Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, September 28, 2010

TRƯƠNG THỊ HẰNG NGA - HƯỚNG HÓA KHÚC NHẠC XANH

Làng Vây. Ảnh từ photo.zing.vn. (Click vào ảnh để xem to hơn)


Khe Sanh đẹp trong đôi mắt ai?
Để thu nay em đành xa Hướng Hoá
Lối mòn quanh co như bức hoạ
Tân Hợp đi về lẻ bước người ơi.

Tháng chạp Tà Cơn rẽ lối sương rơi
Tháng giêng ông trời chợt mưa chợt nắng
Cà phê Hướng Tân chắt chiu từng giọt đắng
Để cho đời thi vị của cao nguyên.

Em miền xuôi anh miền ngược giao duyên
Đôi mắt dao cau cái nhìn lúng liếng
Vọng tiếng xuân chung chiêng én liệng
Lao Bảo, em Vân Kiều sánh bước chàng Tà Ôi.

Liên Lập khoảng trời gió níu mây trôi
Chuối trĩu buồng Làng Vây rong ruỗi
Mê khúc La La trăng thề đắm đuối
Rào Quán âm trầm bên suối cung thanh.

Mãi trong ta Hướng Hoá khúc nhạc xanh!


Trương Thị Hằng Nga


READ MORE - TRƯƠNG THỊ HẰNG NGA - HƯỚNG HÓA KHÚC NHẠC XANH

Monday, September 27, 2010

TIẾN SĨ VÕ - Lê Quang Thái

Võ miếu và bia tiến sĩ võ ở Huế. 
Ảnh từ wikipedia


Quốc Tử Giám, gần Văn, Võ Miếu

Thông rịn, bàng xiêu, thấy phi liễu…


Hai câu thơ xưa viết theo thể “hành” của thi nhân Vân Bình Tôn Thất Lương qua bài Hương Giang hành năm 1941, còn đọng lại trong tâm tư người sông Hương hôm nay. Năm 1836, triều đình cho dựng trước sân Võ Miếu ba tấm bia Võ công; năm 1849, dựng tiếp hai tấm bia. Năm bia đá nằm năm vị trí, nay gom lại một cụm trơ vơ giữa nắng mưa.


Một trong nhiều nguyên nhân xây dựng Võ Miếu là để suy tôn những Tiến sĩ võ: “lờivăn hay có thể rọc đất ngang trời; Công võ giỏi làm cho yên dân hòa chúng”. Đối chênh với Võ Miếu là gò Long Thọ, các nhà địa lý nhận cho gò này là thiên quan địa trục (ải trời trục đất). Lý lẽ xây dựng Võ Miếu còn thể hiện ở hai từ Thích cát; có nghĩa là các Tiến sĩ mới đậu, đến nhà Thái Học cởi áo thường, mặc quan phục:


Văn dìu cánh phượng yên trăm họ

Võ thét oai hùm dẹp bốn phương

(Bài ca văn võ - Nguyễn Công Trứ)


Việc bàn đặt khoa thi võ và dựng bia Võ công bắt đầu từ tháng 12 năm Bính Thân, Minh Mạng thứ 17 (1836). Thi Hương bên võ để lấy đỗ Tú tài, Cử nhân sớm hơn nhiều so với thi Hội, thi Đình để lấy Phó bảng võ, Tiến sĩ võ. Từ năm 1865 đến năm 1880 ứng với niên hiệu Tự Đức thứ 18 đến thứ 33, triều đình Huế đã tổ chức được 7 khoa thi để chọn lấy được 11 Tiến sĩ võ và 110 Phó bảng võ. Thường thì quan võ “ít chữ” cho nên không ai gọi Tiến sĩ võ hoặc Phó bảng võ là “ông Nghè” hoặc “ông Nghè võ bao giờ”.


Thi Tiến sĩ võ cáo chung vào tháng 3 năm Giáp Thân (1884), niên hiệu Kiến Phúc thứ 1. Quốc sử chép: “Đến như thi Hội võ, lấy hạng người ấy biết chữ thì ít. Từ khi đặt khoa thi tới nay, kỳ thi phúc hạch trúng giáp đệ ấy rất ít, ngoài ra đều hư thiết, cho nên đình đi” (1).


Trường dạy võ chính thức được dựng ở mé tây Kinh Thành vào tháng 8 năm Tự Đức thứ 19 (1866). Điều hành trường dạy võ có các quan chánh Học Chính hàm võ tứ phẩm để dạy võ nghệ; phó Học Chính lấy quan văn ngũ phẩm để dạy về võ kinh, ban cho sách vở và đồ ký.(2) Trên toàn quốc có 5 trường thi Võ cử: Thừa Thiên, Hà Nội, Bình Định, An Giang và Thanh Hóa. Về sau phải bãi bỏ Võ cử, Võ sinh từ Hà Tĩnh đến Bình Định vì giặc Pháp phản đối. Có thể xem đây là nguồn tuyển chọn cho các thí sinh dự thi Hội và thi Đình võ ở chốn kinh sư.


Tháng 10 năm Tự Đức thứ 18 (1865), triều đình Huế mới định lệ việc bổ dụng Võ tiến sĩ với chức tước và phẩm hàm cao thấp như sau: “Bên Võ hàm tòng ngũ phẩm, thi đỗ nhất giáp, nhất danh, bổ phó lãnh binh, thự lãnh binh; trúng nhị danh, bổ quản cơ, thị phó lãnh binh trúng tam danh, bổ phó quản cơ, thự quản cơ. Đỗ nhị giáp, bổ phó quản cơ. Đỗ tam giáp, bổ cấm binh cai đội, thự phó quản cơ”.(3) Còn đỗ Phó bảng võ thì chịu thiệt hơn so với bên Văn: “Đỗ phó bảng bổ thụ cũng như trúng tam giáp, được đầy năm bổ thự phó quản cơ…”.(4) Và tùy theo thứ hạng của các kỳ thi từ đệ nhất đến đệ tứ của thi Hội để bổ dụng từ bát phẩm đến thất phẩm. Vì vậy mà trong dân gian còn truyền tụng câu ca:


Quan văn thất phẩm đã sang

Quan võ thất phẩm còn mang đai cờ


Trong quan hàm, võ chịu thiệt: Văn thắng Võ nhị trật.


Chầu hầu ở chốn triều chính, cung điện theo lối xếp: Văn tứ, Võ tam (quan Văn hàng tứ phẩm, quan Võ hàng tam phẩm trở lên). Lối thua thiệt của quan võ còn thể hiện rõ ở việc xếp ngôi tiên chỉ và chỗ ngồi ở chốn hương trung và đặt bài vị thờ tiên hiền hậu hiền ở miếu đình nguyên quán.


Tiến sĩ võ, Phó bảng võ được hưởng các quyền lợi:

1) Cấp ngựa trạm về vinh quy.

2) Làm lễ điện ở Võ Miếu. Bia đề tên Tiến sĩ võ dựng ở hai bên tả hữu trước sân Võ Miếu.

3) Trường thi ở chỗ trường thi ở bên Văn vào năm trước.

Về Hội thí bên võ, phải trải qua 3 kỳ:

- Kỳ đệ nhất: Thi xách tạ, múa côn.

- Kỳ đệ nhị: Thi múa côn gõ, múa dao, lăn khiên, múa dao dài chuôi, múa gươm dài, đâm người bù nhìn rơm.

- Kỳ đệ tam: Thi đấu súng điểu sang, thi đấu côn gỗ.

- Phúc hạch: Làm văn.(5)


Về Đình thí diễn ra trịnh trọng suốt 3 hôm. Diễn tiến khoa thi Võ tiến sĩ đầu tiên vào tháng 5 nhuận năm Ất Sửu, Tự Đức thứ 18 (1865) được sử chép như sau: “Sai Đô thống Trung quân, kiêm Chưởng Tiền quân, Tả quân là Đoàn Thọ và Tả tham tri bộ Lại là Phạm Phú Thứ sung làm Võ giám thí đại thần. Cho Vũ Văn Đức (nguyên Võ hội nguyên) đỗ nhị giáp Võ tiến sĩ xuất thân và Vũ Văn Lương (nguyên trúng thứ cách) đỗ Đệ tam giáp Võ tiến sĩ xuất thân. Lại lấy đỗ Võ phó bảng 6 tên: Đặng Văn Tá, Hà Văn Mão, Phan Văn Quát, Lê Khắc Đoài, Nguyễn Đăng Dính và Đỗ Văn Chiến…”.(6)


Phép thi này gọi là Bác cử, thí sinh phải trải qua 3 kỳ. Những ai vượt trọn qua 3 kỳ mới đạt danh xưng Võ tiến sĩ.

- Hôm thứ 1: Hỏi điều cốt yếu đem quân ra trận. Phương pháp bày trận.

- Hôm thứ 2: Khảo thí đấu côn.

- Hôm thứ 3: Khảo thí súng điểu sang ở ụ trường Đông Gia. Mỗi người bắn 9 phát.(7)


Trong khuôn khổ của bài viết, không thể triển khai rộng đường, chúng tôi xin lập bảng thống kê sau đây để bạn đọc có một cái nhìn khái quát. Bảy khoa thi Tiến sĩ võ trong 15 năm từ 1865 đến 1880 dưới triều Tự Đức. Bốn khoa đầu có ghi tên họ cụ thể những vị đỗ Phó bảng võ. Còn ba khoa còn lại, quốc sử không ghi rõ danh tánh. Chúng tôi ao ước khi bài viết này đến tay bạn đọc sẽ được quý vị bổ sung qua tư liệu quý giá về tiền nhân thi đỗ được trích từ gia phả, mộ chí, địa chí các tỉnh thành trong nước.


Năm Kiến Phúc nguyên niên (1884), trường thi dời qua làng La Chữ, huyện Hương Trà vào thời điểm đúng lúc thi Hội võ phải bãi bỏ vì thí sinh có nhiều người không viết được chữ Hán hoặc thành câu sao cho có nghĩa lý.


Năm 2008, Huế tổ chức lễ hội Tiến sĩ võ nhân Festival Huế. Không gian lễ hội Tiến sĩ võ này chỉ là sân khấu thu hẹp để trình diễn đấu võ thuật nhiều hơn là theo đúng quy cách, lễ nghi thi Tiến sĩ võ trước đây. Nơi tổ chức là sân sau Nghinh Lương Đình, phía trước Phu Văn Lâu thật chưa thích hợp, nếu không muốn nói là “lập lòa” cho qua chuyện và để lại nhiều ấn tượng sai sót. Thật tốn kém mà hiệu quả không cao.


Đã đến lúc, việc nghiên cứu trường thi, trường dạy võ cần được sớm xác định vị trí xưa để du khách và thế hệ trẻ thấy được hình ảnh bề thế, nghiêm cẩn của một quốc gia có nền văn hiến lâu đời, coi trọng hiền tài là nguyên khí của nhà nước. Từ đó mới có bằng chứng sống động để thuyết phục du khách đến Huế nghiên cứu. Nhà nước trong quá khứ cũng có nhiều nhược điểm, ưu điểm trong thi cử giữa lúc ấy vận nước chao đảo; nhưng việc cầu hiền tài vẫn được tôn trọng để kịp thời loại thải những quan võ thiếu trách nhiệm chu toàn công việc đã được trao phó:


Miếu cũ ngày nay qua tới đó,

Tấc lòng khởi kính biết là bao

(Lê Quý Đôn)

L.Q.T.


CÁC KHOA THI HỘI VÕ VÀ THI ĐÌNH VÕ / SỐ PHÓ BẢNG (PB) / SỐ TIẾN SĨ (TS) :

1.Ất Sửu, Tự Đức thứ 18 (1865). Thi vào tháng 5 tại Huế. PB: 06. TS: 02. Có danh sách Phó bảng.

2. Mậu Thìn, Tự Đức thứ 21 (1868). Thi vào tháng 6 tại Huế(8). PB: 20. TS: 05. Có danh sách PB.

3. Kỷ Tỵ, Tự Đức thứ 22 (1869). Thi vào tháng 7 tại Huế(9). Phó bảng: 22. Tiến sĩ: 03. (Ân khoa). Có danh sách PB.

4. Tân Mùi, Tự Đức thứ 24 (1871). Thi vào tháng 5 tại Huế(10). PB: 05. TS: 00. Có danh sách PB.

5. Ất Hợi, Tự Đức thứ 28 (1875). Thi vào tháng 5 tại Huế. PB: 13. TS: 00. Không có danh sách PB.

6. Kỷ Mão, Tự Đức thứ 32 (1879). Thi vào tháng 4 tại Huế(11). PB: 25. TS: 01. (Ân khoa). Không có danh sách PB.

7. Canh Thìn, Tự Đức thứ 33 (1880). Thi vào tháng 6 tại Huế. PB:19. TS: 00. Không có danh sách PB. Bãi bỏ phúc hạch

Tổng cộng: 110 Phó bảng; 11 Tiến sĩ


CHÚ THÍCH

(1) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Tập IX, Viện Sử học dịch, Nxb Giáo dục, 2007, tr. 63 - 64.

(2) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Tập VII, Sách đã dẫn, tr. 1012.

(3) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Tập IX, Sách đã dẫn, 2007, tr. 928 - 929. Dân gian quen gọi Võ phó bảng là Ất tiến sĩ võ để ghi vào bia mộ hoặc gia phổ dòng tộc.

(4) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Tập IX, Sách đã dẫn, tr. 933 - 934. Những thí sinh dự thi hội đỗ trường nhất, trường nhì, trường ba được bổ dụng quan võ hàm bát phẩm, thất phẩm.

(5) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Tập VII, Sách đã dẫn, tr. 975. Bên thi Văn có phúc hạch. Vào phúc hạch theo loa gọi tên, thí sinh mặc áo rộng màu xanh.

(6) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Tập VII, tr. 933.

(7) Ụ Đông Gia: Mô đất đắp lên cao thành ụ ở trường bắn bia. Trước tên là Đông Gia, ở phường Đông Gia sau đổi thành Đông Ba. Dấu tích đổi tên gọi Đông Gia thành Đông Ba qua

tên cầu Đông Gia (Đông Gia Kiều), Ụ Đông Gia nay là cồn mồ ở đường Nguyễn Chí Thanh.

(8)Khoa Mậu Thìn, Tự Đức thứ 21 (1868). Võ tiến sĩ: Nguyễn Văn Vận. Đồng võ tiến sĩ: Phạm Học, Nguyễn Văn Tứ, Dương Viết Thiện, Đỗ Văn Kiệt. Võ Phó bảng: Trần Duy Trung, Nguyễn Hữu Cử, Trần Văn Khuyến, Hồ Văn Thử, Hồ Văn Đông, Trương Duy Nhượng, Trần Đình Y, Hoàng Đình Mậu, Phan Văn Trạch, Võ Văn Vĩnh, Trần Văn Thi, Hồ Văn Tri, Phan Sĩ Ban, Phí Văn Thịnh, Nguyễn Duy Hồ, Nguyễn Tuế, Phan Viết Cân, Lê Văn Hướng, Nguyễn Văn Huân, Lê Văn Trạc.

(9) Khoa Kỷ Tỵ, Tự Đức thứ 22 (1869). Đồng tiến sĩ võ: Đặng Đức Tuấn, Trần Văn Hiển, Lê Trực.

(10) Khoa Tân Mùi, Tự Đức thứ 24 (1871), chỉ lấy 5 phó bảng võ: Nguyễn Vỹ, Trần Huy, Hoàng Hữu Bình, Phan Văn Mẫu, Trần Văn Chất.

(11) Khoa Canh Thìn, Tự Đức thứ 32 (1879), chỉ biết tên 1 vị trúng chánh cách là Nguyễn Gia Trung, người làng Cổ Lũy, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Do đau ốm, ông Trung không vào phúc hạch được. May mắn năm sau có mở khoa thi, ông được dự thi nhưng khi vào phúc hạch bài làm văn yếu kém nên được xếp vào hàng Võ phó bảng. Tỉnh Quảng Trị có 1 vị Tiến sĩ võ đầu tiên là ông Võ Văn Lương, người làng Đâu Kênh, huyện Triệu Phong đỗ đại khoa lúc 33 tuổi. Cụ Võ Soạn nguyên Thường vụ Tỉnh ủy tỉnh Bình Trị Thiên cũ là hậu duệ, gọi vị khai khoa Tiến sĩ võ là cố nội. Nhân đây đính chính Võ Văn Lương chớ không phải Vũ Văn Lương.

Nguồn: THÔNG TIN DI SẢN - SỐ 4 - 2010

READ MORE - TIẾN SĨ VÕ - Lê Quang Thái

Saturday, September 25, 2010

PHAN BÙI BẢO THI - NƠI SINH THÀNH NHỮNG NGƯỜI NGHỆ SĨ TÀI HOA

Một góc công viên làng Tùng Luật. Ảnh từ trang Báo Ảnh Việt Nam - vietnam.vnanet.vn

Ghi chép


Có một làng quê nhỏ, khiêm nhường nép mình sau lũy tre xanh ở cuối dòng sông Bến Hải, suốt bốn mùa trầm mình trong tiếng du dương nghìn đời của sóng biển cửa Tùng. Từ xưa đến nay, làng quê nhỏ ấy đã trải qua biết bao nhiêu biến cố cùng với chiều dài của lịch sử dân tộc, vậy mà chính trên mảnh đất ấy đã sinh ra, đã ấp iu nuôi dưỡng rất nhiều người con ưu tú...họ là những nghệ sỹ tài hoa lừng lẫy trên bầu trời nghệ thuật của nước nhà...


Sử cũ chép lại rằng: Ngôi làng nhỏ có tên là Tùng Luật xưa kia thuộc huyện Minh Linh, đã xuất hiện trên bản đồ nước Đại Việt từ năm 1069 (thời nhà Lý). Đây chính là cái nôi đã sinh ra điệu "chèo cạn làng Tùng". Một trong những nét sinh hoạt văn hóa dân gian độc đáo mà người đời đã bảo tồn và gìn giữ cho tới ngày nay. Đây cũng chính là quê hương của Hoàng Hậu Hiếu Văn hoàng đế Nguyễn Phúc Nguyên, tiền nhân của 13 đời vua triều Nguyễn, ngự trị hơn một trăm năm và đã để lại những dấu ấn quan trọng trong lịch sử dân tộc. Vương phi Mai Thị Vàng, người đàn bà tiết hạnh đã có một thiên tình sử đầy bi ai, trắc trở với Hoàng đế Duy Tân cũng được sinh ra ngay chính trên mảnh đất này.


Chiếu theo thuật phong thủy thì làng nằm trên thế đất "Phụng hàm thơ", có nghĩa là con chim Phụng Hoàng ngậm thơ trong miệng. Âu đó cũng là điềm lành dự báo đất sẽ sinh ra nhiều bậc anh hào, tài tử, giai nhân... giải thích nguồn gốc của điệu chèo cạn ở đây, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng: xưa kia, đây là một cảng thị sầm uất, nằm ngay mé biển nên xác cá Voi, cá Ông chết ngoài biển thường trôi dạt vào bờ. Là những cư dân vùng biển, họ hết sức tôn thờ những loài vật này theo truyền thống tín ngưỡng vật linh luận. Mỗi khi thấy xác cá trôi dạt vào bờ, người dân ở đây thường thiết những mâm lễ rất trang trọng, để đưa tiễn linh hồn của các thần ngư về trời. Những lúc như thế, họ thường quy tụ những đội "hát đưa linh", mỗi đội thường là 15 người (còn gọi là đội chèo cạn). Các nghệ nhân người cầm chịch, người cầm chèo, người tát nước, người đứng mũi... rồi nhịp nhàng hát theo những bè cao, bè thấp...nhằm mô phỏng lại những chuyến đi biển của ngư dân, người cầm chịch trong các đội chèo cạn bắt buộc phải hát được các điệu hò mái nhì, hò nện... So với các miền biển khác, lễ hội chèo cạn làng Tùng Luật còn có những nét đặc trưng như: tay chèo của ba trạo (12 tay chèo) phải có ngoắc tay làm cho động tác chèo trở nên mạnh mẽ hơn nhằm tái hiện lại hình ảnh những người đi biển vượt qua sóng biển một cách chân thực nhất. Đồng thời chèo cạn ở đây còn kết hợp với hò lý ngư, hò mái đẩy để cho ba trạo lấy hơi. Ở chèo cạn làng Tùng, thuyền được hình thành bởi sự sắp xếp của các ba trạo và được diễn ra trên một phạm vi rộng là sân làng. Vậy nên, các buổi biểu diễn của đội chèo cạn làng Tùng bao giờ cũng sinh động.



Theo những nguồn tài liệu hiện có thì người được coi là ông tổ đã khơi thông cho mạch nguồn ca hát ở làng Tùng Luật (nay thuộc xã Vĩnh Giang, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị) chảy mãi đến muôn đời là ông Nguyễn Hữu Như Bá (1840). Khi đến tuổi trưởng thành, ông Bá học nghề bốc thuốc cứu người nên rất có điều kiện để vào ra Kinh đô Huế và các tình vùng Nam Trung bộ, đôi khi ông còn tìm nguồn gốc thuốc quý tận lục tỉnh Nam kỳ. Trên những hành trình phiêu lãng ấy, ông đã có dịp để xem nhiều gánh hát tuồng biểu diễn. Như tiền định, những làn điệu dân ca vùng Trung bộ như những loài tiên dược tháng ngày ăn sâu vào tâm khảm và máu huyết của ông. Để thỏa chí cầm ca, ông Bá đã dừng chân ở xứ dừa Bình Định để tìm thầy học hát Bội. sau đó, ông ra Huế theo thầy học nhuần nhuyễn thêm 5 loại nhạc cụ với nhiều làn điệu dân ca Bình-Trị-Thiên như điệu lý giao duyên, lý ngựa ô, lý đoản xuân, lý quỳnh tương, lý con sáo sang sông; điệu khách gồm kim tiền lưu thủy, phú lục chậm, phú lục nhanh, cổ bản thường, cổ bản dựng, tứ đại cảnh (nam ai, nam bằng, nam xuân...); điệu hò Quảng Trị như hò mái nhì, hò mái đẩy, hò hụi, hò mái xắp, hò đưa linh...Từ đó, ông đêm ngày khổ luyện để truyền thụ lại cho anh em, con cháu trong cùng dòng tộc. Sau một thời gian rất ngắn, một gánh hát do ông làm chủ đã được ra đời, gánh hát có 14 diễn viên gồm: con trai Nguyễn Như Gián, các con gái là Nguyễn Thị Hòa, Nguyễn Thị Hạnh (thân mẫu NSND Lệ Thi) và các ông Nguyễn Như Tính, Trần Duyến (sau 1954, ông Duyến là nhạc công ca Huế của Đài Tiếng nói Việt Nam), Lê Não, Võ Cháu (thân sinh của nhạc sĩ Võ Đình Hùng), Trần Nóng, Phùng Ngấn, Nguyễn Khê, Bùi Văn Mè (thân sinh NSND Châu Loan, Châu Phụng). Gánh hát này bắt đầu biểu diễn từ năm 1880. Việc xuất hiện gánh hát này là một "sự kiện trọng đại" trong sinh hoạt văn hóa ở Quảng Trị thời bấy giờ. Chính vì vậy mà những tích tuồng cổ như: "Thoại Khanh Châu Tuấn", "Lưu Bình Dương Lễ", "Giang tả cầu hôn", "Cô Cơ giả dại qua đèo", "Hồ Xuân Hương", "Tam xuân loạn trào" ... với những giọng ca mùi mẫn đã làm cho nhiều người trong vùng Trung bộ đắm say. Sau này, 12 dòng họ trong xã Vĩnh Giang đã thống nhất lập nên đội "Chèo cạn làng Tùng", trên cơ sở là gánh hát của ông Nguyễn Hữu Như Bá, tồn tại cho đến năm 1947, lúc mà giặc Pháp tấn công dữ dội vào Vĩnh Linh mới tạm ngưng.


Những thế hệ hậu duệ đã không phụ lòng ông, họ miệt mài rèn luyện để trở thành những nghệ sĩ tài danh được cả nước biết đến như: NSND Châu Loan, NSND Lệ Thi, NSƯT Kim Phú (vợ của NSƯT Sỹ Cừ), NSƯT Kim Quý (vợ của NSND Xuân Đàm), NSƯT Châu Dinh, Thu Sen, Ái Chủng, Trần Duyến, Thanh Thảo...


Cố NSND Châu Loan (tên thật là Bùi Thị Loan) sinh năm 1926, là con gái của nghệ sĩ Ba Mè. Được sinh thành, dưỡng dục trong một gia đình có truyền thống về âm nhạc, từ năm 7 tuổi, Châu Loan đã được cha dạy cho đàn và hát dân ca. Trong môi trường ấy, tài năng của Châu Loan đã sớm nảy nở. Châu Loan có một chất giọng thiên phú và đặc biệt có tài ngâm thơ. Năm 1947, bà theo cha ra Hà Nội, cộng tác với đài phát thanh Pháp Á. Năm 1954, hòa bình lập lại, bà làm việc tại Tổ ca nhạc miền Trung, Ban âm nhạc của Đài tiếng nói Việt Nam. Năm 1957, Châu Loan được chọn là diễn viên xuất sắc đi dự Hội nghị thanh niên thế giới lần thứ nhất ở Vác SaVa (Ba Lan). Trong những năm tháng chiến tranh, tiếng thơ của Châu Loan trên làn sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam đêm đêm đã làm đắm say biết bao nhiêu triệu con tim của chiến sĩ và đồng bào trong cả nước. NSND Châu Loan nay không còn nữa (bà mất vì bệnh ung thư vào chiều Noel năm 1972), nhưng tên tuổi cùng với giọng ngâm thơ réo rắt đằm thắm của bà sẽ mãi còn ngân nga cùng với tuổi dài của đất nước. Bà được phong tặng danh hiệu NSND năm 1984 (đợt 1). Bà là mẹ của nhạc sỹ Quốc Trường.


NSND Lệ Thi (tên thật là Vũ Thị Lệ Thi) sinh năm 1925, tại thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Quảng Ngãi trong một gia đình có cha là tri phủ, mẹ là nghệ nhân Nguyễn Thị Hạnh, ông ngoại là cụ tổ Nguyễn Hữu Như Bá. Năm lên 15 tuổi, Lệ Thi đi theo đoàn tuồng "Ý Hiệp Ban" do vợ chồng ông Bang tá làm chủ gánh. Ở Đoàn tuồng này Lệ Thi đã rong ruổi khắp các miền đất ở vùng Trung bộ để biểu diễn và đã rất thành công với các vai diễn: Loan Dung (vỡ Lý Phụng Đình); Trại ba (vỡ Địch Thanh ly hôn); Đào Tam Xuân (vỡ Trảm trịnh ân); Nguyệt cô (vỡ Tiết Giao đoạt ngọc); Nguyệt Tiên (vỡ Đào phi phụng); Xuân Hương (vỡ Mã long mã phụng); Phượng Cơ (vỡ Tam Nữ đồ vương)... Năm 1942, Lệ Thi đã cùng mẹ và anh trai là Vũ Tư Trị lập nên một gánh hát do ông Tư Trị làm chủ. Cuộc đời ca hát đã làm cho Lệ Thi say đắm mà quên đi cuộc sống của một vương gia vọng tộc (cha của Lệ Thi là Vũ Thiếu Trinh, người quê Quảng Ngãi, làm tri phủ Vĩnh Linh). Sau năm 1954, Lệ Thi tập kết ra Bắc làm diễn viên của đoàn Văn công liên khu 5. sau khi Đoàn tách làm 2 đoàn là đoàn Tuồng và đoàn Dân ca kịch. Lệ Thi đã cùng với Ngô Quang Thắng, Nguyễn Tường Nhẫn, Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Kiểm, Đinh Thái Sơn tham dự đoàn dân ca kịch và được giao nhiệm vụ xây dựng kịch chủng mới là kịch hát bài chòi. Chính bà cũng là người đã có rất nhiều đóng góp trong việc cách tân, cải biên dân ca kịch liên khu 5. Các điệu lý như: Lý bắt bướm, Lý thiên thai, Lý hoa thơm, các điệu hò xe, hò đạp nước và đặc biệt là hò bài chòi đã được bà cách tân để đưa vào dân ca kịch một cách nhuần nhụy. Trong chiến tranh, bà là một nghệ sĩ luôn đem tiếng ca của mình đến những điểm chốt gian nguy để phục vụ cho đồng bào cùng chiến sĩ. Giọng ca điêu luyện, thấm đẫm ân tình của bà đã làm cho nhiều trái tim đắm say và yêu mến. Năm 1984, bà được phong tặng danh hiệu NSND (đợt 1), bà là vợ của soạn giả, NSƯT Nguyễn Tường Nhẫn, Con trai bà là Kì Ngộ và con gái Tường Vân đều là diễn viên Đoàn ca kịch Thuận Hải, con trai Quang Tái là một nhạc công của đoàn, con gái Hạnh Nguyên là diễn viên Đoàn ca kịch Phú Khánh, Phó Hiệu trưởng trường Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội.


NSƯT Châu Dinh (tên thật là Nguyễn Thị Dinh), sinh năm 1942 ở quê mẹ là làng Tùng Luật. Năm 1960 Châu Dinh được tiếp nhận vào đoàn Ca kịch Trị Thiên Huế khi đoàn đang đóng tại Ty Thông tin - Văn hóa Vĩnh Linh. Thời gian này Châu Dinh có dịp trau dồi, rèn luyện các kỹ năng ca, kỹ năng sân khấu. Bà Kim Thao, là người đã có công giúp Châu Dinh định hình tính cách, vai diễn về sau. Năm 1961, cuộc kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam đang bắt đầu bước vào thế trận mới, Châu Dinh đã được Đài tiếng nói Việt Nam mời thể hiện nhiều bài ca Huế, dân ca Bình Trị Thiên ngợi ca cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước của nhân dân hai miền Nam - Bắc. Thính giả trong cả nước cũng từ đây bắt đầu biết đến tên tuổi Châu Dinh.


Những năm 1970, trên miền đất XHCN, Châu Dinh đã có những tháng ngày tuyệt vời về sự ôn luyện học tập nghệ thuật ca kịch Huế. Từ phong cách biểu diễn đến kỹ thuật diễn ca Châu Dinh đều cố gắng thể hiện không để làm phụ lòng các bậc thầy như Kim Oanh, Mộng Điệp, Minh Tâm.


Từ năm 1966 đến năm 1969, Châu Dinh được theo đoàn vào tuyến lửa Quảng Bình - Vĩnh Linh. Để biểu diễn phục vụ đồng bào và chiến sĩ vùng giới tuyến. Với tài năng và bản lĩnh của mình, Châu Dinh được đoàn phân công và đảm nhận nhiều vai diễn quan trọng. Châu Dinh nhớ và ấn tượng nhất là vai diễn đầu tiên: Bà Lành trong vở diễn Con gà chân chì. Qua vai bà Lành, Châu Dinh đã thu hút được sự chú ý của khán giả, niềm tin cậy của khán giả dành cho Châu Dinh ngày càng được nhân lên.

Nghệ thuật biểu diễn, nghệ thuật ca Huế tiếp tục được định hình theo thời gian. Lần lượt, Châu Dinh đảm nhận nhiều vai diễn mới như Kan Xiêm (vở Kan Lịch), Công chúa Sở, Tuấn mẫu (vở Thoại Khanh Châu Tuấn), Bà vợ trung tá quân đội Sài Gòn (vở Chiếc áo cưới màu xanh) của các soạn giả Xuân Lư - Lê Anh Phong; Bà mẹ sinh viên đấu tranh (vở Nước mắt và bạo lực), Nhũ mẫu (vở Quạ thần, pho tượng đá) chuyển thể từ kịch nói của soạn giả Lưu Quang Vũ...


Tài năng nghệ thuật của Châu Dinh được nhiều đài, báo trong nước ngợi ca. Chị xứng đáng với Huy chương Bạc (1985- vỡ Vòng oan nghiệt của soạn giả Lê bá Sinh), Huy chương Vàng (1990- vai Diệu Thúy trong vỡ Lời trăn trối của soạn giả Minh Hằng) cùng nhiều bằng khen khác qua các mùa hội diễn. Bên cạnh thành tích trên Châu Dinh đã được Bộ VHTT tặng Huy chương Vì sự nghiệp văn hóa, Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam tặng Huy chương Vì sự nghiệp VHNT và vinh dự nhất là được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Ưu tú vào năm 1993.


Trên mảnh đất cỗi cằn Quảng Trị, vợ chồng NSƯT Sỹ Cừ-NSƯT Kim Phú đã cùng với các nghệ sĩ tâm huyết khác đêm ngày tôi luyện để đạt đến đỉnh cao trong biểu diễn đàn và hát dân ca. Cũng chính họ là những người luôn đau đáu một khát vọng bảo lưu và phát triển một cách vĩnh hằng những vốn văn hóa cổ truyền của dân tộc. Khác với người chị ruột của mình, NSƯT Kim Quý đã thể hiện rất thành công khả năng biểu diễn của mình trên sân khấu kịch nói. Với tài đạo diễn sân khấu của chồng chị (NSND Xuân Đàm), với những kịch bản của các nhà văn là người Quảng Trị như: Xuân Đức, Nguyễn Quang Lập, Cao Hạnh... NSƯT Kim Quý đã thực sự tỏa sáng qua từng vai diễn của mình trong các vở như: "Mùa hạ cay đắng", "Ám ảnh", "Đứa con nối dõi", "Chuyện đời thường vớ vẩn", "Huyền thoại mẹ"... đặc biệt ở NSƯT Kim Quý là vai độc diễn Lý Chiêu Hoàng. Liên tiếp trong nhiều năm, chị đã gặt hái về cho quê hương Quảng Trị, cho làng Tùng Luật của chị nhiều huy chương vàng của các kỳ hội diễn sân khấu toàn quốc. Chị kể: "Sau nhiều năm tháng đi xa, về lại nơi chôn nhau, cắt rốn chị nghẹn ngào trước cảnh quê nhà hoang tàn, đổ nát. Ngay từ những giây phút ấy, chị chợt hiểu rằng mình đã mắc nợ với quê hương, mắc nợ với những người đã khuất, món nợ mà đời chị chẳng dễ gì trả nổi. Từ đó, chị đã dồn hết tâm lực của mình vào các vai diễn về đề tài chiến tranh với khát khao trả món nợ tâm linh cho xứ sở. Các hình tượng nhân vật được chị thể hiện đã để lại những dấu ấn sâu đậm trong lòng người xem khắp cả nước.


Trong khuôn khổ bài viết nhỏ này, người viết không thể nào kể hết những gương mặt nghệ sĩ tài hoa là con dân của làng quê Tùng Luật. Những con người tài hoa ấy đã chung tay vào với lịch sử nghệ thuật của nước nhà, họ miệt mài xây dựng ngôi nhà chung ấy để rồi họ không còn là của riêng cái làng ven biển Tùng Luật nữa, không là của cái tỉnh Quảng Trị khốn khó ấy nữa, mà họ là của chung đất nước này.


Ngày dần trôi, tôi đi trên con đường quê thẩm nắng, làng Tùng Luật vẫn yên bình trong tiếng gió lao xao và sóng biển từ phía khơi xa vẫn vọng về réo rắt. Những bờ tre quanh làng như thể xanh hơn với cánh đồng nom cũng thêm trù phú. Mọi cảnh đã khác nhiều so với một thời quá vãng cực nhọc, gian nan... Nhặt lên chiếc lá từ mảnh đất bazan đỏ thắm dưới chân mình, tôi như nghe thấy từng lời thì thầm của đất. Những người dân của làng Tùng Luật muôn đời vẫn thế, họ lặng lẽ chắt chiu cho đời những hạt phù sa nghệ thuật, để chăm bẳm cho vườn hoa chung ấy mãi mãi đẹp tươi.


P.B.B.T

READ MORE - PHAN BÙI BẢO THI - NƠI SINH THÀNH NHỮNG NGƯỜI NGHỆ SĨ TÀI HOA

Tuesday, September 21, 2010

NGÔ MINH - THƠ CỦA NGƯỜI VÂN KIỀU

Một gia đình người Vân Kiều ở Hướng Hóa. Ảnh từ quangtri.net


Dân tộc Vân Kiều sống trên hai mái Trường Sơn, tập trung ở hai huyện Hướng Hóa, Đakrông ( Quảng Trị ), một ít ở huyện Alưới (Thừa Thiên- Huế) và một số ở Lào ( Tây Trường Sơn ). Người Vân Kiều có tiếng nói mà chưa có chữ viết, nên nói THƠ của người Vân Kiều là tôi muốn nói đến lời những câu hát dân ca của dân tộc này. Nhà văn Mai Văn Tấn (*) sinh thời là sĩ quan bộ đội biên phòng, hàng chục năm ăn ở cùng đồng bào Vân Kiều ở huyện Hướng Hóa, nên ông rất am tường văn hóa của họ . Ông đã sưu tầm và biên soạn hai tập truyện cổ Vân Kiều rất hấp dẫn . Đặc biệt, đầu năm 1980, ở Huế, nhà văn tặng tôi tập Dân ca Vân Kiều do ông sưu tầm, phiên dịch và giới thiệu. Tôi đã đọc say mê và thích thú. Gần đây, trong dịp xếp lại mấy giá sách gia đình, tôi bắt gặp lại cuốn Dân ca Vân Kiều . Đọc lại Dân Ca Vân Kiều tôi nhận ra rất nhiều điều hay mà lúc trẻ mình chưa tường tỏ. Là người làm thơ, tôi nhận được ở trong kho tàng dân ca người Vân Kiều những bài học bổ ích vô giá về thơ, về cách sử dụng ngôn ngữ hình tượng, về thủ thuật cao cường trong liên tưởng, so sánh, ẩn dụ. Theo tôi , những câu dân ca này chính là thơ của người Vân Kiều. Một thứ thơ điêu luyện được hát lên...
Có một bài thơ tình yêu cô đọng đến mức phát lửa. Có thể gọi như các nhà thơ hay gọi: đây là "thơ mi-ni"- thứ thơ đọc lên nghe lạnh cả sống lưng, nghe như có nắng hè chói lóa vào mắt! 

Bài thơ chỉ hai câu, sáu chữ :
Lửa gặp gươm
Chàng gặp nàng

Có thể mở ngoặc đơn thêm một chữ "như" sau câu đầu cho dễ đọc, dễ hát. Nhưng về thơ thì không cần chữ "như" ấy . Đây là câu ca dao Vân Kiều mà người sưu tầm, tuyển dịch xếp thứ tự số 32, mục "ca dao về kinh nghiệm xã hội, về kinh nghiệm xử thế". Có thể anh Mai Văn Tấn đúng vì anh rất rành ngôn ngữ và tập quán Vân Kiều. Nhưng tôi thì tôi thích xếp câu ca dao trên vào những bài thơ tình yêu đôi lứa. Xin đọc lại : Lửa gặp gươm - Chàng gặp nàng . Lưỡi gươm nói cái sắc, cái sáng chói của lửa, mô tả thật sinh động, tài tình "ánh chớp ái tình" khi chàng gặp nàng. Lửa và rơm bắt vào nhau là sự kết hợp không thể khuất phục được. Cũng như chàng với nàng, khi đã bén, đã yêu thì bùng cháy, chớp sáng, mãnh liệt. Sức mạnh như được lũy thừa lên, lộng lẫy hào quang sắc đẹp. Bài thơ ngắn mà có đối, có tỷ, có phú, chí cao, tình thâm, trọn vẹn và hiện đại ! Bài thơ diễn tả thật đắc địa, thần tình cái "chạm" ban đầu trong cõi yêu đương. Người Kinh có câu : “Thấy anh như thấy mặt trời / Chói chang khó ngó, trao lời khó trao” đã ghê lắm rồi. Nhưng "lửa gặp gươm - Chàng gặp nàng" có cái gì đó mạnh mẽ hơn về hình tượng thơ, cô đọng hơn về chữ nghĩa. Lối thơ hàm xúc này làm cho ta say cái rung cảm bồng bột và ám ảnh khó dứt như khi đọc thơ hai-ku của Nhật Bản hay thơ ngắn của đại thi hào Ta-Gor ( Ấn Độ) : Em thế nào cứ thế mà đến / Chớ có loay hoay sửa soạn áo quần!

Lại chuyện tình yêu. Những chàng trai cô gái Vân Kiều đến tuổi yêu đương đã được dân tộc mình trang bị cho những câu hát " tán" thật có hiệu quả. Ví dụ chàng trai hát : Ngủ hay thức hỡi em ! Có nghe tiếng con voi lạc vào bãi bông của em đó / Ngủ hay thức hỡi em ! Có nghe tiếng chân con tê giác dẫm nát nương gai của em đó ? Và nếu cô gái còn "cố tình" thử thách bằng im lặng, tiếng hát lại cất lên nồng cháy, gần gụi hơn :

Khi cây ngô em đang có bắp non, có con sóc muốn xuống ăn hạt
Khi cây lúa em đang thời trĩu bông, có con đồi muốn đến gặm trắt
Và đây là "hồi âm" của cô gái :
Dòng nước anh đã trào đến, con nước anh đã dâng lên
Em muốn đưa tay nhận, em muốn dang tay đón
Thấy anh muốn so ngay ngón tay giữa
Thấy anh, em muốn đọ ngay ngón tay út, anh ơi !

Những hình ảnh "cây ngô", “cây lúa","con sóc","con đồi","con nước", ngón tay giữa", " ngón tay út", .v.v.. trong những câu hát trên là chi tiết thơ ( hay chất liệu thơ ) dùng để chuyển tải các trạng huống tình cảm. Người làm thơ giỏi, thơ hay là trên cơ sở những chất liệu hiện thực đời sống, tạo ra được nhiều hình ảnh thơ sinh động để tăng hiệu quả của liên tưởng, so sánh hoặc ẩn dụ.

Sau khi "bén" nhau rồi thì mong thì nhớ. Người Vân Kiều nhớ mong cũng khắc khỏai ghê gớm lắm . Xin bạn đọc chú ý cách sử dụng hình tượng thơ trong mấy câu sau đây :

Nhớ nhau lòng như con sóng chao
Thương nhau hơn dòng nước Khóng chảy xiết
Yêu nhau núi lở trong lòng...

Cái nhớ thương lay đọng, nghiêng ngả, cuồn cuộn, mài xiết vào tâm tưởng. Đọc câu "Yêu nhau núi lở trong lòng" ta như nghe được cả âm thanh của nối đau tình yêu. Nhà thơ Xuân Diệu có câu thơ " Yêu là chết trong lòng một ít" rất hay, rất thật. Nhưng theo thiển ý của tôi câu thơ Vân Kiều " Yêu nhau núi lở trong lòng" nói được cái thật hơn, dữ dội hơn, nên hay hơn ! Thế đấy. Còn biết bao nhiêu câu thơ tài hoa về tình yêu trên Nguồn Trường Sơn ấy !

Sách Dân ca Vân Kiều của nhà văn Mai Văn Tấn tuyển chọn và dịch đến 196 khúc ca. Ấy là 196 bài thơ, ý thơ đặc sắc của một dân tộc. Thơ người Vân Kiều có thân phận tựa như cây đàn Khlui ( Tiếng kèn tiếng vui, tiếng khlui tiếng buồn). Bài thơ về Thân phận kèn khlui chính là thân phận của người Vân Kiều, được kể với lối ví von hình ảnh, ngôn ngữ cô đọng, hàm súc : Thương kèn khlui / Số phận dập vùi / Từ thuở măng tơ / Có người đến bẻ / Khi thành cây tre / Mưa dập gió dồi / Con voi đi ngang / Xéo lên cành lá / Con chim bay xa / Ngọn tre làm tổ / Chưa khổ hay sao ? / Ai kia ngồi đó / Lại đốn tre về / Dùi tre thành lỗ / Xương thịt quặn đau / Lòng săn rét gió / Ta cất tiếng kêu / Trong ngoài đều rõ...

Học ca dao, dân ca, chính là học cái tinh túy nhất của đời sống , để cho thơ càng gần hơn với đời, với người ,với cuộc sống mỗi ngày biến động...
------------------------
(*) Mai Văn Tấn ( 1931 - 1986) : Tên thật là Mai Văn Kế, người làng Quy Hâụ, xã Liên Thủy, Lệ Thủy, Quảng Bình. Hội viên Hội nhà văn Việt Nam ( 1985). Đã xuất bản : Quả bầu tiên ( 1975-1976); Truyện cổ Vân Kiều ( Tập 1, Tập 2 1974- 1978) ; Aicum Ai Cloóc ( 1975); Giữa rừng Côpi ( Tập truyện, 1976); Dấu chân chiến sĩ biên phòng ( truyện ký, 1976); Dân ca Vân Kiều ( 1979) ; Đất Ấm ( truyện ký, 1983)

Nguồn: ngominh.vnweblogs.com
READ MORE - NGÔ MINH - THƠ CỦA NGƯỜI VÂN KIỀU

Monday, September 20, 2010

ĐỨC TIÊN - CHÙM THƠ



Làng quê ở Gio Linh. Ảnh từ Flickr



BÂY GIỜ VÀ MÃI MÃI NGÀN SAU


Ta lớn lên đất nước chiến chinh

Khói lửa trùm lên làng quê chiều xuống

Tiếng ì ùm dội vào tâm tưởng

Quán chợ nghèo xơ xác lá bàng rơi

Mãi mê tìm lứa tuổi đôi mươi

Mai xá, Cát sơn, Lễ Môn, An mỹ

Những tên làng nghe sao bình dị

Chất chứa trong ta đắm đuối một thời

Những ngọn dừa xanh mắt em cười

Ta thao thức hình như vô cớ

Sóng vỗ bình minh đò xuôi bến chợ

Mát lựng hồn ta lảng đảng trăng tròn

Trãng cát vàng dấu những chân son

Áo trắng em bay hoàng hôn tím lịm

Tóc em xanh một màu bịn rịn

Tuổi ngói hồng trang vở trắng trong

Những ngày hè ta mãi lông bông

Mẹ nấu cho ta dẽo thơm cơm nếp

Ngõ Đa, ngõ Bè chân ta xì xụp

Cánh đồng làng thơm hạt gạo vàng de

Ơi tuổi thơ ta mãi đê mê

Có giữ lại bóng hình ta ngày nọ

Khi ta hát bài ca ta nhớ

Mái tranh nghèo khăn áo mẹ xanh lơ

Chinh chiến qua rồi làng củ ta qua

Mẹ và em và bạn bè ngày nọ

Ta du lãng trong giấc mơ vò võ

Năm tháng nào ngày củ bâng khuâng

Ơi tuổi thơ ta mãi đi hoang

Tiền kiếp nào xui ta đến vậy

Ta mang theo bóng hình ngày ấy

Để bây giờ và mãi mãi ngàn sau...




CỒN CỎ ƠI !


Cồn cỏ ơi ! Cồn Cỏ ơi !

Đảo xa hun hút chân trời nhớ thương

Cuộc tình nào đã tơ vương

Mà lăn lóc mấy dặm trường đến đây

Một bờ đá một rừng cây

Một triền gió lộng nắng hây hây vàng

Mát xanh dưới tán lá bàng

Mấy anh lính trẻ rộn ràng lời ca

Trắng rừng loài hoa Phong Ba

Bến Nghè khách đợi người xa có về

Bàng vuông vẫn giữ lời thề

Tả tơi rơi rụng bên lề nhân gian

Đã qua nắng nỏ mưa chan

Bến sông Hương vẫn vọng ngàn lời ru

Hè qua kéo cả mùa thu

Lô nhô gềnh đá sương mù giăng giăng

Đêm muôn nghìn ánh sao băng

Mênh mông biển sáng hải đăng đỏ trời

Cồn Cỏ ơi ! Cồn Cỏ ơi !

Một vuông đất mấy cuộc đời buồn vui

Qua rồi lửa khói dập vùi

Thênh thang đường rộng bùi ngùi bước chân

Về thăm đảo nhỏ một lần

Mà ngây ngất mà chồng chềnh trời mây

Thôi thì cũng một lần say

Với Cồn Cỏ với đất này với em...




LỠ HẸN


Huế ơi thôi lỡ hẹn rồi


Đã không về được bên đồi với thông

Đã không về với bến sông

Đã không về với mênh mông đợi chờ

Con đò trôi mãi lững lờ

Ngoái nhìn Thương Bạc sương mờ giăng giăng

Em giờ ngồi bắt bóng trăng

Đợi người trong mộng cầm bằng mà chi

Giữa muôn ngàn vạn bước đi

Giữa muôn màu áo em thì rối ran

Cuộc vui chưa mở đã tàn

Trống không ly rượu trắng ngàn phôi pha

Cung đường nào phải ngái xa

Muôn ngàn lời hẹn cũng là hẹn thôi

Huế ơi ! thì đã lỡ rồi

Cầm mây với gió cho người phong sương

Ta giờ như kẻ tha hương

Nhớ về Bến Ngự ,sông Hương thẩn thờ

Bạn bè vui với vần thơ

Câu thì ngọng nghịu câu xơ xác buồn

Huế ơi đã lỡ cung đàn

Ta xin nửa chén rượu tàn cạn ly ...


Nguồn: ductien.vnweblogs.com
READ MORE - ĐỨC TIÊN - CHÙM THƠ

LÊ QUANG THÁI - ĐỀN THỜ ĐỨC THÁNH TRẦN Ở HUẾ KHAI SÁNG NGUỒN MẠCH TÂM LINH

Ảnh: Trần Đức Anh Sơn . (Click chuột vào hình sẽ xem được hình lớn hơn)


Người Việt Nam tôn vinh Hưng Đạo Đại Vương là Đức Thánh Trần. Ngày nay, có người gọi nơi thờ Đức Thánh Trần là Đền; có người gọi là Điện, thậm chí có người gọi Miếu. Đó là những nơi thờ phượng trang nghiêm, uy linh mà biểu hiện bằng chữ quốc ngữ là Đền thờ Đức Trần Hưng Đạo. Thời vàng son tôn kính, cố đô Huế có đến 24 đền thờ Đức Thánh Trần, chữ xưa gọi là Linh từ hoặc Vọng từ, thường đi kèm theo sau danh từ riêng gồm hai chữ, chẳng hạn: Phú Lộc vọng từ (nay ở địa chỉ số 6 kiệt 91, đường Nguyễn Chí Thanh) ở bên Gia Hội; Tân phẩm vọng từ (số 8 kiệt 36, đường Nguyễn Khoa Chiêm), dưới chân núi Ngự Bình. Nhưng được biết đến nhiều nhất là ngôi đền chính thờ tọa lạc tại số 86 đường Phan Chu Trinh, mặt hướng ra dòng sông An Cựu, nắng đục mưa trong. Ngôi đền rộng hơn 5000m2 được vua Duy Tân ban tặng biển hiệu là Tân phẩm linh từ vào tháng hai năm Giáp Dần (1914). Vị có công khai sáng ra đền thờ là bà Tôn Nữ Thị Ninh. Bà mất năm 1925, con trai là Nguyễn Đình Thuyên, một thanh đồng đệ tử trung kiên, kế tục lo việc thờ phượng.

Để dễ dàng phân biệt giữa đền chính với các đền phụ ở các địa phương, phường xã khác, đền chính gọi là Linh từ; đền phụ gọi là Vọng từ. Rạch ròi của thuật ngữ chữ Hán thật minh bạch, quang minh chính đại. Ngôn từ Việt thật “rắc rối” để diễn tả cho người nước ngoài hiểu mà dịch thuật cho chuẩn xác.
Trải qua 96 năm Tân phẩm linh từ được “sắc tứ” (vua ban tên gọi), đền thờ Đức Trần Hưng Đạo tại địa chỉ nói trên đã bị thời gian, thời tiết và con người làm hư hại. 50 năm sau, năm 1964 tượng Đức Thánh Trần được đúc bằng đồng. Nhưng người Phú Xuân đã khéo kiên trì khắc phục tôn tạo để duy trì một ngôi đền thờ Đức Thánh Trần oai nghi ở khu vực mà ngày xưa đã một thời mang cái tên rất dân dã: Kho Rèn với chiếc cầu bằng bê tông cốt sắt nối liền Kho Rèn với Nhà máy đèn Huế theo lối bờ nối bờ.
Quay đầu là bờ: bờ Bắc nối bờ Nam; bờ quá khứ nối liền với hiện tại đầy triển vọng, thông thoáng cho tương lai vẻ vang của lối cầu nguyện chí thành mong ước “Quốc thái dân an” mở đầu từ ngày 8 tháng Giêng năm Canh Dần tại đền thờ Phật hoàng Trần Nhân Tông ở núi Ngũ Phong (phường An Tây, thành phố Huế), mà dân gian quen gọi là “xứ Thiên Thai” với cảnh trí giống khác nào “non Bồng, nước Nhược”; ở Cố đô thân yêu trên 700 năm mở cõi nước Đại Việt hùng cường cai quản cả Biển Đông bao la bát ngát nghìn trùng gồm các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Ngày nay, đường Lý Thường Kiệt được phong quang sáng rạng; cầu Kho Rèn bằng bê tông bắc ngang qua sông An Cựu (Lợi Nông) được thay thế bởi chiếc cầu mới đẹp hơn, rộng hơn, tân tiến hơn nhiều so với cầu cũ, đã làm cho cảnh quang của Đền thờ Thánh Vương Trần Hưng Đạo trở trên rõ nét uy nghi, trang nghiêm hơn cho người dân bản địa và du khách phương xa đến viếng thăm, tham quan các quần thể di tích Huế. Cố kinh đang được tôn tạo nên diện mạo và cảnh quang mới để tạo thành sức bật cho “văn hóa nhân văn”, “văn hóa nhân bản” và “văn hóa tâm linh” bừng sáng trổi dậy, làm cho phần hồn của Cố kinh Phú Xuân - Huế thăng hoa. Lễ tế Giao và lễ tế Xã Tắc được phục hồi là những điển hình tiêu biểu.
Để hình thành thiên bút ký này, người viết đã thao thức đắn đo vì “lực bất tòng tâm”. Nhưng vì lòng chí thành và nhất là để tỏ lòng tri ân với đền thờ Đức Thánh Trần ở gần cầu Kho Rèn đã cứu sống và như đã “sinh ra mẹ tôi lần thứ hai” vào năm 1957, để tôi có mẹ từ năm ấy cho đến năm đại hồng thủy 1999. Cách đây 53 năm, mẹ tôi ở tuổi 53, bà đau nặng “thập tử nhất sinh” quằn quại thân xác bên bờ sinh - tử. Các ông nội chú và cha tôi đều là thầy thuốc không đến nỗi tồi ở đất xưa Cổ thành Quảng Trị đành bó tay. Nhưng “còn nước thì còn tát”, cha tôi lúc bấy giờ đã 60 tuổi, “đội đàng than dạ” từ làng quê Quảng Trị vào Huế đến tại đền thờ Đức Thánh Trần ở gần cầu Kho Rèn để khẩn nguyện và được Ngài ban cho “phương dược thần diệu” để cha tôi “lãnh thọ”; rồi tức tốc trở lại quê nhà đưa cho vợ uống trong 3 ngày, để mẹ tôi tỉnh lại và sống thêm được 42 năm nữa.
Thâm ân của Đức Thánh Trần, của các bậc tiền bối lập đền ở Cố đô Huế đối với gia đình và gia tộc tôi như trở bể. Cha tôi luôn luôn dạy con cháu bằng câu nói: “Đức Thánh Trần đã sinh mẹ các con lần thứ hai”.
Diễm phúc thay cho đời tôi, các bậc thiện tri thức xứ Huế đã chỉ bày cho bản thân tôi có dịp lần mối đi tìm các đền thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo ở cố đô Huế “để viết bài này khả dĩ có được” phục vụ bạn đọc. Bản thân tôi không quản ngại khó nhọc, măn mo đi cầu học, hỏi hăm để lần mối cho ra một số tình tiết liên quan về “văn hóa tâm linh”. Có đến 24 đền thờ Đức Thánh Trần ở cố đô Huế mà tôi không biết, tôi chỉ biết được 7 đền thờ ở khu vực nội thành
và một đền ở làng Thanh Phước (xã Hương Phong, huyện Phú Vang) theo mô thức Linh từ và Vọng từ để có cơ sở khẳng định tính cách linh diệu với lối cấu trúc đền thờ và với khoa nghi tế lễ các nơi đã thờ phượng Ngài Thánh Vương trải qua hơn một thế kỷ ở cố kinh. Đối với bản thân tôi, thì những gì tôi biết được theo lối dây chuyền chỉ bảo của các bậc minh sư là “tâm linh”, “văn hóa tâm linh”.
“Tâm linh” có nội hàm rất chính đại quang minh, không có một chút gì móng niệm là “mê tín dị đoan”. Vì chỉ có trí óc tôi thô thiển, cho nên không thể nào diễn tả nỗi và phạm trù tâm linh ấy cho người khác lãnh hội được. Vì nói đến tâm linh là còn phải nói đến “mệnh”, “duyên”, “nghiệp”, “thọ”, “lãnh”… Cao vời quá, vượt tầm mức hiểu biết của bản thân tôi. Đức tin của tôi còn hạn hữu… Xin quý độc giả rộng lòng chỉ bày và tha thứ. Để hiểu về đức tin, và sự linh diệu của thần thánh, của vũ trụ thì e rằng phải tham vấn các bậc chơn tu, các nhà ngoại cảm giàu linh cảm, có cảm giác thứ sáu, thứ bảy… mà người trần tục không thể nào có được.
Lòng thành kính hướng về đất Bắc, nơi có đền Kiếp Bạc thờ Hưng Đạo Đại Vương và các vị thân vương, hoàng hậu, phò mã, thái tử liên quan. Có điều, người Phú Xuân rất tự hào về truyền thống đánh giặc cứu nước, cứu nhân độ thế, hộ quốc an dân của Thánh Vương “sinh vi tướng, hóa vi thần” mà trải qua gần 700 năm, trên toàn quốc tại các tỉnh miền Bắc và các tỉnh thành lớn của miền Trung và miền Nam đều thiết dựng đền thờ Hưng Đạo Đại Vương như vị một vị thần lớn giữ vai trò lớn: Hộ quốc tì dân, như 4 chữ linh thiêng và linh diệu được kính cẩn thể hiện trên cổ diêm tòa phương đình tọa lạc trong khuôn viên Tân phẩm linh từ thờ Đức Trần Hưng Đạo ở Huế.
Ước gì Tân phẩm linh từ này và các Vọng từ đóng vai trò như những “vệ tinh” thuộc quần thể di tích lịch sử và văn hóa ở đất Phú Xuân văn vật mỗi ngày mỗi được tôn tinh và tôn tạo vẻ vang hơn lên để cho thế hệ trẻ có cơ hội tiếp “học tập bài học tri ân tiền nhân” có công trạng lớn trong sự nghiệp giữ nước mà thế giới đã tôn vinh Đức Trần Hưng Đạo là vị tướng tài của nhân loại.
Một niềm tự hào dân tộc đang dâng trào trong tâm tư của người Việt Nam ở trong nước và kiều bào ở hải ngoại.
L.Q.T
THÔNG TIN DI SẢN- SỐ 5 - 2010




CÙNG TÁC GIẢ:
TƯỢNG ĐỨC QUÁN THẾ ÂM TẠI TRUNG TÂM VĂN HÓA PHẬT GIÀO LIỂU QUÁN
READ MORE - LÊ QUANG THÁI - ĐỀN THỜ ĐỨC THÁNH TRẦN Ở HUẾ KHAI SÁNG NGUỒN MẠCH TÂM LINH

Sunday, September 19, 2010

HỌA SĨ TRƯƠNG BÉ

Mạch nguồn sự sống - tranh sơn mài của họa sĩ Trương bé


Trừu Tượng -tranh của họa sĩ Trương bé



Họa sĩ Trương Bé. Ảnh từ www.tapchisonghuong.com.vn



Họa Sĩ Trương bé- người cầm máy ảnh - Ảnh từ vnthuquan.net/diendan/




Họa sĩ Trương Bé sinh năm 1942.
- Quê quán: Tỉnh Quảng Trị
- Nguyên Hiệu trưởng ĐH Mỹ thuật Hà Nội
- UV Thư ký Ban chấp hành Hội Mỹ thuật VN
- UV Hội đồng Nghệ thuật TW Hội Mỹ thuật VN

CÁC BÀI VIẾT VỀ HỌA SĨ TRƯƠNG BÉ

CÁI ĐỘNG TRONG HỘI HỌA TRỪU TƯỢNG CỦA TRƯƠNG BÉ
ĐẶNG MẬU TỰU


Trương Bé đã chọn nghiệp và anh đi suốt đời mình. Tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật Hà Nội năm 1974, hoạt động mỹ thuật tại Quảng Trị, thực tập tại Budapest 1983 – 1986, công tác giảng dạy tại Đại học Nghệ thuật Huế, nguyên là Hiệu trưởng Trường Đại học Nghệ thuật Huế và hiện là Ủy viên BTK Hội Mỹ thuật Việt Nam nhiệm kỳ 2000 – 2005, và giảng dạy tại trường Đại học Nghệ thuật Huế và một số trường các tỉnh miền Trung.
Tuổi 60 – Hoa giáp của một đời người, cái tuổi có thể nghĩ về sự viên mãn hay câm giận chính mình. Trương Bé ở cái ngưỡng 60, có 30 tuổi nghề, với bao trăn trở, sống và lớn lên ở một miền quê nghèo Quảng Trị, đã trải qua trong chiến tranh, giữa cái sống và cái chết, bao nhiêu lo toan để nuôi sống và gầy dựng một mái ấm gia đình, giữa đời thực và cái ước mơ. Cũng như bao người khác, bao nghệ sĩ khác, họ càng lắm cái trải nghiệm thì trong họ càng có những nội lực thâm sâu chừng ấy, hình như ai cũng có cái hạnh phúc và dằn vặt khổ đau, đã trải qua. Thoắt cái, mới đó mà đã 60 năm. Suy cho cùng, không ai vừa lòng cái mình có, điều ước muốn của người họa sĩ là sống được với nghề, mà sống được với nghề đâu có dễ, mấy ai vẽ tranh và bán được tranh vẽ khi mình đang sống, nhìn hàng đống tranh vừa tự hào vừa chua xót đôi lúc tự hỏi mình là ai. Mâu thuẫn với mình giữa cái mình muốn và cái mình có thực.
Đúng là cái Nghiệp.

Từ năm 1976 anh đã liên tục triển lãm trong và ngoài nước như:
- Đã tổ chức triển lãm cá nhân 1992 tại Huế, triển lãm Cha và con ở Hà Nội.
- Tham gia nhóm tác giả năm 1988 và các cuộc triển lãm chung ở Thái Lan, Pháp, Mỹ, và anh không bao giờ vắng mặt trong tất cả các cuộc triển lãm trong nước và trong tỉnh. Ở anh sự tìm kiếm là thường trực, anh không dừng ở điểm nào, từ hiện thực sang trừu tượng anh đã dám xông vào cái mà người ta còn e ngại trong hoàn cảnh lịch sử lúc ấy. Tranh trừu tượng thì không lạ gì với Huế vì trước đó đã có những họa sĩ đã tổ chức nhiều triển lãm, song anh đi tìm kiếm ở đó một ngữ riêng biệt để nói hết những cái mình muốn nói, và rồi từ đó trong cuộc đời sáng tạo, anh đã dừng tạm thời ở tranh trừu tượng. Từ hiện thực sang trừu tượng, với Trương Bé là cái không hình là cái không có giới hạn để mình gửi gắm những ý tưởng đến nhân gian nhiều nhất, những vệt màu vung lên một cách mạnh mẽ để tạo những mảng lớn hay những nét thả lỏng hững hờ dường như mất hút vào nền vải, những mảng màu khô quánh cào xướt lên mặt tranh hay dịu dàng nhẹ trôi êm ả, cảm xúc trong tranh Trương Bé có khi mạnh mẽ bạo liệt nhưng cũng có khi trầm tĩnh duy lý đến từng phân vuông. Nó luôn biến, sự biến hóa của hình, của màu tạo nên cái động, là cái cốt lõi trong tác phẩm của anh.

Ở giai đoạn này, những tiết điệu như chảy vào các ngõ ngách, dù có khoảng trống cần thiết cho một sự tĩnh lặng, người ta có cảm giác sự đầy ắp bên trong vuông tranh của anh luôn là sự ham muốn vươn tới cái vô cùng, những gam màu sáng, trầm ấm của sơn dầu hay chín sẫm của son tươi và màu cánh gián, rạn vỡ của vỏ trứng và rực rỡ vàng quỳ trong sơn mài, có lúc anh chỉ sử dụng đơn sắc, những thể nghiệm chất liệu, thì tiết điệu trong tranh vẫn là cái mà anh luôn tìm và giữ nó đến tận giờ, anh chọn hướng đi vào cõi bên trong, anh tìm cái thấu đáo, tìm cái Đạo, cái lẽ tự nhiên. Như trong các tác phẩm "sắc không", "mơ diều", "miền hư ảo", "vòng nhân sinh", cùng "sự sống dòng chảy trái đất"... Và màu của anh đã tinh lọc đến tối đa, gần như đơn sắc, gần với hội họa phương Đông với cái mạnh mẽ của nét, nền nã biến hóa của màu và sắc độ, chính cái đơn giản, tính chất ấy mới là sự điêu luyện của nghề. Trong các tác phẩm mới nhất của anh người ta thấy ở loạt tranh trừu tượng đen trắng hoặc đen, trắng, đỏ, một lối ra của anh mới khởi đầu. Cũng như trong "sắc không" và "mơ diều" anh thể nghiệm đơn sắc bằng một chất liệu khác như giấy dó, dây gai là chủ đạo, nhưng người ta thấy ở đó một sự mênh mông và thanh thản đến lạ lùng.
Tuy sơn mài, anh kỳ công trong xử lý, giữa độ sâu của màu và chuyển động của nét cũng đã tạo nên những nhịp điệu rung động và ở đó ta thấy cái mạnh mẽ và mềm mại quyện lại như khí lực của một vũ điệu có cả 2 tính cương, nhu làm cho nó sinh động và biến hóa đến bất tận.
Hội họa Trương Bé và cái tinh chất cô đặc mang tính triết lý, nó không thành tiếng nhưng giai sắc tuôn tràn trong dòng chảy thời gian không gian, những dấu vết cổ tích, niềm đam mê, sự tự vấn luôn làm cho anh thất thường trong lúc sáng tạo và ngay cả đời thường, có lẽ vậy thôi, làm sao nỗi day dứt về một miền lạc phúc ở tương lai hay quá khứ mà một lúc có thể miêu tả vào trong vuông vải hữu hạn, nên chi anh đã miệt mài và cố để không thét lên rằng thời gian thì rất ít mà nỗi đam mê trần thế đến khôn cùng.

Tuổi 60, độ chín của anh đang trên đà cô đặc, tinh chất, nghệ thuật vẫn luôn là cái phải tìm phía trước, hôm nay anh đang thanh thản để gặt hái những gì do tích lũy, và nội lực của anh đang độ sung mãn.
Mong cho anh giữ cái nghiệp mà anh đã chọn và anh sẽ sống được với nghề, cái nghề họa sĩ của mình. Mừng cho anh có cái riêng của mình, người đời nhận diện anh rõ hơn trong đám đông nghệ thuật.
Huế, tháng 10 năm 2002
Đ.M.T
Nguồn: TCSH số 165 - 11 - 2002


“CỘI NGUỒN” TRIỂN LÃM CỦA HỌA SĨ TRƯƠNG BÉ
TRỊNH HOÀNG TÂN

Nghệ thuật của Trương Bé là sự chuyển động và biến hóa đến bất tận, mang tính triết lý, tuôn tràn trong dòng chảy thời gian, không gian, được kết nối bởi những dấu lặng vừa có tính tượng trưng vừa mang một không khí ẩn dụ, huyền bí.
Hai mươi bức tranh trừu tượng của họa sĩ Trương Bé có mặt tại Quảng Trị trong triển lãm cá nhân của ông tạo nên bởi những hòa sắc mang biểu cảm mạnh mẽ. Sự kết hợp giữa đường nét với mảng màu tươi (đỏ, vàng) được bố cục chặt chẽ thể hiện thế giới nội tâm, ước vọng nói lên ý thức hệ, bộc lộ sự nhạy cảm. Trong bức tranh Tích hợp Đông - Tây (sơn mài, 180x360cm) sáng tác năm 2006, 2007, ông dùng những chấm sáng, tối, kết hợp sự biến hóa của đường nét, của mảng màu nhằm dự báo sự sinh hóa kết tinh từ vũ trụ, vạn vật, con người. Đó là sự sinh sôi, hứa hẹn những điều có thể là tốt lành nhưng cũng có thể là bất an của thế giới đầy bí ẩn. “Hỗn độn hài hòa” (sơn mài, 135x273cm), Nhịp điệu giây bí ẩn (sơn mài, 180x360cm) là một mắt xích vĩnh cửu giữa họa sĩ và cội nguồn của mình, và khuynh hướng suy tưởng về trời đất, có tác dụng tạo nên ấn tượng. Sáng tác của họa sĩ Trương Bé là thế giới của mơ mộng, của huyền thoại, của tâm thức được tín hiệu hóa. Người nghệ sĩ đã làm nên một nhịp sống trên tác phẩm, bởi nó là sức sống đây đó của thần trí chúng ta qua nhịp điệu của vạn vật...
Các tác phẩm trừu tượng sơn dầu có kích thước nhỏ hơn của ông màu sắc chủ đạo là xám, trắng, đen, đỏ biểu hiện mối quan hệ biện chứng, nhất là sự vận động của sắc đỏ cảm giác như vô tận khiến người xem phải chú ý hình dung sợi dây kim chỉ nam đó đi về đâu. Người ta có thể thấy gió lướt trên tranh, hơi thở của đời sống, cảm thấy sự tìm kiếm nhịp điệu và bản thể của thiên nhiên.
Bức Mạch nguồn sự sống (sơn mài, 90x120cm) như một cơn gió xoáy nóng, ngổn ngang những nét dày đặc, thưa dần, và có xu hướng tan hòa. Chất hội họa ngồn ngộn. Trong cái rối tung mịt mù ấy là ánh sáng của sự hài hòa và mạch nguồn của sự sống. Chúng có những ý bao hàm về cảm xúc sâu sắc. Suy cho cùng không có tưởng tượng thì không thể có nghệ thuật và cần có trí tuệ hóa cảm thụ để khai triển những hiểu biết. Cái gì là hạnh phúc của người làm nghệ thuật? Đó là được chia sẻ qua tranh, niềm vui cũng như nỗi buồn và luôn mong có được sự đồng cảm, tri âm, tìm mối dây liên kết những người đồng điệu, đồng tâm, nó là cầu nối giữa một tâm hồn này với một tâm hồn khác, là sợi dây tình cảm gắn bó các cá nhân lại với nhau bằng tình yêu và cái đẹp.
Hội họa Trương Bé diễn tả một thiên nhiên khác, sáng tác đi từ một thế giới tưởng tượng bằng những phương tiện của nghệ thuật tạo hình - từ hiện thực đến trừu tượng, giữa độ sâu của màu và sự chuyển động của nét đã tạo nên những nhịp điệu rung động, một ngôn ngữ đầy sức mạnh nội tại.
Hội họa trừu tượng của họa sĩ Trương Bé chỉ lột bỏ lớp da bên ngoài của thiên nhiên chứ không từ bỏ những quy luật đã tạo nên vũ trụ. Đó là cảnh tượng của một thế giới nội tâm đang sục sôi, không thể không gợi nhớ đến một nơi chốn xa vời, đến một thời gian khuất hút vào dĩ vãng bằng những sắc màu của những xung động bởi các ký hiệu tượng hình kỳ ảo lung linh theo từng đổi thay của ánh sáng. Những ký hiệu tượng hình có hình sao, hình tam giác, hình vuông, hình tròn, hình xoắn... cuồng nhiệt bước vào dạ tiệc của màu sắc, tạo ra hình thức của cái vô hình, cuốn xoáy vào siêu thực và trừu tượng. ẩn dụ và tượng trưng trong văn học thông qua ngôn ngữ để đánh thức sự nếm thưởng, sự liên tưởng tư duy hình tượng ở người đọc; hội họa thì cần dựa vào hình tượng tạo hình biến hóa mang tính ẩn dụ và tượng trưng, phiêu diêu và bàng bạc, siêu nghiệm và siêu thoát nhằm kích thích trí tưởng tượng của người xem.
Trong các tác phẩm sơn mài mới nhất của Trương Bé khắp nền tranh màu tối, sáng ẩn hiện lộ ra theo một nhịp hữu cơ để làm sâu thêm cái không gian nội tại và làm cho những dải màu sắc chuyển động.
Nghệ thuật của Trương Bé là sự chuyển động và biến hóa đến bất tận, mang tính triết lý, tuôn tràn trong dòng chảy thời gian, không gian, được kết nối bởi những dấu lặng vừa có tính tượng trưng vừa mang một không khí ẩn dụ, huyền bí. Mạch suy ngĩ ấy ở tiếng vọng vang từ một tâm hồn, hội họa mang hơi thở và dấu ấn cội nguồn, nhắc đi nhắc lại những dòng suy nghĩ về lẽ sống cuộc đời. Mọi hình tượng trong tự nhiên và xã hội đều có thể trở thành hình tượng hội họa, đều có thể góp phần biểu hiện thế giới tâm cảm của người nghệ sĩ trước tự nhiên và xã hội. Và như vậy, vấn đề cơ bản nhất trong sáng tạo nghệ thuật, vai trò đầu tiên và quan trọng nhất của chủ thể sáng tạo nghệ thuật là khả năng sử dụng một cách có hiệu quả nhất, một cách khoa học về sự hòa hợp các màu sắc, đường nét để tạo dựng hình tượng nghệ thuật. Đây cũng là quan điểm nghệ thuật, tình cảm trong mỗi tác phẩm hội họa của họa sĩ Trương Bé.
Triển lãm hội họa “Cội nguồn” của ông là sự trở về quê hương yêu dấu, là sự bày tỏ lòng tri ân và biết ơn mảnh đất yêu thương Quảng Trị.
Trịnh Hoàng Tân - www.vietnamfineart.com.vn - Thứ Hai, 25/06/2007


TRƯƠNG BÉ THỜI KỲ 1996 - 2006
Nhà xuất bản Mỹ thuật - 2007
Đây là một tập tranh mỏng (hiểu theo nghĩa số trang: 45 trang) nhưng lại dày dặn khi ta thỏa sức ngắm nhìn về bút pháp và hiện dần về những điều trong nghệ thuật của một Trương Bé họa sĩ, người đã biết cách lọc đi những công việc, lo toan thường nhật để khi cầm bút sáng tác một cách tự do, tung tẩy, dãi bày trên bề mặt của nền toan, vóc những ngẫm ngợi về con người, về lịch sử và số phận. Tranh trừu tượng ở Việt Nam được hội nhập với thế giới muộn mằn nhưng không vì thế mà mất đi sự cuốn hút. Trong những tác giả tranh trừu tượng ở Việt Nam, Trương Bé có một góc riêng, tự tin, bình tĩnh như viên đá mài trên mặt vóc dần hiển hiện nét và màu, trên nền đen hay đỏ với những nét cắt tung hoành, những mảng lặng và rất nhiều đốm li ti như ánh sao rụng rơi trên nền, khoăn nhặt và phóng túng...
Tranh trừu tượng sơn dầu của Trương Bé có sự bổ sung của những màu lạnh và giàu triết lý như thu lại suy tư của một cõi lòng riêng.
Đến với tranh trừu tượng của Trương Bé là sự phiêu du trong cõi hỗn mang, ở đó, ta có thể và không thể tìm thấy điều mà ta muốn hiểu. Nhưng dù vậy, mà có lẽ vì vậy mà nghệ thuật luôn là sự kiếm tìm giữa thực và hư, giữa hữu hạn và vô hạn trong thời gian trôi nhanh.
Nguồn: www.vietnamfineart.com.vn - Thứ Tư, 16/04/2008 -
READ MORE - HỌA SĨ TRƯƠNG BÉ

Thursday, September 16, 2010

CA SĨ NHƯ QUỲNH


NGHE GIỌNG CA NHƯ QUỲNH:

NHƯ VẠT NẮNG

BUỒN NHƯ PHƯỢNG


Như Quỳnh tên thật Lê Lâm Quỳnh Như, là một ca sĩ người Mỹ gốc Việt, cô rất nổi tiếng tại Việt Nam với CD Chuyện hoa sim và Người tình mùa đông , hiện đang định cư tại thành phố Hungtinton Beach ở Nam California, Mỹ.
Tiểu sử
Như Quỳnh sinh ngày 9 tháng 9 năm 1970 tại Đông Hà, Quảng Trị. Tên khai sinh là Lê Lâm Quỳnh Như quê ở Thôn Ái Tử - Xã Triệu Ái -Huyện Triệu Phong - Quảng Trị. Cô có 2 người em trai là Lê Lâm Tường Duy, mới tốt nghiệp kỹ sư điện toán vào khoảng giữa năm 2000, và Lê Lâm Tường Khuê là một người rất đam mê về ngành thiết kế y phục, từng may nhiều kiểu áo dài cho Như Quỳnh mặc khi biểu diễn.

Sau khi vào Sài Gòn năm 1971, Như Quỳnh cư ngụ trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm và theo học cấp 1 tại hai trường Nguyễn Bỉnh Khiêm và Đinh Tiên Hoàng trước khi học tiếp cấp 2 ở trường Trần Văn Ơn và cấp 3 ở trường Trưng Vương. Cô đạt giải Đặc Biệt (trên cả giải nhất, mà cho đến nay vẫn chưa có ca sĩ nào khác nhận được) Cuộc thi Tiếng hát Truyền hình TP.HCM năm 1991. (Vào năm 2006, nữ ca sỹ Phương Trinh, lúc đó vừa tròn 18 tuổi có thể xem là người thứ 2 nhận giải này với giải Supper Star - giải đặc biệt, trên cả giải nhất. Phương Trinh sau đó vừa trở thành ca sỹ vừa là diễn viên).

Tháng 4 năm 1993, cô cùng gia đình định cư tại Mỹ theo diện HO. Ban đầu cả gia đình Như Quỳnh cư ngụ tại thành phố Philadelphia, tiểu bang Pennsylvania là nơi cha cô đang sống hiện nay với người em trai của cô là Tường Duy sau khi đi đến sự đổ vỡ với mẹ cô. Hai mẹ con cô và một người em khác là Tường Khuê đến cư ngụ tại thành phố Hungtinton Beach ở Nam California. Hiện nay cha cô cùng về sống với cô tại Santana (California).

Năm 1994, người điều hành Trung tâm Asia là Trúc Hồ và Thy Vân mời cô sang California thử giọng. Sau lần thử giọng đó, Như Quỳnh được mời ký giao kèo và ngay sau đó đã thu hình nhạc phẩm đầu tiên là Chuyện hoa sim trong chương trình Tác giả và tác phẩm.

Hai năm sau, cô chuyển sang cộng tác cho trung tâm Thúy Nga cùng một lúc với việc điều hành trung tâm nhạc NQ Records với Huy Anh - một người từng được cô coi như thân thiết - và hiện nay là Như Quỳnh Entertainment. Dù tình hình được coi như trì trệ đối với các trung tâm nhạc , nhưng những CD của Như Quỳnh vẫn là một trong những CD bán chạy nhất.

Về cuộc sống riêng tư, Như Quỳnh đã kết hôn với kỹ sư Không gian Nguyễn Thắng hiện đang công tác trong cơ quan chính phủ Hoa Kỳ và họ có một con gái tên là Melody Đông Nghi vào năm 2007.
(Theo vi.wikipedia.org)
READ MORE - CA SĨ NHƯ QUỲNH