Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, November 29, 2016

NGHE THƠ LA THỤY NỬA KHUYA - Thơ Châu Thạch

   
                 Nhà thơ Châu Thạch



NGHE THƠ LA THỤY NỬA KHUYA

Nghe thơ La Thụy nửa khuya
Mênh mang trời đất như chia hai miền
Miền cao trăng nước cung thiên
Miền gần thao thức ưu phiền trần gian
Âm trong nhẹ, vút mơ màng
Âm trầm lụy, tỏa mang mang cõi đời.

Nửa khuya mưa gió ngoài trời
Nghe thơ La Thụy thấy lời trăng sao
Tiếng thương đau, thấy ngọt ngào
Tiếng vui, thấy sóng dâng trào niềm riêng
Thấy anh hùng, thấy thuyền quyên
Thấy say chếnh choáng, thấy nghiêng hồ trường
Thấy hồn trăm sợi tơ vương
Buồn vui quyện với yêu thương chẳng lìa.

Nghe thơ La Thụy nửa khuya
Phòng hương quạnh giấc, ngoài kia đông về ./.


                                              Châu Thạch

READ MORE - NGHE THƠ LA THỤY NỬA KHUYA - Thơ Châu Thạch

PHÁ VỠ MỘT THÀNH KIẾN CÒN KHÓ HƠN PHÁ VỠ MỘT NGUYÊN TỬ - Lâm Bích Thủy

         
                        Tác giả Lâm Bích Thủy


PHÁ VỠ MỘT THÀNH KIẾN CÒN KHÓ HƠN PHÁ VỠ MỘT NGUYÊN TỬ
                          Trích HK “về người cha thi sĩ” của Lâm Bích Thủy

   Những dịp về thăm quê, tôi thường được các anh chị lớn tuổi kể lại những  việc ba tôi đã làm; đọc lại những bài thơ ông đã sáng tác trong thời gian  Cách mạng Tháng Tám và  Kháng chiến kiến quốc cho tôi nghe:
“Hồi ấy, hễ có việc gì xảy ra, bà con trong huyện đều kéo nhau đến mét “mình ên” ba em (tức chú Yến Lan). Cứ nơi nào cần thì chú có. Chú chuyên hòa giải những rắc rối của bà con xóm giềng. Ai ai cũng yêu tin và nghe lời chú khuyên giải.
    Bài viết của anh Cao Kế trên Tạp chí VNBĐ đã chứng minh cho điều ấy.
 “ Nơi nào tôi không biết chứ ở ”Phòng thông tin” An Nhơn thời ấy, dưới sự chỉ đạo của anh Yến Lan, công tác tuyên truyền khá sinh động. Ngoài việc đọc tin, bài. Còn có ngâm thơ, hát những bài ca Cách mạng, hô bài chòi, có đưa ra những câu thơ để đố. Chính anh Yến Lan là người đảm nhiệm chuyên mục này. Anh sáng tác một số câu thơ ẩn ý để đố về tên các loại vũ khí, các huyện trong tỉnh, các cửa hiệu thị trấn…Hoặc tổ chức thi, khuyến khích khán thính giả gửi bài về “Phòng thông tin”. Đến ngày định trước, anh phân tích các câu thơ đã đố và đưa ra lời đáp án. Ai trả lời đúng được nêu tên trước thính giả, được đám đông hoan nghênh nhiệt liệt. Chỉ có thế mà tác dụng rất lớn, khích lệ người dự thi rất đông.
    Ông Trà Văn Tri cũng đã viết về ba:
 “Trong thời Pháp thuộc dân ta sống trong gông xiềng áp bức của thực dân phong kiến, xã hội ta lúc ấy thật vô cùng tối tăm và đời sống của đa số đồng bào ta nhất là thợ thuyền và các tầng lớp lao động đều có một lối sống rất lầm than, cơ cực, thơ văn lúc đó  là nguồn an ủi với những người yêu nước, yêu thơ nhạc, yêu nghệ thuật. Khi đắm mình trong thơ văn thì tâm hồn mới thanh thoát, mới quên đi được niềm nhục nhã nỗi đắng cay của một dân tộc bị thực dân đế quốc thống trị.”
 Với lòng yêu thơ ấy họ đã đứng ra thành lập một Hội Tao Đàn nho nhỏ, tổ chức những buổi “Xuân giang hoa nguyệt dạ” để làm thỏa mãn những khách thơ văn của lớp trí thức trẻ. Một trong những bài được chọn để ngâm trong những đêm trăng đó có bài “Nhớ” của nhà thơ Yến Lan ….”

  Ngoài công tác văn hóa, ba tôi còn trực tiếp tham gia chiến đấu cùng bà con xóm giềng. Ngày 25/6/1946 Pháp đem quân và phương tiện chiến tranh đổ bộ lên Đà Nẵng. Từ đó, chúng đem hàng tấn bom Napan rải ven khu vực miền Trung. Xóm làng nơi đây không còn bình yên nữa rồi! Nhưng một điều mới, lạ đến với các vùng quê ấy.
                                        
         Ôi Bình Định, đau thương gài trước ngõ,          
         Mẹ ru con trong bóng tối phập phồng.
         Trong tay áo còn nghe dài tiếng thở,
         Bỗng thấy quanh thềm hát núi, ca sông.
                                         (Bình Định 1945)

Khi Cách mạng bùng nổ trên toàn quốc; các tỉnh Miền Trung- Bình Định, Quảng Ngãi, Phú Yên.., tuy muộn hơn nhưng không khí kháng Pháp của những nơi này hừng hực lửa anh hùng nào kém nơi đâu! Tinh thần đó đã chuyển hóa thành những hành động cụ thể, người dân luôn trong tư thế sẵn  sàng; đây, thơ ba đã ghi lại không khí hào hùng của nhân dân quê tôi khi ấy:
            Ta giấu kho hàng
Ta dồn lều lưới
Hầm chồng cát dội
Địch mà cập bến
Kẻng nhanh thúc hồi
Nào anh em ơi
Súng giáo không rời….                                   
 Người trí thức trong huyện bấy giờ luôn đi đầu, đồng cam cộng khổ với quân dân trên mọi trận tuyến.
Tôi sống những ngày thân cò lặn lội
Gánh gạo, phá thành, đốt đuốc dời kho
Cùng xứ sở chung ngọn đèn le lói
Ngày như đêm tiếp mãi lửa căm thù..
 Hồi ấy, tôi còn nhỏ, chưa được tham gia vào tổ chức nào, song cũng đã biết nhận diện rành rọt việc ba làm. Ông bận rộn, tất bật cả ngày nên tôi nghĩ trong bụng: “Ba là người giỏi giang và quan trọng nhất phố huyện mình.” Ba lo chỗ ăn, chỗ ở cho các chú bộ đội về làng. Ba đi sớm về khuya, có bữa không kịp ăn. Tối thì tập kịch cho các anh chị thanh thiếu niên. Kịch thường là những câu chuyện đời thường, tốt thì phát huy khen thưởng, xấu thì góp ý để sửa chữa. Những vở kịch ngắn do ba sáng tác, diễn theo lối hô lô tô hay bài chòi. Tôi đứng xem các anh chị tập, rồi cũng thuộc đến tận giờ; như bài vè về các loại xe thời đó:
Vè vẻ vè ve                          Chiếc công nhông ray
Cái vè xe cộ                         Ép ép đó đây
Rồ rồ máy nổ                       Ép ê xe ngựa
Là chiếc xe goòng               Đường hư ta sửa
Kính kính cong cong           Chạy sớm chạy đêm
Là chuông xe đạp                Giặc Pháp cố ngăn
Chạy bay như táp                Xe ta vẫn chạy.

 - Thuở ấy, tôi không biết “Thi sĩ” là chức gì nhưng thấy mọi người nể trọng ba lắm. Nhất là các chú bộ đội mới về làng. Các chú hỏi tôi: “cháu con ai?- Dạ, con của ba má Lan - tôi trả lời. Các chú lắc đầu không ưng, bảo:
 -  Nếu ai hỏi “cháu con của ai, cháu của bà nào thì con trả lời như thế này:
 - Dạ, cháu là con gái thi sĩ Yến Lan; là cháu bà Cường béc (lúc ấy bà ngoại tôi bị toét mắt ).
 - Ba tôi là cán bộ được lãnh đạo huyện tin tưởng giao những trọng trách   quan trọng ở huyện. Nhà có một cái kệ bằng gỗ xoan, ba tự đóng, bự lắm. Trên đó, ba chất sách Tây, Tàu và tài liệu. Ba dặn: “không được đứa nào lấy thứ gì trên này chơi, mất nó ba bị bỏ tù!”. Nhưng tối nào cũng có một chú đến lấy một vài tờ trên kệ, ra chòi đọc vào loa cho dân thị trấn nghe.
- Trên kệ có mấy bọc giấy bạc vuông vắn, còn mới toanh. Ba nói tiền này đã đổi ra tiền Tín phiếu rồi, không còn xài được, chỉ để cho trẻ chơi đồ hàng thôi. Tết đến, ba thấm nước miếng, đếm cho trẻ con cả xóm mỗi đứa 10 tờ.            

  Trong những năm cuối đời, sống tại quê nhà, các anh chị từng được ba dạy học, hay tham gia trong đội kịch Yến Lan, thấy ông kém may mắn hơn bạn cùng thời nên thường tưởng nhớ lại quá khứ mà ba đã đi qua một cách nuối tiếc. Trong Cách mạng, những ai cùng tham gia với ông, đều chứng kiến ba rất tận tâm, sẵn lòng hết mình với công việc. Ông không mảy may do dự, so đo, tính toán, một lòng theo Cách mạng, tham gia cứu quốc đến cùng.
                        Tôi đã ôm ngọn lửa làm người
                        Dù leo lét nhưng không hề để tắt
  Năm lên tám tuổi, tôi đã chứng kiến được rất nhiều việc ba làm, như khi máy bay đến oanh tạc, ba cùng các anh thanh niên đi tìm khăn, vải xita rồi nhúng ước phát cho dân đắp mặt trước khi xuống hầm để tránh bom khí độc.
 Và, có một hôm, tôi đang chơi đồ hàng cùng bạn thì nghe tiếng ba cảnh báo: “Bà con mau xuống hầm, một chiếc khu trục đang quần ở cửa Đông,  chiếc nữa đang lượn lờ trên khu chợ; chực thả bom xuống đầu ta đấy.” Lời ba vừa dứt thì tiếng gầm rít của động cơ máy bay, tiếng nổ của bom bùm bùm… tiếp theo gió, bụi tung khắp mặt đất…
   Rồi, máy bay mất dạng, thị trấn trở lại yên ắng, nhưng tôi lại thấy nhiều người chạy về hướng có tiếng kêu la thất thanh: “Tội quá anh Lan ơi, cả nhà ông Thái Thạnh bị trúng bom chết hết, ông ấy đứng trên miệng hầm xem máy bay oanh tạc thì bị sức ép hất ra xa, bị thương nặng lắm, không biết có qua khỏi không?! Tôi lại nghe tiếng rên và nhìn thấy ông Thái Thạnh đang lê tấm thân đầy máu, áo quần cháy đen, thịt ở sườn lòi đỏ au, lầy nhầy như cao su bị cháy về phía ba kêu lên thảm thiết “Anh Yến Lan ơi! cứu tôi với! nóng quá! Yến Lan ơi! tôi chết mất!” Tiếng rên ấy như xé nát tim ba! Ông không chịu nổi, liền bảo một anh thanh niên, chạy vào xóm Lò-Rèn, múc gáo bùn đắp lên vết thương để giảm cái nóng như đang rang ông ấy. Sau đó, ba cắt cử hai anh võng ông lên Nhà Thương Kim Châu. Vì vết thương quá nặng, ông đã chết trên đường đi!
 Chuyện ông Thái Thạnh về sau tôi còn nghe: 
 Trước kia, nhà ông buôn vải được trời cho lộc. Chủ hàng bên Trung Quốc, gửi cho bà con Hoa Kiều ở Bình Định một số vàng. Vàng này được dát mỏng, cuộn lẫn vào súc vải. Người nhà không biết, đem bán tất cả cho bạn hàng. Gia đình ông Thái Thạnh may mắn mua được mấy súc. Nhờ số vàng này, gia đình ông trở nên giàu nhất nhì thị trấn bấy giờ. Vì vậy, khi gặp nạn này, người ta lại nói “Lộc Trời bất tận hưởng! hay “Được bạc thì sang, được vàng thì lụi”. Chuyện đó thật hư thế nào tôi đã nghe kể như vậy thôi.  

  Còn thơ ba sáng tác lúc này như chắp thêm cánh cho Cách mạng: 
                        Chỉ mong em để làm tin
                        Đôi tai lắng lấy lời khuyên, ghi lòng
                        Ở đây đài điện đã thông
                        Phổ câu hát ngọt, phổ dòng ca vui
                        Phổ niềm tin Đảng xây đời
                        Nên khung hạnh phúc ghép đôi chúng mình

Năm 1951, có chủ trương giảm biên chế ở lĩnh vực Hành chính và Y tế tại các tỉnh miền trung-Trung Bộ. Bình Định, nhờ có vựa lúa của huyện Tuy Phước, không bị đói như các tỉnh bạn. Bình Định có đường quốc lộ I ngang qua thị trấn An Nhơn đã trở thành điểm hẹn văn hóa lý tưởng cho văn nghệ sĩ các tỉnh bạn. Ba tôi và chú Khánh Cao tập họp những văn nghệ sĩ đã về sống ở An Nhơn, thành lập Đoàn kịch Liên Khu Năm. Đoàn kịch do ba làm trưởng đoàn. Ông giữ chức vụ này cho đến khi ra tới Hà Nội (3/1955)

  Song le, nói đi cũng nên nói lại. Bên cạnh những chiến công hào hùng của quân dân; Bình Định cũng đã để xảy ra một vài sự việc đáng tiếc. Cho đến hôm nay, nghĩ lại rất đỗi xót xa nơi con tim mình!
  Hồi ấy, các phương tiện thông tin, hiếm hoi; sơ sài. Mọi tin tức, chủ trương chỉ thông qua cái loa làm bằng sắt tây mà Phòng Thông Tin truyền đến từng ngõ, ngách xóm làng. Trình độ dân trí phần đông còn thấp; văn hóa chỉ mới qua chương trình “Bình dân học vụ”. Lúc đó, chủ trương của Đảng có nêu ý “Đề cao giai cấp Công Nông, hạ tầng trí thức” nên bọn cơ hội, phản động lợi dụng ở vế “hạ tầng trí thức” để trả thù cá nhân.
  Nạn nhân trước tiên là thi sĩ Yến Lan. Một vài người tìm trăm phương, nghìn kế hại ông. Họ thấy ông hiểu đời quá, hăng hái quá nên cố dìm ông.
Chuyện này do ba tôi kể lại:    
  Hôm đó, Ủy Ban Kháng Chiến thông báo cho nhà thơ Yến Lan là cần triệu tập nhân dân thị trấn để phổ biến Chủ trương chính sách của Đảng mới nhận được. Nhà thơ đến Phòng Thông Tin, sắp xếp, bố trí người loa báo cho bà con biết để đi họp đông đủ. Sau đó, ông tới thẳng điểm họp chờ dân đến. Ở đấy, ông thấy đã có hai cán bộ lãnh đạo; một của huyện và một đại diện ở Bồng Sơn vào, đang ngồi nói chuyện ở dãy ghế đầu. Nhà thơ hớn hở tới đó. Bỗng, ở đâu, ông Dước xuất hiện, sải chân, ngán đường và hất bộ mặt bóng lộn như bôi dầu, xách mé:    
- Này Yến Lan, đi đâu đấy?
- Sao anh hỏi lạ vậy, tôi đi họp chứ đi đâu?
- Đi họp sao không về chỗ ngồi còn lên đây làm gì?
- Thì tôi đang đến chỗ ngồi đây.
- Chỗ ông ở đâu trên này mà lên?
- Thế chỗ của tôi ở đâu?
- Chỗ của ông là ở dưới kia - Ông ta nhếch mép vẻ khinh khi, đưa bàn tay sần sùi, móng tay cáu đen, cụt ngủn như những quả chuối đẹt, chỉ xuống băng ghế tận cùng, nói:
- Đó, chỗ ông ở dưới, xuống đó mà ngồi .
   Nhìn theo tay chỉ dãy ghế cuối cùng dành cho người đến sau; nhà thơ thấy mình bị xúc phạm quá mức, mặt nóng bừng bừng, cục tự ái ứ lên tận cổ,  song ông gìm lại được; không thèm trả lời, lách mình sang trái, đến thẳng dãy ghế dành cho Ban lãnh đạo của huyện. Hành động này như đổ thêm dầu vào lửa đối với ông Dước; khiến ông ta tức điên, mặt hầm hầm như đe :
  “Mày hãy đợi đấy, Yến Lan kia”
    Thời gian này, tôi còn nghe má cằn nhằn với ba: ông làm gì mà để họ xì xầm nhiều thế.” Và tôi nghe ba giải bày “Tôi có làm gì bậy đâu mà má nó lo đến thế,” Nhưng vài hôm sau đó, lại thấy ba lấy túi, xếp áo quần vào và nói với má là ra Bồng Sơn.
 Tại Bồng Sơn, thoạt nhìn thấy ba bước vô Đồn (cảnh sát), ông Minh Vĩ Trưởng Ban KC tỉnh Bình Định, ngạc nhiên hỏi:
- Yến Lan! cậu đi đâu mà lạc ra tận đây?
- Nghe nói các anh sắp cho tôi đi an trí (tù), tôi tự ra đây trước để các anh đỡ vất vả. 
- Bậy nào! đúng là mình có nghe nhiều tin đồn thất thiệt về cậu, biết là ý đồ bọn xấu, hòng phá vỡ tình đoàn kết giữa trí thức với dân, làm tổn hại Cách mạng. Nếu tin họ, mình đã lôi cổ cậu ra lâu rồi chứ đợi đến giờ sao? Rồi, ông cười cười, bảo: “Thôi về đi, kẻo gia đình lo!”

Khi Cách mạng Tháng Tám bùng nổ trên toàn quốc; ở tại thị trấn An Nhơn, chính ba tôi và cậu Thúc Thành của tôi, đứng lên kêu gọi dân chúng và dẫn đầu một đoàn gồm dân, quân, trí thức đi cướp chính quyền về trao cho Uỷ Ban Kháng chiến huyện. Vậy mà có người cố tình không hiểu, đã tìm trăm phương nghìn kế để triệt hạ ông, lý do rất chính đáng là:
    “Yến Lan đã từng dạy học tại trường Mission của Pháp ở Thanh Hóa, tức là làm tay sai cho giặc, là phản động, phải loại bỏ không thương tiếc!
  Khổ một nổi, hồi đó, nhân dân bị ảnh hưởng từ câu khẩu hiệu của Phong Trào Xô viết Nghệ Tỉnh đề ra: “Trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận rể”. 
   Người muốn đào tận gốc, rể của trí thức ở huyện, và tích cực nhất là ông Châu và ông Dước. Trình độ ông Dước chỉ học đến đệ tam (lớp 2-3 bây giờ), là cai đồn điền cao su Phú riềng trốn về. Ông ta căm ghét Yến Lan tận xương tủy vì không thích sự nổi tiếng của nhà thơ. Tính đố kỵ, cố chấp của ông không chịu để Yến Lan yên. Ông Châu và ông Dước họp kín, bí mật bàn kế hoạch thủ tiêu tên tay sai của địch: “Bắt Yến Lan bỏ bao tải dìm chết rồi thả trôi sông”. Thật may! trong nhóm họp kín có ông Nguyễn Thoại, người tham gia “Đội kịch Yến Lan”, lén báo tin để nhà thơ biết mà đề phòng. Ông kịch liệt phản đối việc đối xử với Yến Lan: “Các anh làm như thế là bậy! Yến Lan không làm gì sai sao ta cứ cố tìm cách hại anh ấy. Với ai chứ với Yến Lan tôi kịch liệt phản đối hành động này...”
  Nếu không có chú Thoại, chắc ba tôi đã bị bỏ bao dìm chết thả trôi sông từ ngày đó rồi!
  Sau giải phóng, chú đến nhà ôn lại chuyện cũ với ba. Chú cười hiền, tự hào nói: “Tôi đã cứu được cho văn học nước nhà và quê hương Bình Định một nhà thơ lớn”. Còn với vợ con, ba căn dặn: “Ba còn sống được đến giờ, là nhờ có chú Thoại đấy.. công chú lớn lắm các con đừng bao giờ quên!”
   Chúng tôi nhớ mãi người đã cứu ba. Rất tiếc chú không còn và không có con cháu nối dõi; nghe nói chú ái nam ái nữ .    

   Năm tháng trôi qua, chiến tranh, bom đạn, chết chóc cũng qua; hòa bình, tự do trên toàn cõi Việt Nam. Mọi chuyện tưởng như hòn đá tảng, chìm trong lòng hồ. Thế mà, vào đầu thế kỷ 21, trong một buổi sinh hoạt ”Câu Lạc Bộ thơ ca Thanh Đa”, thình lình tôi nghe một nữ thi hữu, tuổi đã cao, nói: “Ông xã tôi bảo: Yến Lan là nhà thơ phản động”. Tôi bàng hoàng! Câu nói đó làm tôi nhức đầu! Tôi cố tìm ra câu trả lời của cái gọi là ”Yến Lan là nhà thơ phản động” ấy.
-/ Phải chăng vì ba tôi-nhà thơ độc nhất vô nhị trong hàng trăm Văn nghệ sĩ ở Hà Nội vào ngày 26/11/1959 bất chấp tất cả sự nhạo báng, xỉa xói của mọi người để theo sau linh cữu - cụ Phan Khôi người bị coi là “cầm đầu bọn Nhân văn giai phẩm” đến nơi an nghĩ cuối cùng với nghĩa tử là nghĩa tận!
-/ Hay người ta suy ra từ những câu thơ của ông trong bài “Tĩnh vật” viết trong thời gian Cải cách ruộng đất và bị xếp vào loại có tư tưởng lệch lạc:
…….   Cũng trong quãng đời
                                                đi đó
                                                đi đây
Tôi theo bước đôi người
                        hì hục lao vào cuộc sống
Tay làm gió xoay một chiều chong chóng
Tuông cỏ hoa tay vắt ngược bụi đàng
Những bước lê dài khua tiếng sắt, tiếng gang
Lấy cả giáo điều rán mỡ cho guồng máy nổ
Phút ương yếu lòng tôi luôn nhác sợ
Khi mỏi mê không biết tựa vào đâu……..                       
Nhưng rồi, tôi phát hiện được từ trong lá thư ba tôi gửi cho nhà nghiên cứu văn học hiện đại - Khổng Đức, có đề cập đến vấn đề này.
“…Năm 1946 Đoàn văn nghệ sĩ Miền Trung ra dự Văn Hoá Toàn Quốc, lúc đến hội trường Nhà hát lớn, anh em văn nghệ Bắc Hà ùa ra đón, riêng Võ Hoàng Chương chạy lên trước, hỏi to “Tôi hỏi có Chế Lan Viên không - tác giả “Bóng giai nhân”? Khi Tôi bước tới hỏi lại: “Tôi chưa có hận hạnh được biết anh là ai, thì Chương chỉ vào mình nói: “Vân muội đây và cậu – Bóng .Giai Nhân?”.
  Còn vở kịch có diễn ở Quãng Ngãi, nghe nói hôm ấy tướng Nguyễn Sơn lên sân khấu, vổ tay vào bao súng , đòi bắn Yến Lan…vì…..Chuyện ấy người ta đồn vào tới Đồn Đá - cách Bình Định 5 khu - do hoạ sĩ, văn giáo lang thang vào đó kề vui cho bạn làm quà. Thế là tai hại đáo để; tự nhiên người ta cho rằng Yến Lan phản động, bị Nguyễn Sơn đòi bắn, và đã bao lần tôi bị chính quyền kháng chiến gọi đi, muốn tống vào khu an trí với bao chuyện bị bịa đặt do bọn khác vu cáo làm hại mình.
Quả không sai; nhà bác học A.Einstein đã đúc kết từ trong trải nghiệm của mình: “Phá vỡ một thành kiến còn khó hơn phá vỡ một nguyên tử”./.
                                                                          Lâm Bích Thủy

READ MORE - PHÁ VỠ MỘT THÀNH KIẾN CÒN KHÓ HƠN PHÁ VỠ MỘT NGUYÊN TỬ - Lâm Bích Thủy

ĐỌC “CHUYỆN BÂY CHỪ MỚI KỂ” - Hoàng Đằng


                 
                                              Tác giả Hoàng Đằng 

                    

               ĐỌC “CHUYỆN BÂY CHỪ MỚI KỂ”
                                                         Hoàng Đằng

Dịp 20/11 năm nay (2016), tôi được nhóm cựu học sinh Nguyễn Hoàng – Quảng Trị 1964 – 1971 gởi tặng tập “CHUYỆN BÂY CHỪ MỚI KỂ” – tập sách do các thành viên của nhóm góp chuyện mà thành.
Người tôi dậy mừng vui vì được anh chị em quan tâm đến; tôi xin có lời cảm ơn.
Tôi có tính trân trọng, ưu ái, nâng niu bất cứ quà gì mà những người thân yêu dâng tặng. Vì thế, tôi đọc ngấu nghiến tập sách và bây giờ tôi muốn nói lên những cảm nghĩ của mình. Sách chỉ in 300 cuốn, không phổ biến rộng rãi; thành thử những cảm nghĩ của tôi có thể giúp những người không tiếp cận sách biết được một phần nào nội dung của sách. Tôi xin phép “gọi đại” công việc của mình là điểm sách.  
Sách dày 184 trang, khổ 14.3 x 20.3 cm do NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN in và phát hành tháng 6 năm 2016, gồm 1 lời ngỏ, 25 bài tản văn, 20 bài thơ và 18 trang ảnh thể hiện sinh hoạt của nhóm. Trong 25 bài tản văn, 23 bài do người của nhóm viết, hai bài do thầy cô viết. Bài “Những người tiếp nối giữ lửa Nguyễn Hoàng” của thầy Hồ Ngọc Thanh, nguyên tổng giám thị, đánh giá “lửa Nguyễn Hoàng” được nhúm từ gần 2 thập kỷ; bây giờ các thế hệ đầu đã chùn bước do già yếu, bệnh tật, chết chóc; “lửa Nguyễn Hoàng” kỳ vọng giao qua các thế hệ sau, trong đó có thế hệ 64 – 71. Bài “Niềm vui của tôi” do cô Nguyễn thị Thanh, cô giáo dạy Pháp văn, viết, kể lại “niềm vui đầy xúc động” khi cô được mời dự hội ngộ Nguyễn Hoàng đầu tiên năm 1992 tại Sài Gòn; niềm vui của cô nhân lên khi thấy các ban liên lạc Nguyễn Hoàng ở các tỉnh thành trong nước và hải ngoại thành lập; cô hứa: “Tuổi cao, sức khoẻ hao mòn ..., nay đã nhớ nhớ, quên quên, nhưng tôi tự hứa là khi nào còn có điều kiện tham dự các sinh hoạt với các thân hữu, học sinh Nguyễn Hoàng thì tôi cố gắng có mặt ...” Đáng phục chưa!
Qua đọc tập sách, tôi biết được rằng khoá 64 – 71 Nguyễn Hoàng, ở các kỳ thi Tú Tài 1 và 2, có một số anh chị em đỗ hạng ưu. Hạng ưu là hạng các thí sinh có điểm số trung bình các môn thi trên 16 điểm. Thời trước, thi cử chọn lọc kỹ, tỉ lệ đỗ không nhiều; đỗ hạng thứ (trung bình các môn thi đạt 10 điểm) đã khó, huống gì đỗ hạng ưu.  Khoá 64 – 71 được xem như “thế hệ vàng” của trường; anh chị em học trung học giỏi đã đành, nhiều người có cơ hội học tiếp đại học, hậu đại học cũng xuất sắc, ra đời thành đạt nổi tiếng trong nhiều lãnh vực.

            

Cái nhan đề “CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ” kích thích tôi đọc tập sách quên ăn, quên ngủ; tôi cứ tưởng đó là những chuyện đáng lẽ “sống để bụng, chết mang theo” bây giờ mới bạo gan kể ra vì tuổi những người liên quan đã xế chiều, chẳng còn ngại phiền hà hay những chuyện thuộc dạng “tiếu lâm” đọc cười “bể bụng”. Té ra không nhất thiết phải vậy. Cái nhan đề ấy của sách là lấy cái đầu đề bài “Chuyện bây chừ mới kể” của Trần Kiêm Thảo. Trong bài này, Trần Kiêm Thảo cho biết dù giỏi Toán, vào lớp 10, Thảo không chọn ban B mà chọn ban A vì muốn gần người bạn thân là Nguyễn Văn Dục và sau khi xong Tú Tài 1 Thảo vào Huế học tiếp để tránh sự dòm ngó của an ninh, việc này khiến thầy cô bạn bè ngẩn ngơ không biết Thảo đi đâu.
Tuy nhiên, trong sách, vẫn có nhiều chiêu trò nghịch ngợm được kể lại rất thật như chuyện nữ sinh duy nhất Nguyễn thị Tỵ xếp vào lớp 12B2 (1970 – 1971) phải “khóc ròng” vì bị các bạn trai “buộc vạt áo dài vào chân ghế”; chuyện cô giáo Anh Văn lớp 10B3 (1968 – 1969) Tạ Đạo Huệ bị học trò thu giấu nón lá, đổi giờ, qua dạy lớp khác, loay hoay tìm mãi đến phát khóc; chuyện nam sinh Bùi Phước Vĩnh trên đường đi học “bị mười mấy con mắt (của mấy o trong nhà o Đào) săm soi” nên “phải liều mình một trận ???”; chuyện nam sinh Trần Kiêm Thảo lớp 10A4 dùng võ nghệ đánh đuổi nam sinh tên Phương, Tú (?) của lớp 11, 12 C và Nguyễn Nghị của lớp 10A1 đến ngồi trên bàn thầy cô giáo trong giờ ra chơi để tán nữ sinh lớp mình; từ đó, kết bọn đánh nhau ... 
Sách cũng kể lại nhiều tình yêu học trò chớm lên nhưng không nở hoa kết trái để dư âm còn đến bây giờ; những tình yêu thường đơn phương – yêu mà không được đáp ứng. Chuyện Trần Kiêm Thảo được cô bạn cùng lớp tên D. thầm yêu trộm nhớ trong khi cô bạn D. đang được một bạn thân của Thảo tên Sắt theo đuổi; rốt cuộc, kết quả không ra gì. Chuyện Trần Xuân Bình yêu Thanh Tâm viết thơ tình, làm thơ tình, tự nguyện quét vôi dịp Tết nhà mẹ người mình yêu; cuối cùng, mọi chuyện tan thành mây khói. Cũng có những cuộc tình để lại dấu ấn đâu đó trong thơ, chẳng hạn như:
Nhà em bên chợ Sãi,
Phải qua đập Rì Rì.
Muốn vào thăm ... mà ngại,
Vì ... biết nói năng chi! ...
(Văn Kế Thế)

... Tìm nhau ta biết tìm đâu,
Ta thân lính chiến, em dâu nhà người ...
(Trần Hữu Giáo)

... Có lần ướm hỏi cô (láng giềng) e lệ,
Nghiêng nón, nâng tà thật dễ thương ...
(Lê Bá Lư)

Nhìn chung, tất cả các bài viết (văn cũng như thơ), về nội dung, đều nói lên tình cảm nồng nàn đối với quê hương Quảng Trị, tình cảm đậm đà đối với thầy cô Nguyễn Hoàng , tình cảm thân thương giữa bạn bè đồng môn, đồng khoá, tinh thần nâng đỡ nhau trong lúc khó khăn, hoạn nạn.
Tất cả các tác giả đều có lối hành văn uyển chuyển, vững chãi; tuy nhiên, nếu xem xét chi li, một số câu sai văn phạm vẫn được tìm thấy , chẳng hạn như câu: “ ... CHO DÙ bị đổ nát, CHO DÙ bị mất tên, NHƯNG hình ảnh thân thương của ngôi trường Nguyễn Hoàng nhỏ bé đó đã đi theo bước chân của thầy cô cũng như anh chị em cựu học sinh Nguyễn Hoàng trên mọi miền trái đất”; từ NHƯNG nên bỏ đi cho câu văn nhẹ bớt và để phân biệt trong câu mệnh đề nào là chính, mệnh đề nào là phụ. Nói ra để biết văn chương cũng đòi hỏi sự tỉ mỉ không thua chi khoa học. Thế thôi! Không phải “vạch lá tìm sâu” đâu nhé!
Trên đây là những cảm nghĩ của tôi. Lẽ dĩ nhiên, những độc giả khác sẽ có những cảm nghĩ riêng của họ, không giống tôi.
Tôi mạo muội viết ra vì lòng trân trọng đứa con tinh thần của nhóm 64 – 71.
Cuối cùng, tôi mong anh chị em mãi gần gũi nhau để có những việc làm, những công trình thắt chặt tình bạn và giúp ích cho đời.
                                                              Hoàng Đằng
                                                        26/11/2016 (27/10/Bính Thân)

READ MORE - ĐỌC “CHUYỆN BÂY CHỪ MỚI KỂ” - Hoàng Đằng

TÔI ĐI ĐẤU THẦU - Thơ Vũ Quang Tần

 
                                 Tác giả Vũ Quang Tần



TÔI ĐI ĐẤU THẦU

hồ sơ tươm tất
cần câu đủ mồi
đủ quan giám khảo nghiêm ngồi
bụng vươn mặt ghế dầu bôi nhọ đầu

lo nơm nớp mấy nhà thầu
rủi may trúng trượt biết đâu mà lần

như bưng  giữ kín giá trần
phần trăm mấy chục... lọt ngầm cò quanh

ván cờ quân đỏ quân xanh
được mừng hoan hỉ thua đành cảm thương

oằn vai gồnh gánh nhiễu nhương
mồ hôi mưa nắng cũng thương lưng người

trúng mà dở mếu dở cười
trượt về tay trắng víu đời say bia...

                          Vũ Quang Tần

READ MORE - TÔI ĐI ĐẤU THẦU - Thơ Vũ Quang Tần

"VỀ QUÊ ĐI MÀY" - TIẾNG GỌI CỦA NHÀ THƠ HAY CỦA THỜI THƠ DẠI? - Dương Ninh Ninh





VỀ QUÊ ĐI MÀY 
   - TIẾNG GỌI CỦA NHÀ THƠ HAY CỦA THỜI THƠ DẠI? 

Tôi xa Hà Nội không phải “năm lên mười tám” như nỗi lòng một người đã xa Hà Nội trong một nhạc phẩm nổi tiếng từ hơn 60 năm trước, mà là năm tôi mới lên mười bẩy. Tôi xa Hà Nội cũng không được như người đó “khi vừa biết yêu” mà là tôi chưa hề biết yêu và thật lòng cũng chẳng biết có ai đó đã yêu tôi (!)?. Tôi xa Hà Nội cũng không vì một biến cố trọng đại của chung xã hội hay của riêng gia đình tôi mà chỉ là một duyên cớ rất đời thường: Thi được một suất học bổng sang Sing học tập. Do vậy, khi nhận được giấy báo phải xa Hà Nội, trong tôi đã cuộn sóng những niềm vui sướng suốt cả hai tháng trời chờ đợi. Chỉ đến khi ngồi trên máy bay, tôi mới thấy một nỗi buồn cô đơn xâm chiếm lòng mình mặc dù chuyến bay có đủ cả trăm hành khách. Tôi bắt đầu thấy thiếu vắng gia đình, thiếu vắng bè bạn rồi bất chợt nhận ra cái thiếu vắng lớn nhất là một khoảng trời rộng lớn, đó là Hà Nội quê tôi. Vâng, Hà Nội quê tôi, mặc dù nơi tôi sinh ra và lớn lên chỉ là một con ngõ nhỏ trong lòng phồn hoa của Hà Nội, nhưng bố tôi bảo hơn 10 đời nhà ta đã sống trên mảnh đất ngõ này, trong căn nhà nhỏ thân thương này đã được tạo dựng và tu đi đi sửa lại cũng đã mấy trăm năm.
Học xong, đi làm cho công ty người nước ngoài, những thiếu vắng trên càng dầy lên trong tâm hồn tôi. Những nỗi buồn vì xa gia đình, xa bè bạn may nhờ có cái máy tính, cái điện thoại nên nhiều lúc vẫn có thể vừa trò chuyện vừa nhìn thấy người trò chuyện với mình. Vẫn thấy được những khuôn mặt hiền lành như Phật của ông bà nội ngoại; vẫn thấy được nét đẹp thanh tú và giọng nói dịu hiền của mẹ cùng đôi mắt sáng vừa hiền từ vừa nghiêm khắc và những lời khuyên ân cần của bố; vẫn thấy được khuôn mặt ngây thơ nũng nịu của đứa em gái nhỏ luôn nhắc chị bao giò về thì đưa em đi ăn kem Tràng Tiền nhé và vẫn thấy được những dáng vẻ  tinh anh cùng những câu nói mày tao chí tớ thân thiết chia vui chia buồn của lũ bạn. Nhưng còn Hà Nội quê tôi trong đó có cái ngõ hẹp với ngôi nhà thân thương của tôi thì sao mà nhìn thấy và chuyện trò cùng chúng?  
Chiều cuối tuần được nghỉ việc, sau khi đọc và trả lời hết các thư điện tử của lũ bạn gửi từ Hà Nội, lòng tôi như một dòng sông ngập tràn nỗi nhớ nhung về chúng. Để đỡ buồn, tôi lên net và thật bất ngờ, khi vừa mở một trang mạng thì 4 tiếng “Về quê đi mày” bật lên trước mắt tôi rồi chúng vang lên thành một tiếng gọi vừa rất quen vừa rất lạ. Phải chăng lũ bạn tôi, tất cả chúng nó đang hòa chung giọng thiết tha gọi tôi: “Về quê đi mày”? Nhưng chỉ mấy giây sau, tôi hiểu ra mình đã bị ảo thanh bởi đó là tên một bài thơ của Đặng Xuân Xuyến mới đưa lên trang Nhà văn Lê Xuân Quang hôm đầu tuần. Bài thơ ghi rõ cả tên người bạn được gọi: Với Nguyễn Xuân Thành chứ đâu phải với tôi. Nhưng tôi vẫn chăm chú đọc nó. 
Vỏn vẹn 26 câu thơ tự do, toàn những lời tiếng bình dị đời thường không một từ trau chuốt, bài thơ được mở đầu bằng một lời nhắn gọi:
Mày về quê chơi đi
Thói thường khi nói đến mấy tiếng “về quê chơi”, người ta sẽ nghĩ ngay đến chuyện về thăm nơi chôn rau cắt rốn của mình, về cái làng ta phong cảnh hữu tình thân yêu, nơi có triền đê, lũy tre, cánh đồng, phiên chợ… và những người dân quê cần cù một nắng hai sương trong đó có những người ruột thịt họ hàng của ta. Nhưng suốt bài thơ của Đặng Xuân Xuyến, ta không hề bắt gặp một cảnh vật và một con người hữu tình nào như vậy. Thậm chí, ở cuối bài, tác giả có ghi rõ tên quê mình là Làng Đá, một làng quê  nổi danh ở huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên với tích truyện ngôi chùa Đá, nhưng trong “Về quê đi mày”, tuyệt nhiên cũng  không  thấy một câu, một hình ảnh, một dấu tích nào về ngôi chùa lịch sử cổ kính có từ thời nhà Lý ấy. Mà “Mày về quê chơi đi” là để:
Tao lại dạy mày chơi trò trận giả
Mày lại dạy tao bóng chuyền bóng đá
Lông nhông đầu làng cuối ngõ
Cướp cờ 
Đánh đáo
Đủ trò
Hai tiếng “đủ trò” tưởng đã là hết nhưng chưa, bởi còn thêm cái trò này nữa:
Mày khờ khạo
Tao ngây ngô
Nghéo tay cưới chung một vợ
Bọn bạn bảo tao mày 2 thằng dở
To xác rồi đầu vẫn cứ ngu ngơ.
Đến đây thì ta đã rõ, “Mày về quê chơi đi” của Đặng Xuân Xuyến không phải là lời rủ một người bạn về quê chơi mà là tiếng nhắn gọi người bạn đó về quê để hai đứa “to xác rồi” sẽ cùng nhau chơi lại những trò ngu ngơ thời con trẻ.
Nhưng tội nghiệp, sau một chuỗi lời gọi bạn tha thiết ấy, hình như không nghe có tiếng hồi vọng khiến tâm hồn nhà thơ nghẹn lắng lại. Anh lại cất  tiếng gọi “Mày về quê chơi đi” lần thứ hai rồi thở dài buồn tủi nhắc nhớ bạn về tình cảnh ly biệt của hai đứa:
Biền biệt thế
Bặt tin như thế
Và anh kể lể nỗi lòng nhớ thương bạn của mình:
Tao nhớ mày
Rượu tao uống chẳng say
Mỗi người đều có một nỗi nhớ bạn cho riêng mình. Người bình dân trong Ca dao nói  “nhớ bạn chơi vơi”, thì ở đây Đặng Xuân Xuyến nói nhớ bạn “rượu uống chẳng say”. Phải chăng đây là rượu vừa uống vừa chờ bạn về để cùng chung chén nên không thể được phép say? 
Đúng là nhà thơ không say thât. Anh còn nhớ rất kỹ cái đêm cuối cùng trước khi bạn chia tay, giờ nói ra vừa để bạn ở xa cùng nhớ lại vừa kín đáo gửi vào đó một hờn trách nhẹ nhàng con người đã quên lời hẹn ước:
Đêm cuối cùng mày nói thật hay
Khắc trong tim bạn hiền tri kỷ
Nghéo tay tao hẹn ngày trở lại
Hai mấy năm trời
Nước chảy bèo trôi...
Vậy mà buồn thay, vẫn lại không nghe có tiếng hồi vọng. Quá tam ba bận, nhà thơ đành phải cố cất tiếng gọi lần thứ ba:  
Mày về quê chơi đi
Và lần này thì thôi, không kể lể nhắc nhớ cho thêm dài lời mà chốt lại rõ ràng dứt khoát: 
Về với tao. Về với thời thơ dại
Rồi nhấn thêm:
Về đi mày
Tiếng gọi ngắn hẳn, nghe có vẻ hụt hơi. Nhưng không, đó là chính là lời thúc giục để kèm theo câu nói cuối cùng vừa có ý dặn dò vừa có ý răn đe:
Đừng lời nói gió bay.
Như vậy qua chữ nghĩa rất bộc tuệch của 26 câu thơ, ta thấy “Về quê đi mày” là tiếng một người bạn gọi một người bạn thân biệt tăm đã lâu mau về quê để cùng nhau chơi lại đủ trò ngây ngô khờ khạo thời thơ dại. Với tên người được gọi đã được ghi cụ thể ở đầu bài thơ, liệu đây có phải là tiếng  thực của nhà thơ gọi bạn?
Xin hãy giả tưởng, người bạn của nhà thơ đọc được bài thơ này, nghe được lời nhắn gọi của bạn trong những vần thơ này và lần này anh ta không  “lời nói gió bay” như “Hai mấy năm trơi/ Nước chảy bèo trôi..,” đã qua; anh ta sẽ về quê thật, thì đôi bạn có cùng nhau sẽ sống lại “đủ trò” như tác giả đã hứa với bạn không? Tôi tin là không, hoàn toàn không thể có lại được “đủ trò” thơ dại ấy. Làm sao có thể tưởng ra cảnh hai kẻ đàn ông đang ở cái tuổi tri thiên mệnh, mắt đã phai và má đã hóp về đến quê lại có thể cùng nhau:
Lông nhông đầu làng cuối ngõ
Cướp cờ 
Đánh đáo…
và khờ khạo ngây ngô: 
Nghéo tay cưới chung một vợ?
Chính tác giả đã nói, đó là “2 thằng dở”, theo tiếng nói ở quê anh, còn dân ngõ quê tôi Hà Nội gọi là hai thằng rồ! Thế thì làm sao họ có thể diễn cảnh hai thằng dở, hai thằng rồ như vậy. Người ta có thể nhớ về thời thơ dại, ôn lại kỷ niệm của một thời vụng dại, lưu luyến đôi chút với cái quá khứ đã một đi không trở lại đó chứ sao có thể níu kéo nó lại được, nói gì đến việc sẽ lặp lại nó thêm một lần nữa trong đời khi ta đã thành người lớn.
Vì không thể có lại được những trò thơ dại ấy nên “Về quê đi mày”, thoạt nghe tưởng như đây là tiếng nhà thơ nhắn gọi người bạn cũ. Nhưng tĩnh lòng lại, ta sẽ nhận ra đó không phải là tiếng gọi thực của nhà thơ mà là những âm vang của thời thơ dại. Cái thời thơ dại ấy tuy đã qua đi lâu rồi nhưng nó vẩn còn lưu bóng dáng những kỷ niệm về nó trong  tâm hồn mỗi người. Sau mấy chục năm, bươn trải trong thực tế phũ phàng của cuộc sống, mê mải trong những toan tính khôn ngoan của người lớn và đứng trước biết bao cơn bão tinh thần muốn xô đổ những giá trị tình cảm đạo đức, tưởng như những dấu vết ngây ngô của thời thơ dại ấy đã bị xóa nát. Nhưng không, nó chỉ ngủ yên trong lòng mỗi người để khi có dịp thì thức dậy. Với nhà thơ Đặng Xuân Xuyến cũng thế, khi anh nhớ tới người bạn hiền đã biền biệt “hai mấy năm trời” thì cũng là lúc những kỷ niệm thời thơ dại của đôi bạn bừng thức dậy trong lòng anh, âm vang thành những tiếng thơ đầy khao khát được gặp lại bạn để cùng nhau về quê ôn lại thời thơ dại ấy, bởi chỉ có về quê mới có thể tìm lại những dấu vết ngây ngô khờ khạo nhưng hồn nhiên trong sáng vô tư đã qua đi rồi ấy.
Cái hay của tiếng gọi “Về quê đi mày” là ở đấy, ở chỗ nó vừa ảo vừa thật. Và vì thế tôi thích bài thơ này của Đặng Xuân Xuyến.
Bây giờ, tôi lại mong cái giọng hòa âm “Về quê đi mày” của lũ bạn tôi từ Hà Nội vang lên một lần nữa. Nhưng cũng lại là vô vọng. Thay vì cái ảo thanh tôi mong muốn ấy chỉ là mấy tiếng bip bip của điện thoại báo có tin nhắn:
“Chàng nhà tao bảo, mai chủ nhật ăn bún chả nhé! Tao hỏi, đi ăn ở quán Ôbama mới ăn hồi sang Hà Nội gần đây? Chàng lắc đầu: Không, ăn ở nhà do em làm cơ. Mày về với tao đi, về  cùng tao vào bếp rồi cùng nhau ăn như hồi xưa hai chúng mình đã từng lăng xăng phụ mẹ tao mỗi lần bà làm bún chả ở bếp nhà tao để chiều mồm chúng mình ấy!”
Là tin nhắn của cái Hằng đã cùng tôi chung trường chung lớp 12 năm từ Tiểu học đến hết Trung học. Nó dịu dàng yểu điệu như một đóa hoa đẹp lại được bà mẹ giỏi nữ công gia chánh dạy cho nhiều thứ nên bọn tôi gọi nó là Hằng Thục Nữ. Chàng nhà nó hay chồng nó bây giờ là dân công sở, lớn hơn nó 6 tuổi, dắt lưng mấy cái bằng học thực, bị nó đánh sét từ khi nó mới lên lớp 10. Gã đã kiên trì ủ mầm tình yêu nó, chờ nó học xong Sư phạm Mẫu giáo là xin cưới liền tay. Giờ họ đã có một bé trai gần 2 tuổi. 
Đọc tin nó nhắn, tôi đã toan nhắn mắng lại nó: 
“Con Nỡm, mày thừa biết tao đang ở xa Hà Nội cả nghìn cây số lại thêm cơm áo không đùa với kẻ làm thuê cho người nước ngoài, sao lại đưa cái món bún chả Hà Nội khoái khẩu của tao ra để nhem thèm tao thế?”. 
Nhưng nghĩ vui thế thôi chứ tôi biết, con bạn thân của tôi nó đâu có nhem thèm tôi mà chính nó đang nhớ tôi hay đúng hơn là nhớ một thoáng thơ dại của chúng tôi, những buổi tôi đến nhà nó cùng nhau lăng xăng phụ bếp bên mẹ nó làm một bữa bún chả ngon lành…
Vì vậy, tôi không vội nhắn lại cho nó một chữ mà đợi trưa mai, tôi sẽ mở hộp thư gửi cho nó bài thơ “Về quê đi mày” của Đặng Xuân Xuyến cùng đôi dòng tản bình của tôi để, sau khi xong bữa bún chả cho chàng nhà nó, nó sẽ đọc rồi tha hồ mà thương nhớ thời thơ dại mới qua chưa lâu của chúng tôi.

Sài Gòn 25/11/2016
DƯƠNG NINH NINH
Địa chỉ: Thành phố Sài Gòn




VỀ QUÊ ĐI MÀY
(Với Nguyễn Xuân Thành)

Mày về quê chơi đi
Tao lại dạy mày chơi trò trận giả
Mày lại dạy tao bóng chuyền bóng đá
Lông nhông đầu làng cuối ngõ
Cướp cờ
Đánh đáo
Đủ trò
Mày khờ khạo
Tao ngây ngô
Ngoéo tay cưới chung một vợ
Bọn bạn bảo tao mày 2 thằng dở
To xác rồi đầu vẫn cứ ngu ngơ.

Mày về quê chơi đi
Biền biệt thế
Bặt tin như thế
Tao nhớ mày
Rượu tao uống chẳng say
Đêm cuối cùng mày nói thật hay
Khắc trong tim bạn hiền tri kỷ
Ngoéo tay tao hẹn ngày trở lại
Hai mấy năm trời
Nước chảy bèo trôi...

Mày về quê chơi đi
Về với tao. Về với thời thơ dại
Về đi mày
Đừng lời nói gió bay.

Làng Đá, Ngày 11 tháng 12 năm 2014
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

READ MORE - "VỀ QUÊ ĐI MÀY" - TIẾNG GỌI CỦA NHÀ THƠ HAY CỦA THỜI THƠ DẠI? - Dương Ninh Ninh