Làng Vây. Ảnh từ photo.zing.vn. (Click vào ảnh để xem to hơn)TRANG THUẦN TÚY VĂN HỌC NGHỆ THUẬT CỦA NGƯỜI QUẢNG TRỊ VÀ NGƯỜI YÊU MẾN QUẢNG TRỊ.
Chúc Mừng Năm Mới
Tuesday, September 28, 2010
TRƯƠNG THỊ HẰNG NGA - HƯỚNG HÓA KHÚC NHẠC XANH
Làng Vây. Ảnh từ photo.zing.vn. (Click vào ảnh để xem to hơn)Monday, September 27, 2010
TIẾN SĨ VÕ - Lê Quang Thái
![]() |

Quốc Tử Giám, gần Văn, Võ Miếu
Thông rịn, bàng xiêu, thấy phi liễu…
Hai câu thơ xưa viết theo thể “hành” của thi nhân Vân Bình Tôn Thất Lương qua bài Hương Giang hành năm 1941, còn đọng lại trong tâm tư người sông Hương hôm nay. Năm 1836, triều đình cho dựng trước sân Võ Miếu ba tấm bia Võ công; năm 1849, dựng tiếp hai tấm bia. Năm bia đá nằm năm vị trí, nay gom lại một cụm trơ vơ giữa nắng mưa.
Một trong nhiều nguyên nhân xây dựng Võ Miếu là để suy tôn những Tiến sĩ võ: “lờivăn hay có thể rọc đất ngang trời; Công võ giỏi làm cho yên dân hòa chúng”. Đối chênh với Võ Miếu là gò Long Thọ, các nhà địa lý nhận cho gò này là thiên quan địa trục (ải trời trục đất). Lý lẽ xây dựng Võ Miếu còn thể hiện ở hai từ Thích cát; có nghĩa là các Tiến sĩ mới đậu, đến nhà Thái Học cởi áo thường, mặc quan phục:
Văn dìu cánh phượng yên trăm họ
Võ thét oai hùm dẹp bốn phương
(Bài ca văn võ - Nguyễn Công Trứ)
Việc bàn đặt khoa thi võ và dựng bia Võ công bắt đầu từ tháng 12 năm Bính Thân, Minh Mạng thứ 17 (1836). Thi Hương bên võ để lấy đỗ Tú tài, Cử nhân sớm hơn nhiều so với thi Hội, thi Đình để lấy Phó bảng võ, Tiến sĩ võ. Từ năm 1865 đến năm 1880 ứng với niên hiệu Tự Đức thứ 18 đến thứ 33, triều đình Huế đã tổ chức được 7 khoa thi để chọn lấy được 11 Tiến sĩ võ và 110 Phó bảng võ. Thường thì quan võ “ít chữ” cho nên không ai gọi Tiến sĩ võ hoặc Phó bảng võ là “ông Nghè” hoặc “ông Nghè võ bao giờ”.
Thi Tiến sĩ võ cáo chung vào tháng 3 năm Giáp Thân (1884), niên hiệu Kiến Phúc thứ 1. Quốc sử chép: “Đến như thi Hội võ, lấy hạng người ấy biết chữ thì ít. Từ khi đặt khoa thi tới nay, kỳ thi phúc hạch trúng giáp đệ ấy rất ít, ngoài ra đều hư thiết, cho nên đình đi” (1).
Trường dạy võ chính thức được dựng ở mé tây Kinh Thành vào tháng 8 năm Tự Đức thứ 19 (1866). Điều hành trường dạy võ có các quan chánh Học Chính hàm võ tứ phẩm để dạy võ nghệ; phó Học Chính lấy quan văn ngũ phẩm để dạy về võ kinh, ban cho sách vở và đồ ký.(2) Trên toàn quốc có 5 trường thi Võ cử: Thừa Thiên, Hà Nội, Bình Định, An Giang và Thanh Hóa. Về sau phải bãi bỏ Võ cử, Võ sinh từ Hà Tĩnh đến Bình Định vì giặc Pháp phản đối. Có thể xem đây là nguồn tuyển chọn cho các thí sinh dự thi Hội và thi Đình võ ở chốn kinh sư.
Tháng 10 năm Tự Đức thứ 18 (1865), triều đình Huế mới định lệ việc bổ dụng Võ tiến sĩ với chức tước và phẩm hàm cao thấp như sau: “Bên Võ hàm tòng ngũ phẩm, thi đỗ nhất giáp, nhất danh, bổ phó lãnh binh, thự lãnh binh; trúng nhị danh, bổ quản cơ, thị phó lãnh binh trúng tam danh, bổ phó quản cơ, thự quản cơ. Đỗ nhị giáp, bổ phó quản cơ. Đỗ tam giáp, bổ cấm binh cai đội, thự phó quản cơ”.(3) Còn đỗ Phó bảng võ thì chịu thiệt hơn so với bên Văn: “Đỗ phó bảng bổ thụ cũng như trúng tam giáp, được đầy năm bổ thự phó quản cơ…”.(4) Và tùy theo thứ hạng của các kỳ thi từ đệ nhất đến đệ tứ của thi Hội để bổ dụng từ bát phẩm đến thất phẩm. Vì vậy mà trong dân gian còn truyền tụng câu ca:
Quan văn thất phẩm đã sang
Quan võ thất phẩm còn mang đai cờ
Trong quan hàm, võ chịu thiệt: Văn thắng Võ nhị trật.
Chầu hầu ở chốn triều chính, cung điện theo lối xếp: Văn tứ, Võ tam (quan Văn hàng tứ phẩm, quan Võ hàng tam phẩm trở lên). Lối thua thiệt của quan võ còn thể hiện rõ ở việc xếp ngôi tiên chỉ và chỗ ngồi ở chốn hương trung và đặt bài vị thờ tiên hiền hậu hiền ở miếu đình nguyên quán.
Tiến sĩ võ, Phó bảng võ được hưởng các quyền lợi:
1) Cấp ngựa trạm về vinh quy.
2) Làm lễ điện ở Võ Miếu. Bia đề tên Tiến sĩ võ dựng ở hai bên tả hữu trước sân Võ Miếu.
3) Trường thi ở chỗ trường thi ở bên Văn vào năm trước.
Về Hội thí bên võ, phải trải qua 3 kỳ:
- Kỳ đệ nhất: Thi xách tạ, múa côn.
- Kỳ đệ nhị: Thi múa côn gõ, múa dao, lăn khiên, múa dao dài chuôi, múa gươm dài, đâm người bù nhìn rơm.
- Kỳ đệ tam: Thi đấu súng điểu sang, thi đấu côn gỗ.
- Phúc hạch: Làm văn.(5)
Về Đình thí diễn ra trịnh trọng suốt 3 hôm. Diễn tiến khoa thi Võ tiến sĩ đầu tiên vào tháng 5 nhuận năm Ất Sửu, Tự Đức thứ 18 (1865) được sử chép như sau: “Sai Đô thống Trung quân, kiêm Chưởng Tiền quân, Tả quân là Đoàn Thọ và Tả tham tri bộ Lại là Phạm Phú Thứ sung làm Võ giám thí đại thần. Cho Vũ Văn Đức (nguyên Võ hội nguyên) đỗ nhị giáp Võ tiến sĩ xuất thân và Vũ Văn Lương (nguyên trúng thứ cách) đỗ Đệ tam giáp Võ tiến sĩ xuất thân. Lại lấy đỗ Võ phó bảng 6 tên: Đặng Văn Tá, Hà Văn Mão, Phan Văn Quát, Lê Khắc Đoài, Nguyễn Đăng Dính và Đỗ Văn Chiến…”.(6)
Phép thi này gọi là Bác cử, thí sinh phải trải qua 3 kỳ. Những ai vượt trọn qua 3 kỳ mới đạt danh xưng Võ tiến sĩ.
- Hôm thứ 1: Hỏi điều cốt yếu đem quân ra trận. Phương pháp bày trận.
- Hôm thứ 2: Khảo thí đấu côn.
- Hôm thứ 3: Khảo thí súng điểu sang ở ụ trường Đông Gia. Mỗi người bắn 9 phát.(7)
Trong khuôn khổ của bài viết, không thể triển khai rộng đường, chúng tôi xin lập bảng thống kê sau đây để bạn đọc có một cái nhìn khái quát. Bảy khoa thi Tiến sĩ võ trong 15 năm từ 1865 đến 1880 dưới triều Tự Đức. Bốn khoa đầu có ghi tên họ cụ thể những vị đỗ Phó bảng võ. Còn ba khoa còn lại, quốc sử không ghi rõ danh tánh. Chúng tôi ao ước khi bài viết này đến tay bạn đọc sẽ được quý vị bổ sung qua tư liệu quý giá về tiền nhân thi đỗ được trích từ gia phả, mộ chí, địa chí các tỉnh thành trong nước.
Năm Kiến Phúc nguyên niên (1884), trường thi dời qua làng La Chữ, huyện Hương Trà vào thời điểm đúng lúc thi Hội võ phải bãi bỏ vì thí sinh có nhiều người không viết được chữ Hán hoặc thành câu sao cho có nghĩa lý.
Năm 2008, Huế tổ chức lễ hội Tiến sĩ võ nhân Festival Huế. Không gian lễ hội Tiến sĩ võ này chỉ là sân khấu thu hẹp để trình diễn đấu võ thuật nhiều hơn là theo đúng quy cách, lễ nghi thi Tiến sĩ võ trước đây. Nơi tổ chức là sân sau Nghinh Lương Đình, phía trước Phu Văn Lâu thật chưa thích hợp, nếu không muốn nói là “lập lòa” cho qua chuyện và để lại nhiều ấn tượng sai sót. Thật tốn kém mà hiệu quả không cao.
Đã đến lúc, việc nghiên cứu trường thi, trường dạy võ cần được sớm xác định vị trí xưa để du khách và thế hệ trẻ thấy được hình ảnh bề thế, nghiêm cẩn của một quốc gia có nền văn hiến lâu đời, coi trọng hiền tài là nguyên khí của nhà nước. Từ đó mới có bằng chứng sống động để thuyết phục du khách đến Huế nghiên cứu. Nhà nước trong quá khứ cũng có nhiều nhược điểm, ưu điểm trong thi cử giữa lúc ấy vận nước chao đảo; nhưng việc cầu hiền tài vẫn được tôn trọng để kịp thời loại thải những quan võ thiếu trách nhiệm chu toàn công việc đã được trao phó:
Miếu cũ ngày nay qua tới đó,
Tấc lòng khởi kính biết là bao
(Lê Quý Đôn)
L.Q.T.
CÁC KHOA THI HỘI VÕ VÀ THI ĐÌNH VÕ / SỐ PHÓ BẢNG (PB) / SỐ TIẾN SĨ (TS) :
1.Ất Sửu, Tự Đức thứ 18 (1865). Thi vào tháng 5 tại Huế. PB: 06. TS: 02. Có danh sách Phó bảng.
2. Mậu Thìn, Tự Đức thứ 21 (1868). Thi vào tháng 6 tại Huế(8). PB: 20. TS: 05. Có danh sách PB.
3. Kỷ Tỵ, Tự Đức thứ 22 (1869). Thi vào tháng 7 tại Huế(9). Phó bảng: 22. Tiến sĩ: 03. (Ân khoa). Có danh sách PB.
4. Tân Mùi, Tự Đức thứ 24 (1871). Thi vào tháng 5 tại Huế(10). PB: 05. TS: 00. Có danh sách PB.
5. Ất Hợi, Tự Đức thứ 28 (1875). Thi vào tháng 5 tại Huế. PB: 13. TS: 00. Không có danh sách PB.
6. Kỷ Mão, Tự Đức thứ 32 (1879). Thi vào tháng 4 tại Huế(11). PB: 25. TS: 01. (Ân khoa). Không có danh sách PB.
7. Canh Thìn, Tự Đức thứ 33 (1880). Thi vào tháng 6 tại Huế. PB:19. TS: 00. Không có danh sách PB. Bãi bỏ phúc hạch
Tổng cộng: 110 Phó bảng; 11 Tiến sĩ
CHÚ THÍCH
(1) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Tập IX, Viện Sử học dịch, Nxb Giáo dục, 2007, tr. 63 - 64.
(2) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Tập VII, Sách đã dẫn, tr. 1012.
(3) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Tập IX, Sách đã dẫn, 2007, tr. 928 - 929. Dân gian quen gọi Võ phó bảng là Ất tiến sĩ võ để ghi vào bia mộ hoặc gia phổ dòng tộc.
(4) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Tập IX, Sách đã dẫn, tr. 933 - 934. Những thí sinh dự thi hội đỗ trường nhất, trường nhì, trường ba được bổ dụng quan võ hàm bát phẩm, thất phẩm.
(5) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Tập VII, Sách đã dẫn, tr. 975. Bên thi Văn có phúc hạch. Vào phúc hạch theo loa gọi tên, thí sinh mặc áo rộng màu xanh.
(6) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Tập VII, tr. 933.
(7) Ụ Đông Gia: Mô đất đắp lên cao thành ụ ở trường bắn bia. Trước tên là Đông Gia, ở phường Đông Gia sau đổi thành Đông Ba. Dấu tích đổi tên gọi Đông Gia thành Đông Ba qua
tên cầu Đông Gia (Đông Gia Kiều), Ụ Đông Gia nay là cồn mồ ở đường Nguyễn Chí Thanh.
(8)Khoa Mậu Thìn, Tự Đức thứ 21 (1868). Võ tiến sĩ: Nguyễn Văn Vận. Đồng võ tiến sĩ: Phạm Học, Nguyễn Văn Tứ, Dương Viết Thiện, Đỗ Văn Kiệt. Võ Phó bảng: Trần Duy Trung, Nguyễn Hữu Cử, Trần Văn Khuyến, Hồ Văn Thử, Hồ Văn Đông, Trương Duy Nhượng, Trần Đình Y, Hoàng Đình Mậu, Phan Văn Trạch, Võ Văn Vĩnh, Trần Văn Thi, Hồ Văn Tri, Phan Sĩ Ban, Phí Văn Thịnh, Nguyễn Duy Hồ, Nguyễn Tuế, Phan Viết Cân, Lê Văn Hướng, Nguyễn Văn Huân, Lê Văn Trạc.
(9) Khoa Kỷ Tỵ, Tự Đức thứ 22 (1869). Đồng tiến sĩ võ: Đặng Đức Tuấn, Trần Văn Hiển, Lê Trực.
(10) Khoa Tân Mùi, Tự Đức thứ 24 (1871), chỉ lấy 5 phó bảng võ: Nguyễn Vỹ, Trần Huy, Hoàng Hữu Bình, Phan Văn Mẫu, Trần Văn Chất.
(11) Khoa Canh Thìn, Tự Đức thứ 32 (1879), chỉ biết tên 1 vị trúng chánh cách là Nguyễn Gia Trung, người làng Cổ Lũy, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Do đau ốm, ông Trung không vào phúc hạch được. May mắn năm sau có mở khoa thi, ông được dự thi nhưng khi vào phúc hạch bài làm văn yếu kém nên được xếp vào hàng Võ phó bảng. Tỉnh Quảng Trị có 1 vị Tiến sĩ võ đầu tiên là ông Võ Văn Lương, người làng Đâu Kênh, huyện Triệu Phong đỗ đại khoa lúc 33 tuổi. Cụ Võ Soạn nguyên Thường vụ Tỉnh ủy tỉnh Bình Trị Thiên cũ là hậu duệ, gọi vị khai khoa Tiến sĩ võ là cố nội. Nhân đây đính chính Võ Văn Lương chớ không phải Vũ Văn Lương.
Nguồn: THÔNG TIN DI SẢN - SỐ 4 - 2010
Saturday, September 25, 2010
PHAN BÙI BẢO THI - NƠI SINH THÀNH NHỮNG NGƯỜI NGHỆ SĨ TÀI HOA
Một góc công viên làng Tùng Luật. Ảnh từ trang Báo Ảnh Việt Nam - vietnam.vnanet.vnGhi chép
Có một làng quê nhỏ, khiêm nhường nép mình sau lũy tre xanh ở cuối dòng sông Bến Hải, suốt bốn mùa trầm mình trong tiếng du dương nghìn đời của sóng biển cửa Tùng. Từ xưa đến nay, làng quê nhỏ ấy đã trải qua biết bao nhiêu biến cố cùng với chiều dài của lịch sử dân tộc, vậy mà chính trên mảnh đất ấy đã sinh ra, đã ấp iu nuôi dưỡng rất nhiều người con ưu tú...họ là những nghệ sỹ tài hoa lừng lẫy trên bầu trời nghệ thuật của nước nhà...
Sử cũ chép lại rằng: Ngôi làng nhỏ có tên là Tùng Luật xưa kia thuộc huyện Minh Linh, đã xuất hiện trên bản đồ nước Đại Việt từ năm 1069 (thời nhà Lý). Đây chính là cái nôi đã sinh ra điệu "chèo cạn làng Tùng". Một trong những nét sinh hoạt văn hóa dân gian độc đáo mà người đời đã bảo tồn và gìn giữ cho tới ngày nay. Đây cũng chính là quê hương của Hoàng Hậu Hiếu Văn hoàng đế Nguyễn Phúc Nguyên, tiền nhân của 13 đời vua triều Nguyễn, ngự trị hơn một trăm năm và đã để lại những dấu ấn quan trọng trong lịch sử dân tộc. Vương phi Mai Thị Vàng, người đàn bà tiết hạnh đã có một thiên tình sử đầy bi ai, trắc trở với Hoàng đế Duy Tân cũng được sinh ra ngay chính trên mảnh đất này.
Chiếu theo thuật phong thủy thì làng nằm trên thế đất "Phụng hàm thơ", có nghĩa là con chim Phụng Hoàng ngậm thơ trong miệng. Âu đó cũng là điềm lành dự báo đất sẽ sinh ra nhiều bậc anh hào, tài tử, giai nhân... giải thích nguồn gốc của điệu chèo cạn ở đây, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng: xưa kia, đây là một cảng thị sầm uất, nằm ngay mé biển nên xác cá Voi, cá Ông chết ngoài biển thường trôi dạt vào bờ. Là những cư dân vùng biển, họ hết sức tôn thờ những loài vật này theo truyền thống tín ngưỡng vật linh luận. Mỗi khi thấy xác cá trôi dạt vào bờ, người dân ở đây thường thiết những mâm lễ rất trang trọng, để đưa tiễn linh hồn của các thần ngư về trời. Những lúc như thế, họ thường quy tụ những đội "hát đưa linh", mỗi đội thường là 15 người (còn gọi là đội chèo cạn). Các nghệ nhân người cầm chịch, người cầm chèo, người tát nước, người đứng mũi... rồi nhịp nhàng hát theo những bè cao, bè thấp...nhằm mô phỏng lại những chuyến đi biển của ngư dân, người cầm chịch trong các đội chèo cạn bắt buộc phải hát được các điệu hò mái nhì, hò nện... So với các miền biển khác, lễ hội chèo cạn làng Tùng Luật còn có những nét đặc trưng như: tay chèo của ba trạo (12 tay chèo) phải có ngoắc tay làm cho động tác chèo trở nên mạnh mẽ hơn nhằm tái hiện lại hình ảnh những người đi biển vượt qua sóng biển một cách chân thực nhất. Đồng thời chèo cạn ở đây còn kết hợp với hò lý ngư, hò mái đẩy để cho ba trạo lấy hơi. Ở chèo cạn làng Tùng, thuyền được hình thành bởi sự sắp xếp của các ba trạo và được diễn ra trên một phạm vi rộng là sân làng. Vậy nên, các buổi biểu diễn của đội chèo cạn làng Tùng bao giờ cũng sinh động.
Theo những nguồn tài liệu hiện có thì người được coi là ông tổ đã khơi thông cho mạch nguồn ca hát ở làng Tùng Luật (nay thuộc xã Vĩnh Giang, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị) chảy mãi đến muôn đời là ông Nguyễn Hữu Như Bá (1840). Khi đến tuổi trưởng thành, ông Bá học nghề bốc thuốc cứu người nên rất có điều kiện để vào ra Kinh đô Huế và các tình vùng Nam Trung bộ, đôi khi ông còn tìm nguồn gốc thuốc quý tận lục tỉnh Nam kỳ. Trên những hành trình phiêu lãng ấy, ông đã có dịp để xem nhiều gánh hát tuồng biểu diễn. Như tiền định, những làn điệu dân ca vùng Trung bộ như những loài tiên dược tháng ngày ăn sâu vào tâm khảm và máu huyết của ông. Để thỏa chí cầm ca, ông Bá đã dừng chân ở xứ dừa Bình Định để tìm thầy học hát Bội. sau đó, ông ra Huế theo thầy học nhuần nhuyễn thêm 5 loại nhạc cụ với nhiều làn điệu dân ca Bình-Trị-Thiên như điệu lý giao duyên, lý ngựa ô, lý đoản xuân, lý quỳnh tương, lý con sáo sang sông; điệu khách gồm kim tiền lưu thủy, phú lục chậm, phú lục nhanh, cổ bản thường, cổ bản dựng, tứ đại cảnh (nam ai, nam bằng, nam xuân...); điệu hò Quảng Trị như hò mái nhì, hò mái đẩy, hò hụi, hò mái xắp, hò đưa linh...Từ đó, ông đêm ngày khổ luyện để truyền thụ lại cho anh em, con cháu trong cùng dòng tộc. Sau một thời gian rất ngắn, một gánh hát do ông làm chủ đã được ra đời, gánh hát có 14 diễn viên gồm: con trai Nguyễn Như Gián, các con gái là Nguyễn Thị Hòa, Nguyễn Thị Hạnh (thân mẫu NSND Lệ Thi) và các ông Nguyễn Như Tính, Trần Duyến (sau 1954, ông Duyến là nhạc công ca Huế của Đài Tiếng nói Việt Nam), Lê Não, Võ Cháu (thân sinh của nhạc sĩ Võ Đình Hùng), Trần Nóng, Phùng Ngấn, Nguyễn Khê, Bùi Văn Mè (thân sinh NSND Châu Loan, Châu Phụng). Gánh hát này bắt đầu biểu diễn từ năm 1880. Việc xuất hiện gánh hát này là một "sự kiện trọng đại" trong sinh hoạt văn hóa ở Quảng Trị thời bấy giờ. Chính vì vậy mà những tích tuồng cổ như: "Thoại Khanh Châu Tuấn", "Lưu Bình Dương Lễ", "Giang tả cầu hôn", "Cô Cơ giả dại qua đèo", "Hồ Xuân Hương", "Tam xuân loạn trào" ... với những giọng ca mùi mẫn đã làm cho nhiều người trong vùng Trung bộ đắm say. Sau này, 12 dòng họ trong xã Vĩnh Giang đã thống nhất lập nên đội "Chèo cạn làng Tùng", trên cơ sở là gánh hát của ông Nguyễn Hữu Như Bá, tồn tại cho đến năm 1947, lúc mà giặc Pháp tấn công dữ dội vào Vĩnh Linh mới tạm ngưng.
Những thế hệ hậu duệ đã không phụ lòng ông, họ miệt mài rèn luyện để trở thành những nghệ sĩ tài danh được cả nước biết đến như: NSND Châu Loan, NSND Lệ Thi, NSƯT Kim Phú (vợ của NSƯT Sỹ Cừ), NSƯT Kim Quý (vợ của NSND Xuân Đàm), NSƯT Châu Dinh, Thu Sen, Ái Chủng, Trần Duyến, Thanh Thảo...
Cố NSND Châu Loan (tên thật là Bùi Thị Loan) sinh năm 1926, là con gái của nghệ sĩ Ba Mè. Được sinh thành, dưỡng dục trong một gia đình có truyền thống về âm nhạc, từ năm 7 tuổi, Châu Loan đã được cha dạy cho đàn và hát dân ca. Trong môi trường ấy, tài năng của Châu Loan đã sớm nảy nở. Châu Loan có một chất giọng thiên phú và đặc biệt có tài ngâm thơ. Năm 1947, bà theo cha ra Hà Nội, cộng tác với đài phát thanh Pháp Á. Năm 1954, hòa bình lập lại, bà làm việc tại Tổ ca nhạc miền Trung, Ban âm nhạc của Đài tiếng nói Việt Nam. Năm 1957, Châu Loan được chọn là diễn viên xuất sắc đi dự Hội nghị thanh niên thế giới lần thứ nhất ở Vác SaVa (Ba Lan). Trong những năm tháng chiến tranh, tiếng thơ của Châu Loan trên làn sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam đêm đêm đã làm đắm say biết bao nhiêu triệu con tim của chiến sĩ và đồng bào trong cả nước. NSND Châu Loan nay không còn nữa (bà mất vì bệnh ung thư vào chiều Noel năm 1972), nhưng tên tuổi cùng với giọng ngâm thơ réo rắt đằm thắm của bà sẽ mãi còn ngân nga cùng với tuổi dài của đất nước. Bà được phong tặng danh hiệu NSND năm 1984 (đợt 1). Bà là mẹ của nhạc sỹ Quốc Trường.
NSND Lệ Thi (tên thật là Vũ Thị Lệ Thi) sinh năm 1925, tại thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Quảng Ngãi trong một gia đình có cha là tri phủ, mẹ là nghệ nhân Nguyễn Thị Hạnh, ông ngoại là cụ tổ Nguyễn Hữu Như Bá. Năm lên 15 tuổi, Lệ Thi đi theo đoàn tuồng "Ý Hiệp Ban" do vợ chồng ông Bang tá làm chủ gánh. Ở Đoàn tuồng này Lệ Thi đã rong ruổi khắp các miền đất ở vùng Trung bộ để biểu diễn và đã rất thành công với các vai diễn: Loan Dung (vỡ Lý Phụng Đình); Trại ba (vỡ Địch Thanh ly hôn); Đào Tam Xuân (vỡ Trảm trịnh ân); Nguyệt cô (vỡ Tiết Giao đoạt ngọc); Nguyệt Tiên (vỡ Đào phi phụng); Xuân Hương (vỡ Mã long mã phụng); Phượng Cơ (vỡ Tam Nữ đồ vương)... Năm 1942, Lệ Thi đã cùng mẹ và anh trai là Vũ Tư Trị lập nên một gánh hát do ông Tư Trị làm chủ. Cuộc đời ca hát đã làm cho Lệ Thi say đắm mà quên đi cuộc sống của một vương gia vọng tộc (cha của Lệ Thi là Vũ Thiếu Trinh, người quê Quảng Ngãi, làm tri phủ Vĩnh Linh). Sau năm 1954, Lệ Thi tập kết ra Bắc làm diễn viên của đoàn Văn công liên khu 5. sau khi Đoàn tách làm 2 đoàn là đoàn Tuồng và đoàn Dân ca kịch. Lệ Thi đã cùng với Ngô Quang Thắng, Nguyễn Tường Nhẫn, Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Kiểm, Đinh Thái Sơn tham dự đoàn dân ca kịch và được giao nhiệm vụ xây dựng kịch chủng mới là kịch hát bài chòi. Chính bà cũng là người đã có rất nhiều đóng góp trong việc cách tân, cải biên dân ca kịch liên khu 5. Các điệu lý như: Lý bắt bướm, Lý thiên thai, Lý hoa thơm, các điệu hò xe, hò đạp nước và đặc biệt là hò bài chòi đã được bà cách tân để đưa vào dân ca kịch một cách nhuần nhụy. Trong chiến tranh, bà là một nghệ sĩ luôn đem tiếng ca của mình đến những điểm chốt gian nguy để phục vụ cho đồng bào cùng chiến sĩ. Giọng ca điêu luyện, thấm đẫm ân tình của bà đã làm cho nhiều trái tim đắm say và yêu mến. Năm 1984, bà được phong tặng danh hiệu NSND (đợt 1), bà là vợ của soạn giả, NSƯT Nguyễn Tường Nhẫn, Con trai bà là Kì Ngộ và con gái Tường Vân đều là diễn viên Đoàn ca kịch Thuận Hải, con trai Quang Tái là một nhạc công của đoàn, con gái Hạnh Nguyên là diễn viên Đoàn ca kịch Phú Khánh, Phó Hiệu trưởng trường Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội.
NSƯT Châu Dinh (tên thật là Nguyễn Thị Dinh), sinh năm 1942 ở quê mẹ là làng Tùng Luật. Năm 1960 Châu Dinh được tiếp nhận vào đoàn Ca kịch Trị Thiên Huế khi đoàn đang đóng tại Ty Thông tin - Văn hóa Vĩnh Linh. Thời gian này Châu Dinh có dịp trau dồi, rèn luyện các kỹ năng ca, kỹ năng sân khấu. Bà Kim Thao, là người đã có công giúp Châu Dinh định hình tính cách, vai diễn về sau. Năm 1961, cuộc kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam đang bắt đầu bước vào thế trận mới, Châu Dinh đã được Đài tiếng nói Việt Nam mời thể hiện nhiều bài ca Huế, dân ca Bình Trị Thiên ngợi ca cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước của nhân dân hai miền Nam - Bắc. Thính giả trong cả nước cũng từ đây bắt đầu biết đến tên tuổi Châu Dinh.
Những năm 1970, trên miền đất XHCN, Châu Dinh đã có những tháng ngày tuyệt vời về sự ôn luyện học tập nghệ thuật ca kịch Huế. Từ phong cách biểu diễn đến kỹ thuật diễn ca Châu Dinh đều cố gắng thể hiện không để làm phụ lòng các bậc thầy như Kim Oanh, Mộng Điệp, Minh Tâm.
Từ năm 1966 đến năm 1969, Châu Dinh được theo đoàn vào tuyến lửa Quảng Bình - Vĩnh Linh. Để biểu diễn phục vụ đồng bào và chiến sĩ vùng giới tuyến. Với tài năng và bản lĩnh của mình, Châu Dinh được đoàn phân công và đảm nhận nhiều vai diễn quan trọng. Châu Dinh nhớ và ấn tượng nhất là vai diễn đầu tiên: Bà Lành trong vở diễn Con gà chân chì. Qua vai bà Lành, Châu Dinh đã thu hút được sự chú ý của khán giả, niềm tin cậy của khán giả dành cho Châu Dinh ngày càng được nhân lên.
Nghệ thuật biểu diễn, nghệ thuật ca Huế tiếp tục được định hình theo thời gian. Lần lượt, Châu Dinh đảm nhận nhiều vai diễn mới như Kan Xiêm (vở Kan Lịch), Công chúa Sở, Tuấn mẫu (vở Thoại Khanh Châu Tuấn), Bà vợ trung tá quân đội Sài Gòn (vở Chiếc áo cưới màu xanh) của các soạn giả Xuân Lư - Lê Anh Phong; Bà mẹ sinh viên đấu tranh (vở Nước mắt và bạo lực), Nhũ mẫu (vở Quạ thần, pho tượng đá) chuyển thể từ kịch nói của soạn giả Lưu Quang Vũ...
Tài năng nghệ thuật của Châu Dinh được nhiều đài, báo trong nước ngợi ca. Chị xứng đáng với Huy chương Bạc (1985- vỡ Vòng oan nghiệt của soạn giả Lê bá Sinh), Huy chương Vàng (1990- vai Diệu Thúy trong vỡ Lời trăn trối của soạn giả Minh Hằng) cùng nhiều bằng khen khác qua các mùa hội diễn. Bên cạnh thành tích trên Châu Dinh đã được Bộ VHTT tặng Huy chương Vì sự nghiệp văn hóa, Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam tặng Huy chương Vì sự nghiệp VHNT và vinh dự nhất là được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Ưu tú vào năm 1993.
Trên mảnh đất cỗi cằn Quảng Trị, vợ chồng NSƯT Sỹ Cừ-NSƯT Kim Phú đã cùng với các nghệ sĩ tâm huyết khác đêm ngày tôi luyện để đạt đến đỉnh cao trong biểu diễn đàn và hát dân ca. Cũng chính họ là những người luôn đau đáu một khát vọng bảo lưu và phát triển một cách vĩnh hằng những vốn văn hóa cổ truyền của dân tộc. Khác với người chị ruột của mình, NSƯT Kim Quý đã thể hiện rất thành công khả năng biểu diễn của mình trên sân khấu kịch nói. Với tài đạo diễn sân khấu của chồng chị (NSND Xuân Đàm), với những kịch bản của các nhà văn là người Quảng Trị như: Xuân Đức, Nguyễn Quang Lập, Cao Hạnh... NSƯT Kim Quý đã thực sự tỏa sáng qua từng vai diễn của mình trong các vở như: "Mùa hạ cay đắng", "Ám ảnh", "Đứa con nối dõi", "Chuyện đời thường vớ vẩn", "Huyền thoại mẹ"... đặc biệt ở NSƯT Kim Quý là vai độc diễn Lý Chiêu Hoàng. Liên tiếp trong nhiều năm, chị đã gặt hái về cho quê hương Quảng Trị, cho làng Tùng Luật của chị nhiều huy chương vàng của các kỳ hội diễn sân khấu toàn quốc. Chị kể: "Sau nhiều năm tháng đi xa, về lại nơi chôn nhau, cắt rốn chị nghẹn ngào trước cảnh quê nhà hoang tàn, đổ nát. Ngay từ những giây phút ấy, chị chợt hiểu rằng mình đã mắc nợ với quê hương, mắc nợ với những người đã khuất, món nợ mà đời chị chẳng dễ gì trả nổi. Từ đó, chị đã dồn hết tâm lực của mình vào các vai diễn về đề tài chiến tranh với khát khao trả món nợ tâm linh cho xứ sở. Các hình tượng nhân vật được chị thể hiện đã để lại những dấu ấn sâu đậm trong lòng người xem khắp cả nước.
Trong khuôn khổ bài viết nhỏ này, người viết không thể nào kể hết những gương mặt nghệ sĩ tài hoa là con dân của làng quê Tùng Luật. Những con người tài hoa ấy đã chung tay vào với lịch sử nghệ thuật của nước nhà, họ miệt mài xây dựng ngôi nhà chung ấy để rồi họ không còn là của riêng cái làng ven biển Tùng Luật nữa, không là của cái tỉnh Quảng Trị khốn khó ấy nữa, mà họ là của chung đất nước này.
Ngày dần trôi, tôi đi trên con đường quê thẩm nắng, làng Tùng Luật vẫn yên bình trong tiếng gió lao xao và sóng biển từ phía khơi xa vẫn vọng về réo rắt. Những bờ tre quanh làng như thể xanh hơn với cánh đồng nom cũng thêm trù phú. Mọi cảnh đã khác nhiều so với một thời quá vãng cực nhọc, gian nan... Nhặt lên chiếc lá từ mảnh đất bazan đỏ thắm dưới chân mình, tôi như nghe thấy từng lời thì thầm của đất. Những người dân của làng Tùng Luật muôn đời vẫn thế, họ lặng lẽ chắt chiu cho đời những hạt phù sa nghệ thuật, để chăm bẳm cho vườn hoa chung ấy mãi mãi đẹp tươi.
P.B.B.T
Tuesday, September 21, 2010
NGÔ MINH - THƠ CỦA NGƯỜI VÂN KIỀU
Một gia đình người Vân Kiều ở Hướng Hóa. Ảnh từ quangtri.netMonday, September 20, 2010
ĐỨC TIÊN - CHÙM THƠ

Làng quê ở Gio Linh. Ảnh từ Flickr
BÂY GIỜ VÀ MÃI MÃI NGÀN SAU
Ta lớn lên đất nước chiến chinh
Khói lửa trùm lên làng quê chiều xuống
Tiếng ì ùm dội vào tâm tưởng
Quán chợ nghèo xơ xác lá bàng rơi
Mãi mê tìm lứa tuổi đôi mươi
Mai xá, Cát sơn, Lễ Môn, An mỹ
Những tên làng nghe sao bình dị
Chất chứa trong ta đắm đuối một thời
Những ngọn dừa xanh mắt em cười
Ta thao thức hình như vô cớ
Sóng vỗ bình minh đò xuôi bến chợ
Mát lựng hồn ta lảng đảng trăng tròn
Trãng cát vàng dấu những chân son
Áo trắng em bay hoàng hôn tím lịm
Tóc em xanh một màu bịn rịn
Tuổi ngói hồng trang vở trắng trong
Những ngày hè ta mãi lông bông
Mẹ nấu cho ta dẽo thơm cơm nếp
Ngõ Đa, ngõ Bè chân ta xì xụp
Cánh đồng làng thơm hạt gạo vàng de
Ơi tuổi thơ ta mãi đê mê
Có giữ lại bóng hình ta ngày nọ
Khi ta hát bài ca ta nhớ
Mái tranh nghèo khăn áo mẹ xanh lơ
Chinh chiến qua rồi làng củ ta qua
Mẹ và em và bạn bè ngày nọ
Ta du lãng trong giấc mơ vò võ
Năm tháng nào ngày củ bâng khuâng
Ơi tuổi thơ ta mãi đi hoang
Tiền kiếp nào xui ta đến vậy
Ta mang theo bóng hình ngày ấy
Để bây giờ và mãi mãi ngàn sau...
CỒN CỎ ƠI !
Cồn cỏ ơi ! Cồn Cỏ ơi !
Đảo xa hun hút chân trời nhớ thương
Cuộc tình nào đã tơ vương
Mà lăn lóc mấy dặm trường đến đây
Một bờ đá một rừng cây
Một triền gió lộng nắng hây hây vàng
Mát xanh dưới tán lá bàng
Mấy anh lính trẻ rộn ràng lời ca
Trắng rừng loài hoa Phong Ba
Bến Nghè khách đợi người xa có về
Bàng vuông vẫn giữ lời thề
Tả tơi rơi rụng bên lề nhân gian
Đã qua nắng nỏ mưa chan
Bến sông Hương vẫn vọng ngàn lời ru
Hè qua kéo cả mùa thu
Lô nhô gềnh đá sương mù giăng giăng
Đêm muôn nghìn ánh sao băng
Mênh mông biển sáng hải đăng đỏ trời
Cồn Cỏ ơi ! Cồn Cỏ ơi !
Một vuông đất mấy cuộc đời buồn vui
Qua rồi lửa khói dập vùi
Thênh thang đường rộng bùi ngùi bước chân
Về thăm đảo nhỏ một lần
Mà ngây ngất mà chồng chềnh trời mây
Thôi thì cũng một lần say
Với Cồn Cỏ với đất này với em...
LỠ HẸN
Huế ơi thôi lỡ hẹn rồi
Đã không về được bên đồi với thông
Đã không về với bến sông
Đã không về với mênh mông đợi chờ
Con đò trôi mãi lững lờ
Ngoái nhìn Thương Bạc sương mờ giăng giăng
Em giờ ngồi bắt bóng trăng
Đợi người trong mộng cầm bằng mà chi
Giữa muôn ngàn vạn bước đi
Giữa muôn màu áo em thì rối ran
Cuộc vui chưa mở đã tàn
Trống không ly rượu trắng ngàn phôi pha
Cung đường nào phải ngái xa
Muôn ngàn lời hẹn cũng là hẹn thôi
Huế ơi ! thì đã lỡ rồi
Cầm mây với gió cho người phong sương
Ta giờ như kẻ tha hương
Nhớ về Bến Ngự ,sông Hương thẩn thờ
Bạn bè vui với vần thơ
Câu thì ngọng nghịu câu xơ xác buồn
Huế ơi đã lỡ cung đàn
Ta xin nửa chén rượu tàn cạn ly ...
Nguồn: ductien.vnweblogs.com
LÊ QUANG THÁI - ĐỀN THỜ ĐỨC THÁNH TRẦN Ở HUẾ KHAI SÁNG NGUỒN MẠCH TÂM LINH
Ảnh: Trần Đức Anh Sơn . (Click chuột vào hình sẽ xem được hình lớn hơn)Người Việt Nam tôn vinh Hưng Đạo Đại Vương là Đức Thánh Trần. Ngày nay, có người gọi nơi thờ Đức Thánh Trần là Đền; có người gọi là Điện, thậm chí có người gọi Miếu. Đó là những nơi thờ phượng trang nghiêm, uy linh mà biểu hiện bằng chữ quốc ngữ là Đền thờ Đức Trần Hưng Đạo. Thời vàng son tôn kính, cố đô Huế có đến 24 đền thờ Đức Thánh Trần, chữ xưa gọi là Linh từ hoặc Vọng từ, thường đi kèm theo sau danh từ riêng gồm hai chữ, chẳng hạn: Phú Lộc vọng từ (nay ở địa chỉ số 6 kiệt 91, đường Nguyễn Chí Thanh) ở bên Gia Hội; Tân phẩm vọng từ (số 8 kiệt 36, đường Nguyễn Khoa Chiêm), dưới chân núi Ngự Bình. Nhưng được biết đến nhiều nhất là ngôi đền chính thờ tọa lạc tại số 86 đường Phan Chu Trinh, mặt hướng ra dòng sông An Cựu, nắng đục mưa trong. Ngôi đền rộng hơn 5000m2 được vua Duy Tân ban tặng biển hiệu là Tân phẩm linh từ vào tháng hai năm Giáp Dần (1914). Vị có công khai sáng ra đền thờ là bà Tôn Nữ Thị Ninh. Bà mất năm 1925, con trai là Nguyễn Đình Thuyên, một thanh đồng đệ tử trung kiên, kế tục lo việc thờ phượng.
CÙNG TÁC GIẢ:
TƯỢNG ĐỨC QUÁN THẾ ÂM TẠI TRUNG TÂM VĂN HÓA PHẬT GIÀO LIỂU QUÁN
Sunday, September 19, 2010
HỌA SĨ TRƯƠNG BÉ
Mạch nguồn sự sống - tranh sơn mài của họa sĩ Trương bé
Trừu Tượng -tranh của họa sĩ Trương bé
Họa sĩ Trương Bé. Ảnh từ www.tapchisonghuong.com.vn
Họa Sĩ Trương bé- người cầm máy ảnh - Ảnh từ vnthuquan.net/diendan/Trương Bé đã chọn nghiệp và anh đi suốt đời mình. Tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật Hà Nội năm 1974, hoạt động mỹ thuật tại Quảng Trị, thực tập tại Budapest 1983 – 1986, công tác giảng dạy tại Đại học Nghệ thuật Huế, nguyên là Hiệu trưởng Trường Đại học Nghệ thuật Huế và hiện là Ủy viên BTK Hội Mỹ thuật Việt Nam nhiệm kỳ 2000 – 2005, và giảng dạy tại trường Đại học Nghệ thuật Huế và một số trường các tỉnh miền Trung.
Từ năm 1976 anh đã liên tục triển lãm trong và ngoài nước như:
- Đã tổ chức triển lãm cá nhân 1992 tại Huế, triển lãm Cha và con ở Hà Nội.
- Tham gia nhóm tác giả năm 1988 và các cuộc triển lãm chung ở Thái Lan, Pháp, Mỹ, và anh không bao giờ vắng mặt trong tất cả các cuộc triển lãm trong nước và trong tỉnh. Ở anh sự tìm kiếm là thường trực, anh không dừng ở điểm nào, từ hiện thực sang trừu tượng anh đã dám xông vào cái mà người ta còn e ngại trong hoàn cảnh lịch sử lúc ấy. Tranh trừu tượng thì không lạ gì với Huế vì trước đó đã có những họa sĩ đã tổ chức nhiều triển lãm, song anh đi tìm kiếm ở đó một ngữ riêng biệt để nói hết những cái mình muốn nói, và rồi từ đó trong cuộc đời sáng tạo, anh đã dừng tạm thời ở tranh trừu tượng. Từ hiện thực sang trừu tượng, với Trương Bé là cái không hình là cái không có giới hạn để mình gửi gắm những ý tưởng đến nhân gian nhiều nhất, những vệt màu vung lên một cách mạnh mẽ để tạo những mảng lớn hay những nét thả lỏng hững hờ dường như mất hút vào nền vải, những mảng màu khô quánh cào xướt lên mặt tranh hay dịu dàng nhẹ trôi êm ả, cảm xúc trong tranh Trương Bé có khi mạnh mẽ bạo liệt nhưng cũng có khi trầm tĩnh duy lý đến từng phân vuông. Nó luôn biến, sự biến hóa của hình, của màu tạo nên cái động, là cái cốt lõi trong tác phẩm của anh.
Ở giai đoạn này, những tiết điệu như chảy vào các ngõ ngách, dù có khoảng trống cần thiết cho một sự tĩnh lặng, người ta có cảm giác sự đầy ắp bên trong vuông tranh của anh luôn là sự ham muốn vươn tới cái vô cùng, những gam màu sáng, trầm ấm của sơn dầu hay chín sẫm của son tươi và màu cánh gián, rạn vỡ của vỏ trứng và rực rỡ vàng quỳ trong sơn mài, có lúc anh chỉ sử dụng đơn sắc, những thể nghiệm chất liệu, thì tiết điệu trong tranh vẫn là cái mà anh luôn tìm và giữ nó đến tận giờ, anh chọn hướng đi vào cõi bên trong, anh tìm cái thấu đáo, tìm cái Đạo, cái lẽ tự nhiên. Như trong các tác phẩm "sắc không", "mơ diều", "miền hư ảo", "vòng nhân sinh", cùng "sự sống dòng chảy trái đất"... Và màu của anh đã tinh lọc đến tối đa, gần như đơn sắc, gần với hội họa phương Đông với cái mạnh mẽ của nét, nền nã biến hóa của màu và sắc độ, chính cái đơn giản, tính chất ấy mới là sự điêu luyện của nghề. Trong các tác phẩm mới nhất của anh người ta thấy ở loạt tranh trừu tượng đen trắng hoặc đen, trắng, đỏ, một lối ra của anh mới khởi đầu. Cũng như trong "sắc không" và "mơ diều" anh thể nghiệm đơn sắc bằng một chất liệu khác như giấy dó, dây gai là chủ đạo, nhưng người ta thấy ở đó một sự mênh mông và thanh thản đến lạ lùng.
Tuy sơn mài, anh kỳ công trong xử lý, giữa độ sâu của màu và chuyển động của nét cũng đã tạo nên những nhịp điệu rung động và ở đó ta thấy cái mạnh mẽ và mềm mại quyện lại như khí lực của một vũ điệu có cả 2 tính cương, nhu làm cho nó sinh động và biến hóa đến bất tận.
Tuổi 60, độ chín của anh đang trên đà cô đặc, tinh chất, nghệ thuật vẫn luôn là cái phải tìm phía trước, hôm nay anh đang thanh thản để gặt hái những gì do tích lũy, và nội lực của anh đang độ sung mãn.
Thursday, September 16, 2010
CA SĨ NHƯ QUỲNH

NGHE GIỌNG CA NHƯ QUỲNH:
NHƯ VẠT NẮNG
BUỒN NHƯ PHƯỢNG
