Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Thursday, September 24, 2009

VĂN QUANG - NGÀY XƯA THƯƠNG NHỚ



NGÀY XƯA THƯƠNG NHỚ


Kính tặng chị Hương Trang


Dù mai về chốn xa xăm
Hoa Xuân vẫn đẹp, trăng rằm vẫn trong
Môi xưa còn thắm nụ hồng
Hương xưa còn tỏa ngát xông đất trời
Tài tình từ độ rẽ ngôi
Cầm, kỳ, thi, họa giữa đời mấy ai?!
Nam-Bắc-Trung ngút dặm dài
Tao nhân, mặc khách vẫn hoài tri âm
Đông Hồ, Huy Cận, Tế Hanh,
Vũ Hoàng, Tương phố, ... như anh, chị nhà!
Chuyện riêng nào dễ thốt ra
Bao lần yêu, bấy xót xa theo người!
Ngậm ngùi thương chút tình rơi
Chén trăng khuya, lặng lẽ ngồi đếm sao
Taí tê từ độ quên nhau
Nhấp ly rượu lạnh, nghe sầu vấn vương.
Trông vời tịnh xứ mà thương
Mái chùa xưa nhớ con đường mẹ đi.
Giọt mưa ướt buổi xuân thì
Những ngày gối Mẹ trưa hè, tìm đâu?!
Quê hương cắt rốn, chôn nhau
Thuyền neo bến Huế ngâm câu Nam Bình
Tạ ơn Huế, đất thần kinh
Sông Hương, núi Ngự thắm tình thi ca
Dẫu mai về cuối trời xa
Bỏ quên tiếng hát quê nhà sao đang!
Sợi mưa nghiêng nhớ nắng vàng
Giàn trầu khô héo nhớ hàng cau xanh
Thuở nào dưới ánh trăng thanh
Mẹ ru con ngủ, ấm vành nôi cong.
Tuổi xuân giờ đã sang sông
Con ru mẹ ngủ, giấc nồng ngàn thu.
Ra đi từ chốn bụi mù
Nẽo về hư ảo, mặc dù gió mưa
Xiết bao thương nhớ ngày xưa
Ngọt, bùi, cay, đắng... bây giờ vẫn thương!

TX. Quảng Trị, 20/8/2009

(Cảm tác nhân đọc tập thơ RỒI CŨNG NGÀN THU)


READ MORE - VĂN QUANG - NGÀY XƯA THƯƠNG NHỚ

Tuesday, September 22, 2009

MẸ TÔI - Chùm thơ DIỆU HỒ

Hồ Thị Diệu (1944-2008)



CẦU MONG
MẸ ĐƯỢC SỐNG LÂU


Lần lữa cầu mong Mẹ chín mươi
Vu Lan lễ Mẹ được theo người
Bông hồng cài áo con còn Mẹ
Nếp một, mía lau Mẹ có đời

Có Mẹ lòng con vui ấm mãi
Mẹ đi rồi nước mắt đầy vơi
Sum vầy cá nước con cùng Mẹ
Mẫu tử thiêng liêng tựa đất trời

Mẹ tròn 87- Diệu Hồ 2004


MẸ TÔI

Đời nếm mùi cay đắng
Khi tuổi ngoài hai mươi
Mẹ thật thà hời hợt
Đâu hiểu thấu tình đời

Cuộc sống đầy chông gai
Nhiều lọc lừa dối gạt
Mẹ không nơi nương nhờ
Những năm dài bão táp

Ba đứa con thơ dại
Lây lất sống qua ngày
Mẹ tảo tần năm tháng
Lang thang khắp đó đây

Ôi những ngày loạn lạc
Của một thời đao binh
Trên đồng quê quạnh quẽ
Mẹ bươn bả một mình

Không một túp lều nhỏ
Để che nắng che mưa
Bên hiên nhà chật hẹp
Xin ở đậu sống nhờ

Mẹ không hề thở than
Giữa cuộc đời nghèo khổ
Chịu chung cảnh cơ hàn
Cùng những người khốn khó

Nỗi buồn như thấm sâu
Lúc tuổi đời son trẻ
Đã kết rắn thương đau
Thấm vào từng hơi thở

Khi mẹ còn con gái
Cũng gương lược lụa là
Bởi qua nhiều dâu bể
Giấc mơ đời trôi xa

Những năm dài cơ cực
Ám ảnh mẹ suốt đời
Ác mộng cứ theo hoài
Khiến lòng mẹ không vui

Và bây giờ mẹ đã …
Như một cành cây khô
Nhớ về ngày tháng cũ
Lòng thương mẹ vô bờ!


Diệu Hồ - 2006






READ MORE - MẸ TÔI - Chùm thơ DIỆU HỒ

Monday, September 14, 2009

THƠ BÀ HY THIÊM HỒ SĨ CƠ



Bà: Hồ Sĩ Cơ
Bút hiệu : Hy Thiêm.
Nhũ danh: Nguyễn Thị Thiêm
Sinh năm : 1918
Quê quán : Làng Lương Điền, xã Hải Sơn,
huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị
Hiện ở tại : 42 Quốc lộ ,
- TP. Đông Hà - Q.Trị
Địa chỉ liên lạc : 09 Ngô Thì Nhậm , TX.Q.Trị. ĐT: 053.3861033


MƯỜNG TƯỢNG BA CON VỀ

Có những chiều thu nhạt nắng vàng
Mạ ngồi tựa cửa lặng nhìn sang
Tưởng chừng Ba sắp đi đâu đó
Trong bộ đồ nâu mới thoáng ngang
Một lần thức dậy sáng tinh sương
Chập chờn như thấy dáng bên tường
Lá màn cửa sổ vừa lay động
Lãng đãng bóng hình trong khói hương
Ba đã đi để lại buồn thương
Âm dương cách biệt lạnh đôi đường
Một mình Mạ đợi ngoài hiên vắng
Bông xoài rơi rụng trắng ngoài nương

Cam Ranh 1987


ỐM ĐAU

(Từ ý thơ Yêu của Xuân Diệu)

Đau là chết ở trong người một ít
Vì mấy khi đau đã chắc hẳn lành
Đau thì nhiều mà lành chẳng bao nhiêu
Vì cốt tiết, hay thiếu nhân lành gây quả ?
Vậy hỏi ai là người thức giả ?
Hãy mau mau niệm Phật giữ từ tâm
Trút lo âu phiền não nhẹ tâm thần
Hầu thoát khỏi sầu đau trong hiện tại
Tất cả ai cũng đừng ngần ngại
Gắng vun trồng thì quả được tốt tươi
Năng xới vun thì cây mới đâm chồi
Hoa an lạc trong thân tâm thư thái

Thị xã Quảng Trị 1990


SỐNG

Sống ảm đạm âm thầm bao năm tháng
Sống đau thương lai láng lệ tràn mi
Sống nhớ nhung khi kẻ ở người đi
Sống cơ cực lầm than cơn khói lửa
Sống uất hận giòng sông ai chia nửa
Sống cô đơn trong tháng đợi năm chờ
Sống hững hờ trong kiếp sống bơ vơ
Sống lạc lõng vì xa người thương nhớ

Làng Nghĩa An năm 1950


XUÂN LẠNH

Tết nhứt gì mà lạnh gớm ghê
Ngoài trời mưa gió mãi lê thê
Níu Xuân ở lại vài hôm nữa
Chắc hẳn nhà nghèo thêm tái tê


ƯỚC MƠ

Tôi thích sống bình yên trong mái lá
Tuy nghèo nàn nhưng lại được tự do
Không tính toan, không lo lắng dày vò
Sống đầm ấm mẹ cha cùng con cháu
Hưởng trọn vẹn từng phút giây hiện tại
Sáng mai chiều trong ruộng lúa ngô khoai
Không giận hờn, chẳng phiền lụy đến ai
Lòng thanh thản bao dung và từ ái.


TÂM ĐẠO

Huyền diệu trông lên chốn cửa thiền
Sắc không, không sắc bởi căn duyên
Nặng nề nghiệp chướng còn theo mãi
Hỏi mấy ai đã hết não phiền ?


LƯỠI NHỚ RĂNG

Vì sao em lại bỏ đi
Hay là chị có điều chi lỗi lầm ?
Em đi chị những thương thầm
Sợ khi gió lạnh muôn phần khổ đau
Nghĩ rằng chị trước em sau
Đắng cay chia sẻ cùng nhau ngọt bùi
Nay chừ em đã rút lui
Riêng đành để chị thủi thui một mình !


CÁI LỒNG ẤP

Tôi muốn ôm em kẻo lạnh lòng
Vì trời còn rét mướt sương rong
Nên tôi ôm mãi nàng không chán
Suốt cả ngày đêm giá tháng Đông
Tha thiết ôm nàng thật đắm say
Ôm nàng không một chút rời xa
Một mai khi ánh bình minh lại
Đành phải rời em kẻo bỏng tay !


TẾT LẠNH NẰM LO

Cái tết năm nay mưa thật to
Ra đường lạnh quá phải co ro
Trời mưa ướt át không đi được
Đành phải ở nhà lại nằm lo
Lo những gia đình còn thiếu thốn
Thiếu chăn, thiếu áo, thiếu cơm ăn
Lo nỗi cụ già đang thiếu củi
Áo đơn, nhà trống thiếu vách ngăn
Nhưng còn nghĩ lại, thương đàn trẻ
Không được đi chơi để nhận quà
Không được ra đường khoe áo mới
Không được lì xì sáng mặt hoa


XUÂN 90

Còn một mùa xuân đủ chín mươi
Nhờ ơn trời Phật vẫn tốt tươi
Vui cùng con cháu lòng hoan hỹ
Đón tết bên nhau rộn tiếng cười

Đông Hà 2007


ĐÔI DÒNG VỀ MẸ TÔI VÀ THƠ - Hồ Thị Tú 

Khi Mẹ tôi cất tiếng khóc chào đời  thì thực sự đã đem lại niềm hạnh phúc lớn lao cho gia đình đã nhiều năm chờ mong trông đợi đứa con thân yêu. Bà ngoại tôi nhiều lần sinh nở nhưng chẳng nuôi được đứa con nào. Khi đậu thai lần này Bà ngoại tôi được gia đình gởi vào một ngôi chùa ở Huế để cầu nguyện Chư Phật phù hộ độ trì  cho đứa bé. Trong suốt thời gian hoài thai Mẹ, bà ngoại tôi đã tụng kinh Dược Sư và ăn chay. Trước khi về quê để sinh, thầy trụ trì nói với bà ngoại tôi rằng: “Con sẽ sinh môt cháu gái, cháu bé nầy thông minh lắm”.

Khi Mẹ tôi được 5-6 tuổi, ông bà ngoại cho mẹ đi học. Quả thật Mẹ rất thông minh, học đâu biết đó. Học một biết ba- năm. Đặc biệt Mẹ có một trí nhớ tuyệt vời, sách báo chỉ đọc qua một lần là nhớ. Bây giờ tuy Mẹ đã chín mươi hai tuổi vẫn nhớ bài học từ lúc tám - mười tuổi. Đưa em đến nhà thầy đồ học, Mẹ đứng ở ngoài hiên chờ, nghe thầy dạy cách viết một bản văn khế. Đến bây giờ Mẹ vẫn còn đọc vanh vách. Kể cả những ông thầy phù thủy đến nhà cúng, Mẹ đứng nghe vẫn nhớ những bài thần chú  đó. Có một lần Mẹ đến ở nhà bà cô ruột, trong lúc dợn dẹp sách vở Mẹ thấy bức thư ông chú gởi cho chị mình viết theo lối văn biền ngẫu, bây giờ Mẹ vẫn nhớ và đọc lại cho mọi người nghe. Những tác phẩm của người xưa như truyện Kiều, Cung oán, Chinh phụ ngâm, thơ Xuân Hương, Thanh Quan, cả thơ mới của Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư Mẹ vẫn thích ngâm nga, có lúc ghi vào sổ nhỏ của mình. Mỗi khi đi xem hát bội về Mẹ hát lại cả một đoạn dài lời ca của các đào - kép trên sân khấu.

Niềm yêu thích văn chương, thơ phú là một nét đặc biệt trong tâm hồn Mẹ tôi, cũng vì thế nhiều đêm không ngủ được, những lúc  nằm ngồi một mình Mẹ tôi đã nghĩ những câu thơ, đến sáng run run chép vào cuốn sổ nhỏ  bằng bàn tay, bìa đã ố vàng theo thời gian.

Hôm nay, nhân lễ Vu Lan, vợ chồng tôi ra thăm Mẹ và chợt có ý tưởng chép lại những bài thơ trong sổ tay của Mẹ tôi, gởi vào một tuyển tập thơ do bà Hoàng Hương Trang chủ biên xuất bản ở Sài Gòn vào tháng 10/2009.

Tiện thể, chúng tôi gom góp nhiều bài thơ khác của Mẹ tôi, một số bài thơ của chị Diệu Hồ và tôi viết về Mẹ trước đó để làm 1 tập thơ nhỏ mang lại niềm vui cho Mẹ, món quà tinh thần mùa báo hiếu trong buổi hoàng hôn chạng vạng của đời Mẹ. 


                      Vu Lan  2009 
                       Hồ Thị Tú
READ MORE - THƠ BÀ HY THIÊM HỒ SĨ CƠ

Sunday, September 13, 2009

HỒ THỊ TÚ QUỲNH



KÍNH DÂNG MẸ


Tám lăm tuổi mẹ ngồi phơi dưa món
Nắng tàn Đông chiếu dịu xuống vai gầy
Tóc trắng vờn bay, run run Mẹ tỉa
Xuân chưa về, hoa mai nở đầy tay.



MỪNG TUỔI MẸ

Chín hai tuổi Mẹ ít ai bằng
Trời Phật gia ân thọ mạng tăng
Phúc đức Tổ tiên ghi nhớ mãi
Tu hành cha mẹ nguyện tâm hằng
Một đời tận tụy không than trách
Hai chữ tào khang dám hé răng
Con cái sum vầy nên nổi cả
Cầu cho tuổi Mẹ đủ đầy trăm.

HỒ THỊ TÚ QUỲNH

READ MORE - HỒ THỊ TÚ QUỲNH

Sunday, September 6, 2009

Thơ Hồ Huy - GIÓ HEO MAY LẠI VỀ - NHÓI





GIÓ HEO MAY LẠI VỀ...

Quên hết nhé ưu tư sầu muộn?
Uống đam mê cho hết tháng ngày
Anh nhắm mắt quên tình lận đận
Nói một điều và sẽ hết cơn say?
Giá mà con tim nằm bên phải
Mắt đen đêm và chân bước ba mùa
Im lặng, lặng im, tình im lặng
Năm tháng ngày mơ được về nhau
Heo may đau để tang mối tình sầu...


NHÓI!

Uống một chén
Uống hai chén
Uống ba chén
Uống cả chai
Uống nhiều chai
Uống nhiều nhiều chai
Uống hết!


Uống từ sáng đến trưa
Uống từ trưa đến tối
Uống từ tối đến khuya
Uống từ khuya đến rất khuya
Uống hết!


Uống đã một năm
Uống đã hai năm
Uống đã ba năm
Uống đã nhiều năm
Say đã nhiều năm
Mà cuộc đời chưa hết.


Hồ Huy
(Quảng Trị)



READ MORE - Thơ Hồ Huy - GIÓ HEO MAY LẠI VỀ - NHÓI

Wednesday, September 2, 2009

XUÂN LỢI



Tìm về

Kính tặng Làng Hà thượng quê tôi



Hà Thượng làng ơi ! con đã về đây
Tìm lại dấu xưa chuổi ngày thơ bé
Hơi ấm nồng trong vòm tơi áo mẹ
Sắn ủ rau Bay nhũn gối sờn vai



Con tìm về bên mái rạ lều tranh
Vại nước đầu hè gáo dừa lem luốc
Bậc đá ong cũ mờ vàng ngấn nước
Gội tắm đêm hè man mác vầng trăng


Con tìm về vườn cũ thoáng mênh mang
Hình bóng tuổi thơ trèo tường trốn học
Tiếng ve ran ngọn gió Lào khô khốc
Thổi rối bời cỏ cháy đất hong hanh



Con tìm về ngõ chợ bến ngày xưa
Màu rêu phủ mái đình làng xa xót
Bờ ruộng bậc thang bùn non lấm gót
Bếp củi nè nồi khoai luộc réo sôi



Con trở về nghe câu hát đưa nôi
Rằng à. à. ơi… đừng than phận khổ
Xóm Làng, xóm Khe, xóm Trằm, xóm Mộ
Đất đỏ, đất nâu tiêu mít nuôi đời



Con trở về ray rứt mãi không thôi
Nỗi buồn đọng dấu chân trâu ngõ vắng
Vẫn tháng, vẫn ngày bao mùa mưa nắng
Lưng còng nghèo khó đắp đuổi quanh năm



Con đi đã lắm góc bể chân trời
Tiếng răng rứa ngọt lành trần truị
Con trở về giữa lòng thơm đất mẹ
Hà Thượng quê mình hai tiếng yêu thương

Tháng 12-2008





Chuyện tình hoa cải


Chiều xuân với bạn bên sông
Chạm ly uống cạn chột lòng nao nao
Nhìn em vốc nước cầu phao
Rưới lên bóng nắng chênh chao hững hờ...


Chẳng phải hoa cải trên bờ
Em tôi mười bảy thẩn thơ mạn đò
Thảm vàng đắm sắc hẹn hò
Trai Thao - Chinh gái mộng mơ đợi chờ


Khát khao đưa mẹ lên bờ
Kiếp người hoang lạnh vật vờ nông sâu
Vạ bay đắng đót tình đầu
Con đò cuộn sóng đáu đau xiết ào...


Chuyện tình hoa cải xót xa
Phù du trôi nỗi châu sa để đời!
Chiều buồn nhuộm hết lòng tôi
Câu thơ bỏ ngỏ ngoài trời đổ mưa...



Âm vọng hành trình

Tận không gian mây trời đau nhói
Kinh hãi đêm - nghe vọng tiếng còi
Tâm tưởng nhắc sâu chừng đã quạnh
Một chuyến tàu đi - Một chuyện đời


Sân ga vắng đỉnh trời trầm lặng
Níu đường ray dọc nẻo băn khoăn
Mang nỗi ngập ngừng trôi thầm lặng
Để bóng người chầm chậm xa xăm


Nốt nhạc dập dềnh bánh xe lăn
Ngày lại hỏi mắt ngời lưu luyến
Nghèn nghẹn lời tiển đưa trìu mến
Hun hút buồn chiều lạnh mưa giăng...


Dấu yêu vọng về thầm nức nở
Trang trải lòng ủ chút mây đan
Thau tháu hồn ru giấc đày đoạ
Thăm thẳm trôi mộng ước vỡ tan


Ga thầm thì gió thổi về đâu
Con tàu đi bồi hồi nhớ bến
Tìm đâu khi tình trao lỡ chuyến
Có ngậm ngùi dè sẻn chia xa...

X.L
READ MORE - XUÂN LỢI

TRƯƠNG ĐÌNH TUẤN - VỀ VỚI GIÒNG SÔNG







Từ lâu thân lấm bụi mê
Xin về tắm lại sông quê một lần
Tha hương ngập sóng triều dâng
Đâu là một tiếng chuông ngân tịnh lòng




Khật khờ chen lấn phố đông
Ngẩn ngơ chưa thoát ra vòng quẩn quanh
Khát màu ruộng mạ non xanh
Chim thơ ấu nhảy nhót cành sớm mai




Dại khôn mấy bước ngắn dài
Dòng sông quê vẫn khoan thai lững lờ
Tỉnh say mấy cuộc bơ phờ
Vòng tay mẹ vẫn đôi bờ Hiếu giang.

Trương  Đình  Tuấn
truonghuynhtth@gmail.com
READ MORE - TRƯƠNG ĐÌNH TUẤN - VỀ VỚI GIÒNG SÔNG

Friday, August 28, 2009

NGUYỄN THỊ LIÊN HƯNG -CHUYỆN CŨ LÀNG XƯA


Chuyện cũ làng xưa
Nguyễn Thị Liên Hưng
Làng tôi xa nhịp sóng trùng khơi
Cũng chẳng cheo leo núi chọc trời
Nằm giữa quãng đồng suông cánh gió
Bốn mùa ngô, lúa đượm màu tươi

Làng tôi núp dưới bóng tre xanh
Như núp bên trong Vạn Lý Thành
Mỗi buổi chiều vương bao sợi khói
Dịu dàng ôm mấy nếp nhà tranh...


Đó là những câu trong một bài học thuộc lòng của những năm đầu thập niên 60. Thuở đó, chị An Lành của tôi còn là học sinh tiểu học trường làng. Mỗi buổi sáng trước khi đến trường chị phải quét sạch sân nhà. Vừa quét chị vừa học bài, khi cái sân rộng thênh thang sạch bong cũng là lúc chị thuộc bài. Tuy còn là cô bé con chưa biết chữ, nhưng mỗi sáng tôi lại thích ngồi trên thềm nhìn chị quét sân và nghe chị học bài. Thế mà tôi thuộc làu những bài học thuộc lòng chị đã đọc, những bài học ấy theo tôi suốt đời, những câu vần mà tôi không nhớ tựa và cũng không biết tên tác giả ở trên sao mà giống tả cảnh làng tôi chi lạ.
Làng Lam Thuỷ của tôi cũng những mái nhà tranh núp dưới bóng tre xanh, hoạ hoằn mới xen vào một vài nhà mái ngói đỏ. Các xóm nằm chung quanh còn chính giữa là quãng đồng suông cánh gió chấp chới cánh cò bay. Tuổi thơ của tôi ở nơi làng quê không tới mười năm nhưng sao ký ức ấy cứ mãi vướng vít suốt cuộc đời, phải chăng vì đó là nơi chôn nhau cắt rốn?
Có lần anh hỏi đường về Lam Thuỷ, tôi đã diễn tả con đường về thôn như thế nầy: Nếu đi đường sông thì cứ xuống đò máy ở bến đò chợ Tỉnh và dặn chủ đò cho ghé bến xóm Tả, rời khỏi con đò là chân đã dẫm lên mảnh đất đầu làng. Còn nếu theo đường bộ thì cứ theo con đường trước trường Nguyễn Hoàng, từ sân trường đi ra cứ tay phải mà đi thẳng về Góc Bầu sẽ có hai hướng, rẽ phải là về thôn Trí Bưu, qua cầu Quy Thiện trên sông Giồng rồi đi theo con đường thẳng chia hai cánh đồng làng Quy Thiện là quê ngoại của tôi. Đi hết cánh đồng sẽ thấy dòng sông Vĩnh Định, cứ men theo con đường bên bờ sông mà đi, qua làng Trâm Lý, Văn Vận, Trà Trì, Phú Xuân rồi Trà Lộc. Đi hết làng Trà Lộc thì qua đò (nay qua cầu) sẽ thấy chợ Ngô Xá. Còn nếu đi theo đường Góc Bầu trên tỉnh lộ 8 thì qua làng Hạnh Hoa đến cầu Ba Bến là nơi sông Vĩnh Định gặp sông Giồng đổ vào rồi chảy về hướng Sãi để nhập vào sông Thạch Hãn. Anh cứ hỏi cầu Ba Bến ở đâu? Thế nghĩa là anh cũng chưa bao giờ đến đó, cũng phải thôi vì anh là dân tỉnh, lại rời quê khi vừa lớn nên chưa lần đi về hướng ấy. Còn tôi tuy là dân địa phương nhưng cũng rời quê lúc còn nhỏ nên cũng không rõ lắm. Nhưng trong trí nhớ thời thơ bé về khúc sông ấy, chiếc cầu ấy mới lớn, mới dài làm sao. Tôi nhớ nơi đó còn gọi là cây số 5 thì phải, giữa cánh đồng mênh mông có một con đường rộng thẳng tắp chạy mãi về những xóm thôn xa tít tắp và tôi cũng chưa hề rẽ về hướng ấy. Tôi còn nhớ ngày xưa con đường ấy rất thơ mộng với hai hàng thông reo vi vu che mát. Hình như hương lộ ấy là đường tắt về được vùng Chợ Cạn, Triệu Phong mà không cần phải đi ngược lên chợ tỉnh. Qua khỏi cầu Ba Bến bạn cứ theo đường nhựa mà đi cho tới khi thấy chợ Ngô Xá. Thế đó, từ tỉnh có hai hướng đều men theo hai bên bờ sông Vĩnh Định mà về quê tôi, con sông ấy chia làng tôi thành đôi bờ đầy tre xanh rủ bóng xuống dòng nước trong vắt, mỗi chiều hôm lại có tiếng khua lóc cóc xua cá vào lưới của đám dân chài. Từ chợ Ngô Xá, bạn rời đường nhựa, rẽ phải qua chiếc cầu La Duy nhỏ xíu, đó là nơi con sông nhỏ Cổ Hà chảy nhập vào Vĩnh Định. Bạn đừng đi vào làng La Duy mà cứ men theo bờ sông chừng non cây số. Qua bến nước xưa, lá hoa về chiều là vào xóm Tả với con đường đất rộng, phẳng phiu có hai hàng tre ngã bóng mát rượi (đó là ngày xưa chứ chừ tre bị trốc gốc hết rồi), rẽ trái là đến nhà tôi, trong tôi vẫn in bóng ngôi nhà trong khu vườn cây bốn mùa thơm hương hoa của thời bé dại, nhà tôi có nhiều cụm mẫu đơn, bông nào bông nấy đỏ tươi to bằng cái tô lớn. Ngày hè nấu canh ám (cá lóc nấu lá sôông chua), các chị thường bày một rổ rau sống thật ngon và đẹp mắt để và (ăn chung) với canh ám. Rổ rau sống nhà tôi đặc biệt lắm, này nhé, mạ và các chị xắt chuối con, trộn cùng cải con, rau thơm đủ loại, lại hái một ít hoa mẫu đơn, cánh hoa hồng và rứt vài cọng bông thọ rắc vào (bông hồng và bông thọ chỉ rắc ít thôi để làm màu cho đẹp). Thế là món rau sống với nõn chuối trắng, rau cải xanh, tô điểm thêm màu đỏ màu vàng của hoa, ăn vào đủ mùi vị: thơm thơm, ngòn ngọt, cay cay…không chỉ hấp dẫn khẩu vị mà còn bắt mắt nữa.
Đó là ký vãng của thời thơ bé năm xưa. Tôi nhớ những chiều đông lạnh giá co ro trong chăn hay đêm 30 tết bên ngọn lửa hồng canh nồi bánh tét, ba mạ thường kể cho chị em tôi nghe về nguồn gốc của làng, về Ngài khai canh khai khẩn và những truyền thuyết của vùng đất mà chúng tôi nghe hoài không chán. Rằng xưa thật là xưa, có một ông họ Nguyễn từ phương Bắc thiên cư vào đây, mà ngôi mả tổ thật lớn chính giữa cánh đồng bao la là mộ của Ngài. Người ta nói rằng Ngài đã chọn cồn đất nổi giữa bàu nước mênh mông để làm nơi yên nghỉ cuối cùng vì nơi đó là long mạch, cho con cháu hưởng phúc về sau và dòng họ Ngài bền vững đời đời. Nhưng sao chỉ có ông mà không có bà? Nghe đâu Ngài họ Nguyễn cùng sáu con trai, một con gái và hai con trai nuôi họ Võ và họ Lê đến đây lập nghiệp. Bởi thế sau nầy làng Lam Thuỷ phần lớn là họ Nguyễn, họ Võ và họ Lê rất ít. Mãi về sau mới có họ Hoàng đến trú. Đó là vài gia đình làm nghề rèn đến ngụ cư ở cạnh bờ sông, họ làm ra những vật dụng lao động để cung cấp cho dân làng như dao, rựa, liềm, vằng … và sống với nghề cha truyền con nối. Thời cận đại có một ông thầy thuốc đến lấy vợ ở La Duy rồi sinh con, người con kế nghiệp cha làm nghề bốc thuốc rất hay đã về định cư tại xóm Sông, được dân làng rất kính nể và yêu mến gọi ông là Bác Thầy và đó là họ Trần duy nhất trong làng.
Không biết qua mấy đời, căn cứ vào các người con trai của Ngài, họ Nguyễn chia ra các họ lấy tên là họ Nhất, Nhị, Tam, Tứ, Ngũ, Lục ... để gã con cho nhau. Về sau ông họ Nhị tuyệt tự nên chỉ còn năm họ Nguyễn và hai họ là Lê (Thất) và Võ (Bát). Bởi thế ngày trước có chuyện cười ra nước mắt là các bà đi làm thẻ căn cước người ta hỏi họ gì? có bà trả lời họ Tứ; lại hỏi tên gì? bảo tên Tư chẳng hạn. Thế là thẻ căn cước mang tên Tứ Thị Tư, v.v…
Đến đời nhà Nguyễn, con sông đào mang tên Vĩnh Định chảy xuyên qua làng cung cấp nguồn nước ngọt và phù sa cho ruộng đồng và dân cư ven bờ. Con sông đã chia xóm Sông thành Bắc Sông, Nam Sông cũng như xóm Tả thành Bắc Tả, Nam Tả (còn gọi là xóm Trường vì ngày xưa có trường dạy chữ nho ở đó). Những tên xóm ấy là dựa theo vị trí địa hình mà gọi như xóm Hói có con mương dẫn nước thật lớn thông thương với sông Cổ Hà; xóm Cồn ở bên cồn; xóm Làng có đình làng, v.v…Bắc Tả xóm nhà tôi là tên gọi theo thói quen chứ trong sách ghi lại có tên rất hay kia, ngày nhỏ mỗi lần đi xem cúng xóm tôi nghe người ta đọc Vĩnh Hoà xóm, Lam Thủy thôn, Hải Vĩnh xã…gì gì đó. Còn các xóm khác thì trong sổ sách ghi tên là xóm Vĩnh Định, Vĩnh An, Thượng Lộc, Thượng An, Thượng Hoà, v.v...
Tương truyền khi đến lập nghiệp, đất đai màu mỡ ven sông Ngài khai canh khai khẩn chia đất cho các con trai sống quanh cánh đồng là các xóm Tả, xóm Hói, xóm Cồn, xóm Làng, xóm Sông. Còn người con nuôi họ Võ được chia vùng đất gần rú nên gọi là xóm Rú. Xóm Rú có đất pha cát trồng khoai rất ngon và cánh đồng phía trước cũng không kém phần màu mỡ. Tôi lại nghe kể rằng cô con gái khi gã chồng, ông tổ họ Nguyễn đã cho đất làm của hồi môn bằng cách bảo cô vác một cục đá lớn đi từ đầu cánh đồng, lúc nào hết đi nổi bỏ cục đá xuống đâu thì được hưởng đất hồi môn đến đó. Và vùng đất hồi môn của người con gái đó là làng La Duy có cánh đồng trải dài giáp ranh xóm Bắc Tả làng Lam Thuỷ. Ngày nhỏ tôi thường theo lũ bạn rong chơi khắp xóm, đến tận cột mốc ranh giới của hai làng và thấy cục đá mà người con gái ngày xưa đã vác đến đó thì thả xuống. Ôi! Cục đá khá lớn, cắm chặt xuống đất giữa cây cỏ um tùm. Không biết cô gái ngày xưa có ý chí và sức mạnh cở nào mà vác nổi để đi qua đoạn đường cả cây số vậy nhỉ? Và qua bao biến thiên thời cuộc, cục đá làm ranh giới giữa hai làng đến nay vẫn còn đấy.
Cũng trong những ngày đông giá rét hay đêm hè trăng thanh gió mát của thời thơ bé ấy, tôi thường nghe ba mạ kể những giai thoại đầy thú vị của quê mình, nghe hoài mà không chán. Ấn tượng nhất là câu chuyện ông thầy pháp cao tay ấn. Chuyện rằng ngày xửa ngày xưa ấy làng tôi có một vị pháp sư rất giỏi phép thuật. Ông biết luyện âm binh để giúp việc cho mình. Ruộng nhà ông không cần thợ cấy, thợ gặt mà mạ vẫn cấy xong, lúa vẫn về nhà. Người ta nói rằng có mùa hạn hán, người người lo kéo nhau ra đồng tát nước vào ruộng để cứu lúa, còn ruộng nhà ông chẳng hề tát mà khi nào nước cũng đầy ăm ắp. Nghi hoặc nên chờ lúc nửa đêm, trai tráng trong làng ra đồng xem thử, đứng xa xa thì thấy có hai người đang tát nước sàn sạt vào ruộng, nhưng khi đến gần chả thấy gì cả. Một thời gian sau, bỗng dưng việc đồng áng nhà ông cũng phải mướn người giúp như bao nhà khác. Hỏi ra mới biết, thì ra ông có phép thuật luyện đậu thành câu môi (còn gọi là con nộm – người ma) để giúp việc, ông cho những hạt đậu vào chén dĩa, úp kín trong căn phòng riêng, làm phép đủ 3 tháng 10 ngày thì đậu thành câu môi. Ban đêm khi những sinh vật đã ngon giấc, câu môi sẽ làm những việc do ông sai phái và trở khi trước khi người ta thức dậy. Câu môi chính là âm binh, chúng làm việc lặng lẽ theo lệnh chủ nhân và khi có người tới gần sẽ biến mất. Ông luyện âm binh trong một căn phòng đóng kín và cấm vợ con bén mảng đến. Một lần, ông có việc phải vắng nhà mấy ngày, vợ ông tò mò mở cửa phòng thì chỉ thấy mấy cái chén úp trên bàn chứ chẳng có gì, thấy phòng đầy nhện giăng và bụi bặm, bà bèn lấy chổi vào quét dọn. Vô tình quơ phải bàn làm những chiếc chén nghiêng ra, thế là những hạt đậu ông luyện chưa đủ thời gian thành câu môi đổ văng tứ tung. Những con câu môi chưa đủ ngày tháng nên thành những hình nhân nhỏ xíu rất dễ sợ, cái thiếu tay, cái thiếu chân, cái thiếu đầu. Chúng quờ quạng hoặc bò khắp phòng làm bà rú lên hãi hùng và chết ngất. Khi ông về, biết sự thể xảy ra bèn cất tiếng than ta không còn được hưởng cái phước nầy nữa. Nghe đâu từ đó ông thôi luyện âm binh để giúp việc nhà.
Tôi lại nghe kể rằng một chiều nọ ông cần qua sông nhưng do nước lụt nên người đưa đò ngang nghỉ sớm. Bên kia bờ có chiếc ghe nhỏ đang đậu và chủ nhân của chiếc ghe đang cất rớ (dỡ vó). Ông bèn xin người cất rớ cho ông qua sông có việc cần nhưng người nầy từ chối. Thế là trước sự kinh ngạc của người đánh cá, ông ngả nón bỏ xuống nước rồi ngồi vào nón đưa tay khoát nước để qua sông giữa dòng nước đục ngầu đang chảy băng băng ra biển mà không hề bị ướt áo. Khi ông đi khuất thì người đánh cá bỗng dưng không dỡ rớ lên được. Nghĩ chắc là trúng quả nên ông ta liền chạy vào xóm rủ người đến phụ sức. Nhưng khi cả năm, bảy lực điền cùng xúm vào mà cái rớ cá vẫn trơ trơ. Thấy chuyện lạ, một người bèn hỏi ông nãy giờ có gặp ai không, có chuyện gì không? Ngư phủ bèn kể lại câu chuyện kỳ lạ nọ. Người biết chuyện à lên rồi chỉ đường và bảo người đánh cá đến nhà ông thầy pháp tạ tội mau đi và dĩ nhiên khi ngư phủ trở lại thì chiếc rớ nhẹ tênh.
Rồi có một buổi chiều tà ông thầy pháp đi qua cánh đồng có một nhóm phụ nữ đang cấy lúa. Nhóm thợ cấy nầy vốn nỗi tiếng là đanh đá. Thấy ông đi một mình, các bà bèn lên tiếng chọc ghẹo. Ông không giận hay mắc cỡ như những người đàn ông độc hành khác mà lên tiếng hỏi vui Các bà có cấy xong lúa kịp trước khi trời tối không mà còn đùa thế? Mấy bà bèn trề môi Ối dào, còn một mảnh ruộng nhỏ xíu, mặt trời còn cao thế kia, chị em chúng tôi đông như thế nầy vừa cấy vừa chơi cũng xong trước khi mặt trời lặn chứ nói chi là tối. Ông thầy pháp cười bảo Lo mà cấy đi chứ ham ghẹo người khác thế coi chừng đến tối cũng chưa xong đó. Một người đàn bà khác cong cớn mắng thằng cha nầy có khùng khùng không mà coi thường tay nghề của các bà vậy? Thầy pháp không trả lời, vừa cười kha kha vừa bước đi. Khi ông ta khuất bóng, bỗng dưng cá đâu chạy lung tung trong mảnh ruộng chưa cấy, thế là các bà bỏ mạ chạy theo bắt cá, bắt con nào trượt con nấy, thế là thi nhau chạy theo cá. Các bà mê bắt cá đến nổi dẫm đạp lên cả những luống mạ vừa cấy. Đến khi trời sẩm tối, giật mình nhìn lại thì chao ơi! Mạ non nát bét tơi bời mà cá chẳng ai bắt được con nào. Sau đó kể lại chuyện mới biết mình đã đắc tội với lão phù thuỷ danh tiếng của làng Lam Thuỷ nên bị phạt, các bà chỉ biết thở dài và từ đó cũng bỏ bớt tánh kiêu căng, đanh đá.
Những chuyện tương tự như thế thì vô số, kể hoài không hết nhưng Mộ Trấn là câu chuyện ấn tượng nhất, dấu tích xưa dù qua bao chiến tranh bom đạn mà đến nay vẫn còn sờ sờ bên bờ sông Cổ Hà.
Chuyện kể rằng làng Phương Lang lập chợ bên kia sông Cổ Hà, đối diện Lam Thuỷ. Thế là từ đó Lam Thuỷ cứ bị hoả hoạn mãi. Thầy pháp bấm độn và bảo việc cháy nhà nầy là do bên kia lập chợ ám hướng của làng. Các cụ già hỏi thế thì phải làm sao, vì chợ của làng người ta, mình đâu có quyền dẹp? Ông thầy pháp bảo hãy đẽo tượng một con chó đá ngồi dòm mặt qua chợ rồi ông làm phép yếm là xong. Đúng như thế, khi có con chó đá, Lam Thuỷ không bị cháy nhà nữa nhưng chợ Phương Lang bỗng dưng thưa thớt, gần như muốn tàn. Mà người xưa có câu Chợ tàn thì làng mạt. Sợ làng mạt nên người Phương Lang liền đi cho người bôn ba đi các nơi tìm thầy hay để hỏi nguyên do. Không biết các ông thầy đó bói như thế nào mà sau đó một thời gian, bỗng dưng bên kia bờ sông Cổ Hà xuất hiện một tượng đá hình con cọp nhe nanh múa vuốt đối diện con chó đá của bên nầy bờ. Thế là chợ Phương Lang lại đông còn bên Lam Thuỷ lại cháy nhà và gặp đủ chuyện tai ương. Hiểu rằng cọp đá đã nuốt chững chó đá nên trai tráng Lam Thuỷ rình lúc đêm tối lẻn qua sông đập phá tượng cọp đá. Chuyện lỡ vỡ, trai tráng Phương Lang lại kéo qua đập cho đá, thế là xảy ra xô xát giữa hai làng. Thấy thế, ông thầy pháp liền bảo bên Lam Thuỷ đập bỏ tượng chó đá để tránh hiềm khích rồi ông sẽ có cách. Mọi người tin ông và chờ đợi. Rồi một hôm ông khăn gói rời nhà mà chẳng nói đi đâu. Cho đến một sáng ngủ dậy, người ta bỗng thấy có tảng đá vuông vức dựng bên nầy sông Cổ Hà chỗ đặt con chó đá dạo trước cùng lúc thầy pháp trở về nhà. Mọi người ngạc nhiên chạy lại xem tảng đá nhưng chả ai dám tới gần vì thấy trên tảng đá có hai con rắn rất lớn, một con dài một con ngắn ngủn giương cổ hú gió vi vu như là giữ tảng đá vậy. Vì sợ hai con rắn nên chả ai dám bén mảng đến phá tảng đá. Từ đó chợ Phương Lang vẫn đông mà phía Lam Thuỷ cũng bình an vô sự. Nghe đâu những người đi rừng hay lên phía thượng nguồn sông Thạch Hãn bảo trên đó bỗng dưng mất đi một tảng đá giống y tảng đá tự dưng mọc lên bên sông Cổ Hà nầy. Người ta giải thích là ông thầy pháp cao tay ấn đã dùng phép sai tảng đá từ trên núi xanh về đây để chắn hướng chợ Phương Lang cho làng Lam Thuỷ nhưng sợ lại bị kẻ xấu phá bĩnh, nên đã sai luôn hai con rắn thần về giữ đá mà dân làng kính nể thường gọi tránh đi là Ông Dài Ông Cụt. Từ đó người ta gọi tảng đá là Mộ Trấn (trấn áp). Qua bao năm tháng chiến tranh, ngày nay Ông Dài Ông Cụt bỏ đi đâu mất, không còn nữa nhưng Mộ Trấn vẫn còn sừng sững bên sông Cổ Hà.
Có một điều người ta tin những giai thoại là có thật vì dòng họ ông thầy pháp đó qua bao đời vẫn có người nối nghiệp cúng bái, trừ tà yếm quỷ nổi tiếng cho đến thời chiến tranh ly loạn, dân làng bỏ xứ mà đi nên không biết bây giờ con cháu của dòng họ ông còn giữ được nghề cũ không?
Nghe tôi kể chuyện làng quê của mình anh cũng góp vào, anh bảo dù là dân ở tỉnh nhưng anh rất thích về quê, tuy đường về quê anh không cùng hướng quê tôi nhưng cảnh trí ven đường của làng quê Quảng Trị ở đâu cũng gần như nhau, cũng dòng sông, cũng cánh đồng và anh cũng rất thích hít thở mùi hương đồng nội. Mỗi lần về quê, anh được bà con cưng lắm mà thích nhất là theo lũ trẻ trong xóm ra đồng cưỡi trâu, bắt dế. Có lần thấy con bò mới đẻ chú bê non, anh tò mò đến gần xem bị bò mẹ tưởng anh đến bắt con của nó nên rượt anh chạy trối chết. Tôi nghe anh kể mà cười nôn ruột, anh đúng là con trai, còn tôi dù sinh ra ở quê nhưng sợ trâu bò lắm, tôi không bao giờ dám đến gần chúng dù đôi khi thấy chúng nằm bên đường lim dim đôi mắt một cách hiền lành và thong thả nhai lại.
Hồi ở quê tôi rất thích nhìn dòng sông, nhìn bóng núi mờ xa xa in lên nền trời mỗi khi chiều về. Còn mỗi lần ra đồng là tôi quên cả giờ về ăn cơm nên thường bị ăn đòn, cả đến bây giờ cũng thế, mỗi lần có dịp đi qua cánh đồng lúa là tôi hít lấy hít để mùi cỏ dại, mùi mạ non ngai ngái, mùi lúa chín vàng ươm và ngay cả mùi bùn oi oi nồng nồng trên ruộng ướt.
Tôi thích ra đồng để nhìn đàn cò trắng rập rờn trên ruộng lúa, thích nhìn những chiếc vằng (lưỡi hái) ăn lúa sồn sột trong tay đám thợ gặt và thích mót lúa rơi. Tôi cũng thích đi bắt cá nhưng sợ đĩa và rắn nước lắm, những đêm trăng ngày mùa bọn trẻ con như tôi đều thích thức đêm xem trâu đạp lúa và ăn ké bữa khuya của đám thợ xảy lúa. Khi trâu đạp xong một giã lúa, nhóm đàn ông dùng mỏ xảy hất tung những cọng rơm vàng nhẹ về một phía để những hạt lúa nặng rơi xuống gom lại một đống. Thế là đám trẻ con chui vào nằm trong đống rơm còn thơm mùi lúa tươi để rồi sau đó da thịt ngứa ơi là ngứa. Tôi theo bọn trẻ trong xóm chơi những trò như búng dây thun, ô làng, ù mọi, trốn tìm, … đến trò chơi đám cưới, gia đình vợ chồng con cái mà sinh hoạt là dựa theo nếp sống của cha mẹ lúc đó, v.v…nhưng tôi không biết bắn bi đâu nhé, con gái ai lại chơi bắn bi mà tôi thường chơi bán hàng hay chơi lò cò gọi là cạnh tàu bay để xây nhà chiếm lối đi trên những vạch ngang dọc như chiếc máy bay. Còn đánh căng là một trò chơi rất thú vị dành cho con trai, mỗi đứa thường lận lưng một bộ, đồ nghề càng cũ thì càng láng bóng và nói lên đó là tay chơi thiện xạ, chúng cưng đồ nghề lắm, tôi thường thèm thuồng nhìn chúng cốc mấy cái rồi đánh mạnh cho căng văng ra xa… rồi quày tay đo một cách điệu nghệ. Thế mà chị AL của tôi cũng lén mạ chặt căng để làm một bộ láng o rất đẹp, chờ khi nào mạ đi vắng mới lôi ra chơi một mình, cũng cốc, cũng đo thành thạo và say sưa không kém bọn con trai.
Trong vườn nhà, ba tôi trồng đủ thứ trái cây, thế mà tôi vẫn thích theo lũ bạn trong xóm rong rong qua những lùm tre kiếm trái dại. Ngoài việc nếm thử trái sầu đâu, thưởng thức cái vị vừa ngọt vừa thanh của trái dưới chín vàng ươm ra tôi còn ăn bất cứ trái cây nào hái được như chuông chuổng, cơm nguội, dánh dù, khe lù lù, mắm nêm mà trong sách thuốc gọi là chùm bao hay lạc tiên gì đó, v.v… Cứ hái được là cho vào miệng mà không cần rửa ráy, trái nào ngon thì nuốt mà dở thì nhổ ra, ăn uống mất vệ sinh thế mà sao không đau bụng nhỉ? Còn nếu lên rú vào mùa hè thì tha hồ mà ăn sim, ăn móc đến đen miệng. Bên mộ bà nội tôi còn có những cây cam rượu trĩu quả vàng ươm. Mỗi lần đi thăm mộ, ba tôi đều hái về cả nón bảo là cam rượu mệ gởi về cho cháu. Trái cam rượu chín vàng mọng nước, ăn vừa ngọt vừa có mùi rượu mà ai tham ăn nhiều cũng say ngây ngây như uống rượu vậy.
Mùa hè học trò nông thôn thường gắn với ruộng vườn, hết mót lúa lại phụ mẹ hái ớt chín, cạo vỏ sắn, v.v…Thế nhưng vẫn có những lớp dạy hè rôm rả. Thầy dạy hè thường là những học sinh trung học của trường Nguyễn Hoàng, vào giờ học thì nghiêm khắc một phép, nếu đứa nào phạm lỗi là thầy sẵn sàng rút roi mây bắt nằm hai tay ôm đầu đánh trót vào mông, nhưng đến giờ chơi thì thầy trò gì cũng căng, cũng ù mọi, cũng alơmanh (trốn tìm) say sưa. Thuở đó trên các doi đất cao ven sông thường có một loài cây lúp xúp gọi là cây dẻ, mỗi độ hè sang, những chùm hoa dẻ chín vàng được học trò hái ép vào vở thơm lừng đến tận năm sau. Và trong tôi, đó là mùi hoa học trò nơi chôn nhau cắt rốn còn phảng phất đến tận bây giờ.
Chuyện quê xưa không bao giờ nói hết. Ai cũng có một vùng quê, ai cũng yêu nơi mình cất tiếng khóc chào đời, nơi còn mồ mả ông cha trăm năm đi về một cõi. Hãy về thăm quê bạn ơi! Quê hương nếu ai không nhớ…
Và tôi, khi ghi lại đoản ký ức nầy tôi vẫn nghĩ:
Làng tôi đối với vạn muôn người
Chỉ một miền quê nhỏ bé thôi
Tôi đã trót yêu từ tấm bé
Thuở còn say giấc ngủ trong nôi.
Xin mượn đoạn kết của bài học thuộc lòng năm xưa để nói lên nỗi lòng mình vậy.
Biên Hoà (một ngày hè 2008)
READ MORE - NGUYỄN THỊ LIÊN HƯNG -CHUYỆN CŨ LÀNG XƯA

Thursday, August 27, 2009

ĐỖ TƯ NHƠN


NGƯỜI VỀ TRÊN SÂN TRƯỜNG XƯA


Ai về đây mà rộn ràng phố thị

Mấy mươi năm tưởng vọng một mái trường
Thời áo trắng quần xanh hồn cỏ dại
Cánh phượng hồng, trang lưu bút rưng rưng.

Ai về đây mà sân trường rộn rã
Tiếng reo cười và nhịp đập tim vui
Chất chứa lắm những mạch nguồn khôn tả
Như triều dang ngập lụt cả lòng tôi.

Ai về đây chiều qua hay sáng sớm
Lắng nghe từng âm hưởng của mùa xưa
Chân chậm bước cùng đến trường trong nắng
Để tình cờ sống với chuổi ngày thơ.

Ai về đây mắt nhìn nhau tìm lại
Cõi thiên đường đàn chim nhỏ líu lo
Tóc dù bạc nhưng tình còn đọng mãi
Mái trường xưa ấp ủ đến bao giờ.

Ai về đây cuối hạ ngày hội ngộ
Phượng không còn, dư ảnh vẫn thiết tha
Gìn giữ chút ngọc ngà qua dâu bể
Tình Nguyễn Hoàng nồng ấm chẳng phôi pha.


Quảng Trị,04/08/2007



READ MORE - ĐỖ TƯ NHƠN

Wednesday, August 26, 2009

ĐỖ TƯ NGHĨA


ĐỖ TƯ NGHĨA

MỘT ĐÔI KHI TÔI MUỐN



Một đôi khi tôi muốn
tìm giữa cuộc đời
một tâm hồn bạn hữu
để cùng cười khi vui
để cùng khóc khi buồn
nhưng dường như khó quá

Một đôi khi tôi muốn
khoét tim tôi mở ra ngàn cánh cửa
cho cuộc đời vào ra
nhưng tại sao
cửa hồn tôi vẫn đóng
lỗi tại tôi
hay tại cuộc đời?

Một đôi khi tôi muốn
ngủ thật yên những đêm
vì cuộc đời là con dao nhọn
vẫn cắt hồn tôi
thành những miếng ngon lành

Một đôi khi tôi muốn
hồn tôi như nắm tro
để tôi vãi tung ra
bốn phương trời
theo gió...

Một đôi khi tôi muốn
em đến thăm
góc tối của hồn tôi
sâu như mấy tầng địa ngục
một lần thôi
dù chỉ một lần.

Đà Lạt, 1983
READ MORE - ĐỖ TƯ NGHĨA