Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, March 12, 2013

Ngọc Tình - HẸN VỀ QUÊ MẸ




Tôi cũng muốn được về thăm Mẹ
Nhổ tóc sâu cho Mẹ những trưa hè
Ra bãi ngô hái lượm lá chu Me*
Về nấu hến, bát canh quê thơm thảo.

Tôi cũng muốn được về thăm Mẹ
Thăm hàng cau, cây bưởi trước sân nhà
Nghe đâu đây thi thoảng tiếng chuông xa
Quê hương đó, sao mà da diết quá.

Tôi cũng muốn được về thăm Mẹ
Thăm ao làng, sen nay đã nở chưa
Thăm lũy tre xanh, nghe tiếng hát đò đưa
Tiếng của Mẹ ầu ơ cùng năm tháng.

Tôi cũng muốn được về thăm Mẹ
Thăm gốc đa già, ngôi đình nhỏ, bến đò quê
Nơi ngày xưa tôi đứng đợi anh về
Con đò nhỏ đưa anh qua sông cũ.

Tôi cũng muốn được về thăm Mẹ
Thăm trường xưa, thầy cũ, các bạn tôi
Nay ra đi, phiêu bạt khắp phương trời
Hẹn về quê trong một ngày gần nhất.

                                            Ngọc Tình
                                            (Tây Ninh)

(*Cây Chu me thường mọc ở bãi, bờ các vùng quê, ăn rất chua.)
READ MORE - Ngọc Tình - HẸN VỀ QUÊ MẸ

GIẤC MƠ TƯỜNG VI - Truyện ngắn Ngô Diệu Hằng


       Ngôi nhà tôi mới thuê nằm hút trong một con hẻm, bao quanh bởi khu vườn cỏ dại mọc cao tận gối, có chỗ cỏ bò lên ngang với dãy hàng rào bằng gỗ, cứ như thể chúng muốn thoát ra ngoài những khung cửa tù sọc trắng bám đầy rêu phong ấy. Bước chân vào khu vườn, toàn thân tôi bỗng nhiên ớn lạnh, những sợi lông trên tay dựng đứng cả lên. Tôi đẩy bước chân nhanh hơn, mắt cứ thế dán vào gáy của ông chủ nhà béo ú đang bước đi khệnh khạng phía trước. Bất chợt, giữa hai gốc dạ hương xanh xù xì hiện ra một cái cửa sổ màu tím kéo ánh nhìn tôi hướng về phía đó, một cây tường vi gầy xơ xác lá vẫn cố vươn lên tựa vào cánh cửa bị đóng chặt kia. Tôi hỏi đây là cây tường vi phải không. Ông chủ dừng lại, tỏ vẻ ngạc nhiên trong chốc lát rồi ông ta gật đầu: “chắc thế”.

     Trong ngôi nhà đó có một căn phòng bị khóa - căn phòng có cái cửa sổ màu tím đóng chặt kia. Tôi treo bức tranh Tím lên giữa phòng khách. Đó là bức tranh của mẹ, dấu vết duy nhất để tôi biết rằng mẹ đã từng là họa sĩ.

   Bố nói, mẹ là một họa sĩ tự do, vẽ những bức tranh phóng khoáng và dào dạt với bao xúc cảm phiêu bồng. Chính điều đó đã chạm vào trái tim của chàng doanh nhân trẻ đang tràn trề nhựa sống. Ông quyết tâm dò theo những bức tranh để tìm ra người con gái có đôi mắt và trái tim biết hòa vũ kia. Và bố mẹ tôi đã yêu nhau như thế.

   Mỗi lần nhìn sâu vào bức tranh tôi lại cảm thấy như mẹ đang vẽ chính mình. Nhưng sao đôi mắt mẹ u sầu và quạnh hiu đến thế. Người thiếu phụ nghiêng đầu bên giỏ hoa tường vi, chiếc khăn tím, hoa tím và dường như biển trời trong đôi mắt kia cũng tím biếc mơ màng. Càng nhìn tôi càng thấy nhớ mẹ da diết. Còn nàng, nàng nói “Bức tranh của mẹ anh làm em thấy sợ. Càng nhìn càng thấy bức tranh như không có đáy, nó quá sâu và buồn. Đôi mắt thiếu phụ nhìn hoa mà không nhìn hoa, không nhìn chúng ta mà như đang nghiêng nhìn chúng ta…” Điều đó nàng nói đúng. Rồi việc nàng bỏ tôi, gã trưởng phòng đang trên đà thăng tiến tình nguyện rời thành phố về một thị nhỏ có lẽ nàng cũng đúng.

   Đầu hẻm có một Café-Bar khá nhộn nhịp. Tôi khóa cửa, đổ mình vào màn đêm bước về phía đó. Tự thưởng cho mình một ly Dewar’s loại mạnh. Cứ thế, ngồi nhâm nhi và ngó nghiêng những gương mặt chưa quen trong tiếng nhạc trôi bồng bềnh. Trở về, quăng mình xuống giường, mặc cho nàng tiên xanh dẫn tôi đi qua những giấc mơ quen thuộc. Nàng mang tôi bay giữa vũ trụ bao la, đôi chút se lạnh và vài tia sáng vụt qua như những ngôi sao băng lấp lánh. Rồi tôi bước vào một điện thờ ngập tràn sắc tím, một không gian mênh mông rợn ngợp với mùi hương thoang thoảng ve vuốt bên vai. Đi mãi, đi mãi và từ trên cao đổ xuống một luồng ánh sáng xuyên qua lớp không gian màu tím ấy…

   Màu tím loãng đi và chỉ còn nắng ban mai hắt thẳng vào mặt tôi thấy rát. Tôi ngồi dậy, dốc một hơi thật dài thổi vào không khí. Những giọt mồ hôi chảy xuống mắt nhồn nhột. Xuống khỏi giường, tôi đi vào phòng tắm, gội rữa cái bê tha đêm qua còn vương lại trên râu, tóc và trong từng hơi thở phả ra. Cái gã tóc mì tôm rũ rượi trong gương nhìn tôi bật cười.

   Tôi nhớ có lần bố nói “Hoa tường vi cánh mỏng, như người con gái mỏng manh, rất nghe lời nhưng cũng rất dễ cô đơn, tàn úa.” Hồi đó nhà tôi cũng có một cây tường vi, hoa màu tím. Mẹ tôi mang theo nó về nhà chồng rồi chăm sóc như người bạn tri kỉ. Có lần tôi nghe bà nội bảo bố “anh nên dạy vợ anh lại đi, đừng để cái gì cũng bắt tôi nhúng tay vào…” Dù nội nói gì, bố vẫn để mẹ quấn quýt bên cây tường vi. Đêm nào cũng thế, trước khi ngủ, mẹ lại ra ngồi trước thềm, từng chùm từng chùm tim tím đung đưa như kể với mẹ bao điều. Mẹ ngồi yên lặng nghe tiếng thì thầm của cây lá, rồi bà vuốt ve cánh tường vi khe khẽ. Có lần tôi đang nấp nhìn mẹ thì nội kéo mạnh tay tôi vào phòng. Tôi mãi không thể quên câu nói của nội ngày hôm đó: “Vào chơi với nội, mẹ mày bị điên…” Ban đầu nó làm tôi sợ, nhưng sau này tôi càng thấy thương mẹ nhiều hơn. Suốt một thời gian dài sau khi mẹ qua đời tôi đã bị mắc chứng trầm cảm. Cây tường vi cũng lặng lẽ héo tàn. Không biết nó buồn mà đi theo mẹ tôi, hay tại thiếu bàn tay chăm sóc.

   Nội rất độc đoán. Không hiểu vì lý do gì, nội cấm không cho mẹ tôi vẽ. Nội ném hết đồ nghề của mẹ. Bố nhặt, nội lại đem đốt. Mẹ mồ côi, bước ra từ cô nhi viện. Thứ mẹ mang theo về là hộp đồ vẽ và cây hoa tường vi. Mẹ nói mẹ yêu và biết ơn bố vô kể. Có lẽ vì thế mà mẹ không muốn bố khó xử, buồn lòng. Mãi sau này tôi mới hiểu được sự chịu đựng của mẹ thật không dễ. Đôi tay người họa sĩ sẽ ngứa ngáy như thế nào khi mà những tác phẩm cứ xếp hàng trong suy nghĩ, khi khối óc cứ muốn bung ra với hàng ngàn chuỗi sắc màu đang cùng nhau nhảy múa trong đó.

   Hoàn thành chương trình du học trở về, tôi ngã quỵ trước bàn thờ mẹ. Khuôn mặt mẹ gầy guộc, trắng bạch, những hố mắt sâu thẳm nhìn tôi sao chan chứa. Tôi gào khóc và lật tung tất cả, chỉ cần cái cảm giác được chạm vào bàn tay hay gò má mẹ một lần nữa thôi. Thứ duy nhất mẹ để lại cho tôi là bức tranh với hai chữ ngoạch ngoạc “Con yêu”. Một loại phong đã ăn hết các móng tay của bà. Tôi nhìn bố, thầm trách bố đã làm gì mà không chăm sóc mẹ chu đáo. Tôi cũng oán hận nội vì đã làm cho nỗi nhớ mẹ mãi mãi băng chặt trái tim tôi.

   Bố đi bước nữa, tôi cũng không ý kiến gì. Nội đã quá già. Phải có ai đó chăm sóc cho nội. Nội đã từng xua đuổi một người con dâu tốt là mẹ. Hy vọng vì tuổi già, nội sẽ biết bằng lòng. Còn tôi, mặc cho người ta bon chen hay thậm chí chửi rằng mình ngu, tôi xin sếp được về quản lý chi nhánh ở huyện và cơ duyên đưa tôi đến sống ở căn nhà này.

   Cây tường vi có bàn tay chăm sóc cũng bắt đầu vươn ra những lá cành. Sau vài tháng, những nhánh xương xẩu nhú lên đôi ba chùm nụ bé xíu đu đưa. Một buổi sáng hây hây gió, như bao buổi sáng thức dậy, tôi chờ đón một sự đổi khác nào đó sẽ đến. Đập vào mắt là những chùm bông tim tím nhỏ xinh thổi vào lòng tôi một luồng xúc cảm thương mến. Thứ màu mây phiêu lãng kia khiến tôi vừa vui, vừa bồi hồi nhớ mẹ. Một suy nghĩ ngốc nghếch đột nhiên xuyên qua mớ tóc xoăn lọt vào đầu tôi, lẽ nào mẹ dẫn lối cho con đến đây và cây tường vi của mẹ đầu thai thành cái tác phẩm trước mặt con lúc này.

   Lại một đêm thật khó ngủ. Gần sáng, tiếng xe máy của mấy bác xe thồ trong hẻm khiến tôi choàng tĩnh. Trời vẫn mờ mờ sương, các tán cây vẫn còn chen chúc nhau ngủ dưới ánh đèn đường chói lóa. Lạnh. Tôi nhận ra mình đang ngồi bên cửa sổ ngủ từ lúc nào. Không lẽ tôi bị mộng du chăng? Hai mày nhíu lại, một cơn đau đầu lóe qua. Tôi không cố nhớ nữa, đi vào phòng nằm tiếp đợi cho trời sáng.

   Nhiều đêm liền tôi thấy như có cái gì đó chen vào giấc ngủ của mình. Không giống như mọi lần uống say nàng tiên xanh lại ru tôi trong thế giới màu tím của mẹ. Một giấc mơ lạ xuất hiện, cô gái có mái tóc nhung dài đứng nghiêng vẫy tôi. Từ xa xa mờ ảo cô gái vẫn toát lên dáng vẻ thanh thoát, dịu dàng và có chút gì đó thân thương. Tôi cứ đi theo cánh tay cô vẫy, qua một cánh đồng cỏ dại đầy gió. Giữa một khoảng cỏ mọc um tùm hiện ra mô đất bé xíu. Một ngôi mộ nhỏ xinh lạnh lẽo. Trong khoảnh khắc, bước chân tôi chững lại, dưới lồng đất kia có vẻ như là một hình hài bé xíu, đáng thương chăng. Đang bâng khuâng không hiểu chuyện gì thì cô gái lại xuất hiện, vẫy tôi đi theo. Đi mãi, đi mãi và nơi dừng chân là cánh cửa sổ màu tím. Cô chỉ xuống chỗ gốc cây tường vi rồi biến mất, cũng là lúc cái bụng tôi kêu ùng ục vì thứ nước cay đêm qua. Tĩnh giấc, từng chi tiết trong giấc mơ còn rõ mồn một và nó làm tôi rùng mình.

   Mấy đêm liền, nhân lúc đang gấp rút triển khai dự án, tôi lấy cớ ở lại luôn văn phòng. Rồi không hiểu sao một buổi chiều tôi thấy nhớ cây hoa tường vi, bồn chồn lo lắng nó đã nở nhiều bông hay chưa, gió thổi mạnh thế liệu hoa có bị rụng cánh. Trở về, tôi chạy ngay đến tưới nước cho cây. Những chùm hoa màu mây phiêu lãng đung đưa như reo mừng. Bỗng nhiên tôi nhớ đến giấc mơ hôm ấy, một chút tò mò rúc rích trong mớ óc nghịch ngợm của tôi. Cùng một cái dao nhỏ, tôi bới từng miếng đất quanh gốc tường vi, khéo léo không để chạm sâu vào rễ. Dẫu tò mò nhưng tôi vẫn thầm mong giấc mơ kia là thứ vớ vẩn. Bỗng nhiên mũi dao đâm phải một vật cứng. Tôi cố dùng tay đào lên, thì ra là một chiếc hộp sơn còn tốt. Tôi giật mạnh cái móc khóa, bên trong có cuốn sổ nhỏ và chiếc chìa khóa bọc bởi một miếng vải màu xanh.

   Tôi ngồi giữa phòng khách, lật mở từng trang Nhật ký Tường vi, thiếu phụ trong bức tranh Tím vẫn đang nghiêng nghiêng nhìn tôi như thế. Có lẽ chủ nhân của cuốn nhật ký chính là người con gái trong giấc mơ kia chăng, người đã mất cách đây bốn năm trong chính căn nhà này.

   Ngôi mộ bé xinh trong giấc mơ hẳn là đứa con năm tháng tuổi của cô và người chồng bội bạc. Họ đã từng là một đôi rất đẹp, thứ tình yêu mà cô thường bảo “anh thương cả đôi bàn tay gầy guộc của em và em yêu cái mùi thơm thuốc lá môi anh còn vương lại trên đó…” Để rồi một ngày trang nhật ký của cô nhạt nhòa nước mắt và dư âm đâu đó từng hơi thở mệt nhoài, khắc khổ.

   Lấy nhau gần hai năm mà vợ chồng cô vẫn chưa có con, gia đình chồng càng tỏ ra ghẻ lạnh với nàng dâu trẻ. Vốn dỉ họ đã không ưa gì Tường vi, cái vẻ mỏng manh yếu ớt và “vô dụng”. Hai vợ chồng cô ra ở riêng, chính tại căn nhà này. Tường vi ở nhà nội trợ và đọc sách, nhẹ nhàng và bình tĩnh, nhưng sự thực, tâm trí cô luôn rối bời, lo lắng. Có lần cô nghe thấy mẹ chồng bảo chồng cô hãy kiếm vợ khác và sinh cháu đích tôn cho bà. Tường vi sầu khổ nhưng không nói ra. Rồi một ngày cô động viên chồng làm theo như lời mẹ nói. Anh lắc đầu rồi bảo cô cứ yên lòng. Những giấc ngủ đã không còn ấm áp từ bao giờ cô không thể nhớ, cho đến một ngày có một người phụ nữ xinh đẹp xuất hiện. Cô ta tự tin đến trước mặt Tường vi và giới thiệu “tôi sẽ là vợ mới của chồng cô và trong bụng tôi là con của anh ấy…” Những hình ảnh ân ái cháy bỏng của chồng và người phụ nữ ấy cùng cái thứ giọng điệu nhọn sắc, mỉa mai của ả như ngàn mũi kim găm vào tim cô rướm máu, sự hụt hững như tầng mây xám che ngợp bầu trời, và niềm tin vụn vỡ, nát tan.

   Chồng cô gật đầu. Anh ta nói sẽ ra đi và để lại cho cô tất cả. Với Tường vi, nó là tất cả, nhưng là tất cả những vụn vỡ của tình yêu. Éo le thay khi ngay sau đó cô biết mình có thai đã hơn ba tháng. Cái thai quá nhỏ và yếu đến nỗi chính cô cũng không hề cảm nhận được gì. Tường vi vỡ òa trong hạnh phúc tột cùng. Cô quyết định quên đi tất cả để chờ đón sự sống đang ương mầm lớn lên. Từng ngày, từng ngày cô mong ngóng giây phút đứa trẻ chào đời. Nhưng tường vi cánh mỏng. Căn bệnh đau tim mỗi lúc một nặng hơn. Việc cô cố giữ cái thai khiến bác sĩ lo lắng, khuyên can. Rồi đứa con cũng rời xa cô khi chưa kịp ra đời. Nỗi đau đó thêm lần nữa làm cõi lòng cô tan nát. Ngày qua ngày, Tường vi xem mình là hoa, chỉ trò chuyện cùng cây tường vi bên cánh cửa sổ tím và viết vào nhật ký những tâm sự thì thào.

   Tôi mở căn phòng bị khóa ấy ra bằng cây chìa khóa trong chiếc hộp. Căn phòng toàn những sách. Mạng nhện và bụi bặm đã giăng kín những giá sách bằng gỗ, vài con bọ cạp chạy nhanh dấu mình vào góc phòng. Một tập giấy được bọc kỹ trong chiếc hộp đã rỉ rét phủ đầy những mẫu phân gián trắng đen. Phải mất mấy tiếng đồng hồ quét dọn tôi mới có thể đưa chúng ra đọc. Tường vi viết những tâm sự vào những bức thư mà người nhận là “Con yêu”. Hai từ ấy trong khoảnh khắc chạm vào lòng tôi thấy nghẹn lại.

   Một người ở quán bar thấy tôi hay ngồi đó nên lân la đến chuyện trò. Thì ra gã ở cách tôi mấy nhà. Sau một hồi gạ chuyện, gã khen tôi gan lì khi sống được lâu ở căn nhà đó. Trước đây có vài người đến thuê rồi nhanh chóng dọn đi vì họ cho rằng ngôi nhà có ma. Tôi cười, nghĩ bụng “họ đúng đấy chứ”. Gã kể, cô gái bị chồng bỏ và sống trầm cảm, sau đó chết vì cơn đau tim. Người ta chôn cô ấy ở nghĩa trang thị trấn.

   Một buổi sáng chủ nhật đẹp trời, tôi gói một bó hoa tường vi và tìm đến đặt lên mộ của cô. Tôi cũng đốt cuốn nhật ký gửi xuống cho cô. Có lẽ điều cuối cùng Tường vi muốn tôi làm là gửi những bức thư cô viết cho đứa con đã khuất. Tôi trở về nhà, cố gắng nhớ lại giấc mơ đêm hôm ấy, về khung cảnh mà Tường vi đã dẫn tôi đi qua. Tôi mon men theo dãy tường rào bằng gỗ trắng, cố gắng rẽ ra những đám cỏ dại mọc cao. Hì hục mãi tôi cũng tìm ra được vòm đất bé xíu nhô lên i hệt trong giấc mơ tôi thấy. Thắp một nén nhang lên đó và tôi giúp Tường vi gửi đến đứa trẻ đáng thương những bức thư.

   Không biết ở trên thiên đường mẹ con họ có được ở bên nhau không. Liệu Tường vi và mẹ, hai người phụ nữ trong giấc mơ của tôi có gặp nhau ở nơi ấy. Họ sẽ kể về những người con của mình. Mẹ sẽ nhắc đến tôi với Tường vi và cô ấy cũng sẽ kể cho mẹ tôi nghe về những lá thư cô ấy viết, về cách cô ấy đi vào giấc mơ của tôi và cách tôi đã giúp cô ấy như thế nào.
                                                                                                                      
                                                                                         
Ngô Diệu Hằng
dieuhang.ngo@gmail.com

READ MORE - GIẤC MƠ TƯỜNG VI - Truyện ngắn Ngô Diệu Hằng

CHIỀU VỀ ĐẤT THÁNH - Sĩ Chương

Tác giả Sĩ Chương


Chiều La Vang người về xưng tội
Chiều La Vang đất Thánh vô cùng
Nơi hành hương người về đất mẹ
Lời kinh cầu theo gió lên cao
Anh về La Vang thánh đường mở hội
Đường về La Vang bước vội bên nàng
Gió hắt lên bờ tóc em đi
Nắng hắt lên rèm mắt đôi mi
La Vang ... người đi ...
Tiếng nói em về đến mô ri

La Vang ... La Vang ...
Bao yêu thương mình nói nhe em
Mẹ chứng tri lời nói ... Amen

Đi bên em đường lá bay bay
Mẹ Amen mình nói thương nhau
Tay nắm tay tình đắm mê say

La Vang ... Chiều nay ...
La Vang ... Chiều nay ...
                Sĩ Chương
 Kỷ niệm ngày thăm Thánh Đường LaVang
                 (6/3/2010 )
READ MORE - CHIỀU VỀ ĐẤT THÁNH - Sĩ Chương

ẢO VỌNG - CHÙM THƠ XƯỚNG HỌA của Thy Lệ Trang và các thi hữu: Sông Thu, Độc Hành, Võ Làng Trâm, Văn Thanh, Lương Thế Hùng, Như Thu, Mạnh Trương, Hoàng Từ, Ngọc Ẩn Nhi Huyền


  

Bài xướng:

ẢO VỌNG

Hồn thơ thuở đó lạc về đâu?
Để áng mây đen phủ nguyệt lầu
Bút mực im lìm - trang giấy lạnh
Thi phòng quạnh quẽ - dĩa dầu hao
Trăng xanh bàng bạc triền sông rộng
Sương trắng mịt mờ đỉnh núi cao
Em vẫn tìm hoài trong ảo vọng
Hồn thơ thuở đó lạc về đâu ?

                          THY LỆ TRANG
                          Massachusets    

Các bài họa:

           EM Ở ĐÂU ?

Em đã xa rồi, biết ở đâu ?
Trăng soi quạnh quẽ mái hiên lầu
Bình hoa bàn phấn giờ khô héo
Lọ mực thư phòng nay cạn hao
Chìm đắm cơn mơ, sầu trĩu nặng
Bàng hoàng giấc mộng, muộn dâng cao
Tháng ngày lặng lẽ trong nhung nhớ
Em đã xa rồi, biết ở đâu ?

                                 Sông Thu


 KHÔNG BIẾT

Không biết bây giờ em ở đâu?
Mình anh cô lẻ một gian lầu
Ngày qua đợi mãi – vầng đông hạ
Tháng lại chờ hoài – ánh nguyệt hao
Nát ruột quốc kêu – miền đất rộng
Tan lòng vạc gọi – khoảng trời cao
Tóc thơm hương bưởi còn in gối
Không biết bây giờ em ở đâu?
             
                             ĐỘC HÀNH



 ANH BIẾT ĐÂU

Em đã đi rồi anh biết đâu
Tháng năm mòn mỏi ngóng trăng lầu
Tập thư ngày nọ hương còn thoảng
Xấp ảnh bây giờ sắc chẳng hao
Ứa lệ xem thơ - khơi lệ đẫm
Dâng sầu chuốc rượu - gợi sầu cao
Trách ai nông nổi theo người mới
Em đã đi rồi anh biết đâu

                             Võ Làng Trâm


ĐÀNH QUÊN

Hồn thơ thuở ấy chẳng còn đâu
Đắm nguyệt say hoa nán lại lầu
Mực cạn bút khô, tâm giá lạnh
Tình vơi nghĩa đoạn, vóc hư hao
Người yêu mờ mịt nơi đồi thấp
Hồn mộng dật dờ chốn phố cao
Thôi thế em đành quên lãng nhé!
Hồn thơ lạc lõng chẳng còn đâu!

                              Văn Thanh



 VẮNG BẠN THƠ

Ngó mãi trông hoài chẳng thấy đâu
Phòng thư bỏ đó vắng tây lầu.
Bầu trời lạnh lẽo sao thưa vắng
Vũ trụ âm u nguyệt khuyết hao.
Lãng đãng sương mờ nơi biển rộng
Bồng bềnh khói nhạt phía non cao.
Tâm giao thủa trước giờ xa cách
Bạn cũ đi rồi biết ở đâu?

                           Lương Thế Hùng


NGƯỜI ƠI!

Mòn mỏi trông người biết chốn đâu?         
Hằng đêm nhỏ lệ ngóng bên lầu                   
Quay lưng tiếc nuối - thời gian phí
Đối mặt ngậm ngùi - sức khỏe hao
Anh mãi ước mơ trời biển rộng                 
Em hoài tơ tưởng núi non cao    
Tháng năm cách biệt xa vời vợi
Mòn mỏi trông người biết chốn đâu?       

                                      Như Thu


TƯƠNG TƯ

Anh đây, em đó có xa đâu!
Chẳng khác vì sao cạnh mái lầu
Đêm lại âm thầm thương quạnh qũe
Ngày qua lặng lẽ nhớ gầy hao
Người như bóng nguyệt khung trời rộng
Ta tựa vòm mây giữa đỉnh cao
Mòn mỏi tương tư nào nói được
Anh đây, em đó có xa đâu!

                                Mạnh Trương
                                Washington DC
  

BIẾT KIẾM ĐÂU

Em đã đi rồi biết kiếm đâu
Cô đơn chiếc bóng ngủ hiên lầu                 
Ngày đêm ngóng đợi thân tiều tụy
Năm tháng chờ mong trí tổn hao               
Mới biết tình yêu như biển rộng                     
Giờ hay duyên nợ tựa non cao
Căn phòng bỏ trống không chăn gối
Em đã đi rồi biết kiếm đâu

                                 Hoàng Từ


CÓ ĐẶNG ĐÂU

Nhung nhớ nhau nhiều - có đặng đâu!
Gương Nga chếch bóng rọi hiên lầu
Trời Tây vạn dặm tâm mòn mỏi
Đất Mẹ ngàn trùng trí tổn hao
Ý hiệp nào chê nơi cõi thấp
Tâm đầu chẳng tưởng chốn nhà cao
Vầng Dương xế bóng Tùng se lá
Nhung nhớ nhau nhiều - có đặng đâu!

                              Ngọc Ẩn Nhi Huyền


NGHĨA TÌNH
      (Thuận, nghịch độc, thủ vĩ ngâm)

Đọc xuôi:

Chung thủy nghĩa tình kết đặng đâu !
Tỏ trăng soi bóng xế hiên lầu
Nung nao đó Chấn thương tâm mỏi
Thức thổn đây Đoài tiếc lực hao
Nhung nhớ giữ hoài lòng bạch thấp
Vấn vương còn mãi dạ thanh cao
Tùng thân dãi nắng mưa năm tháng
Chung thủy nghĩa tình kết đặng đâu!

Đọc ngược:

Đâu đặng kết tình nghĩa thủy chung
Tháng năm mưa nắng dãi thân Tùng
Cao thanh dạ mãi còn vương vấn
Thấp bạch lòng hoài giữ nhớ nhung
Hao lực thôn Đoài đây thổn thức
Mỏi tâm tiếc Chấn đó nao nung
Lầu hiên xế bóng soi trăng tỏ
Đâu đặng kết tình nghĩa thủy chung

                          Ngọc Ẩn Nhi Huyền


Thy Lệ Trang biên tập
thyletrangntc@yahoo.com


READ MORE - ẢO VỌNG - CHÙM THƠ XƯỚNG HỌA của Thy Lệ Trang và các thi hữu: Sông Thu, Độc Hành, Võ Làng Trâm, Văn Thanh, Lương Thế Hùng, Như Thu, Mạnh Trương, Hoàng Từ, Ngọc Ẩn Nhi Huyền

NGÀY VỀ - Trần Thị Quỳnh Hoa



Ra đi thuở ấy còn thơ
Ngày về tóc đã bạc phơ mái đầu
Ngỡ ngàng đám trẻ chạy sau
Hỏi rằng: Khách ở nơi nao mới về 

Bao dung thay tấm lòng quê
Đón người xa xứ trở về quê hương
Bao năm lưu lạc tha phương
Nhưng lòng đau đáu nhớ thương quê nhà

Nhớ tô nước mắm dầm cà
Nhớ mùi kho quẹt đậm đà hồn quê
Nhớ chị tôi, bóng chiều về
Rung rinh gánh lúa đường đê gập ghềnh
Cánh cò bay vút chênh vênh
Dệt bao ước vọng trong lành tuổi thơ
Nhớ con sông chảy lặng lờ
Cho tôi vùng vẫy tuổi thơ học trò
Nhớ sao dưới ánh trăng mơ
Giọng bà kể chuyện ngày xưa khẽ khàng
Nhớ đàn trâu cánh đồng làng
Sáo diều ngân giữa chiều vàng chơi vơi

Nói sao cho hết người ơi,
Bao nhiêu thương nhớ một thời tuổi thơ
Hôm nay về lại quê xưa
 Xin làm nắm đất bên bờ quê hương

 TT.Quỳnh Hoa
READ MORE - NGÀY VỀ - Trần Thị Quỳnh Hoa

HOÀNG HÔN TÍM – Phùng Nguyên




Cảm tác thơ đồng nghiệp H.T.Lập (USA )


Ngày xa em không nói lời giã biệt   
Cuộc đời ta từ đó lạnh cơn mưa   
Mà trong lòng vẫn rất nhiều tha thiết   
Và vô cùng rạng rỡ bóng hình xưa. 


Có ngờ đâu bỗng gặp em lần nữa   
Giữa phố phường rộn rã, nét đài trang 
Khiến yêu thương lại bùng lên ngọn lửa   
Cho đất trời xao xuyến lúc chiều sang.


Thôi thế đành lỡ mất chuyến đò ngang   
Thân cô lử trên dặm trường sỏi đá   
Chỉ vì em vốn là loài hoa lạ   
Còn hồn ta mãi miết bụi quan san. 


Ôi hôm nay hương ngát quãng đường trăng  
Qua lối cũ lòng miên man cảm xúc  
Dưới hàng me mộng tràn theo tiếng nhạc 
Em ở phương nào này hỡi dung nhan  


Tuổi  đôi mươi thuở ấy đã hao mòn  
Nhưng năm tháng luôn phủ đầy nhung nhớ  
Hàng cỏ cây cũng buồn theo nhịp thở  
Em vô tư chẳng thể biết nguồn cơn. 


Ta đã quen rồi với nỗi cô đơn  
Tim hoang dã suốt bao mùa lá  rụng  
Dù cách chia đến vạn ngàn mây sóng  
Thấy như gần màu mắt bước chân son. 


Một chuyện tình nguyên vẹn, tím hoàng hôn.  

                            Phùng Nguyên
                                       hoangphung09@yahoo.com.vn

READ MORE - HOÀNG HÔN TÍM – Phùng Nguyên

Monday, March 11, 2013

Tản mạn về THƠ ĐƯỜNG - Lê Hoàng



                                                                            
       Thơ bắt nguổn từ cuộc sống, tâm hồn của con người và sự làm việc hằng ngày."Thơ" có rất nhiều dạng thơ như: Song thất, lục bát, thất ngôn tứ cú, thất ngôn bát cú, thể văn biến ngẫu v.v. Ngoài ra ca trù cũng có thể gọi là biến thể của thơ mà ra. Rồi thỉnh thoảng vẫn có những câu tạp đối, nó cũng là hình thức  biến dạng từ thơ mà ra. Ngoài những dạng thơ như trên, có một loại thơ nổi tiếng và rất thịnh hành từ trước đến nay, mặc dù lớp trẻ lớn lên hầu như ít để ý đến hoặc không hề biết tới. Đó là thơ ĐƯỜNG.

  Tôi có "thằng" cháu nội 18 tuổi đang đi học. Nó sinh ra và lớn lên ở Mỹ, cũng biết đọc, viết chữ Việt "chút chút". Một hôm, nó thấy tôi đọc tập thơ "Hoa Vông Vang" của Đổ Tốn. Nó hỏi tôi: "Ông nội đọc gì vậy? Tôi trả lời: "Ông đang đọc thơ Đường.” Nó ngạc nhiên và không hiểu thơ Đường là gì? Nó còn hỏi rằng có phaỉ thơ đó "ngọt" lắm  không. Tôi cười không trả lời. Sau đó, tôi gọi nó  đến và giải thích: "Thơ Đường là một thể thơ xuất phát từ đời nhà Đường bên Trung Hoa. Sau này cháu có cơ hội học hỏi sẽ hiểu.”

      Quan niệm về thơ của Nho Gia: "Tại Tâm vi chí. Phát ngôn vi thi. Thi ngôn chi”. Khổng Tử nói về Kinh Thi, đó là tập thơ cổ nhất được truyền lại. Thơ là cảm xúc chân thật, phát khởi từ lòng người (Lê Qúy Đôn).Tập thơ Ly Tao có một ảnh hưởng rất lớn trong làng thơ ở Trung Hoa và cả Việt Nam.
      Tại sao thơ ĐƯỜNG hưng thịnh ?
 Phải nói rằng xã hội đời Đường khá ổn định, tư tưởng cởi mở (theo lối quân chủ chuyên chế).Tam giáo đồng nguyên. Văn hóa phồn thịnh, hội họa, kiến trúc, điêu khắc, âm nhạc, thư pháp v.v. được giao lưu với khối A Rập, Ấn Độ.
     Cái cá thể, trong triết học nhân sinh Nho, Đạo, Phật được tôn trọng. Mỗi cộng đồng lẫn cá thể được tự do nói lên nỗi niềm tâm sự cá nhân hay tập thể của mình.
          -Thi là họa có lời.
          -Họa là thơ không lời.
          -Nhạc là chuyên chở ý của thơ và họa.
  Nguyên tắc cấu tạo thơ, ý, nhạc, họa v.v... là cấu tạo hình tượng thanh, biểu tượng của thơ, thi và ca.
     Tìm hiểu nguyên tắc câu tứ của thơ ĐƯỜNG  phải đi từ tâm thức truyền thống của người Trung Hoa. Họ cho rằng thơ là một "tôn giáo" (Lâm Ngữ Đường).
     Thơ đường cô đọng súc tích, giàu tính biểu tượng. Không chỉ do các thủ pháp nghệ thuật truyền thống tạo nên mà còn do một số nguyên tắc, biểu hiện, "thi luật" được coi trọng.
     Kinh Thi có thể nói là cội nguồn của thơ Trung Hoa. Thơ Trung Hoa đã có một quá trình chừng 2500 năm chưa hề dứt đoạn. Khỗng Tử đã dùng tập thơ này để dạy học trò. Khổng Tử nói: "Thơ có thể làm phấn khởi lòng người, giúp quan sát phong tục, hòa hợp với mọi người, có thể bày tỏ nỗi sầu oán, gần thì thờ cha, xa thì thờ vua, lại biết được nhiều tên chim muông, cây cỏ".
   {Thi khả dĩ hưng, khả dĩ quan, khả dĩ quần, khả dĩ oán, nhĩ chi sự phụ, viễn chi sự quân, đa thức ủ điểu, thú thảo mộc chi danh}
    Nhận xét này nhằm vào tập Kinh Thi, nhưng cũng khởi đầu cho một quan niệm truyền thống về thơ của người Trung Hoa.
    Ở đây, có sự tương hợp giữa yêu cầu sự rung cảm nghệ thuật của cảm hứng, đạo đức và của cả ý thức  về trách nhiệm xã hội.   
     Từ Kinh Thi (TCN) đến Đường Thi (SCN), thơ ca đã trải qua một quá trình hàng chục thế kỷ để định hình về mặt thi pháp. Đến đời Hán (TCN) và (SCN), triều đình đã có sáng kiến lập ra Nhạc Phủ để sưu tầm thơ, ca dao dân ca v.v. nên chúng ta có được thêm sự nối tiếp truyền thống Kinh Thi. Sang đời Ngụy (SCN), ba cha con Tào Tháo , Tào Thực, Tào Phi với những vần thơ cứng cỏi, giàu chí khí, đã tạo nên một thời văn học Kiến An.
      Đến đời Đường, thơ ca cổ điển Trung Hoa đã bước lên đỉnh vinh quang. Thời Đường là thời đại hoàng kim của thơ ca với hơn 50.000 ngàn bài thơ của 2.300 thi nhân, Thơ Đường là tập đại thơ của thơ ca cổ điển. Đời Đường chia ra nhiều thời kỳ :
     -Sơ Đường(618-713).Tuy chưa xuất hiện đông đảo nhà thơ nhưng thơ của Vương Bột, Lạc Tân Vương, Dương Quýnh v.v. vẫn là những nhà thơ nổi tiếng được đời người sau nâng niu ưa chuộng.
    -Thịnh Đường (713-766). Thời này đã xuất hiện nhiều thi nhân nổi tiếng, không chỉ giàu số lượng, mà còn sung mãn về chất lượng. Với Thi Tiên Lý Bạch, Thi thánh Đổ Phủ, Thi Phật Vương Duy... là những người đã bước lên đỉnh cao danh vọng về thi ca.
     Lý Bạch với 2 câu :
            "Hứng lên bút, vung rung ngũ nhạc,
            "Thơ thành át sóng biển khơi".
    Ngoài ba vị ấy còn có Vương Xương Linh, Cao Thích, Sầm Tham, Mạnh Hạo Nhiên v.v.
         Bước sang thời kỳ 60 năm của Trung Đường. Có một số nhà thơ xoay "thời cuộc" dưới ngọn cờ :"Vị quân, vị dân nhi trước" của Bạch Cư Dị, tiếp nối ý tứ của Đổ Phủ. Nhưng thực ra thơ của ông chỉ nói đến những điều trái ngược "Duy ca dân sinh bệnh" đã định sẵn của ông. Bài "Tỳ bà hành" rất quen thuộc với người Việt Nam, qua bản dịch đầy tâm huyết của Phan Huy Thực, là một ví dụ tiêu biểu. Ngoài Bạch Cư Dị, Trung Đường còn có : Vi Ứng Vật, Lý Đoan, Liễu Tông Nguyên, Lưu Vũ Tích ... cũng là những nhà thơ được người đời truyền tụng.
         Cuối Đường với 70 năm giai đoạn thơ  ca vãn Đường, bên cạnh những nhà thơ cảm thương uỷ mị như: Lý Thương Ẩn , Đổ Mục ... với hàng loạt nhà thơ: Bì Nhật Hưu, Nhiếp Di Trung, Đổ Tuân Hạc ... kiên trì xu hướng: Tân Nhạc Phủ.
      Sang Tống (960-1278), tuy thơ không bằng Đường nhưng cũng xuất hiện một biến thể mới của thơ đó là:TỪ. Đời Đường, Ngũ Đại các thi nhân có thói quen sáng tác lời thơ đưa cho kỹ nữ hát (Lý Bạch). Các bài thơ ấy phải viết theo quy định một nhạc phổ nhất định.Từ, là thơ viết theo một nhạc phổ quy định của làn điệu âm nhạc, người ta gọi là điển Từ khác với Tác. Đời Tống thịnh về Từ, nhưng ít thành tựu. Người ta không tìm thấy cái mông lung huyền ảo của thơ Đường trong thơ Tống, cũng không tìm thấy thơ về tình yêu trai gái sôi nổi trong thơ Tống. Nhưng thơ Tống có những thi nhân nổi tiếng cả về Từ và Thơ như: Tô Đông Pha, Lục Du. Tô Đông Pha là một vị quan nổi tiếng vì dân, mà cũng là một nhà thơ nối tiếp Bạch Cư Dị. Bài "Lệ chi thán" là một ví dụ. Còn  Lục Du thì đời quá lận đận, tuy nhiên ông vẫn sáng tác rất nhiều bài thơ hay, có một số lượng kỷ lục. Bài "Thi nhi" rất nổi tiếng.
       Nhà thơ Lý Bạch đôi lúc cảm thấy cô đơn da diết khi bị ruồng bỏ nhưng ông vẫn tin tưởng "Thiên sinh ngã tài tất hữu dụng". Tất cả những trạng thái tâm hồn đó có liên quan đến tư tưởng triết học truyền thống của người Trung Hoa.
      Thơ Đường, thơ của thời kỳ "Tam giáo đồng nguyên", thấm nhuần cả ba cảm hứng Nho, Đạo, Phật.
      Lý Bạch rõ ràng chịu ảnh hưởng của tư tưởng Đạo Gia .Vương Duy là đại diện cho của nhân tố Phật và Lão.
       Bạch Cư Dị, Đổ Phủ lấy mặt tích cực của tư tưởng Nho Gia làm nền tảng. Hàn Dũ cách tân cổ văn cũng lấy tư tưởng Nho Gia làm đầu.
     Thơ cổ Trung Hoa có ảnh hưởng sâu xa đối với thơ Việt nam. Những nhà nho Việt Nam cũng đã đem Kinh Thi ra để dạy học trò. Người ta vẫn ngâm "Ly Tao của Khuất Nguyên” (mồng 5 tháng 5 AL vẫn nhớ ngày),  Đào Tiềm thì đã đi vào tiềm thức của nhiều người yêu thơ.
     Bài "Hoàng Hạc Lâu" của Thôi Hiệu có hơn chục bản dịch khác nhau. Người Việt vẫn luôn luôn mê thơ Đường, dịch thơ Đường, mượn nó để gửi gắm buồn, vui của chính mình.
     Có điều lý thú là, thơ Đường đọc theo âm Hán Việt nó lại hay hơn, đúng luật hơn, có  âm vang hơn đọc theo  âm Hán. Bởi vậy, có thể nói đến một sự tái sinh của thơ Đường qua tâm huyết của các nhà thơ Việt Nam.
      Ngô Thời Nhiệm, một thời đã nói :"Nước Việt Nam ta lấy văn hiến để dựng nước, thi ca thai nghén từ đời Lý, thịnh vượng ở đời Trần, rầm rộ ở thời Hồng Đức triều Lê. Một bộ "Toàn Việt thi lục" về cổ thể thi không chịu nhường thi ca đời Đường, Tống, Nguyên, Minh. v.v. Thi ca Việt Nam vẫn nhả ngọc phun châu vậy
      Thật đúng là "Thi ca chi bang". Vượt qua bến bờ của Trình Hạo, Chu Huy, lên trên cả Khuất Nguyên, Tống Ngọc, đi vào cung thất Y Doãn, Chu Hán và ra khỏi con đường của Lý Bạch, Đổ Phủ.
         "Văn như Siêu, Quát vô Tiền Hán
         "Thi đáo Tùng, Tuy thất Thịnh Đường"
     Vì vậy, có thể tìm thấy thơ Đường trong phong trào thơ mới (1932-9945), trong thi nhân VN (của Hoài Thanh).
   
        Xưa nay "Tao nhân mặc khách". Nếu quý vị đọc "Văn Đàn bữu giám" hay "Giai thoại làng nho" của Việt Nam thì qúy vị sẽ tìm thấy  không thiếu gì những bài thơ tuyệt vời và âm hưởng tràn đầy thú vị. Thơ đi vào lòng người, tùy tâm, tùy tính, tùy cảnh, ảnh hưởng cả không gian lẫn thời gian để cảm nhận bài thơ thấm thúy vào tâm khảm.
            Thơ không bao giờ thiếu, tâm không bao giờ thừa. Tâm đầy thì thơ thánh thót, âm điệu bao la và thoát ra khỏi cái dung tục của cuộc đời đầy  ô trọc.
                                                        
LÊ  HOÀNG


READ MORE - Tản mạn về THƠ ĐƯỜNG - Lê Hoàng

XUÂN NGUYỆN CẦU - Nguyễn Thanh Bá

Thế Lộc và Nguyễn Thanh Bá


Mùa xuân tươi tắn nở muôn hoa
Tô thắm thôn trang, đẹp cửa nhà
Ríu rít chim chuyền hàng liễu biếc
Nhởn nhơ trẻ nhảy gốc thông già
Âm vang trầm bổng lời kinh nguyện
Đồng vọng du dương bài thánh ca
Cầu Chúa ban nhiều ơn phước lộc
Cho toàn nhân thế sống an hoà!

            Nguyễn Thanh Bá
READ MORE - XUÂN NGUYỆN CẦU - Nguyễn Thanh Bá

ANH EM QUẢNG TRỊ GẶP NHAU TẠI SÀI GÒN - Đinh Thanh Hải


Anh em Quảng Trị tại quán Rất Huế, Sài Gòn


Đang ngồi dự đám cưới thì điện thoại reo lên, bên kia là của nhà văn Nguyễn Đặng Mừng, anh báo là có anh Nguyễn Đức Tùng đang ngồi ở Rất Huế, em thu xếp ghé Rất Huế để anh em gặp nhau tý nhé ... Tôi nói sẽ cố gắng ghé, vì đang ngồi ở tiệc cưới.

Tôi được biết anh qua nhà văn Nguyễn Đặng Mừng, anh là một vị bác sĩ ở Canada - anh không những là một bác sĩ giỏi bên cạnh đó anh còn là một nhà văn, nhà phê bình văn học ... trước tết anh Mừng có tặng tôi cuốn sách "Thơ Đến Từ Đâu" được nhà xuất bản Lao Động in ấn. Cuốn sách đã  được sự đón nhận và phản hồi rất nhiều qua những bài viết của nhiều tác giả văn học, thơ ca trong  và ngoài nước. Tôi đã tặng lại cho ba tôi đọc, cuốn sách đã được chuyền tay ba tôi để đọc, giờ đây ở Khe Sanh, mỗi lần bạn bè của ba tôi gặp nhau họ đều nói về cuốn sách của anh Nguyễn Đức Tùng "Thơ Đến Từ Đâu" ... Cuốn sách hơi sờn cũ vì đã chuyền qua rất nhiều đôi bàn tay mê đọc sách. Hôm nay tôi có kể cho anh Nguyễn Đức Tùng điều này, anh rất xúc động và cảm ơn mọi người đã yêu quý cuốn sách của mình.

Gặp anh trong một đêm tình cờ mà rất vui, anh đã tặng cho chúng tôi cuốn Thơ Đến Từ Đâu và Đối Thoại Văn Chương, cùng cuốn báo Nghệ Thuật Mới - phụ trương của báo người Hà Nội, Hội liên hiệp VHNT Hà Nội ... cuốn báo dành hai trang để nói về anh Nguyễn Đức Tùng. Trong đó có bài của anh Thơ Mới cần những phẩm chất gì? Anh có viết "Để trả lời, cần phải hỏi câu này trước đã: sự cần thiết của thơ mới? Nó sinh ra để làm gì? Nhìn quanh có ai cần nó đâu? Bạn hỏi là vì: hình như thiên hạ thời nay vẫn có thể yêu nhau bằng thơ Nguyễn Tất Nhiên, nhớ nhau bằng lục bát Phạm Thiên Thư. - Có chết ai đâu? - Không ai chết cả, trừ những người đã biết đến thơ mới, lỡ yêu nó và không có nó không xong. Tôi cho rằng nhiệm vụ quan trọng nhất của thơ mới đường thời - hay là thơ cách tân, thơ đương đại, hiện đại, tân hình thức, hậu hiện đại, các tên gọi ấy tùy lúc thay đổi, có khi nghĩa tương tự nhau, có khi rất khác nhau - nhiệm vụ quan trọng là nó tạo ra một nhu cầu mới. Nhu cầu mới là nhu cầu trước đó hoàn toàn không có, cho đến khi được tạo ra bởi một người hay một nhóm người, nó trở thành một nhu cầu hiển nhiên vì sao trước đó họ không hề nghĩ tới, vốn cũng tự nhiên như ăn uống hay khí trời hay quyền bầu cử tự do. Vào những năm 1930, thơ của Thế Lữ đã xuất hiện như thể trước cái bóng hùng vĩ của thơ cổ điển, thơ Đường. Tôi là người mê phim 007. Xưa nay tôi vẫn tin rằng trong số các diễn viên đóng James Bond chỉ có Pierce Brosnan, kể tiếp Sean Connery, là đống hay hơn cả với vẻ mặt lãnh đạm, phong độ lịch lãm của chàng. Không ai thay thế được. Cho đến khi gặp Daniel Graig dữ dội, quyết liệt, mà vẫn hào hoa phong nhã, trong casino Royale, và Skyfall tiếp theo, thì tôi hiểu rằng tôi có một thần tượng mới. Nói cách khác tôi có một nhu cầu mới, nhu cầu ấy do diễn viên Craig tạo ra ... Như vậy, công việc hàng đầu của thơ hiện nay là tạo ra như cầu mới. Để làm được điều ấy nó cần một số phẩm chất. Trước hết nó phải có ý tưởng mới, suy nghĩ mới. Ai cũng biết thơ là tiếng nói của tâm hồn, là âm thanh bật lên từ các xúc cảm từ sâu xa, trong những hoàn cảnh đặc biệt hay từ xung đột nội tâm ...




 
Tôi được tặng sách và báo.



.

Những dòng chữ ký anh Nguyễn Đức Tùng tặng tôi.

Trong một lần, tôi được đọc một cái notes của nhà báo Lê Đức Dục với tựa đề: “...đất nước dài như khói một nhành hương...” Trong bài anh Lê Đức Dục có nói: “Hôm ni đọc được bài viết của thầy Nguyễn Văn Dũng về một người Quảng Trị ở Canada, anh Nguyễn Đức Tùng, thấy bài thơ “Thư gửi quê nhà” của anh Tùng có câu thơ đọc “nổi ôốc” : “...đất nước dài như khói một nhành hương...”, chỉ là dân Quảng Trị mới nghĩ ra câu thơ nớ, nhìn cái khói hương bay như chữ S mới chộ cả một trời  điêu linh của quê dà trong nớ." 



Nguyễn Đức Tùng cùng Lê Đức Dục.



Hôm nay mặc dù rất bận rộn với công việc, nhưng anh Lê Đức Dục nghe tin anh Nguyễn Đức Tùng đang ngồi ở quán Rất Huế, anh chạy vội ra gặp mặt anh Nguyễn Đức Tùng cùng anh em Quảng Trị tại Sài Gòn ... Anh Lê Đức Dục nói: Trong đời mỗi nhà thơ chỉ cần làm một bài thơ thôi, nhà văn cũng chỉ cần một tác phẩm, nhưng riêng anh Nguyễn Đức Tùng, tôi nghĩ một câu thơ thôi cũng đã đủ để đời, và nó có thể khắc lên tấm bia mộ ... đó là câu: "đất nước dài như khói một nhành hương"


Một đêm vui với người quê xa xứ, nhưng vẫn đau đáu lòng mình về quê hương đất nước.
Sài Gòn đêm 03/03/2013
Đinh Thanh Hải

dinhthanhhaisg@gmail.com


Xin chép tặng mọi người bài thơ của Nguyễn Đức Tùng:


Thư gửi quê nhà

Em có nhớ về thăm Thạch Hãn
Chiều qua đò chắc có mưa thưa
Gió sẽ thổi từ bên tả ngạn
Như lòng anh thổi mãi một tình xưa


Em có nhớ về thăm chợ Sãi
Qua chùa Tỉnh Hội nón nghiêng che
Đi ăn bánh ướt chiều mưa nhỏ
Để thấy môi ai đỏ lối về


Chiếc tráp ngày xưa chị để đâu
Những thư tình cũ có phai màu
Ngọc lan ép giữa hai bài hát
Chắc vẫn còn thơm trong đêm thâu


Anh có nhớ về thăm gác trọ
Hỏi thăm bè bạn những phương nào
Hỏi chí lớn tà dương cháy đỏ
Mộng tường vi mấy đoá rụng ngang đầu


Gõ nhịp mà ca dạ lý hương
Mười năm rồi lại mười năm trường
Những cánh cửa đêm nay vẫn thức
Đất nước dài như khói một nhành hương


Hoa trong hội theo ngày xanh biền biệt
Tình thiên thu còn một bến giang đầu
Em có nhớ mặc áo vàng như nguyệt
Đêm qua đò trăng hỏi tuổi thơ đâu

Nguyễn Đức Tùng

bachnguyen@shaw.ca




READ MORE - ANH EM QUẢNG TRỊ GẶP NHAU TẠI SÀI GÒN - Đinh Thanh Hải