con mới về. Hôm qua con đã cắt cỏ đủ trâu ăn rồi”. Tôi chào O Hát. O xoa đầu tôi khuyên ngoan và học giỏi, xứng đáng với dòng họ nhà mình.

Chúng tôi men theo đường trâu đi hàng ngày. Những ô ruộng vừa vào nước phở sủi bọt. Mùi đất thơm vấn vương trong gió Nam lào thổi nhẹ. Chị Hà bảo, “ Ngày ni mình chơi đến xế chiều rồi chia tay”. Tôi không trả lời, tha thủi đi theo chị. Dừng ở bến sông vắng, nơi có bụi la ngà vươn ra giữa dòng, chị Hà soạn cơm ra cùng tôi ăn. Cơm còn nóng trong mo cau ăn với muối sả.

Mặt trời đỏ lựng cao dần phía lũy tre nhà O Hát. Ở đó tôi tin là O đang nhìn với theo, hướng về phía ngoại, nơi có mồ mả mười mấy đời, và gửi vào chúng tôi một niềm tin xót xa mơ hồ nào đó.

Chị Hà rủ tôi tắm. Chúng tôi ngập lặn thỏa thích. Thường ngày đi chăn trâu chị mặc áo nâu hoặc đen. Hôm nay chị lại mặc áo mỏng màu sáng. Áo quần dính sát vào da thịt. Lần đầu tôi thấy rõ hai núm cau trên ngực chị, lòng bứt rứt một cảm giác khó tả. Chị quay mặt đi, hai tay ôm ngực, giọng như lạc đi: “ Cậu Thìn sinh tháng giêng, chị tháng tư. Hai chị em mình mười hai tuổi rồi đó. Mới đó...”. Bất chợt chị Hà ôm riết tôi, hai núm cau ép vào ngực trần tôi nóng hổi. Chị thì thào: “ Khi mô hết chiến tranh cậu lại về đi chăn trâu với chị nghe”.

Chiều xế bên kia sông. Chúng tôi ngồi nhìn xuống những bóng tre in lên dòng nước trong xanh. Không ai nói chi. Chị Hà cúi đầu bứt những cọng cỏ đưa lên nhìn chăm chú, nhăn trán ưu tư, rồi nhìn về hướng mặt trời lặn chớp mắt buồn bạn, hai giọt nước mắt run rẩy lăn xuống hai gò má gầy sạm nắng . Chị không nhìn tôi, bảo: “ Chiều rồi, cậu về đi”. “Chị về trước đi”. Chúng tôi cứ nài nhau. Cuối cùng chị Hà xử: “Oăn tù tì, ai thua về trước” . Chị Hà thua. Chị nhìn sững tôi, cũng lại lần đầu tôi thấy má chị ửng hồng. Đi một đoạn chị lại ngoái nhìn lui. Bóng chị nhỏ dần, nhỏ dần thành một cánh cò lẻ loi giữa cánh đồng mông quạnh.

***

Mấy đứa bạn kháo nhau sắp có đụng trận ở làng Đông. Thằng Chinh Quắn rủ tôi đi coi đánh trận. Qua cánh đồng, làng Đông khói lửa ngút trời. Mỗi lần đụn lửa cuộn lên, sau đó là tiếng nổ lớn, thằng Chinh nhảy cẩng lên, múa tay la: “chết bây nì, chết bây nì…”, tim tôi lại thót đau, lòng ran như lửa cháy. Nhà chị Hà có cháy không. Hầm trú ẩn có chịu nỗi những quả bom không.

Cách năm cây số mà làng Đông với làng Tây là hai thế giới đối nghịch. Suốt mấy tháng tôi không nghe tin gì về gia đình O Hát.

Một năm rồi hai năm. Một sáng tháng giêng tôi gặp chị Hà. Chị quấn khăn tang đi theo chiếc xe kéo, trên đó là quan tài có phủ lá cờ vàng. Chị Hà gục vào vai tôi khóc òa lên. “ Thìn ơi, O Hát của Thìn mất rồi, Anh Thổ cũng chết rồi đây nì. Thìn về làng với chị đi, để thắp nhang cho O, để an táng cho anh Thổ, Thìn nghe. Đừng sợ ai cả, không sợ ai nữa cả. Cái tuổi chi chị mà khổ rứa, Thìn ơi là Thìn, hu hu…”. Sau một tiếng khóc là chị vổ lên vai tôi, vừa đi vừa kể lể. Tôi bước theo chị trong mưa bấc. Đến bến sông hồi mùa hè tôi và chị tắm. Trước khi đưa quan tài qua sông, hai người kéo xe lột lá cờ vàng trên quan tài dấu vào bụi la ngà.

Quan tài đưa thẳng lên huyệt. Anh Điền mang súng đứng lặng, mắt đỏ hoe nhưng không khóc. Những nhát cuốc cuối cùng vun cát thành một ụ trắng toát, trong tiếng kêu gào của mỗi mình chị Hà. Chị lại níu vai tôi ngất đi.

Chị Hà bưng di ảnh anh Thổ cùng tôi về nhà. Chị đặt lên bàn thờ bên bài vị O Dượng. Thắp nhang và cùng tôi lạy. Xong chị giục: “Về đi kẻo tối, cậu Thìn. Máu loảng hơn nước lạnh. Tôi nhớ ơn cậu suốt đời”. Tôi ôm chầm chị run rẩy: “Chị Hà ơi, răng đời chị khổ rứa…” . Tôi không biết nói gì thêm, buông chị quay đi như chạy. Tôi lủi thủi theo đường bạn. Tôi chạy trong gió bấc. Tôi bơi qua sông. Lại chạy. Vấp té xuống ruộng. Lại chạy…

Càng ngày tôi càng đi xa quê mình. Mỗi lần ngang cánh đồng, có dòng sông tôi lại nhớ thương chị Hà da diết. Chị Hà có sống nổi không trong bom đạn quê tôi.

***

Mười mấy năm sau tôi mới có dịp về quê, ngang cánh đồng xưa tìm về nhà chị Hà. Đến bên bến sông, gặp người làng Đông tôi hỏi thăm về chị. Họ bảo chị Hà lấy chồng bên làng Tây, làng ngoại của chị ấy rồi. Tội nghiệp, cả hai vợ chồng đều tật nguyền.

Tôi không kịp hỏi thêm, nhắm hướng làng Tây mà chạy. Chị Hà ngồi ru con bằng một tay, tay còn lại cụt tới nách. Chị nhìn sửng tôi rồi khóc òa: “Cậu Thìn còn sống đó à. Tưởng cậu đi luôn không thèm về quê. Cháu cậu đây nì, kêu bằng cậu hay ông trẻ cũng được”. Đôi mắt đẩm nước của chị ngời hạnh phúc khi nựng thằng con trai kháu khỉnh của mình. Tôi hỏi tới: “Răng kêu cậu và ông”. Sau khi rót nước mời , chị bình thản: “ Cậu không vui à. Ngồi xuống đây tôi sẽ kể cậu nghe: Chồng tôi là cháu gọi cậu bằng chú họ. Anh ấy đi lính Cọng Hòa cùng lứa cậu. Số phận khắc nghiệt thiệt. Đến ngày cuối cùng của cuộc chiến anh ấy lại bị thương, cụt cả hai chân. Mà cũng may, rứa mới gặp tôi. Còn tôi từ ngày nhà cửa cháy hết anh Điền đem tôi theo lên rừng. Năm sáu chín anh Điền cũng mất sau một trận sốt rét rừng. Tôi lại vào bộ đội rồi bị thương mùa hè năm 1972. Về làng tôi đi học sư phạm mẫu giáo. Năm nào tôi cũng về ngoại chạp mả. Bà con bên ngoại cứ cặp đôi tôi với “anh thương binh Ngụy”, anh Chinh, chồng tôi hiện chừ đó. Ban đầu tổ chức cũng can ngăn, sau vì chúng tôi quyết tâm nên họ cũng chịu. Vậy là chúng tôi làm đám cưới. Vui nhất là ngày thương binh liệt sĩ nào tôi cũng đẩy xe chồng tôi theo, vì sợ anh ấy buồn. Phái đoàn nào tặng quà anh ấy cũng có một phần. Ai cũng tưởng vợ chồng tôi là đồng đội. Ông bà linh lắm, cột hai đứa lại với nhau”.

Thằng Chinh tóc quắn, tôi nhớ ra rồi, thằng Chinh tóc quắn, cháu họ tôi.

Chị cùng tôi ra sân, dưới am thờ, chiếc cối đá sứt tai được đặt lên cái bệ ốp gạch trang trọng. Chị thắp nhang vái rồi quay sang tôi: “Tại cậu về muộn. Số phận ông bà sắp đặt rồi. Chiếc cối sứt tai lại trở về với họ ngoại.Từ nay tôi sẽ gọi cậu bằng chú, Chú Thìn”.

READ MORE - NGUYỄN ĐẶNG MỪNG - CHỊ VỀ BÊN NGOẠI

Thursday, September 30, 2010

TỤC ĐI SIM CỦA THANH NIÊN VÂN KIỀU : TỪ NGHIÊN CỨU TRONG NHÀ TRƯỜNG ĐẾN THỰC TẾ XÃ HỘI


Thứ 2 từ phải sang: Vì không “giữ mình” trong đêm tình đi Sim, Hồ Thị Nôi đã phải làm mẹ lúc mới 15 tuổi . ( Ảnh từ Việt Báo)

BÀI VIẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỒNG BÀO VÂN KIỀU
TÀ OÁI: MỘT LÀN ĐIỆU DÂN CA CỦA ĐỒNG BÀO VÂN KIỀU
OAT-SA NỚT:MỘT LÀN ĐIỆU DÂN CA CỦA ĐỒNG BÀO VÂN KIỀU
NHẠC CỤ "SÁO KHUI"
BẢN KLU NỔI CỒNG CHIÊNG">


Tuyển tập Báo cáo “Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học” lần thứ 6
Đại học Đà Nẵng - 2008
TÌM HIỂU TỤC ĐI SIM CỦA THANH NIÊN DÂN TỘC VÂN KIỀU Ở MIỀN NÚI TỈNH QUẢNG TRỊ
GVHD : ThS LƯƠNG VĨNH AN
Khoa Ngữ văn, Trường ĐHSP Đà Nẵng
SVTH : DƯƠNG THỊ THU TRANG
Lớp : 04CVH1, Khoa Ngữ văn, Trường ĐHSP Đà Nẵng

TÓM TẮT
Mùa xuân là khoảng thời gian lãng mạn của thanh niên nam nữ người dân tộc Vân Kiều. Đi Sim là một phong tục truyền thống, là cách đi tìm người yêu của con trai con gái Vân Kiều ở miền núi tỉnh Quảng Trị. Thanh niên Vân Kiều khi đến tuổi dựng vợ, gả chồng, họ được phép đến ngủ ở những ngôi nhà Xu. Trong những buổi đi Sim ấy, họ trao cho nhau những câu hát giao duyên đầy tình cảm lãng mạn. Họ có thể ngủ lại ở những ngôi nhà rẫy trong rừng. Khi đã phải lòng nhau, chàng trai sẽ tặng cho bạn gái mình một chiếc vòng bạc để thay lời yêu thương. Tuy nhiên, luật tục người Vân Kiều cũng qui định, khi chưa thành vợ chồng, nếu có quan hệ tình dục thì sẽ bị phạt và trục xuất ra khỏi cộng đồng. Đi Sim đã trở thành một nét thuần phong mỹ tục của người Vân Kiều ở Quảng Trị từ bao đời nay. Chúng tôi mong rằng, những nhà quản lý có trách nhiệm xây dựng nên những ngôi nhà Xu cho các bạn trẻ Vân Kiều, để những đêm Sim của họ ngày càng tao nhã, lành mạnh hơn.

MỞ ĐẦU
Đi Sim là một nét văn hóa lãng mạn của nam nữ thanh niên người Bru – Vân Kiều nói chung và người Vân Kiều ở Quảng Trị nói riêng. Đó cũng chính là truyền thống đáng tự hào của họ. Đi Sim là cách đi tìm người yêu của con trai, con gái dân tộc Vân Kiều từ bao đời nay.
Cái gì có thể mất đi nhưng tình yêu của con trai, con gái Vân Kiều thì xanh mãi như rừng Trường Sơn và chảy mãi như sông Đakrông. Những đêm Sim lãng mạn trong cảnh núi sông trữ tình là nền tảng đầu tiên cho hạnh phúc lứa đôi của người Vân Kiều. Nếp sống hiện đại kèm theo những luồng văn hoá không lành mạnh đang dần xâm nhập vào đời sống sinh hoạt của người Vân Kiều. Tục đi Sim với những giá trị truyền thống tốt đẹp đang đối diện với nguy cơ có thể mai một.

Tìm hiểu về tục lệ đi Sim của thanh niên Vân Kiều ở vùng núi Quảng Trị, chúng tôi muốn tìm về những giá trị tốt đẹp của truyền thống văn hoá này, đồng thời thấy được những nét đặc sắc trong tục đi Sim. Qua đó, mong muốn tất cả nam nữ thanh niên Vân Kiều biết trân trọng, gìn giữ và phát huy giá trị truyền thống, đừng để hoen ố, mai một đi những nét văn hoá độc đáo, những giá trị đã làm nên bản sắc của dân tộc mình.

NỘI DUNG
Chương một : QUAN NIỆM VỀ TÌNH YÊU VÀ HÔN NHÂN CỦA NGƯỜI VÂN
KIỀU Ở QUẢNG TRỊ

1.1 Đôi nét về người Bru – Vân Kiều
Người Bru – Vân Kiều được xem là dân tộc cư trú lâu đời ở Trường Sơn. Xưa kia người Vân Kiều đã từng sinh tụ ở miền Trung Lào, sau do những biến động lịch sử họ phải di cư đi các nơi, một bộ phận đi theo hướng tây bắc sang Thái Lan, một bộ phận đi về hướng
đông tụ cư ở tây Quảng Trị, họ dựng làng ở xung quanh hòn núi Viên Kiều, về sau gọi là người Vân Kiều. Dần dần với tục lệ du canh du cư, họ di chuyển dần về miền núi hai tỉnh lân cận là Quảng Bình và Thừa Thiên Huế[10.77]. Hiện nay tổng số dân của đồng bào Bru – Vân Kiều khoảng 40.132 người. Có người cho Bru là tên tự gọi của dân tộc này. Tên gọi khác là Bru, Vân Kiều. Với các nhóm địa phương bao gồm Vân Kiều, Trì, Khùa, Ma Coong[4.21].
Trải qua bao thăng trầm của lịch sử người Vân Kiều đã sáng tạo nên những nét văn hoá riêng trong đời sống vật chất cũng như tinh thần của mình, đó chính là những cái làm nên bản sắc độc đáo của tộc ngư ời này. Những nét văn hoá đó thể hiện qua đời sống tâm linh, các nghi lễ thờ cúng, những luật tục truyền thống và các mùa lễ hội. Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và các cấp chính quyền, đến nay, người Vân Kiều nơi nơi đã không còn tập tục du canh, du cư mà dần đi vào ổn định, an c lạc nghiệp, ai cũng có cơm ăn, áo mặc trẻ em được cắp sách đến trường, sức khoẻ của đồng bào được chăm sóc đảm bảo, thông tin đại chúng đều được cập nhật mỗi ngày.

1.2 Người Vân Kiều ở Quảng Trị
Ở miền núi phía Tây Quảng Trị hiện nay có khoảng 26048 người dân tộc Vân Kiều sinh sống tập trung chủ yếu ở hai huyện miền núi Hướng Hoá và Đakrông với diện tích khoảng 2123,32 km2 , ngoài ra còn sống rải rác ở vùng núi một số huyện như Vĩnh Linh, Cam Lộ[10.77]. Người dân tộc Vân Kiều ở miền tây Quảng Trị bao đời nay vẫn tự hào vì đã lưu giữ được những giá trị văn hoá truyền thống quý báu của dân tộc mình. Bên cạnh niềm tự hào cách mạng, họ có cả một gia tài văn hoá cũng đáng trân trọng. Những phong tục, nếp sống được truyền từ đời này qua đời khác, dù chịu ảnh hưởng của nền văn hoá hiện đại tiếp thu từ người Kinh nhưng họ cũng biết chọn lọc, và không quên gìn giữ những nét làm nên bản sắc của dân tộc mình.

1.3 Những quan niệm truyền thống về tình yêu và hôn nhân của người Vân Kiều ở Quảng Trị
Người Vân Kiều ở Quảng Trị quan niệm, tình yêu và hôn nhân là bước đánh dấu sự trưởng thành thực sự của mỗi con người, là khi con người đã tự ý thức và quyết định cuộc đời mình. Nam nữ trước khi tính đến chuyện hôn nhân phải trải qua quãng thời gian tìm hiểu, trong quá trình tìm hiểu có giai đoạn rất quan trọng chính là đi Sim. Sau khi hai bên đã thấy tâm đầu ý hợp sẽ về báo với cha mẹ. Sau khi hai bên gia đình thống nhất, đám cưới sẽ được tiến hành theo nghi thức truyền thống. Sau lễ cưới, đôi vợ chồng còn phải làm lễ cưới lần thứ 2 khi có điều kiện về kinh tế, gọi là lễ Khơi, để người vợ chính thức được coi là thành viên dòng họ nhà chồng. Hiện tại, gia đình một vợ, một chồng ngày nay của người Vân Kiều phần lớn đã được xây dựng trên sự cảm thông và tình yêu của đôi nam nữ. Tình yêu và hôn nhân của người Vân Kiều ở Quảng Trị hết sức đặc biệt, tuy nhiên nó cũng rất hiện đại, phù hợp với xu thế phát triển của đời sống tiên tiến

Chương hai :ĐI SIM – MỘT PHONG TỤC MANG BẢN SẮC VĂN HOÁ
TRUYỀN THỐNG CỦA NAM NỮ THANH NIÊN VÂN KIỀU Ở QUẢNG TRỊ

2.1 Đi Sim - một phong tục truyền thống trong đời sống văn hoá của người Vân Kiều
Hoà chung với những nét đẹp văn hoá của những dân tộc trên đất nước ta, thanh niên nam nữ Vân Kiều ở miền núi tỉnh Quảng Trị với tục đi Sim đã làm nên nét bản sắc đặc biệt cho dân tộc mình. Con trai, con gái Vân Kiều khi đến tuổi trưởng thành họ tìm đến bên nhau để bày tỏ tình yêu. Việc tìm hiểu và bày tỏ tình yêu nam nữ theo tiếng gọi của dân tộc Vân Kiều là đi Sim. Đi Sim là một tập tục có từ lâu đời, là nét đẹp văn hoá, là khát vọng tự do yêu đương của nam nữ thanh niên dân tộc Vân Kiều miền núi Quảng Trị.

2.2 Diễn biến mùa đi Sim
2.2.1 Mùa trăng – thời điểm lý tưởng cho những buổi đi Sim
Tục đi Sim thường diễn ra vào các mùa trăng, nhất là những đêm trăng sáng. Vì thế
mùa trăng được xem là thời điểm lý tưởng nhất cho những buổi đi Sim, là thời điểm mà những chàng trai, cô gái Vân Kiều luôn trông ngóng, đợi chờ. Hết mùa trăng này đến mùa trăng khác, nam nữ thanh niên Vân Kiều ở Quảng Trị vẫn giữ lấy tục đi Sim. Họ cảm thấy điều đó như một lẽ tự nhiên không thể thiếu trong đời sống văn hoá tinh thần của mình. Trải qua bao biến động đổi thay của lịch sử, các thế hệ người Vân Kiều nơi đây vẫn luôn trân trọng gìn giữ nét đẹp truyền thống này.

2.2.2 Núi rừng, sông suối – không gian tình yêu của những đêm Sim
Các đôi trai gái Vân Kiều thường hẹn hò với nhau bên những bờ sông con suối, hay ở những ngôi nhà Xu giữa cảnh núi rừng thiên nhiên thơ mộng, để rồi nên vợ nên chồng. Núi rừng, sông suối chính là những người bạn đồng hành thân thiết với những đêm tình yêu của con trai, con gái Vân Kiều. Núi rừng, sông suối bản làng người Vân Kiều từ bao đời nay đã làm chứng cho biết bao mối nhân duyên như thế. Từ thế hệ này sang thế hệ khác núi rừng, sông suối vẫn là người bạn đồng hành thuỷ chung với người Vân Kiều trong cuộc sống nói chung và trên con đường đi tìm tình yêu, hạnh phúc nói riêng.

2.3 Hát giao duyên - khát vọng tự do yêu đương của nam nữ thanh niên người Vân Kiều

2.3.1 Nét đẹp của hát giao duyên
Đã bao đời nay, đồng bào Vân Kiều miền núi Quảng Trị vẫn lưu truyền một loại hát đối – một nét đẹp trong văn hoá ứng xử đầy chất thơ trữ tình, đằm thắm đã và đang tôn vinh vẻ đẹp văn hóa truyền thống, đặc sắc của dân tộc mình. Đó là làn điệu hát giao duyên dành cho thanh niên nam nữ đến tuổi trưởng thành, họ hát với nhau trong những lần hò hẹn – đi Sim. Cứ mỗi độ xuân về, những đôi trai làng, gái bản áo quần rực rỡ, sau khi đi thăm người thân, bạn bè chiều lại kéo nhau ra bờ sông, bờ suối để hát đối. Đấy là cơ hội để trai làng gái bản có dịp gặp nhau trao đổi tâm tình, ngỏ lời yêu thương.

2.3.2 Những làn điệu dân ca trong hát giao duyên
Người Vân Kiều có rất nhiều điệu hát dân ca, nhưng những làn điệu dân ca được dùng để hát giao duyên trong những buổi đi sim thì có ba loại chính đó là : Cha chấp, Oát, Xanớt. Cha chấp là loại hình đối đáp dành cho thanh niên nam nữ trong những buổi đầu hò hẹn. Với nhạc điệu ấm áp và ca từ trữ tình họ hát không phải để thử tài mà chỉ để bày tỏ nỗi lòng, thông tin cho nhau thân phận, hoàn cảnh và cảm nhận của mình về đối tượng. Bước qua giai đoạn đầu bỡ ngỡ còn nhiều nghi ngại, họ dần trở nên thân thuộc. Làn điệu Oát giúp những đôi bạn trẻ xích lại gần nhau hơn. Tình yêu của họ lớn dần lên qua những lời ca, điệu hát. Những câu hát Oát như trở thành người mai mối dẫn dắt họ mạnh dạn tìm đến bên nhau. Xà Nớt là làn điệu dân ca để bày tỏ mong ước kết đôi của hai người yêu nhau. Đó là khi họ tự thấy được niềm khát khao yêu đương của lòng mình, là khi họ thấy không thể thiếu được người mình yêu dấu trong đời.

2.3.3 Những nhạc cụ truyền thống tiêu biểu đi kèm với các làn điệu dân ca
Kèn Amam đi kèm với làn điệu Cha chấp. Trong những lần đi Sim và hát giao duyên, con gái là người giữ kèn Amam. Đây là loại kèn phải có hai người thổi và hát lên làn điệu Cha chấp để trao đổi tình cảm, giọng kèn trầm và âm vang. Còn làn điệu Oát thì phải đi kèm với kèn Tariền. Loại kèn này được làm bằng ống trúc, có dùi năm lỗ tạo ra sau thanh âm trầm bổng. Kèn Tariền dành cho các chàng trai thổi ở các nhà Xu để thổ lộ tâm tình với bạn gái.
Các chàng trai vừa thổi vừa hát Oát để nói lên nỗi lòng thầm kín với người mình yêu. Âm thanh của tiếng kèn Tariền vì thế mà tha thiết, rạo rực. Tiếng kèn Khui thì vang lên cùng với làn điệu Xà nớt. Kèn Khui là loại kèn thổi dọc có lưỡi gà làm bằng nứa rung tự nhiên. Về cấu tạo, nó là 1 ống nứa dài 30 cm, đường kính 0,5 cm. Điểm đặc biệt là cả hai người cùng thổi 1 ống. Khi hai người cùng thổi Khui và hát Xà nớt tức là họ đã trở thành một đôi tâm đầu ý hợp.

2.4 Những luật tục đi sim

2.4.1 Những luật tục được phép
Con trai con gái Vân Kiều đến tuổi trưởng thành, có thể đi Sim để tìm bạn đời, con trai Vân Kiều được phép qua nhà con gái chơi bất cứ lúc nào dù nửa đêm khuya khoắt mà không sợ làm phiền bố, mẹ cô gái. Khi đã phải lòng nhau, nếu không ngủ ở nhà xu thì đôi trai gái có thể rủ nhau ra rừng ngủ. Cô gái mang theo 1 cái chăn, 1 cái gối, bẻ lá khô lót làm chiếu. Đến sáng người con gái phải dậy sớm để về đâm lúa, múc nước, bẻ bắp cho gia đình.Tục lệ của người Vân Kiều còn cho phép nếu chàng trai đã phải lòng với cô gái nào thì khi màn đêm buông xuống họ tìm đến nơi cô gái nằm, rẽ vách bật tín hiệu. Đồng ý, cô gái sẽ mở cửa cho vào rồi họ lại dắt nhau ra rừng, ra chòi canh rẫy để tìm hiểu nhau.

2.4.2 Những điều tối kỵ
Khi đi Sim, luật lệ đầu tiên mà đám thanh niên phải học là không được ép buộc con gái yêu mình, không được tranh người yêu và phải nhường cho người đến trước.Theo tục lệ của người Vân Kiều đôi trai, gái vào rừng ngủ không được đem chiếu, không được bẻ lá tươi lót làm chiếu.Nam nữ trước khi tính đến chuyện hôn nhân phải trải qua quãng thời gian tìm hiểu, khi tình cảm và sự chọn lựa đã chín muồi, phải được sự mai mối của ông bà mối, được sự đồng ý của hai gia đình, hai dòng họ trước. Trong luật tục cũng như quan niệm của đồng bào Vân Kiều, khi chưa là vợ chồng của nhau thì tuyệt đối không được quan hệ tình dục với nhau, nếu vi phạm sẽ bị trừng phạt.

2.5 Giữ gìn và phát huy những nét đẹp truyền thống của tục lệ đi sim của người Vân Kiều ở Quảng Trị
Người Vân Kiều ở Quảng trị từ bao đời nay vẫn luôn tự hào và yêu quý những truyền thống cha ông để lại. Con trai con gái Vân Kiều luôn tự tin vào tình yêu mà mình tìm được sau những lần họ hẹn của những đêm Sim. Tục lệ đi Sim vì thế mà có một chỗ đứng vững chắc trong lòng bạn trẻ Vân Kiều. Đó là nét đẹp văn hoá, là nét thuần phong mỹ tục đáng được gìn giữ phát huy.

KẾT LUẬN
Đi Sim - một nét sinh hoạt đặc sắc đã trở thành biểu tượng văn hoá của người Vân Kiều nói chung. Con trai, con gái trưởng thành đều mong đợi những đêm Sim trữ tình, lãng mạn. Họ sẽ tìm đến bên nhau, trao cho nhau những lời tỏ tình bằng những câu hát dân ca Oát, Cha chấp, Xà nớt thấm đẫm chất thơ và chân thành, nồng ấm. Tình yêu của họ đẹp như đoá hoa rừng, hứa hẹn một mùa hạnh phúc. Đi Sim là một hoạt động văn hoá mang tình truyền thống, nó nhắc nhở người Vân Kiều hướng về nguồn cội, trân trọng gìn giữ những thành quả sáng tạo của cha ông. Những buổi đi Sim chính là những buổi giao lưu thân mật tạo nên sự gắn kết cộng đồng người dân tộc Vân Kiều ở các bản với nhau, tăng thêm tình thân, tình đoàn kết. Hôn nhân giữa con trai, con gái các bản với nhau là nhịp cầu để tất cả bà con trong cộng đồng xích lại gần nhau hơn.Tục lệ đi Sim vì thế mà trở thành một nét đẹp văn hoá không thể thiếu trong đời sống đời sống tinh thần của người Vân Kiều. Chúng tôi tin rằng, dù cuộc sống có đổi thay thế nào thì nét văn hoá này vẫn mãi tồn tại, mỗi người Vân Kiều đều ý thức được giá trị truyền thống của nó để trân trọng, gìn giữ và tự hào.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Nguyễn Trọng Báu (2007), Truyện kể về phong tục, truyền thống văn hoá các dân tộc
Việt Nam, Tập 1. Nxb Giáo dục.
[2] Mạc Đường (1964), Các dân tộc miền núi Bắc Trung Bộ, Nxb Khoa học, Hà Nội.
[3] Nguyễn Văn Huy (1997), Bức tranh văn hoá các dân tộc Việt Nam, Nxb Giáo dục.
[4] Lê Văn Hoan (1996), “Tìm hiểu đời sống kinh tế - xã hội ở một xã miền núi Quảng Trị”,
Tạp chí Cửa Việt, số 19, tr 76 – 79.
[5] Nguyễn Hữu Quý (2004) “Tập tục hát sim – khát vọng tự do yêu đương của dân tộc Bru –
Vân Kiều”, Tạp chí Cửa Việt số 119, tr 66 –71

NHỮNG BÀI LIÊN QUAN:
BI KỊCH SAU NHỮNG ĐÊM ĐI SIM
Ân hận, xót xa rồi oán trách người tình phụ bạc, đó chính là tâm trạng chung của những phụ nữ trẻ người dân tộc Vân Kiều, Pa Cô ở miền tây Quảng Trị khi đã trót dại đánh mất “cái ngàn vàng” trong những phút giây nông nổi tại đêm tình đi Sim.
Không chỉ có vậy, sau lần quan hệ trước hôn nhân, nhiều cô gái đã phải làm mẹ khi tuổi đời còn quá trẻ, hậu quả của nó là những đứa bé suốt đời không biết mặt cha.

Đi Sim và những cuộc tình chóng vánh
Đối với người dân tộc Vân Kiều, Pa Cô sinh sống ở miền tây Quảng Trị, “đi Sim” là một phong tục nhằm thể hiện khát vọng được tự do yêu đương, được tự do lựa chọn người bạn đời của mình. Khi trai gái đến tuổi trưởng thành, vào những đêm trăng hay đêm lễ hội, họ thường rủ nhau đến ngủ tại nhà Sim (nhà chung của cộng đồng) để tìm hiểu, tâm sự và hát đối đáp giao duyên qua điệu Xà Nớt, điệu Tà Oải, điệu Xoang...

Sau quá trình tìm hiểu nếu cả hai “ưng cái bụng”, người con trai sẽ trao cho người bạn gái mình yêu thương một chiếc vòng bạc làm kỷ vật rồi về báo gia đình chọn ngày lành, tháng tốt, mang lễ vật đến nhà gái đặt vấn đề cưới hỏi. Tục “đi Sim” cũng quy định nghiêm ngặt, hai người tuyệt đối không được quan hệ vợ chồng trước hôn nhân, nếu ai vi phạm sẽ bị già làng phạt nặng, trục xuất ra khỏi cộng đồng.

Nhưng đó chỉ là nét truyền thống của tục đi Sim ngày xưa, còn ngày nay phần nhiều đã bị biến tướng theo hướng buông thả. Tục đi Sim thời hiện đại như một cơn lốc đen làm thay đổi và băng hoại nhiều giá trị truyền thống tốt đẹp của người Vân Kiều, Pa Cô nơi đây.

Chúng tôi có mặt tại một đêm tình đi Sim ở miền sơn cước Trường Sơn. Trời bắt đầu chập choạng tối, trên tuyến đường Hồ Chí Minh, đoạn qua trung tâm xã Tà Rụt, H. Đăkrông, khoảng hơn 10 thanh niên mới lớn ăn mặc bảnh bao chúi đầu vào nhau tán gẫu những câu chuyện phiếm rồi cười nói ra rả.

Chỉ lát sau, từ trong các căn nhà sàn, nhiều cô thiếu nữ với chiếc váy truyền thống bước ra. Họ nhanh chóng làm quen, đùa giỡn với nhau vài câu nói rồi cùng bá vai, bá cổ đi vào trong các quán cà-phê, quán nhậu bên vệ đường để tiếp tục trò chuyện. Đến lúc về khuya, khi sân chơi đã thưa dần, những đôi trai gái có ý đi Sim sẽ ngồi lại với nhau và sau đó đưa nhau ra các nơi vắng vẻ như bìa rừng, con suối hay căn lều trên nương rẫy để tìm hiểu và “tâm sự”.

Nếu ban ngày “thích con mắt, yêu giọng khèn” thì đêm đến, sau cuộc chơi tập thể là họ tự tách ra từng cặp và mang theo chiếu, cầm theo chăn vào những chốn hoang vắng tình tự. Và trong phút yếu lòng những cô gái đã đánh mất mình, bi kịch cũng bắt đầu nảy sinh từ đấy.

Lời ru buồn sau núi
Cơn mưa chiều từ đại ngàn đổ về càng làm cho Tà Rụt thêm buồn thảm và heo hút. Từ phía bên kia vách núi, trong căn nhà sàn bạc màu thời gian, tiếng người mẹ trẻ ru con não nề. Thấy chúng tôi lên thăm, chị Hồ Thị Brá (28 tuổi, ở thôn Rà Tụt 2, xã Tà Rụt, H. Đăkrông) vội vàng bỏ rổ sắn đang tách dở vỏ trên tay lại để mời khách vào nhà. Chị Hồ Thị Brá trầm ngâm kể về cuộc đời dâu bể của mình.

Trước đây, cũng như bao cô gái khác ở thôn, lúc đến tuổi xuân thì, vì niềm khao khát có một người bạn tình lý tưởng, Hồ Thị Brá đã nhận lời mời đi Sim cùng trai làng ở bản bên cạnh. Hằng đêm, khi cuộc chơi với số đông bè bạn ở quán cà-phê thưa dần, chị lại cầm theo chăn, chiếu ra bìa rừng, khe suối hay lên nương rẫy để đi Sim cùng bạn trai.

Nhưng sau cuộc tình say đắm chớp nhoáng, khi biết chị đã mang trong người giọt máu của mình, người đàn ông phụ bạc kia không cưới chị làm vợ mà còn chửi bới và sỉ nhục chị một cách thậm tệ. Nuốt nước mắt vào trong, đã 2 năm nay, Hồ Thị Brá đành chấp nhận ở vậy nuôi con trong sự tủi nhục và xấu hổ.

Chia tay Hồ Thị Brá, chúng tôi tìm đến nhà Hồ Thị Nôi (15 tuổi, thôn Ka Hẹp, xã Tà Rụt). Nhìn người đàn bà non trẻ, ngồi ủ rũ ru con phía góc nhà chúng tôi không khỏi chạnh lòng. Khi người bạn của tôi hỏi về những câu chuyện riêng tư thuộc về quá khứ, như chạm vào nỗi đau, nước mắt Nôi ứá ra rồi kể trong tiếng nấc: Cách đây một năm, Hồ Thị Nôi là thiếu nữ đẹp nhất thôn Ka Hẹp này. Nhưng vì mê mẩn tiếng đàn A Ben của một chàng trai làng bên cạnh nên đã nhận lời đi Sim rồi trao thân cho hắn. Nôi nghẹn ngào: “Tưởng hắn yêu miềng (mình) thật lòng nên miềng đã đi Sim bao đêm lên rẫy cùng hắn. Thế mà khi biết mình mang bầu là hắn bỏ đi khỏi bản biệt tăm...”.

Không chỉ riêng trường hợp của chị Hồ Thị Brá và Hồ Thị Nôi mà nhiều phụ nữ khác thuộc H. Đăkrông sau những cuộc tình đi Sim chớp nhoáng rồi để lại hậu quả khôn lường. Nhiều cô gái phải mang thai rồi nuôi con ở lứa tuổi 15, 16 đồng nghĩa với điều đó là có vô số đứa trẻ được sinh ra mà không biết đến mặt cha.

Trao đổi với chúng tôi, bà Hồ Thị Cam, Chủ tịch Hội Phụ nữ H.Đăkrông cho biết: “Những năm gần đây, do ảnh hưởng của những luồng văn hóa xấu từ bên ngoài vào nên tục đi Sim của người Vân Kiều, Pa Cô đã biến tướng nhiều. Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm phát sinh nạn tảo hôn, sinh con trước tuổi, ly hôn và nghèo đói. Vì vậy, sắp tới ngoài những biện pháp tuyên truyền, nâng cao ý thức cho người dân, chúng tôi sẽ vận dụng linh hoạt, kết hợp nhiều biện pháp cứng rắn hơn để dần xóa bỏ thực trạng đau lòng này”.
Việt Báo (Theo CAND)

NỖI BUỒN ĐI SIM THỜI HIỆN ĐẠI
Theo Dân trí - 20/01/2010
(Dân trí) - Con gái, con trai người dân tộc Vân Kiều, Pa Cô cứ đến tuổi trưởng thành là háo hức rủ nhau “đi sim” để tìm vợ, tìm chồng. Có cặp sống hạnh phúc nhưng cũng không ít những đứa trẻ ra đời mà không biết mặt cha.

“Đi sim” là một tập tục có từ lâu đời, là nét đẹp văn hoá, thể hiện khát vọng tự do yêu đương của nam nữ thanh niên dân tộc Pa Cô, Vân Kiều (Quảng Trị).

Xưa, trai gái cứ tầm 12, 13 tuổi là bắt đầu “đi sim”, chủ yếu là vào các dịp lễ hội. Những buổi “đi sim” là lúc trai gái được phép đến ngủ ở những ngôi nhà Xu (nhà chung của cộng đồng) hoặc những ngôi nhà rẫy trong rừng; cùng trao nhau những câu hát giao duyên.

Nếu hai người phải lòng nhau, người con trai sẽ trao cho người con gái một chiếc vòng bạc thay cho lời yêu thương rồi về báo cho gia đình mang lễ vật đến nhà gái đặt vấn đề cưới hỏi. Tục “đi sim” cũng quy định hai người không được quan hệ trước hôn nhân, nếu vi phạm sẽ bị trục xuất ra khỏi cộng đồng.

Ấy là nét đẹp của tục “đi sim” xưa. Còn nay, trai gái Vân Kiều, Pa Cô “đi sim” trong các quán cà phê, quán nhậu, thậm chí ngay bên vệ đường. Đám con trai mặc quần ống loe, áo chẽn “chim cò” bó sát; có người xăm trổ, có người nhuộm tóc vàng hoe xịt keo, vuốt thành từng chóp nhọn dựng đứng trên đầu; lại có cậu phóng xe tới lui tìm “đối tác”.

Dần về đêm, “sân chơi” thưa dần, các đôi nam nữ tản đi tình tự. Và sau những cuộc tình chớp nhoáng ấy, nhiều đứa trẻ không cha ra đời…

Căn nhà của Hồ Thị A Rá nằm lọt thỏm giữa mấy nóc nhà sàn của bản Ka Hẹp (xã Tà Rụt, Đakrông) được bao quanh tứ bề là đồi núi. A Rá có con mà không có chồng, kể: “Hồi mới quen, hắn hứa với miềng (mình - PV) nhiều thứ lắm. Miềng tin hắn nên chừ mới khổ. Đêm mô hắn cùng đến rủ miềng đi uống cà phê, uống rượu rồi ra đồi ngồi tâm sự đến gần sáng. Đến khi miếng có thai, hắn không chịu cưới miềng”.

Cố gắng hỏi về cha đứa bé, A Rá lắc đầu quầy quậy, một mực nói không muốn nhắc đến nữa. Con A Rá giờ đã hơn một tuổi, lớn lên với mẹ cùng ngô, sắn.

Vừa tròn ba tuổi thì mẹ mất do lên cơn động kinh trong lúc đang giặt dưới suối, cháu Hồ Xuân Thao ở bản Tà Rụt 2, xã Tà Rụt, Đkrông, được gì ruột là chị Hồ Thị Nhung mang về nuôi dưỡng. Chị Nhung buồn bã kể, chị gái chị bị động kinh từ nhỏ, cách đây 3 năm bỗng mang thai và sinh bé Thao. Hỏi cha đứa trẻ là ai thì chị lúc nhớ lúc quên. Giờ mẹ cháu mất, chị Nhung mang về nuôi dưỡng nhưng vợ chồng chị cũng nghèo, không biết tương lai cháu ra sao.
Ở xã Thuận (huyện Hướng Hoá, Quảng Trị) có Hồ Ing và Hồ Thị Krai lấy nhau vừa được sáu tháng, khi cả hai đều ở tuổi 16. Đám cưới được tổ chức vội vã vì cái thai trong bụng Krai đã quá lớn, kết quả của những buổi “đi sim”. Cách đây mấy ngày, Krai khóc mếu ôm đứa con đỏ hỏn về nhà bố mẹ đẻ.

Chuyện của vợ chồng Krai không phải chuyện hiếm bởi những cặp vợ chồng trẻ con có quá nhiều lý do để tan vỡ. Hậu quả là lại thêm một đứa trẻ không cha.

Tỉ lệ phụ nữ Pa Cô, Vân Kiều có thai trước hôn nhân những năm gần đây ngày một tăng. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là biến tướng có phần “quá trớn” của tục “đi sim” thời hiện đại.
NGUYỄN HƯƠNG

“ĐI SIM” VÀO QUÁN
Báo Phụ Nữ online
PN - Không còn những “đêm sim” dưới ánh trăng vàng bên bờ suối vắng hay bên rẫy vào mùa lễ hội Puh Boh (giữa rẫy), ngày nay những thanh niên Vân Kiều, Pa Cô (Quảng Trị) có cách “đi sim” hiện đại hơn: vào quán cà phê, quán nhậu. Hậu quả của những cuộc tình chớp nhoáng ấy là nhiều đứa trẻ ra đời không hề biết đến mặt người cha.

Không còn những “đêm sim” dưới ánh trăng vàng, bên bờ suối vắng hay trên rẫy vào mùa lễ hội Puh Boh (giữa rẫy) để “Muốn có em về dệt cửi ở chân cầu thang/Muốn có em như cái chân khung cửi/Muốn có em mặc váy bên bếp lửa ở sàn”, giờ thanh niên đồng bào dân tộc Vân Kiều, Pa Cô có cách “đi sim” hiện đại hơn. Yêu nhau, họ rủ nhau vào các quán cà phê, quán nhậu đang mọc lên như nấm ở huyện Đakrông, Quảng Trị). Sau những cuộc tình “chớp nhoáng” ấy, nhiều đứa trẻ ra đời mà suốt đời không hề biết mặt người cha.

Những đứa trẻ bị bỏ rơi
Căn nhà sàn nhỏ bé, xiêu vẹo của Hồ Thị A Rá nằm lọt thỏm giữa mấy nóc nhà sàn của bản Ka Hẹp (xã Tà Rụt, Đakrông, Quảng Trị), bao quanh tứ bề là đồi núi. Thấy tôi đến, A Rá buông mấy chiếc váy, áo sờn rách đang giặt, mời tôi lên nhà nói chuyện. “Hồi mới quen, hắn hứa với miềng (mình - NV) nhiều thứ lắm. Miềng tin hắn nên chừ mới khổ như ri. Hắn nói nếu miềng yêu hắn thì hắn sẽ cưới miềng. Đêm mô hắn cùng đến rủ miềng đi uống cà phê, uống rượu rồi ra đồi ngồi tâm sự đến gần sáng mới về nhà. Đến khi miềng có thai, hắn không chịu cưới. Hắn bạc tình lắm... Miềng không muốn nhắc đến hắn làm chi nữa”. Chị trả lời tôi về lai lịch cha đứa bé bằng những cái lắc đầu quầy quậy. “Con miềng tên là Hồ Thị Xuân. Khi biết miềng có thai, cha mẹ miềng buồn lắm. Miềng thương cha mẹ phải chịu tiếng, mang lời với dân bản nên xin cha mẹ cho dựng nhà để ở riêng. Chừ cực khổ mấy miềng cũng phải cố gắng nuôi con khôn lớn chứ biết làm răng” - giọng A Rá buồn như mưa trên lá.


Ba tuổi thì mẹ mất do lên cơn động kinh trong lúc đang giặt đồ giữa suối, cháu Hồ Xuân Thao - con của chị Hồ Thị Ơi ở bản Tà Rụt 2 (xã Tà Rụt huyện Đakrông) được dì là chị Hồ Thị Nhung (em ruột chị Ơi) mang về nuôi. Chị Nhung cho biết: “Chị miềng từ nhỏ đã bị bệnh động kinh. Cách đây ba năm, chị miềng mang thai rồi sinh bé Thao. Khi biết chị miềng mang thai, cả nhà miềng cứ gặng hỏi mãi mà chị không nói chi hết. Khi chị sinh, miềng phải đỡ đẻ cho chị. Hai vợ chồng miềng cũng nghèo khổ nên không biết sau này có nuôi nổi cháu không. Chừ gia đình miềng có sắn, khoai thì cho cháu ăn sắn, khoai qua bữa. Từ ngày chị miềng mất, miềng cứ trông ngóng cha của bé Thao có lúc nào đó động lòng thương con mà đến nhận con về nuôi, nhưng chờ miết không thấy. Cha mô mà mà nhẫn tâm, độc ác. Không thương chị miềng thì cũng thương giọt máu của họ chứ”.


Chi Hồ Thị Nhung bồng bé Hồ Xuân Thao đang tâm sự về hoàn cảnh khó khăn của gia đình với anh Kray Sức, cán bộ xã Tà Rụt. (Ảnh từ trang Phụ Nữ online, đăng lại trên baomoi.com)


Khi “sim” vào quán

Tục “đi sim” của dân tộc Vân Kiều, Pa Cô có từ thời xa xưa. Chính tập tục này đã làm nên nét văn hóa đẹp của các dân tộc này. Con gái, con trai người Vân Kiều, Pa Cô khi đến tuổi trưởng thành đều “đi sim” để tìm vợ, tìm chồng. Xưa, trai, gái “đi sim” vào các dịp lễ hội như lễ hội Puh Boh được tổ chức vào mùa rẫy (thường diễn ra tại nương rẫy của bản). Bắt đầu cho lễ Puh Boh, già bản đọc lời kính cáo với thần sứ Kníeq, sau đó việc giữ rẫy được giao lại cho tốp con gái trong bản ở căn chòi tạm dựng bên rẫy. Biết có con gái ở lại giữ rẫy, con trai các bản tìm đến để cùng vào “đêm sim”.

Bây giờ, tục “đi sim” hầu như không còn nữa. Trai, gái các bản ngày nay “đi sim” cũng hiện đại hơn nhiều. Họ không còn lên rẫy tìm gái đẹp nữa mà chủ động đến mời gái đẹp đi “tìm hiểu nhau” trong các quán cà phê, quán nhậu. Sau những “đêm sim” như vậy là nhiều đứa trẻ ra đời trong sự vô thừa nhận của người cha và tủi cực của người mẹ.

Kray Sức, cán bộ chuyên trách văn hóa xã Tà Rụt cho biết thêm: Ở xã Tà Rụt, trong số 19 em có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn cần được trợ giúp thì có đến chín em rơi vào hoàn cảnh cha không thừa nhận hoặc bị bỏ rơi như trường hợp em Hồ Thị Bẹp, Hồ Văn Rực, Hồ Thị Biếc (bản Vực Leng), Hồ Văn Đạt, Hồ Thị Miên (bản A Đăng), Hồ Văn Đức, Hồ Thị Huyền (bản A Liêng), Hồ Cu Tầng (bản A Pun), Hồ Văn Tươi, Hồ Thị Xuân (bản Ka Hẹp), Hồ Xuân Thao (bản Tà Rụt 2). Ngày xưa, trai gái “đi sim” là để tìm hiểu nhau, thấy hợp nhau thì về báo cho gia đình mang lễ vật đến nhà gái để cưới hỏi đàng hoàng. Cưới nhau cả năm trời mới có con chứ không như bây giờ...

“Ơi anh! Gối em đã nhồi bông gạo
Em mong ngày âu yếm bên anh
Nhưng càng mong đường tình càng đứt
Càng mong anh càng rứt tâm can
Em phải khóc, nước mắt chảy trong đêm dài vô tận
Nước mắt thấm vào gối
Để cho mầm hột bông gạo đâm chồi”.

Trên đường về, chợt nghe tiếng bà mẹ trẻ nào đó ru con vọng ra từ căn nhà sàn nằm nép mình vào bóng núi, tôi tự hỏi, bà mẹ trẻ ấy ru con hay đang ru cho chính nỗi bạc phận của mình?
Tôn Hiền

VĂN HÓA, DU LỊCH, NGÔN NGỮ

Trần Hữu Thuần - Tiếng Quảng Trị
L.Cardiere - Ngữ âm tiếng Việt
Trần Xuân An - Tự tôn tiếng nói dân tộc
READ MORE - TỤC ĐI SIM CỦA THANH NIÊN VÂN KIỀU : TỪ NGHIÊN CỨU TRONG NHÀ TRƯỜNG ĐẾN THỰC TẾ XÃ HỘI