Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, July 13, 2011

TUỆ THIỀN LÊ BÁ BÔN – CHÙM THƠ


Họ và tên : Lê Bá Bôn.

Bút danh: Tuệ Thiền.

Năm sinh: 1951.

Quê quán: Quảng Trị.

Trú quán: Ấp Bắc 1, xã Hòa Long , TX Bà Rịa, BRVT.

ĐT nhà: 064 821913.

Nghề nghiệp: Giáo viên (hiện đang phụ trách công tác thư viện - thiết bị ).

Đơn vị công tác : Trường Tiểu học Hòa Long A, TX Bà Rịa, BRVT.

Học vấn : Đại học.

Tác phẩm đã xuất bản: Đường Về Minh Triết ( thơ – văn – tư tưởng), NXB Văn Nghệ

(Ảnh từ VanThoViet.Com, tiểu sử từ VanChuongViet.Org)


NỖI BUỒN LẤM ĐẤT

Trút hơi thở sau một ngày kiệt lực

Bác nông dân chưa kịp giã từ con

Vết nứt nẻ trên tay bùn chân lấm

Nhìn lũ chúng tôi, thầm lặng tủi hờn

Lũ chúng tôi những hình nhân trí thức

Lánh ruộng đồng và coi rẻ nông dân

Bưng bát cơm - quên tâm hồn đất nước

Lòng đen ngòm danh lợi kẻ vong ân!…

Nhìn mặt bác, nỗi buồn tôi lấm đất

Thói tự hào bật khóc trước quê hương

Tôi quỳ xuống hôn cuộc đời chất phác

Nhớ những đắng cay - nhớ những bát cơm…



NGHE HỌA MI HÓT

Họa mi ơi

Nghe sao mà thánh thót!

Ta đang thất nghiệp vì không quen đút lót

Chim hót nhẹ thênh

Ta nặng trĩu nỗi buồn

Họa mi ơi

Nghe sao mà vui thế!

Ta đang đau tấm thân đời nổi ghẻ

Xảo quyệt, tham ô, trí thức rởm lúc nhúc

trong từng nứt nẻ

Chim đang xuân

Ta còn hạ oi nồng

Họa mi ơi

Ta yêu, yêu lắm

Mà lòng ta chưa một với tình em!



BUỒN CÙNG TAHER MADRASSWALLA

Cọc cạch nhọc nhằn vòng quanh thế giới

Ông muốn trao thông điệp hoà bình

Nhưng trải qua mấy nghìn năm

Cái bản năng quyền lực

Đã ngấm sâu vào hành tinh

Và bom đạn bất nhân đang đi tìm

Niềm vui lấn lướt!

Và UNESCO còn mập mờ lúng túng

Giữa "con” và "Người”!

(Taher Madrasswalla là tên một người Ấn Độ đi xe đạp vòng quanh thế giới. UNESCO là Tổ chức giáo dục, khoa học,văn hoá quốc tế).



ĐAU BUỒN CỦA CHỊ

Hồn phong kiến vấn vương

Chị thâm quầng ánh mắt

Cái thằng-cu-tông-đường

Vào giấc mơ nát ruột!



TÂM ĐỐI XỨNG

Một bên là Thượng Đế

Một bên là cuộc đời

Biết làm tâm đối xứng:

Tỉnh thức giữa An Vui.


(Đường Về Minh Triết; NXB Văn Nghệ, 2007)

Nguồn: VanThoViet.Com

READ MORE - TUỆ THIỀN LÊ BÁ BÔN – CHÙM THƠ

TRẦM TĨNH NGUYỆN - CHÙM THƠ



Tên thật Nguyễn Văn Tịnh
Sinh 1957
Quê ở Quảng Trị.
1963-1968 học ở trường Thánh Tâm Quảng Trị, 1969 vô Tiểu chủng viện Hoan Thiện Huế, 1974 ra khỏi chủng viện và vào học ở trường Pétrus Ký Sàigòn.
Sau 4-1975 làm ruộng rẫy ở Bình Tuy và đi lập nghiệp ở một vài nơi khác.
Hiện nay đang làm nghề tự do ở Bình Chánh, Sàigòn


VÔ THƯỜNG VÀ VĨNH CỬU

Chỉ là một giây thôi

Cánh sao khuya rụng rơi
Đoá quỳnh hương nở rộ
Đó đây khóc lẫn cười
Chỉ là một giây thôi
Từ hư vô chơi vơi
Thoắt đã ra hiện hữu
Là tôi, và là người
Chỉ là một giây thôi
Giữa muôn nghìn giây trôi
Vô thường thành vĩnh cửu
Tạ ơn Trời, ơn đời.

15.02.1995




TỰ TÌNH


Đêm qua trong cõi lặng mênh mông

Có tiếng gì rơi chạm đáy lòng
Xao xuyến bừng lên niềm linh thánh
Lan xa tới tận chốn thinh không.

13.01.1995




TĨNH NGUYỆN


Một tia sáng vụt tắt.

Hai, ba,
Rồi nhiều tia sáng vụt tắt.
Tà huy.
U tịch.
Một người ngồi lặng im
Ngước mắt nhìn trời
Chờ sáng.
Thời gian trôi…
Một tia sáng loé lên
Hai, ba,
Rồi nhiều tia sáng bừng lên.
Bình minh.

1988



CÕI LẶNG

Yên ắng như lòng không,

Mênh mang trùm mông lung.
Tĩnh mịch giăng muôn trùng,
Hư vô nhoà không trung.
Lao xao niềm cô đơn,
Nao nao muôn ngàn cơn.
Âm thanh nào dập dồn
Hay thinh không véo von?
Chao ôi là ngất ngây!
Cõi lặng chìm đắm say.
Trống không bỗng tràn đầy.
Sững sờ không dám lay!

Tịch liêu ôm tịch liêu,

Ngơ ngẫn hoà đăm chiêu,
Ngỡ ngàng dâng trời mộng,
Diệu huyền ươm tình yêu.

15.01.1995


Nguồn: vanchuongviet.org
READ MORE - TRẦM TĨNH NGUYỆN - CHÙM THƠ

Tuesday, July 12, 2011

VÕ VĂN HOA - KHE TRÁI



Bãi sắn, biền ngô đồi bát úp

Làng quê xanh ngát những đồi nương

Du thuyền Thạch Hãn lên mạn ngược

Khe Trái* hoa rì ** chót lá hương.

*

Cá bống thượng nguồn sao lắm thế!

Nước trong như lọc cứ vây chân

Trưa nắng anh săn từng viên cuội

Bàn mài Như Lệ có đầy sân?

*

Ngoài vùng phủ sóng. Em hướng đạo

Bia bọt lời ca động núi rừng

Bây giờ anh thấy ngày rất ngắn !

Se sắt chiều lên..bóng nguyệt rưng.


Ngày rằm tháng tư Kỷ sửu (2009)


VÕ VĂN HOA tốc ký thơ

READ MORE - VÕ VĂN HOA - KHE TRÁI

Monday, July 11, 2011

CÂU HÒ QUẢNG TRỊ - VÕ ĐÌNH HƯƠNG sưu tầm



HÒ ĐỐI ĐÁP


1. Nữ: Tiếng đồn anh học thợ đã lâu, cho em hỏi thử vài câu. Anh đâu chiếc xe ba mươi hai lá, rứa lá mô đầu, lá mô đuôi?

(Đâu= đóng; xe ba mươi hai lá= xe đạp nước, guồng)

Nam: Trước trục tiền, sau trục hậu, giữa thì địa và cầu. Em thong dây cho anh xỏ ngạt, anh chỉ lá mô đầu, lá mô đuôi.

2. Nữ: Tiếng đồn anh hay chữ, cho em hỏi thử mấy câu. Chữ chi chôn xuống đất? Chữ chi cất lên tran? Chữ chi mang không nổi? Chữ chi tạc đá bia vàng không phai?

Nam: Chữ triệu chôn xuống đất. Chữ hiếu cất lên tran. Chữ tình mang không nổi. Chữ tâm tạc đá bia vàng không phai.

3. Nữ : Đố anh con rít mấy chân, cầu Đông Ba mấy nhịp, chợ Dinh mấy người?

Nam: Con rít có bốn mươi hai chân, Cầu Đông ba mười hai nhịp, chợ Dinh có hai người.

4. Nữ: Bướm vàng đậu đọt cau tơ. Anh ơi không kiếm nơi mô nương tựa mà cứ ở lẳng lơ rứa hoài?

Nam: Bướm vàng đậu đọt câu còi. Ba o còn nhỏ mà đòi lấy dôông.

5. Nữ: Cây cao đại thọ, bóc vỏ còn da. Anh thương em thì đến cửa đến nhà. Đứng mần chi ngoài đàng ngoài ngõ mà hỏi có vịt gà bán không.

Nam: Cây cao đại thọ, bóc vỏ khó trèo. Em lui về thưa thầy với mẹ nuôi thằng rễ nhà nghèo có được không?

6. Nam: Ngó lên trển trời tàu bay như én liệng. Ngó về dưới biển sóng cuộn ba đào. Chiếc thuyền quyên em nho nhỏ ai đã cắm sào vô chưa?

Nữ: Chiếc thuyến quyên em nho nhỏ mụi đỏ lái lè. Hai bên hai con mạn giữa lại đề tên anh.

(Mụi = mũi)

7. Nữ: Ở bên trên có hai ngôi miếu, dưới có cái đồn lầu. Anh có đi ngang qua đó nhớ cất nón, cúi đầu, vòng tay.

Nam: Anh cho hai con tinh tinh lên phá hai ngôi miếu. Anh cho con quỷ vô phá cái đồn lầu. Tội gì phải cất nón, cúi đầu, vòng tay.

8. Nữ: Em thương anh khộng biết cho chi. Cho anh một cái lọng móc đồng, để che mưa tréng nắng để phòng ốm đau.

(Tréng = tránh)

Nam: Lọng móc đồng cho cha em đội, cho cố nội em che. Chơ anh đây nghèo khó, đội cái nón te quen rồi.

9. Nam: Con ai nho nhỏ, tóc bỏ ngang vai. Chưa có chồng mà đã có thai. Một mai búp lòa hoa nở biết con ai mà nhìn.

Nữ: Áo em năm khuy em cài sít rịt. Ướm em cột chặt như nịt đố đóng đinh. Chiều bữa qua anh cho thằng nó qua rình. Ý làm sao anh lại biết mình có thai.

10. Nữ: Anh đến đây mần chi cho đồng khô cỏ cháy. Anh về làng Đáy mà ăn tôm cho nhiều.

Nam: Tiếng đồn làng Đáy nhiều tôm, răng em không gắp năm ba dịa quảy cơm hôm cho mẹ bên nhà.

(Dịa = dĩa)

Những câu sau còn thiếu một vế, xin các bạn bổ sung:

11. Ong vàng châm trái bầu eo. O chê tui nhỏ cho tui trèo thử coi.

12. Súng trường nạp đạn hai viên. Họa may may họa bắn chiếc thuyền quyên cho xạc xài.

13. Em hỏi anh con rắn không chân sao rắn bò khắp hòn rú? Con gà không vú sao gà nuôi được chín mười con? Trai nam nhơn chàng đối đặng chàng dòn han (?) thiếp cũng về.

14. Bốn bề bàu biển khô khan, giữa một vùng thủy tụ, ban bốn con ngàn nó lượn bay.

15. Thê đích thì ở nhà dọc, tiểu thiếp thì ở nhà ngang. Thân anh hai nhà ngói sẵn sàng. Tiếng kêu hầu dạ, chớ rộn ràng mà bị roi.

READ MORE - CÂU HÒ QUẢNG TRỊ - VÕ ĐÌNH HƯƠNG sưu tầm

NGUYỄN TƯỜNG: TÔI CHỈ LÀ NGƯỜI GIEO HẠT



Nguyễn Tường (người bên trái) và ba bạn Dũng, Thông, Lư cùng tổ chức sinh nhật 27/8 tại SG 2009


Nhân sinh quý thích chí. Ở tuổi 60, Nguyễn Tường tự chọn cho mình một việc xưa nay hiếm: đó là chuyển những câu chuyện anh thích sang văn vần hay chuyện thơ. Trong khoảng thời gian chừng 5 năm trở lại đây, anh đã chuyển hàng chục bài ngụ ngôn, hàng chục câu chuyện trong thánh kinh, và một số chuyện anh tình cờ đọc được trên báo, kể cả báo bằng tiếng nước ngoài. Hầu hết đều có tính giáo dục rất cao. Nguyễn Tường đã đưa toàn bộ tác phẩm của mình lên Blog Yahoo của anh, một số được in và phát hành nội bộ để tặng bạn bè. VNQT xin gới thiệụ bài phỏng vấn Nguyễn Tường do Nguyễn Khắc Phước thực hiện qua mạng Internet.


NKP: Thưa anh, cái duyên nào đưa anh đến với cái thú chuyển văn xuôi thành thơ, một hoạt động văn học hiếm ai đeo đuổi trong thế kỷ 21 này. Trong gia đình anh có ai cùng sở thích với anh không?

NT: Tôi thích sử dụng văn vần từ kinh nghiệm cá nhân. Về gia đình, có lẽ tôi thừa hưởng gene di truyền từ mẹ tôi. Bà là người có năng khiếu bẩm sinh về hò đối đáp rất thông minh và ý nghĩa sâu sắc, biết dùng những câu ca dao, tục ngữ để dạy con dù bà không biết chữ. Chị tôi thích đọc Phạm Công Cúc Hoa, Lục Vân Tiên. Một kinh nghiệm nữa là khi tôi sinh hoạt tôn giáo, đối tượng có rất nhiều lứa tuổi, trình độ văn hóa khác nhau, những bài văn vần khi được sử dụng đã có hiệu quả cao. Theo tôi, văn vần mang tính giáo dục phổ quát, đại chúng cao.

NKP: Cho đến nay, anh đã viết được bao nhiêu bài theo thể loại này?

NT: Về số bài thì thật sự tôi không nhớ rõ, tuy nhiên, con số đó có thể đếm được trên trang blog của tôi. Trong blog, có một số bài nữa, tôi giữ ở chế độ riêng tư.

NKP: Anh thường chọn những bài có chủ đề gì để chuyển sang văn vần?

NT : Phần lớn các bài của tôi hướng về chủ đề Ki tô giáo và Nhân bản. Về Thánh Kinh, bài dài nhất là bài Tin Mừng theo Thánh Lu ca, gồm 3.300 câu loại tám chữ. Ngoài ra tôi cũng đã chuyển Luật Dòng, Kinh Mân Côi, một số bài Phúc âm ra nhiều thể loại văn vần như bảy chữ; tám chữ; sáu tám; hai bảy, hai tám ...

NKP: Ngoaì chủ đề về tôn giáo, anh còn chuyển thể những bài thuộc đề tài khác nữa không?

NT: Về ngụ ngôn, đầu tiên tôi thử chuyển các ngụ ngôn của Aesop, La Fontaine, và đã viết khá nhanh, tôi đã in tặng nhiều người. Khám phá được khả năng của mình, sau đó những ngụ ngôn nào tôi bắt gặp trên net, tôi liền chuyển qua văn vần. Số lượng này hiện rất nhiều và đều có trên blog. Tôi chú trọng ngụ ngôn do ở giá trị giáo dục nhân bản của nó.

NKP: Anh có bao giờ xuất bản tác phẩm của mình hay chưa?

NT: Tôi chưa xuất bản bao giờ, tôi chưa nghĩ tới điều đó. Tôi chỉ bỏ tiền ra in bằng photocopy để tặng bạn bè, đoàn thể. Số tiền này cũng không nhỏ nhưng tôi làm việc có mục đích là đóng góp cho đời. Tôi cũng phổ biến trên net và mọi người có quyền sử dụng tự do.

NKP: Tác phẩm nào anh đắc ý nhất?

NT : Tập văn vần mà tôi thích nhất là 3.300 câu Tin Mừng, tôi đã viết xong trong 21 ngày, đúng ước nguyện của tôi khi mới vào đạo Công giáo ngày 21/6/1975: Lạy Chúa, xin giúp con làm được một việc gì có ích cho quê hương, dân tộc.

NKP: Theo anh, văn vần khác với thơ thế nào? Văn vần được sử dụng trong những nội dung gì? Có tác dụng gì?

NT: Tôi xin được miễn trả lời những câu hỏi mang tính nghiên cứu, phân tích

NKP: Theo anh, truyện thơ đầu tiên bằng tiếng Việt là tác phẩm nào?

NT : Tôi không phải là nhà nghiên cứu văn học và cũng không phải là người làm văn học. Tôi chỉ là người gieo hạt - văn chương chỉ là phương tiện - với ước mong biết đâu sẽ có hạt giống sinh hoa kết quả tốt. Đó là lý tưởng sống của tôi.

Xin cám ơn bạn Nguyễn Khắc Phước đã đặt cho cho tôi những câu hỏi để tôi có dịp chia sẻ.


Nguyễn Khắc Phước thực hiện.



MỜI CÁC BẠN CLICK VÀO ĐÂY ĐỂ XEM TOÀN BỘ TÁC PHẨM CỦA NGUYỄN TƯỜNG.
READ MORE - NGUYỄN TƯỜNG: TÔI CHỈ LÀ NGƯỜI GIEO HẠT

Saturday, July 9, 2011

CÂU HÒ QUẢNG TRỊ - VÕ ĐÌNH HƯƠNG sưu tầm



21. Em bước chân xuống thuyền em cầm mái chèo kêu ẹo. Nhớ tới cảnh chàng ruột héo gan khô. Chàng ơi một trăm năm thiếp chẳng bỏ chàng mô. Chàng chớ có ưu sầu trong dạ ruột héo gan khô tím bầm.


22. Núi Ngự Sông Hương thêm thương thêm tiếc. Trăng xanh nửa biếc muôn thảm ngàn sầu. Vì ai trọng Á kiều Âu. Để gái ngất ngơ đàng gái, trai lại thảm sầu đàng trai.

23. Thiếp khuyên chàng ở nhà lên rừng đốn triêng củi quế. Đem về cho thiếp đem ra ngoài chợ đổi bát gạo châu. Ở với nhau cho đến tuổi bạc đầu. Chàng ơi ở nhà theo thầy với mẹ cho đặng câu hiếu tình.

24. Anh ơi có thương thì thương cho chắc, có trục trặc thì trục trặc cho luôn. Đừng làm như con thỏ nọ đứng đầu truông, khi vui thì giởn bóng, khi buồn thì giởn trăng.

25. Sen xa hồ sen khô hồ cạn, lựu xa đào lựu ngả đào nghiêng. Vàng cầm trên tay rớt xuống em cũng không phiền. Mà xa người bạn cũ trong dạ ưu phiền ngàn năm.

26. Đứng xa xa cách ba que sáo. Nghe giọng hò ôm áo ra đi. Sâm hồ ngô đạo nhất dĩ quản chi (?). Tai nghe thầy với mẹ bán gả em đi. Bằng ai dơ dao vàng cắt ruột anh đi từng ngằn. (dơ = đưa)

27. Áo em khô ai ngờ áo ướt. Bởi vì anh chậm bước nên thầy mẹ gả trước em đi. Bằng ai dơ dao vàng cắt ruột em đi từng ngằn.

28. Đứng xa xa cách ba que sáo. Nay hết mùa lại đậu que say. Nợ nhà giàu vay trả trả vay. Còn tình chàng ý thiếp biết nói mấy ngay cho rồi. (ngay = ngày)

29. Ngọn gió mùa thu em sầu không ngủ. Đêm năm canh chàng thức đủ năm canh. Vì ai cắt đoạn đánh tình. Đêm nằm suy đi nghĩ lại biết chàng có thương đoạn nhớ đàng hay không.

30. Con cuốc lẻ đôi còn kêu cà kêu cuốc. Huống chi hai đứa mình trầu thuốc bấy lâu. Gặp lại nhau đây cho anh tỏ ngộ đôi điều. Kẻo mai tê xa ngái như cpn cuốc kêu giữa đêm trường.
READ MORE - CÂU HÒ QUẢNG TRỊ - VÕ ĐÌNH HƯƠNG sưu tầm

Friday, July 8, 2011

NGUYỄN KHẮC PHƯỚC - QUÀ TẶNG CỦA THIÊN NHIÊN CHO MIỀN GIÓ LÀO NẮNG LỬA

Trằm Trà Lộc



Người từ nơi xa lâu quá không đi ngang qua Quảng Trị, khi nói đến huyện Hải Lăng, người ta chỉ nhớ hình ảnh một bên đường là những đồi cát khô cằn chập chùng và một bên là một truông cát mênh mông vô tận, mà mùa đông thì lồng lộng gió bấc rét buốt, mùa hè thì ào ào gió Lào nắng nóng, cát bụi bay mù trời khiến cho vùng này trông như là một tiểu sa mạc.

Hình ảnh đó đã trở thành quá khứ nhờ người dân đã bỏ biết bao công sức lao động để trồng cây gây rừng, che phủ hầu như toàn bộ vùng cát bằng màu xanh dịu mắt.

Nhưng những rừng cây mới trồng đó chưa làm du khách ngạc nhiên. Mà điều đáng ngạc nhiên là trên vùng cát tưởng như khô hạn quanh năm đó lại có những hồ nước rộng bao la mà nhiều người cho rằng chúng là quà của thiên nhiên ban tặng.

Nằm cách thị trấn huyện Hải Lăng , tỉnh Quảng Trị chừng 3 km về phía bắc, trên dải đất cát rộng thuộc làng Trà Lộc, xã Hải Xuân, từ thời khai thiên lập địa đã hình thành một hồ nước có khe lưu thông không bao giờ khô cạn rộng gần trên trăm hécta, được bao quanh bởi một cánh rừng nguyên sinh với đủ loại cây rừng mà vùng đồng bằng chung quanh hoàn toàn không có. Khu rừng và hồ này có tên Trằm Trà Lộc.

Vào mùa hè, khi gió Lào bắt đầu thồi, mang cái nóng đổ lửa cháy da, làm đất đai bốc lên mùi nồng nực phả vào mặt khiến người ta ngột ngạt, vậy mà khi bước chân vào khu rừng, bạn sẽ ngỡ ngàng như trong giấc mơ, chỉ phút chốc đã thấy một thế giới khác, một thế giới xanh tươi và mát rượi khiến bạn thư thái khoan khoái dễ chịu. Chung quanh bạn, một khu rừng chằng chịt cây và dây leo mà vùng đồng bằng gần đó hoàn toàn không có. Nhưng cái tên cây lạ hoắc như bời lời, sắn rừng, tran (gây dị ứng nếu chặt phá), rỏi (có trái ngọt), mã, tra và những dây leo như giêng giếng, song tắn, bồng tru (trái ăn tím miệng)… Những cây này chỉ bắt gặp trên đại ngàn Trường Sơn. Quanh hồ còn có nhiều cây tràm và mưng (lộc vừng) lủng lẳng những chùm hoa đỏ như như những dây pháo. Hồ nước bao la gợn sóng nhấp nhô những lá súng xanh mát và hoa súng tím thơ mộng. Tổ hợp rừng và hồ đã tạo thành một hệ sinh thái độc đáo, cùng sinh tồn và phát triển. Nơi đây đã biến thành điểm dừng chân cho du khách muôn phương, cho người đi xa về thăm quê, và là điểm dã ngoại hoặc họp bạn cho mọi lứa tuổi.

Bên bờ hồ, trên mặt nước, người ta dựng những chòi bằng tre lợp tranh, nền sạp tre được trải chiếu sạch. Ở đó, có thể gọi một những món đặc sản của vùng này như cá tràu hấp cuốn với bánh tráng và rau, cháo cá, cháo nhái… với mùi nén thơm cay sực mũi, vừa ăn vừa ngắm những đàn cá bơi lội tung tăng dưới nước và hưởng làn gió phơn phớt mát rượi.

Trằm Trà Lộc không phải là hồ nước duy nhất ở vùng này. Ngay giữa thị trấn Hải Lăng, trên vùng đất khá cao so với đồng bằng phía đông, bạn sẽ ngạc nhiên thấy một hồ nước rộng bao la, lộng gió, mặt hồ gợn sóng lăn tăn. Nơi đây, ngày xưa, giữa vùng hoang vắng khô hạn đầy mồ mã và xương rồng trồng để giữ mồ khỏi gió bay, ít ai biết ở đó có một vùng trủng đầy sim, mua, tràm, chổi thông với một khe nước không bao giờ khô cạn, mà theo anh Võ Văn Luyến – giảng viên trường CĐSP Quảng Trị, thì khe nước đã được ghi trong Đại Nam Nhất Thống Chí với tên Trà Thủy Khê, nay thường gọi là hồ Khe Chè.


Hồ Khe Chè rộng khoảng 15 ha, là kết quả từ ý tưởng và tầm nhìn của lãnh đạo và lao động của người dân địa phương, biến một vùng trủng nhỏ thành một chiếc hồ mênh mông, có nước lưu chuyển . Hồ tọa lạc ngay ở trung tâm thị trấn như một hồ cá kiểng nằm giữa nhà, hợp với quan niệm phong thủy của người xưa về sinh khí. Theo trang www.nhantrachoc.net: “Vạn vật đều sinh ra từ khí; khí gặp gió thì tan, gặp nước thì dừng; sinh khí được bảo toàn trong môi trường “tàng phong, đắc thuỷ”. Thuật phong thuỷ coi “đắc thuỷ” quan trọng hơn “tàng phong”; khí và thuỷ có quan hệ rất mật thiết với nhau; nước đến đâu thì khí theo đến đó, nơi nào có nước thì nơi đó có khí”. Vì vậy, rất nhiều khu dân cư cổ xưa đều đòi hỏi trước nhà phải có ao, hồ để trữ nước với mục đích bảo tồn “chân khí”. Hầu hết các thành phố hiện đại trên thế giới đều có hồ nước lớn hoặc được xây dựng bên các con sông hay là cảng biển. Điều này cho thấy vị trí của nước quan trọng như thế nào trong quan niệm và đời sống của con người xưa nay.

Phong thủy quan trọng nhưng không phải là yếu tố duy nhất để cần có một cái hồ. Quan trọng không kém là ảnh hưởng của hồ đối với nhân sinh, môi trường. Hồ Khe Chè làm nhiệt độ dịu xuống, tạo một không gian thoáng đảng với không khí trong lành, mát mẻ. Hồ như là một lá phổi xanh, một chỗ để thư giản, để tập thể dục buổi sáng, để hóng mát buổi trưa, để nghỉ ngơi buổi chiều, để ngắm trăng buổi tối. Hồ giúp cư dân bảo vệ sức khỏe thân thể cũng như tinh thần. Hồ mang thiên nhiên đến ngay trước ngõ mỗi nhà, tạo sự yên tĩnh hiếm có nơi phố xá, tạo một lối sống, một văn hóa đẹp. Đó là những tập quán và nét văn hóa của phố-quanh-hồ như Đà lạt với hồ Xuân Hương.

Một con đường chia hồ ra làm hai phần khiến người ta có thể tưởng tượng mình đang đi dạo trên đường Cổ Ngư. Có người ví hồ như cái lúm đồng tiền trên má thiếu nữ, hay nói khác hơn, không có hồ, thị trấn Hải Lăng chỉ là một bà già teo tóp, một vùng đất khô cằn, thiếu sinh khí. Chọn nơi đây làm thị trấn để tránh lũ là đúng nhưng sẽ không bao giờ ra vẻ thị trấn, chưa là một nơi đắc địa nếu không có hồ.

Hồ Khe Chè còn là nơi hẹn hò tình tự của lứa tuổi học trò, là nơi ghi dấu biết bao kỷ niệm ngọt ngào của thời niên thiếu, nơi mà người ở quyến luyến không rời, người đi xa không thể nào quên, ước mơ có một ngày trở về ngồi bên hồ hàn huyên với bạn cũ.

Hồ không chỉ mang sinh khí, sự quyến rũ, sức sống, tập quán hay và văn hóa đẹp cho thị trấn mà đêm trăng bên hồ quá lãng mạn khiến những ai có tâm hồn thi sĩ không khỏi mộng mơ. Hoàng Tấn Linh, một thầy giáo của trường THPT thị trấn Hải Lăng đã viết:

Lá ủ hương nồng đêm thị trấn

Con sóng lao xao tuổi nhớ thì thầm

Ta ngồi đợi một tình yêu rất thật

Trăng bên hồ kết võng lá xa xăm…

Cám ơn thiên nhiên đã ban tặng cho người dân Hải Lăng chúng tôi những món quà vô giá. Rất mong mọi người ý thức được sự quý giá đó để bảo tồn, phát triển, biến trằm, hồ thành những danh thắng đáng tự hào của quê hương.

Nguyễn Khắc Phước

READ MORE - NGUYỄN KHẮC PHƯỚC - QUÀ TẶNG CỦA THIÊN NHIÊN CHO MIỀN GIÓ LÀO NẮNG LỬA

Wednesday, July 6, 2011

CÂU HÒ QUẢNG TRỊ - VÕ ĐÌNH HƯƠNG sưu tầm



11. Thuyền chèo sông Hương nghe giọng hò vang vảng. Dương trồng núi Ngự gió thổi vo vo. Bởi thiếp sai mấy lời ước hẹn, chàng lỗi mấy câu hò. Mấy mươi năm tình chồng nghĩa vợ chàng bỏ mấy lời thề ai mang.

12. Con chim đại bàng đậu hòn núi bạc. Con cá ngư ông ngóng nước giữa vời. Gặp nhau đây cho em phân giải một đôi lời. Kẻo mai kia con cá về sông vịnh, con chim nọ đổi dời non xanh.

13. Đường xa vạn dặm chân anh giờ thăm thẳm. Điệu cang thường không kể ra chơ kể ra thì thảm lắm chàng ơi. Anh xa em ra không phải vì trời. Bởi vì anh tham giàu phụ khó nên mới đổi dời duyên em.

14. Khi xưa anh nói với em như rìu chém xuống đá, như rạ chém xuống đất, như mật rót vào tai. Răng chừ anh lại nghe ai lưỡi mềm chuốt ngót, bỏ em lại giữa chốn non đoài thảm chưa.

15. Đứng bên ni sông ngó về bên tê sông thấy người ta như hội. Em đây một mình muốn lội qua sông. Sợ e sông dài nghỉn ngắn qua không tới bờ.

16. Đứng bên ni sông ngó về bên tê sông lòng trông vời vợi. Qua khỏi sông rồi gặp hội đờn ca. Tử Kỳ gặp lại Bá Nha. Đàn em đưa lên năm giây cho đúng bậc để em lại xướng hòa vài câu.

17. Nặng vì tình say mê vì ngãi. Vì ai thân dại mai tàn. Chuyện hò lắm lúc vương mang. Em đây nhớ đến mấy câu tình chồng nghĩa vợ lụy ứa hai hàng khôn lăn.

18. Thiếp gặp chàng tại đường xe lửa. Chàng gặp thiếp tại cửa nhà thương. Thiếp ngợ (ngỡ) cùng chàng kết vấn tơ vương. Không hay mô như đòn gánh gãy nửa chặng đường chàng ơi.

19. Thùng thùng cắc cắc, nón che tay ngoắt. Con chim chi kêu ngả bắc, con cá chi ngoắt ngả đông. Biết răng chừ cho vợ lại gặp chồng để phân phô lời nói kẻo lụy hồng tuôn rơi.

20. Thiếp xa chàng hái dâu quên giỏ. Chàng xa thiếp bứt cỏ quên liềm. Xuống sông gánh nước đôộc chìm gióng trôi. Bận chừ khổ lắm chàng ơi. Có nơi mô quạnh vắng chàng ngồi cho thiếp phân.
READ MORE - CÂU HÒ QUẢNG TRỊ - VÕ ĐÌNH HƯƠNG sưu tầm

Monday, July 4, 2011

CÂU HÒ QUẢNG TRỊ - VÕ ĐÌNH HƯƠNG sưu tầm

HÒ ÂN TÌNH

1. Ống quyển dài khen ai khéo thổi. Thả xuống giọng trầm nhiều nỗi mê man. Đêm khuya giấc điệp mơ màng. Tiếng ai hò iểu điệu hay là tiếng bạn cũ đồng sàng ngày xưa.
2. Núi Ngự Bình trước tròn sau méo. Sông An Cựu nắng đục mưa trong. Thiếp không thương chàng thì thôi chứ thương thì thiếp chí quyết một lòng. Dẫu có xa xuôi dặm thẳm thiếp để dạ trắng trong đợi chàng.
3. Ai vào trong ngả nguồn mây. Cho anh nhắn người bạn cũ giải khuây đừng buồn.
4. Đó buồn đây cũng chẳng vui chi. Đó sa nước mắt đây cũng có khi khóc thầm.
5. Sách có chữ rằng hữu xạ tự nhiên hương. Chàng ở ăn ở làm sao trong dạ cho thường. Trước khỏi mang câu sĩ nhục sau thá thường khỏi cười chê.
6. Bạn ơi, mãn mùa toóc rạ rơm khô. Bạn về quê bạn chàng biết nơi mô mà tìm.
7. Đi mô cho thiếp đi cùng, đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp theo. Lạnh lùng ta đắp chiếu cho. Đừng nghe ai khiến dộ lại vày vò chiếu đi.
8. Đi mô bỏ mẹ ở nhà, gối nghiêng ai sửa, chén trà ai bơng. Tay bơng dịa mói chắm gừng. Gừng cay mói mặn xin đửng bỏ nhau.
9. Bạn tri âm phải tầm người tri kỷ. Muốn đặng điều chung thủy để cho chàng rày vảng mai lai. Chàng ơi chớ thấy cây cao mà sấp mặt, chớ thấy biển rộng sông dài mà xây lưng.
10. Thiếp với chàng vương mang câu tình tự. Trên thì núi Ngự dưới có sông Hương. Du du đêm thẳm ngày trường. Nghe con ve kêu trên hòn núi Ngự vắng mặt chàng chàng ơi.
READ MORE - CÂU HÒ QUẢNG TRỊ - VÕ ĐÌNH HƯƠNG sưu tầm

CÂU HÒ QUẢNG TRỊ - VÕ ĐÌNH HƯƠNG sưu tầm


Là một cựu nhà giáo hiện đang sinh sống tại Thi Ông, Hải Vĩnh, Hải Lăng, Quảng Trị, anh Võ Đình Hương luôn thao thức làm thế nào để bảo tồn văn hóa làng quê trong thời đại văn minh đô thị đang lan tràn và mang theo văn hóa tây phương xa lạ. Với trăn trở đó, anh đã bỏ công sưu tầm những câu hò ở vùng quê Hải Lăng, là nôi của những điệu hò mái nhì, mái đẩy, giả gạo, đối đáp… một thời nhộn nhịp sân đình, ngân vang trên cánh đồng vào vụ cấy hoặc đến kỳ làm cỏ và từ những con đò dọc của dân thương hồ ngày đêm xuôi ngược trên những giòng sông quê hương.
VNQT sẽ lần lượt đăng tải tất cả nhưng câu hò mà anh Võ Đình Hương sưu tầm được, mong rằng chúng sẽ trở thành di sản phi vật thể của quê nhà, là tài liệu quý giá cho những ai quan tâm và mong thế hệ sau còn có cơ hội được đọc và bảo tồn những câu hò mà cha ông chúng ta đã gởi gắm vào đó rất nhiều tình cảm, nhiều tâm sự, được diễn tả một cách dí dỏm, thông minh, và qua chúng, hiểu được đời sống lao động và văn hóa của người nông dân chân lấm tay bùn một thời ở làng quê.
CÂU HÒ QUẢNG TRỊ
VÕ ĐìNH HƯƠNG SƯU TẦM
Ngày xưa. ở miền quê, đa số người dân quanh năm suốt tháng lo việc cấy cày, chẳng mấy người có cơ hội đến trường. Trong một làng chỉ có vài người được đi học, nên đa số các cụ từ 80 trở lên nay còn sống đều không biết chữ, âm nhạc cũng sơ sài. Vào tuổi lập gia đình, mặc dù không thể gởi thư nhưng họ lại bày tỏ tình cảm với nhau qua những câu hò rất mộc mạc chân tình tự sáng tác hoặc đã được truyền khẩu từ bao đời.
Các cụ kể rằng sau một ngày công việc đồng áng trở về, cơm nước xong, đến tối, trai gái xóm này với xóm nọ hoặc làng này với làng khác tu tập, vừa cầm chày giả gạo vừa trao gởi tình cảm với nhau bằng những câu hò.
Không chỉ ở những buổi tụ tập về đêm mà trên đồng ruông, nương khoai, đồi sắn…, bất cứ nơi đâu, người ta cũng có thể cất lên những giọng hò để xua tan đi mệt nhọc. Những chuyện hò đó không cần phải khuôn mẫu như âm nhạc cung đình mà chỉ cần có vần điệu là được. Các điệu hò như hò giả gạo, hò maí nhì, hò khoan rất phổ biến và còn được chia ra các loại như hò ân tình, hò đối đáp, hò ru con, hò cách mạng, v.v.
Qua một thời gian ngắn, tôi đã sưu tầm trên 100 câu hò bằng cách tiếp xúc với một số cụ ở Hải Vĩnh, Hải Lâm, Hải Thiện. Vì đây là văn hóa truyền khẩu nên có sự tam sao thất bổn, cần thời gian để tham khảo thêm những dị bản của các cụ cao niên khác. Những bài ghi được ở đây cũng có thể sai từ ngữ, thiếu vần điệu, nhưng vì thiện ý muốn lưu lại loại văn hóa truyền khẩu mộc mạc và mang đậm cái hồn quê mà một mai trở nên mai một thì rất đáng tiếc.
Vậy tôi gởi những câu hò này đến các bạn, xem như là bản nháp, xin được nghe những góp ý, sửa đổi để cùng nhau gìn giữ nét văn hóa độc đáo của quê hương.
Rất mong được các bạn chỉ giáo.
Quý hạ Tân Mão 2011
Võ Đình Hương


ĐỌC TIẾP

CÂU HÒ QUẢNG TRỊ: Câu 1-10

CÂU HÒ QUẢNG TRỊ: Câu 11-20
READ MORE - CÂU HÒ QUẢNG TRỊ - VÕ ĐÌNH HƯƠNG sưu tầm

Wednesday, June 29, 2011

HÀ THẠCH HÃN – SỰ THẬT TRẦN TRỤI



1.Cả bọn 7 người ráo riết chuẩn bị cho chuyến tham quan Vườn Quốc gia Cát Tiên từ hai tuần trước. Tâm trạng ai nấy đều háo hức chờ đợi được khám phá một di chỉ văn hóa, thăm thú các thảm rừng nguyên sinh và nhất là được mục sở thị các loài động vật nơi đây.

Nhưng háo hức bao nhiêu thì lại thất vọng bấy nhiêu. 20 g 15, cả bọn được xe ô tô đưa đi xem thú, cách khu nhà nghỉ chừng 10 km. Thú thật, trong thâm tâm ai cũng nghĩ rằng đấy là một bình nguyên rừng phong phú về chủng loài và đa dạng về mặt sinh học như những khu bảo tồn ở Nam Phi mà ti vi thường phát. Thế nhưng trái với những gì người ta mường tượng, nơi chúng tôi xem thú chỉ là những trảng cỏ thưa thớt bóng cây và không một tiếng chim kêu hay vượn hót.

Tuy vậy, ai cũng căng mắt dõi theo ánh đèn pha từ tay anh nhân viên kiểm lâm liên tục quét vào rừng. Và, thi thoảng theo ánh đèn ấy mới thấy từ xa hiện ra 1-2 đốm xanh mà nhân viên kiểm lâm cho là mắt nai hay mắt chồn(!). Họa hoằn lắm mới nhận ra một vài dáng nai mờ ảo lững thững nơi xa tít. Và… chấm hết!

Anh bạn đi cùng không giấu được nỗi thất vọng: Vậy mà gọi là xem thú sao?! Ngại ngùng, tôi phải ra dấu cho anh ngưng…phát biểu cảm tưởng vì sợ làm nhân viên kiểm lâm hướng dẫn phật lòng.

2. Sáng hôm sau, chúng tôi được đi tham quan Trung tâm cứu hộ linh trưởng Đảo Tiên, cách đó khoảng 15 phút đi xuồng. Thật bất ngờ khi được biết nơi đây đang có đến 6 tình nguyện viên người nước ngoài sang hỗ trợ trung tâm về chuyên môn và trực tiếp chăm sóc thú. Đáng trân trọng hơn, họ tình nguyện sang Việt Nam phục vụ không lương trong khoảng 1-2 năm với mọi chi tiêu đều từ tiền túi của mình.

Vậy mà họ tận tâm chăm sóc thú đến kinh ngạc. Lúc chúng tôi đến, đang có 3 nữ tình nguyện viên miệt mài cọ rửa chuồng trại còn sạch hơn cả nhà ở của mình. Và, khi một người trong nhóm chúng tôi rón rén đến gần chuồng vượn để quan sát thì liền bị nữ tình nguyện viên này yêu cầu rời khỏi đó ngay bằng một giọng Việt lơ lớ: Xin lỗi, không được đến gần vì làm vượn sợ!

3. Trưa cùng ngày, chúng tôi rời Cát Tiên và trên đường ra đã ghé lại một quán ăn gần đó để lót dạ trước khi trở về Sài Gòn. Vừa ngồi vào bàn chừng 2 phút, anh bạn đi cùng chợt ra hiệu, chỉ trỏ và hướng sự chú ý của mọi người về phía nhà bếp… Thật khủng khiếp, bên dưới gian bếp của quán ăn đang treo lủng lẳng một con voọc chà vá (có tên trong sách đỏ) vừa bị phanh thân mổ bụng toang hoác, trong khi mắt con vật vẫn trợn trừng như chưa thôi kinh ngạc vì sự man ác của loài người.

Bàng hoàng đến thẫn thờ!

Trên đường về, hình ảnh về con voọc cứ đeo đẳng mãi trong tâm trí tôi với những câu hỏi day dứt: Tại sao những cô gái nước ngoài kia lại yêu thương động vật hoang dã đến thế, trong khi chúng ta vẫn luôn săn tìm và tận diệt chúng để phục vụ cho nỗi thèm ăn của mình và ai đó? Bao giờ người dân mình mới nhận thức và hành động đúng mực để hạn chế những tác động của biến đổi khí hậu? Làm sao để khái niệm “đưa trái đất về vườn nhà” gấn gũi với tất cả mọi người? Phải chăng ý thức về môi trường của dân ta kém hơn dân Tây?

Những câu hỏi ấy đến nay vẫn chưa có lời đáp…


Nguồn: hathachhan.wordpress.com

READ MORE - HÀ THẠCH HÃN – SỰ THẬT TRẦN TRỤI