Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, October 14, 2022

THANH THẢO, HÁT GIỮA GIÓ MƯA - Nguyễn Đức Tùng

(Lời tựa cho tập thơ “Hát Giữa Gió Mưa” của Thanh Thảo, 2022)
 
Nhà thơ Thanh Thảo

Thơ thức dậy mỗi ngày. Công việc của nó không chỉ là ghi lại đời sống, mà còn góp phần tạo ra một đời sống mới, trước đó chưa từng có. Thơ hồi phục mối quan hệ giữa xúc cảm và kiến thức, giữa kinh nghiệm và tâm linh. Tuy vậy một bài thơ vẫn giữ trong nó sự mất cân bằng hướng về phía trước, cái còn lại trong một bài thơ là một điều gì không được êm thấm, khác với sự ru ngủ. Thơ không phải là bài hát ru, vì thế. Đó là lối kể chuyện điềm tĩnh như không, mà chan chứa nỗi lòng, ai nghe cũng được, không nghe không sao.
 
lục bình ơi cho tôi trôi với
trôi lên rồi trôi xuống thôi mà
trong đầu tôi bao ý nghĩ bôn ba
làm sao hôm nay có ai đặt bài
kiếm một chút tiền còm cho trẻ nhỏ
kiếm một vài cánh hoa chầm chậm thả
lên trời
 
Anh không triết lý, chất giọng của anh là của những tâm sự riêng tư. Đời sống là kết hợp nhiều chuỗi khoảnh khắc, tốt và xấu, hy vọng và thất vọng, hơn là một đường vạch đơn điệu từ quá khứ đến tương lai. Vì vậy mỗi giây phút có thể mang một nội dung cực lớn, vượt ngoài chính nó. Tôi nghĩ thơ làm cho những khoảnh khắc như thế lớn lên, chậm trôi qua, đôi khi chiếu sáng. Tùy bạn, khoảnh khắc có thể là quà tặng, có thể là cạm bẫy. Đã qua lâu rồi thời kỳ của chủ nghĩa duy ý chí, cho rằng con người làm chủ số phận mình. Quả thật đôi khi lịch sử cũng nghe lệnh chúng ta, làm con người trở nên kiêu hãnh về chính mình, cho đến khi hiện thực dạy ta bài học khác. Đôi khi trong đời mọi thứ đều tốt đẹp, bỗng cơn bão xô tới, tai ương, động đất, liên lụy, bệnh tật. Mọi thứ vứt đi cả. Chỉ lúc ấy thôi người ta mới ngồi xuống, tập nhìn như Thanh Thảo.
 
Những con gián thật hiền
Thật nhỏ bé
Khi sống không có ước mơ nào đáng kể
 
Mong hai con gián bình yên rời cõi này
Về cõi gián
 
Không hoành tráng
Nhưng biết làm sao
 
Ai cũng biết nghệ thuật dù viết về đề tài gì, kể chuyện người hay chuyện ma, thì cũng để nói với con người về con người. Nhưng đọc mấy câu này của Thanh Thảo, tôi không biết điều ấy đúng đến đâu. Chẳng lẽ không có bài thơ nào viết về gián, cho gián?
 
Quà tặng của một khoảnh khắc đến từ những ngọn nguồn nguyên thủy, cái vô thức. Bạn muốn nhận ra ánh sáng mới, bạn phải từ bỏ ngày hôm trước. Từ bỏ ngày hôm trước không phải chỉ là từ bỏ sự đề kháng đối với hiện thực mới, hôm nay, mà còn là buông bỏ mọi nghi vấn, mọi mặc cảm, mọi hy vọng. Nhìn những con gián, người ta không thể hy vọng điều gì cả. Tất nhiên không phải khi nào Thanh Thảo cũng làm được vậy, cũng buông bỏ được tất cả: quá khứ, niềm tin, lòng yêu cuộc sống, quan niệm phải trái, trắng đen. Anh không phải là một thiền sư.
 
Tất cả thi sĩ trên đời này là những kẻ không thể buông bỏ hoàn toàn. Cái tình lưu luyến ấy làm say đắm lòng người. Nhưng những giây phút bừng sáng như thế, đau khổ hay hạnh phúc, hôn phối hay tan vỡ, chỉ có thể bừng sáng cho những người mở lớn cặp mắt xuyên suốt. Chắc mỗi người chúng ta còn nhớ giây phút đầu tiên gặp người mà sau này bạn gọi là người bạn đời, nếu nhớ lại bạn sẽ nhớ rằng giây phút ấy không có gì đặc biệt. Có người gõ cửa vào đúng hôm bạn ra mở cửa. Một người băng qua đường suýt đâm vào chúng ta. Đúng không? Đối với bạn đó là những giờ phút đặc biệt, nhưng thực ra chúng không có gì đặc biệt. Hàng triệu người gặp như thế mỗi ngày. Vì vậy một khoảnh khắc là một khoảnh khắc dành riêng cho bạn, chỉ bạn biết ý nghĩa của chúng. Thơ Thanh Thảo nói nhiều về trường hợp ấy.
 
Những gì ta nhận được trên đời
Những gì khiến ta quên sợ hãi
Có thể cho đi tất cả để được làm người
 
Đây là anh nói về ca sĩ Thủy Tiên, nhưng cũng nói với chúng ta. Trong mùa bão lũ năm 2020, miền Trung bị tàn phá dữ dội, người chết, nhà sập, ít ai làm thơ nhiều như anh. Thơ anh không cổ động, không tuyên truyền. Nỗi khổ cực của con người, một bên là thiên tai một bên là sự phân hóa xã hội ngày càng dữ dội.
 
Hoàng hôn màu tím hay màu đỏ
Anh em ta ngược hai chuyến tàu
Em ngồi ghế súp anh vé VIP
Anh cười cười còn em rầu rầu.
 
Nhà thơ nào cũng sử dụng các ẩn dụ, nhưng cách họ sử dụng khác nhau. Ở Thanh Thảo các hình ảnh trong đời thường lấy lại những ý nghĩa vốn của chúng nhưng bị quên đi. Nói cách khác, anh không tạo ra nghĩa mới cho các từ, anh chỉ làm hồi phục các nghĩa nguyên thủy của chúng. Tôi yêu thơ Thanh Thảo còn vì tiếng cười của anh.
 
Trước quả mít xin nói giùm một tiếng
Anh muốn yêu hay ăn?
 
Anh tái hiện đời sống bằng cái nhìn vừa thấu suốt vừa thương cảm, Cảm hứng của anh xuất phát từ những tình huống xung đột, những cuộc đời mới nhìn thì bình thường nhưng nhìn kỹ thấy có biến động. Ngày trước, cha ông ta cho rằng mọi vật đều có linh hồn, mọi hoàn cảnh đều chứa huyền cơ. Tính chất duy lý của khoa học, chủ nghĩa vô thần, tính chất thực dụng của một xã hội thương trường như hiện nay, có khuynh hướng làm người ta quên đi mối quan hệ ẩn mật giữa con người và thế giới. Thực ra thiên nhiên chứa đựng trong nó những quan hệ sâu xa, vượt khỏi sự hiểu biết, và những quan hệ ấy vận động. Thanh Thảo nhìn ra ở đó, những quan hệ ấy, các màu sắc khác nhau, những ý nghĩa khác nhau. Các bài thơ của anh có hình ảnh trung tâm, tức là một ẩn dụ lớn, anh không nặng về một câu thơ hay đơn độc, có thể nảy ra các nhãn tự, bài thơ của anh là một cấu trúc nguyên vẹn, toàn thể. Một bài thơ thời sự như thế này, không thể tách ra từng chữ, từng câu:
 
mỗi ngày đọc tin trên mạng
90% là chuyện không vui
giờ đón thêm tin bão
làm sao có thể cười
 
bão chưa vào là bão chưa vào
là bão còn nguyên đó
dập dồn 3 cơn bão
miền Trung liệu còn gì?
 
nếu bão không vào quê mình
thì bão vào quê bạn
quê đồng bào
vào đâu cũng khổ như nhau
 
thủy điện phá rừng
thủy điện bạt núi
báo cáo thành tích mặt hớn hở
bão vào lũ tới chết như không
 
chết như không
chết lặng im
đất đá vùi lấp
nổi lên một bản tin
 
nổi lên những lời thương xót
chẳng biết thế nào
nổi lên những đoàn quan chức
đứng xa xa ngó vào
 
năm nào bão lụt
thủy điện đều xả lũ
nói văn hoa là “điều tiết”
 
làm sao
để có điện mà không cần thủy điện?
có lũ mà rừng còn
có bão mà núi không sạt lở?
 
làm sao
 
(ĐÓN BÃO)
 
Giọng phê phán mà điềm tĩnh. Cũng đôi khi Thanh Thảo sử dụng văn nói quá nhiều trong thơ, anh tiệm cận đến văn xuôi, trong khi đã quen sử dụng một lối viết cổ điển của văn vần:
 
Bão số chín quét qua
Mấy ngày không thấy bác
Ông tiên cũng vắng mặt
Lòng tôi cứ lo lo
 
Đối với người đọc, một bài thơ hay bao giờ cũng là một giải pháp cho tâm hồn. Chúng không phải là những giải pháp thực tế, không phải là những lời khuyên khôn ngoan. Giải pháp ấy đôi khi là lời an ủi, sự cắt nghĩa, tia sáng ngoài cửa sổ, tình thương yêu. Tôi vừa nhắc đến một chữ quan trọng, tôi cho rằng thơ Thanh Thảo là thơ của tình thương yêu. Thương yêu khác với yêu, đó là thứ tình cảm khó diễn tả, đứng giữa hai thứ: tình yêu nam nữ say mê rồ dại và một tình thương thuần khiết đầy hy sinh như tình mẫu tử. Thơ anh không phải cái này cũng không phải cái kia, một thứ tình đối với sự sống, con người, đồng bào, các sinh linh trên mặt đất. Suy nghĩ và xúc động cân bằng. Cuộc đời không tốt quá cũng không xấu quá, tình yêu không đến mức thần tiên điên dại, nhưng cũng không đến nỗi xấu xa thô tục. Thật dễ dàng để than trách số phận, đổ lỗi cho người khác, oán than trời đất, nhưng điều đó không có ích gì. Thanh Thảo vốn viết rất nhiều về chiến tranh, và viết hay, nhưng khi hướng ngòi bút của mình về cuộc sống ngày thường, thơ anh cũng thiết lập được mối quan hệ với đời sống theo kiểu khác, từ bỏ những khái niệm của đại tự sự, anh trở thành tiếng nói riêng lẻ, của những con người bình dị nhưng rất thực, kẻ ngoại biên, rìa cương thổ. Ngoại biên là bất phục, nhưng không phải là đề kháng. Thơ trữ tình Thanh Thảo là tiếng nói của những công dân lầm than, những số phận khốn khổ, những mối tình bé mọn. Thơ anh chống lại lãnh đạm. Anh giữ nhiều yếu tố của chủ nghĩa hiện thực, nhưng đã vượt qua nó, vì là một trong những người sớm nhất mang tính hiện đại vào thơ ca, biến thơ thành diễn ngôn kiểu khác, phi chính thống. Chúng ta xuất thân từ nền văn hóa với những giá trị sâu xa của nó, có khuynh hướng giữ gìn truyền thống. Nhưng càng giữ gìn, chúng càng bị bào mòn. Tôi muốn nhìn thấy cách mà Thanh Thảo giải quyết mối quan hệ giữa cách tân và các giá trị thẩm mỹ. Anh sống hồn nhiên mà suy tư, viết suy tư mà hồn nhiên, ung dung đi qua đời sống, tưởng không có mục đích mà ghi nhận đầy đủ mỗi sáng mỗi chiều, nắng mưa thời tiết, nụ cười nước mắt. Thanh Thảo yêu đất nước theo cách của anh, bằng những sợi giây liên lạc bền chặt sâu xa có khi chỉ mình anh mới biết, những ràng buộc vô thức với mặt đất, người nông dân, các số phận. Anh cười dễ dàng nhưng không khóc dễ dàng, đôi khi giấu kín trong lòng tâm sự u uất. Anh có những giấc mơ, lòng thương nhớ khôn nguôi, sự hoài nghi về lý tưởng, sự đánh giá lại, nhưng chúng ít khi xuất hiện trong thơ anh. Tôi không biết rằng đó là một cố gắng ý thức hay là một phương cách tự nhiên vô thức. Giữa những hoàn cảnh khó khăn, cũng có lúc anh mỉa mai, châm biếm, nhưng không căm ghét, cay đắng. Đi qua nỗi buồn, anh thấy niềm vui. Mà anh vui thật, trẻ trung, không phải là một thứ niềm vui với cảm giác có lỗi như của Jack Gilbert:
 
We must risk delight
Chúng ta phải mạo hiểm để sống vui
 
Tôi nghĩ sở dĩ Thanh Thảo có được tính hồn nhiên như thế là vì thơ anh ít nói về mình. Thơ nói về người khác, nói với người khác, nói từ người khác. Trong thơ, tác giả không còn ở vị trí trung tâm. Đó là một thứ thơ trữ tình xã hội nằm vắt qua ranh giới giữa chủ nghĩa hiện thực và khuynh hướng hiện đại, giữa hiện đại và hậu hiện đại. So với những tập thơ trước, Thanh Thảo đi một bước dài không phải về phía chủ nghĩa anh hùng, hay những tư tưởng độc đáo, trái lại anh đi về phía cái hàng ngày, cái đẹp cụ thể, độc đáo. So với những năm trước, thơ Thanh Thảo không nặng về khám phá ngôn ngữ, xây dựng những cấu trúc mới, khuynh hướng làm mờ nhòa ngôn ngữ. Sự thu hút của thơ Thanh Thảo xưa nay vốn nằm ở sự chân thật, sự phê phán có tính lạc quan và sự lạc quan có tính phê phán. Thơ anh thiên về ca ngợi, nhưng đó không phải là sự ca ngợi một chiều, rập khuôn, đó là sự ca ngợi được nghiền ngẫm, sự cao cả được đánh giá lại. Anh trung thành trong khuynh hướng ấy, nhưng đi xa hơn, tìm thấy cái đẹp bền vững trong khía cạnh mong manh. Lòng tin của anh đối với con người và đối với nhân dân chưa hề thay đổi. Không một nhà thơ nào có lương tri đã không từng có lúc nghi ngờ: thượng đế, loài người, sự chết, lịch sử và lừa dối, lý tưởng, những ism, tình yêu. Ngay cả khi đau xót anh cũng đau xót nhẹ nhàng.
 
có những điều thầy tôi không nói
nhưng thầy biết con trai mình cảm thấu
bao lỡ làng một kiếp sông ơi
làm chi còn bên lở bên bồi
 
may thầy tôi không nhìn thấy
bao hy vọng những ngày xưa ấy
bao hy sinh giờ mất hút đâu rồi
tiếng thở dài buông như lục bình trôi
 
Một bài thơ như thế khó trích ra một vài câu được. Thơ anh ít có những câu gọi là tuyệt cú. Bài thơ cần phải được đọc trọn vẹn, toàn bộ bài thơ là một hình ảnh lớn, các câu thơ là một phần của cấu trúc trọn vẹn. Nếu bạn tách chúng ra, các câu thơ ít có ý nghĩa. Đây là phong cách của các nhà thơ đương đại Âu Mỹ, lấy cái toàn bộ mà thay cho chi tiết, bài thơ là một ẩn dụ trung tâm. Thơ anh không phải để ngâm, không phải để tầm chương tích cú, nhưng đọc hết cả một bài, bạn cảm động: bài thơ ấy của Thanh Thảo làm bạn vui lên, bồi hồi, ngẫm nghĩ, bạn trở thành người bao dung hơn, sẵn sàng tha thứ hơn, cho cuộc đời và cho bản thân mình. Cần nhớ rằng điểm mạnh của anh trước đây là trường ca, một thể loại thơ riêng biệt; trường ca có tính cách lịch sử và chiến tranh. Những đề tài lớn như thế cần thể loại thích hợp của nó. Từ những ngày đầu, Thanh Thảo không có khuynh hướng tô điểm cho thế giới, anh tạo ra một thế giới mới, của riêng anh, những người anh hùng được nhìn qua cái tôi, những nhân vật lịch sử được chiếu sáng bởi ngọn đèn hôm nay. Anh viết về người khác, nhưng là một thứ người khác tâm tình, thông qua cái tôi trữ tình. Hát giữa gió mưa cũng vậy, anh nói về người khác hơn về mình. Anh nói về những người phụ nữ hơn là nói về vợ mình hay người yêu của mình. Điểm này làm Thanh Thảo khác người cùng thời. Nhưng qua người khác mà người ta nhìn ra khuôn mặt anh, lòng tin quả quyết và đơn giản của anh, sự thật thà của anh, một sự thật thà phức tạp. Hãy xem bài thơ mà anh lấy nhan đề cho cả tập thơ, Hát giữa gió mưa. Nhà thơ nói về một ca sĩ, trong công việc nhân đạo của cô.
 
như chiếc lá xoáy trong vùng lũ dữ
người ca sĩ ấy
hát giữa gió mưa
hát với bọt bèo
hát cho những người cùng khổ
 
có một sức mạnh nào
nâng cô gái nổi trên nước xiết
lao tới những người sắp chết
những người dỡ mái ngói kêu trời
 
chỉ đơn giản vậy
những gì ta nhận được trên đời
những gì khiến ta quên sợ hãi
có thể cho đi tất cả
để làm người
 
một người bình thường thôi
 
hát giữa gió mưa
lời ca là một gói mỳ tôm một bao gạo
một cây cầu gãy
một đoạn đường sạt lở
 
hát giữa những người đang đói lả
chỉ vậy thôi
 
cúi đầu trước bao câu ngợi khen
ngẩng đầu trước những lời khó thở
có sao đâu đời vẫn vậy
mắt nhìn thẳng những bàn tay đang vẫy
nơi ấy
cho ta sự bình yên
 
một người ca sĩ
không chỉ hát, còn biết khóc
biết cái gì quí nhất trên đời
một buổi sáng tâm hồn xanh màu trời
 
(HÁT GIỮA GIÓ MƯA)
 
Hát giữa gió mưa là tiếng hát khác, không phải bằng âm thanh mà bằng nghĩa cử, tựa như ngôn ngữ vô ngôn của các thiền sư. Lấy cái chi tiết ấy làm điểm tựa cho bài thơ ngắn, giản dị, được viết tưởng như dễ dàng, tự nhiên như lời nói chất phác của người cùng khổ. Mỗi giây phút trong đời có thể làm một giây phút lớn lao. Mỗi giây phút mang lại một thách thức, một vận may, một thấp thoáng cái chết, một quà tặng. Một nơi nào, một lúc nào, luôn luôn có kẻ nhận lấy món quà ấy. Giây phút giữa gió mưa ấy là của Thủy Tiên. Giây phút nhìn thấy người ca sĩ ấy là của Thanh Thảo. Thơ anh dịu dàng, tinh tế nhưng hài hước, thông minh. Món quà của giây phút thực ra không phải đến từ bên ngoài chúng ta, chúng đến từ ngay trong lòng mỗi chúng ta, đã sống, đã nghĩ, đã chiêm nghiệm và thay đổi, đã dọn sẵn lòng mình. Trong cơn hoạn nạn, giữa gió mưa, chỉ có tình người là trọng, quan hệ gì tiểu sử, thành tích, quan điểm, lập trường chính trị. Vào cái giờ phút ấy, con người bộc lộ điểm sáng lung linh của một cá thể, cái giữ cho nhân loại trường tồn.
 
Thơ là nghệ thuật của ngôn ngữ, sự duyên dáng của các câu chữ, sự chọn lựa và sắp xếp của chúng. Văn học của chúng ta là văn học nặng về ký ức, thực ra là một thứ ký ức về thời kỳ đen tối, chiến tranh, xung đột, mất mát. Thơ ở lại lâu dài với người đọc không phải vì những nhân vật trong ấy, dù họ có lớn lao kỳ vĩ đến đâu, mà vì chính ngôn ngữ của tác giả. Ngôn ngữ ấy làm cho một đời sống được diễn tả trở nên sinh động có thực; thực ra tấm gương của hiện thực trong thơ không phải là tấm gương, nó tạo ra một hiện thực khác, truyền đi một ý nghĩa khác. Siêu thực:
 
 
những tiếng đàn bọt nước
Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt
li-la li-la li-la
đi lang thang về miền đơn độc
với vầng trăng chếnh choáng
trên yên ngựa mỏi mòn
 
Tây Ban Nha
hát nghêu ngao
bỗng kinh hoàng
áo choàng bê bết đỏ
Lorca bị điệu về bãi bắn
chàng đi như người mộng du
 
tiếng ghi-ta nâu
bầu trời cô gái ấy
tiếng ghi-ta lá xanh biết mấy
tiếng ghi-ta tròn bọt nước vỡ tan
tiếng ghi-ta ròng ròng
máu chảy
 
(ĐÀN GHI-TA CỦA LORCA)
 
Có một điều gì sẽ còn lại trong bài thơ Thanh Thảo, một hóa chất không thể hòa tan trong các dung dịch. Bài thơ của anh từ chối văn xuôi hóa, khái niệm hóa, sự kết thúc của nó cũng là sự mở đầu. Mặc dù nhiều bài về xã hội, thơ anh không nhằm giải quyết các vấn đề, hầu hết chỉ để nêu lên câu hỏi. Đôi khi, có vẻ anh cũng tìm được câu trả lời cho mình, nhưng đó không phải là câu trả lời có thể đại cương hóa như cẩm nang. Câu trả lời của anh chỉ đúng trong trường hợp ấy, chỉ thích hợp cho một nhân vật như vậy. Thơ không tạo ra một sự kiện, không phải là vũ khí đấu tranh. Tuy vậy, có một mối liên kết mạnh mẽ giữa các nhân vật trong thơ và cuộc đời quanh chúng ta. Tác giả hòa vào các nhân vật ấy, sống giữa họ, trở thành nhân vật trong ấy, giúp các nhân vật nói bằng tiếng nói thích hợp.
 
Anh không đẩy xúc cảm của mình đến chỗ cực đoan. Trong thơ anh những yêu ghét vui buồn thấp thoáng, nhưng ghét mà không đến mức căm hờn, yêu không đến mức mê mẩn, ca ngợi không đến mức tôn thờ. Nó phản ánh con người của tác giả, chừng mực. Trong anh, sự phân biệt giữa nội tâm và ngoại giới, giữa người nhìn và người được ngắm nhìn, có lúc rõ, có lúc không. Ở người khác, sự phân biệt ấy làm cho họ đứng hẳn về một phía, nhưng ở anh, lại thấy nhiều hơn sự cân bằng giữa các cực đối lập, tâm thế ở đời tương đối. Thanh Thảo viết nhiều về thú vật, đồ vật, nhưng anh không phải là nhà thơ thiên nhiên. Những điều mà anh tả là khung cảnh của đời sống, là nơi diễn ra những biến đổi của tâm hồn con người, là khung cảnh hôm nay của một nền văn hóa đang suy đồi dữ dội. Mỗi người chúng ta là một đứa trẻ, một đứa trẻ đủ lớn để biết điều này chuyện khác nhưng không đủ lớn để hiểu tại sao thế giới lại buồn rầu, con người lại chia ly, tan tác. Giữa những người lớn trẻ con ấy, Thanh Thảo cất lên tiếng nói của mình, kể những câu chuyện làm cho người ta ấm áp trở lại, bình tĩnh và vui vẻ trở lại, tin tưởng hơn, không phải vì anh hứa hẹn một điều gì trong ngày mai mà vì với tài năng ngôn ngữ của mình, anh chỉ ra những ý nghĩa mới của hiện hữu.
 
mưa chạy rất nhanh phía cạn ngày
bạn tôi chép miệng: có ly bia giờ này
trời sẽ mát
một ly bia uống lúc cuối thu
 
Tư duy thơ của anh như vậy: trữ tình và dân dã. Ở anh khái niệm dân tộc và dân gian là một, dân gian của anh chính là dân tộc. Điều kỳ lạ là, ngôn ngữ của Thanh Thảo lại không dung tục, trần trụi, mà tinh tế lịch thiệp, đôi khi huyền ảo, một thứ ngôn ngữ không dành cho đại chúng. Cuộc sống ngày càng hối hả, con người ngày càng quan tâm đến thời gian, sống vội, sống gấp. Trong thơ anh, thời gian không phải là áp lực, anh nhẩn nha vì anh biết sử dụng hết thời gian. Có thứ thời gian trôi chậm lại ở những người minh triết. Cho rằng Thanh Thảo là một người minh triết, như thế được chăng?
 
Đọc anh, thấy mỗi phút giây ta sống thật quý, vừa thực vừa ảo. Tôi tin nếu người yêu thơ được giới thiệu tập thơ mới của Thanh Thảo, họ sẽ thích thú theo dõi, nghe anh kể chuyện: một người từng trải hồn nhiên, biết kể chuyện mà ít lời, nghiêm mà vui, dí dỏm. Thử hỏi ai không thích có dịp trò chuyện với một nhà thơ như vậy, không thích được gặp một người như vậy, cùng nhau ngồi xuống vỉa hè làm một ly bia vào chiều muộn cuối thu?
 
Nguyễn Đức Tùng
 
(Lời Tựa cho tập thơ Hát Giữa Gió Mưa của Thanh Thảo, 2022)

READ MORE - THANH THẢO, HÁT GIỮA GIÓ MƯA - Nguyễn Đức Tùng

LỤT Ở HUẾ - Thơ Lê Phước Sinh


             Nhà thơ Lê Phước Sinh

 
LỤT Ở HUẾ
 
Ghen răng mà vô hậu,
năm làm Lụt nước tràn
Ơi Thủy Tinh có biết
giờ Thủy điện ké phần.
 
Ào ào trên Nguồn xuống
xả Đập lại lồi lên
ngụp-trồi-lặn... Dân hiền
chịu làm chi cho thấu.
 
Lụt đương nhiên phải Lội
- dẫu Đất phụ thêm Màu,
nhưng đêm ngày thức trắng
mắt mất ngủ xanh xao.
 
Xem Con Gái lội nước
xắn hai đùi vế cao...
 
Lê Phước Sinh

READ MORE - LỤT Ở HUẾ - Thơ Lê Phước Sinh

XUÂN LÒNG, YÊU NGƯỜI – Thơ Lê Văn Trung


 


XUÂN LÒNG
 
Lòng đã vàng mai từ cuối chạp
Tình chưa hàm tiếu đợi xuân về
Em, con chim én phương trời cũ
Vỗ cánh bay hoài trong giấc mơ
Lòng đã trầm hương, đàn nhã nhạc
Câu thơ nhuộm thắm nhụy hương người
Có đôi bướm nhỏ vờn trong gió
Cứ hỏi thầm nhau chuyện lứa đôi
Lòng đã say nồng men rượu ngọt
Xin rót đầy trăng nguyệt ướm rằm
Đôi mắt tình như sương tuyết ngọc
Xuân về giăng thắm lụa vàng ươm
Em - hoa từ độ thầm khai nhụy
Em - trăng từ buổi lòng chớm xuân
Mà tôi vàng quá mùa đang chín
Như má thơm hương nụ phấn hồng.

 
YÊU NGƯỜI
 
Yêu người yêu cả niềm đau
Yêu từng giọt lệ ướp nhàu trang kinh
Yêu người yêu nỗi nhớ quên
Bỏ trần gian lại một mình tôi đi
Yêu người vô lượng từ bi
Xin cho tôi sáng vầng khuya trăng người
Xin cho tôi nhìn thấy tôi
Ngồi phơi lá úa mộng đời quạnh hiu
Yêu người yêu cả niềm đau
Yêu từng sợi tóc buộc vào nhân duyên
Yêu từng tiếng mỏ hồi chuông
Vẳng trong tâm thức giọt buồn rụng theo.
                         
Lê Văn Trung

READ MORE - XUÂN LÒNG, YÊU NGƯỜI – Thơ Lê Văn Trung

NHỮNG BÀI THƠ VỀ THU (2) – Nguyên Lạc


 


VƯỜN THU XƯA
 
Vườn xưa vàng lá thu rơi
Chốn xưa hoang vắng
Mồ côi chân ngày!
Bão đời vèo một áng mây
Tìm em. chỉ thấy chiều bay lá vàng!
Một người cùng với mùa sang
Xuân thu sương điểm mơ màng dáng xưa
Còn gì đâu nữa mà mơ!
Lật trang ký ức mấy tờ bể dâu
 
Giữ nhe em? chớ phai màu
Triền môi hồng thắm
Lụa đào cúc hoa
Giữ nhe em? chớ phôi pha
Ngây thơ mắt biếc khiến ta một đời
 
Vườn xưa lệ lá thu rơi
Tiếng thu khe khẽ: người ơi đừng về!
Âm vang hiu hắt chiều tê
Con chim cô lẻ thiết thê gọi tình
 
Gọi tình. ta cũng gọi tình
Em ơi còn nhớ chúng mình vườn thu?
Mùa thu lâu lắm mùa thu
Tình thu ngày đó sương mù phương nao?!
 
 
ĐỘC ẨM CHIỀU THU
 
Rượu rót về một phương
Đắng cay chén đoạn trường
Lữ khách sầu cô quạnh
Thu về nhớ cố hương!
Bao năm rồi tôi hỡi?
Từ cuộc thế tang thương
Đâu tri âm tri kỷ?
Cùng say khướt Hồ trường
 
Bao năm rồi tôi hỡi?
Tóc đời pha tuyết sương
Người bên trời luân lạc
Thu thương nhớ mùi hương
Bao năm rồi ly biệt
Lá vèo bay tứ phương
Đắng giọt chiều nuối tiếc
Nhan sắc giờ mù sương!
 
Tri âm! Này chén tiễn
An nghỉ nơi viễn phương!
Hồng nhan! Này chén nhớ
Khung trời đó yêu thương
Trong tận cùng khổ nạn
Tuổi xuân đầy tai ương
Sâu tận cùng ký ức
Nhức nhối đời tha hương!
 
Ai đã rồi miên viễn?
Ai đã rồi khói sương?
Ôi một đời mộng vỡ!
Thất chí lệ Hồ trường!
 
"Học chẳng thành công chẳng lập,
trai trẻ bao lâu mà đầu bạc,
trăm năm thân thế bóng tà dương.
Vỗ tay mà hát, nghiêng bầu mà hỏi,
trời đất mang mang, ai là tri kỷ,
lại đây cùng ta cạn một hồ trường" *
.
Mắt cay độc ẩm hồ trường
Chiều thu xứ lạ tha hương nỗi sầu
"Hạc vàng không trở lại đâu"
Còn đây sương khói trắng màu thời gian!
 
Nguyên Lạc
 
.........................
 
* Lời thơ Hồ Trường - Nguyễn Bá Trác

READ MORE - NHỮNG BÀI THƠ VỀ THU (2) – Nguyên Lạc

Thursday, October 13, 2022

MẤT MÁT - Nhạc: Lê Hữu Nghĩa - Lời: Thy Lệ Trang - Ca sĩ: Ngọc Quy

READ MORE - MẤT MÁT - Nhạc: Lê Hữu Nghĩa - Lời: Thy Lệ Trang - Ca sĩ: Ngọc Quy

CÓ MỘT NGÀY KHAI TRƯỜNG - Chùm thơ Lê Thanh Hùng

 


Có một ngày khai trường 


Xa lắm, ngày khai trường năm ấy

Con đường xưa, nắng dệt bướm bay

Trang sách mới, lung linh vờn vẫy

Biết đâu đời nhiều nỗi đắng cay

                   *

Vẫn còn đó, một thời thơ dại

Nỗi vui buồn đọng lại đâu đây

Ơi ngày tháng, tìm đâu cho thấy

Khi tuổi đời hằn dấu trên tay

                    * 

Mây thản nhiên, cuối trời phiêu lãng

Còn không em, hoa mộng ban đầu

Năm tháng có hao mòn vỡ rạn

Đường sân trường, ký ức hằn sâu

                    *

Sông nước đã bao lần thay đổi

Mà trường xưa còn đó em ơi

Dẫu đã biết bạn bè trôi nổi

Vẫn còn đây kỷ niệm một thời …

                                          9/91


Đâu có tình cờ


Tôi yêu em

Vô cùng 

Thật vậy

Tại em không thấy

Mỗi chiều tan sở

Tôi chờ 

Em cứ đi qua

Hững hờ

Không ngoái lại

Vết xe lăn

Nắng đậu

Tóc em cài

Cho tôi đứng thở dài

Năm hôm rồi đó

May nhờ trời

Xe em xẹp lốp

Chiều nay

                       9/91


Bên vườn xưa


Chắc gì còn gặp nhau đâu

Sao em không nói một câu hẹn hò

“Thò tay anh ngắt cọng ngò” …

Lời yêu sắp ngỏ, đắn đo em về

                                              7/77



Ánh nắng muộn màng

chấp chới trên hoa


Cánh tím rung rung trong ngập ngời óng biếc

Như lấy lại khoảng ngày thua thiệt


Dưới bóng râm, nghiêng ngữa một quầng xanh

Nắng quái nắng, đời hoa như thầm tiếc

Nở âm thầm trong khoảng lặng mong manh



Sự hiểu biết và việc làm

có thể sẽ khác nhau


Ai cũng biết rất là khó lòng trúng 

Nhưng không vì thế mà người ta không mua vé số


Cứ loay hoay ngồi một mình gậm nhấm nỗi đau

Nhưng vì ghen tị, nên hay cười trên nỗi đau của người khác

Chuyện sấp ngữa trên đời, nhiều khi ta lại tự quàng vào


Lê Thanh Hùng

     Bắc Bình, Bình Thuận




READ MORE - CÓ MỘT NGÀY KHAI TRƯỜNG - Chùm thơ Lê Thanh Hùng

Wednesday, October 12, 2022

BIỂN Ở BÊN KIA - Truyện ngắn Vũ Ngọc Giao

 

Nhà văn Vũ Ngọc Giao


BIỂN Ở BÊN KIA

 

                        Truyện ngắn VŨ NGỌC GIAO

 

 

Tin Hạ đi lấy chồng làm xôn xao cả xóm chài, cái xóm buồn hiu, lác đác mấy nóc nhà lợp tôn nằm khuất sau rặng dừa. Ngoài những đợt bão lớn, xóm chài chẳng mấy khi có bóng trai làng, quanh năm những chuyến đánh bắt xa bờ mang họ đi biền biệt. Những người vợ ở nhà về đêm đã quen với cảnh vò võ, sáng lại ra chợ, chiều ở nhà vá lưới, chăm con. Họ thường nhẩm tính, cứ đến ngày chồng về bờ là ôm con ra biển ngóng.

 Chiều nay, trai xóm chài tụ tập uống rượu, nhâm nhi mấy con tôm, con mực sau một tháng đánh bắt trở về. Những chuyến đi dài ngày khiến họ nhớ bờ. Vừa xuống bến, họ đã vội về nhà, để lại mớ cá trên thuyền cho vợ cân đong, mua bán rồi mang ra chợ. 

Cái nắng mùa hè đến năm giờ chiều vẫn hực lên như rang trên cát. Trên tấm bạt nhăn nhúm loang lổ vì rượu, vì thức ăn vương vãi, đám trai làng vừa rót rượu, vừa hò hét, huyên thuyên đủ thứ chuyện trên đời.

- Nghe đâu vợ thằng Đăng đi lấy chồng thiệt hả? -  Một gã ngà ngà say mở đầu cái tin cả xóm đang xôn xao.

- Thiệt chứ giỡn chi, ông bà Thêm cho rước dâu đàng hoàng.

- Ai đời con dâu đang ở nhà chồng, kỳ!

- Thì đường nào thằng Đăng với ba mẹ con Hạ cũng chết rồi, ông bà Thêm coi Hạ như con gái, có gì đâu? 

Ông Thêm đang kỳ cạch đóng lại vết nứt ở mui tàu, chiếc tàu cá lâu năm giờ đang phải nằm trên cát. Bà Thêm ngồi vá lưới gần đó. Ông bà nghe hết cả. Mặc kệ, bà vẫn thản nhiên như không. Tiếng búa của ông vẫn chan chát nện vào mui tàu, át cả tiếng cười nói của đám trai.

Tiếng sóng ì oạp vỗ vào bờ êm như ru… Không nhớ bao nhiêu đêm, Hạ đến đây. Biển đêm nay vắng. Nàng ngồi vắt vẻo trên thành tàu, chiếc tàu đắm năm nào giờ đã trơ ra khung sắt hoen rỉ. Hạ đong đưa chân, ngửa mặt đếm những vì sao xa tít, mờ nhạt. Mảnh trăng gầy treo trên cao, xanh lét như người bị bệnh thương hàn nhìn nàng cười cợt. Nàng thích ngắm nó hơn một bóng trăng sáng rỡ của đêm rằm. Với nàng, trăng tròn như một người đàn bà viên mãn đã ngủ quên. Mảnh trăng gầy lại là nàng, người đàn bà luôn loay hoay, khắc khoải…

- Đăng à! Nàng thầm thì như Đăng đang ngồi bên cạnh  - Tháng sau em đi lấy chồng… Nàng lại ngước nhìn mảnh trăng gầy trên cao, lảm nhảm một mình. Điều gì, chỉ có nàng và Đăng mới hiểu. 

Mùi khói thuốc thoảng qua đâu đây, có cả tiếng ho khàn đục, nàng quay lại. Là cha. Ông đang đốt thuốc, ánh sáng lập lòe trên chiếc tẩu soi rõ gương mặt ông gân guốc, trầm tư. Nàng co chân nhảy xuống, lại gần ông.

- Cha!

- Hết chỗ chơi sao ra chỗ này vậy con? Giọng ông pha lẫn tiếng sóng. 

Nàng yên lặng nhìn ra xa. Ngoài kia một chiếc ghe sáng đèn đang quăng lưới, có lẽ về trong đêm. Nàng vẩn vơ… Ước gì…

 - Sao giờ này cha còn ra đây? - Quay sang cha, nàng hỏi.

Lặng thinh. Nàng nghe cả tiếng sóng vỗ vào bờ.

- Cha nhớ thằng Đăng - Giọng ông nghẹn lại - Phải chi hồi đó…

Ông Thêm lại yên lặng móc gói thuốc trong túi áo. Ánh trăng leo lét đủ soi cho nàng nhìn thấy bàn tay ông run run, chiếc tẩu đã tắt ngúm từ lúc nào. Ông lại châm lửa, rít một hơi dài. Hạ rưng rưng nhìn cha, dưới trăng bóng ông sừng sững như một bức tượng bằng đất nung, cô độc. Mùi khói thuốc nồng nồng quen thuộc khiến nàng ấm lòng. Hạ xích lại gần ông:

- Con cũng nhớ Đăng - Nàng nghẹn ngào.

Năm đó, trận bão lịch sử đổ vào thành phố này. Một tuần neo đậu ngoài khơi, ông được đưa vào bờ. Chiếc tàu và Đăng nằm lại dưới lòng biển… Khi người ta trục vớt được xác tàu thì gia đình nàng cũng nhận được xác Đăng. Đêm đêm, khi con trai đã ngủ say, nàng thường ra đây. Có đêm nàng ngờ ngợ như có tiếng khóc i ỉ phát ra từ xác chiếc tàu này. Nàng lắc đầu xua đi những ý nghĩ đang lởn vởn, biển cả và những âm thanh bí ẩn… 

- Cha! Hay con không đi nữa... - Hạ rưng rưng nhìn cha. Trong lòng nàng và mẹ, cha là chỗ dựa, là người chở che cho cả gia đình. Đêm nay nhìn ông cô độc đến đáng thương, không còn là lão ngư "ăn sóng nói gió", lực lưỡng nhất làng chài.

- Không được! Con cứ về bên đó. Đời người đàn bà luôn phải có một người đàn ông để nương tựa, chở che. Cha mẹ không sống đời với con. Còn thằng Bin, ở nhà đã có cha mẹ, thỉnh thoảng con về thăm nó.

- Cha!... Hạ nắm tay ông nghẹn ngào. Ông để yên bàn tay thô cứng trong tay con dâu, cảm nhận tình thương của đứa con mà hơn năm năm nay, vợ chồng ông yêu thương như con gái.

- Sắp tới cha không đi giã nữa, con đi rồi. Cả tháng trời cha ở ngoài đó, không có ai lo cho mẹ, cho thằng Bin. Mai cha đi lưới, cố thêm mấy chuyến nữa, cha muốn đám cưới con phải tươm tất. Nhà người ta vậy, nhà mình… - Ông vuốt tóc con dâu thủ thỉ.

Hạ ngước nhìn cha. Từ lâu nàng đã coi cha mẹ chồng là cha mẹ ruột. Lên tám tuổi Hạ đã mồ côi cha mẹ. Nàng lấy chồng, rồi đến lượt Đăng cũng ra đi. Ông Thêm ra biển dài ngày, lần nào cũng không quên dặn bà:

- Ra chợ mua bán gì thì nhanh nhanh, bỏ sỉ luôn cho người ta, đặng còn về với con. Nó là đứa yếu đuối. Tội nghiệp…

Nàng nghe hết cả, có nhiều đêm ông bà thầm thì bàn tính chuyện tương lai cho nàng.

- Con gái có lứa có thì, để nó ở với mình cũng tội… Tiếng bà Thêm thủ thỉ trong đêm.

- Thì bà tính coi có đám nào. Con mình đẹp gái, hiền lành, đám nào mà chẳng ưng rước nó về.

 Hạ nằm yên vờ như đang ngủ. Quay mặt vào vách, nàng nghe tiếng sóng biển dội vào, lúc êm đềm, lúc lại gào thét dữ dội. Nàng thiếp đi trong tiếng sóng, tiếng khàn khàn và mùi khói thuốc của cha.

… Ngoài bãi, bà Thêm đang cặm cụi vá lại chiếc lưới đã cũ. Bà giăng lưới lên cây sào, chỗ này nắng. Bà con chòm xóm ra chợ cá về, túm tụm mỗi người một tiếng, thầm thì. Bà biết, họ buôn chuyện con dâu bà đi lấy chồng.

Mặc kệ, bà bỏ hết ngoài tai. Trong đầu bà đang nhẩm tính... Họ nhà trai qua rước dâu bà phải làm bao nhiêu mâm, thêm nhà gái nữa, vị chi là…Còn chiếc nhẫn vàng có hột ngọc bà cắc củm dành dụm lâu nay, ngày cưới bà sẽ đeo cho con dâu, chắc nó ưng lắm. Bà nhìn ông Thêm, dưới cái nắng chang chang, mồ hôi chảy ròng ròng xuống lưng. Ông đang cố quét nốt lớp dầu rái cho chiếc thuyền thúng.

Bà dừng tay vá, ngắm ông say sưa. Mới ngày nào ông còn là một chàng trai lực lưỡng nhất xóm chài. Bà cũng là cô gái xinh nhất nơi đây. Hai người nên duyên vợ chồng. Hơn năm mươi năm chung sống bà luôn làm khổ ông vì căn bệnh bẩm sinh khiến bà ốm đau dặt dẹo. Vậy mà chưa một lần ông than thở, đi biển về ông lao vào chăm bà như chăm con. Quần quật bao nhiêu năm, hai vợ chồng vẫn nghèo. Chữa chạy hơn ba năm bà mới sinh được mỗi mụn con trai là thằng Đăng. Theo nghề cha, giờ đã bỏ ông bà, bỏ vợ con ra đi. Ngày đó, có ai tưởng tượng được một người đàn ông mạnh bạo, lực lưỡng như ông lại gục trong tay bà.

- Mình xong chưa, rót tui miếng nước? - Ông Thêm hỏi, cắt dòng suy nghĩ của bà.

Bà Thêm vào nhà, trở ra với ly nước vối:

- Ông uống đi, đám con Hạ tôi tính cũng êm êm rồi - Bà Thêm âu yếm thấm mồ hôi trên lưng chồng bằng chiếc khăn cũ sờn.

- Nghĩ thương cái con, cứ sợ ba mẹ buồn - Ông nghèn nghẹn - Còn nhiêu đó bà cứ lấy lo đám cho con, nhà bên đó người ta khá giả, mình cũng phải sao cho tươm tất.

- Phải chi… - Nước mắt bà Thêm ứa ra.

- Thôi bà, đừng để con nó thấy - Ông Thêm đặt lon dầu xuống, vỗ nhè nhẹ vào lưng vợ. Bàn tay gân guốc của ông vụng về vỗ về bà - Nó giờ như con gái mình rồi, mất đi đâu… Nói bà nhưng ông cũng nghẹn ngào, quay mặt nhìn ra biển. Ông Thêm nay đã ngoài  bảy mươi, đi đứng, ăn nói hùng hục như con sóng dữ. Trai xóm chài hay tin Hạ đi lấy chồng, buột miệng hỏi, ông “hừ” một tiếng rồi im lặng chẳng nói thêm câu nào.

- Ba! Mẹ! - Hạ đứng sau lưng từ lúc nào. Ông Thêm quay lại. Bà len lén quệt giọt nước mắt còn ứa ra trên gương mặt hom hem, lấy giọng tươi tỉnh mắng yêu:

- Vô nhà đi con, ra đây chi cho nắng nôi.

- Ba mẹ vô ăn cơm đi, trưa rồi, để đó chiều con quét cho - Hạ đến bên ông Thêm, đậy nắp lon dầu, kéo ông đứng lên.

Âu yếm nhìn con dâu tíu tít đi trước, ông bà Thêm nhìn nhau, bà âu yếm thầm thì đủ để ông nghe:

-  Cha cái con, cứ quấn ba mẹ rồi làm răng mà đi lấy chồng...

 

* * *               

Sáng sớm nhà ông bà Thêm đã tấp nập. Ông Thêm diện bộ vét xanh, cơ thể của một lão ngư gân guốc, lực lưỡng như bị bó cứng đơ trong bộ vét. Ông Thêm lóng ngóng hết đứng lên lại ngồi xuống. Bà Thêm trong chiếc áo dài vàng, trông bà đen nhẻm, gầy gò. Cả xóm chài hôm nay không ra biển, họ kéo hết đến nhà ông bà Thêm, mỗi người phụ giúp một tay.

Hạ thoa một chút son, tóc buông xõa. Trong chiếc áo dài hồng nhạt trông nàng dịu dàng, gương mặt vẫn còn phảng phất nét trẻ thơ.Tiếng nhạc xập xình phát ra từ chiếc loa cũ kỹ làm cho cái nóng giữa mùa hè thêm ngột ngạt. Từ căn phòng nhỏ của hai mẹ con, Hạ yên lặng nhìn ra ô cửa. Chiếc thuyền của cha đang úp ngược trên bãi cát, chơ vơ. Đằng kia những tấm lưới đã cũ mẹ mới vá vắt ngang cây sào. Đó là những gì còn lại của gia đình nàng sau trận bão lịch sử đó, từ hôm nay nàng phải rời xa…

- Nhà trai tới rồi, ra đi con - Mẹ đến bên nàng, bà run run ôm con dâu vào lòng, nước mắt lại ứa ra trên gò má sạm đen.

Hạ nhẹ nhàng bước ra, tiếng cười nói râm ran lắng xuống, họ bận nhìn cô dâu xinh đẹp. Sau lời phát biểu của họ nhà trai, cha đến bên nàng, rưng rưng nắm tay con dâu:

- Từ hôm nay, vợ chồng tui xin được gửi con gái về với gia đình anh chị. Tui chỉ mong sao ở bên đó nó cũng được thương như ở bên này, vậy là tui mừng - Nói đến đó ông nghẹn lại. Bà Thêm đứng bên cạnh bật khóc tu tu.

Ông Thêm quàng qua vai bà, xoa nhè nhẹ :

- Nín đi, con hắn cười cho - Nói bà nhưng ông cũng rưng rưng, ông kéo Hạ lại gần, cầm bàn tay nàng đặt vào tay mẹ chồng đang đứng bên cạnh.

Từ lúc vào nhà làm lễ rước dâu, mẹ chồng Hạ vẫn ngồi yên, bà lặng lẽ nhìn gia cảnh đơn sơ. Ông bà Thêm trong bộ đồ ngày trọng đại trông càng hiền lành, chấc phác, bên cạnh cô con dâu hiền thục với chiếc áo dài hồng giản đơn, lòng bà ấm lại. Có lẽ con trai bà đã không chọn nhầm vợ. Nhớ ngày con trai đưa Hạ về nhà ra mắt, biết nàng đã qua một đời chồng, Hạ về rồi bà giãy nãy. Giờ thì bà yên lòng, nắm bàn tay nhỏ bé của nàng trong tay:

- Từ nay con cũng là con của mẹ - Nói rồi bà quay sang vợ chồng ông Thêm - Anh chị cứ yên lòng để cháu về bên đó.

Bà Thêm run run đeo vào tay Hạ chiếc nhẫn vàng đính hột ngọc. Ông Thêm lóng ngóng bên cạnh, tay chân cứ như thừa ra.

- Mẹ! Cu Bin chạy vào níu áo nàng - Mẹ ở nhà với con, đừng đi đâu! - Nước mắt nó giàn giụa. Ông Thêm cuống quýt bế nó ra ngoài. Hạ rưng rưng nhìn theo con trai. 

Đến giờ rước dâu, hai họ lục tục kéo đi. Ra đến ngõ, Hạ quay lại nhìn căn nhà, nơi sáu năm qua nàng đã ở đó, hạnh phúc, đau thương, mất mát. Sáu năm bao kỷ niệm với Đăng, với cha mẹ, với xóm chài… Mắt nàng nhòa đi.

Bà Thêm đến bên con dâu:

- Đi đi con, nhà người ta chờ ngoài kia.

Hạ luống cuống tà vén tà áo dài ra ngõ, chồng nàng đang đợi. Đoàn xe rước dâu lăn bánh, ông bà Thêm nhìn theo cho đến khi chiếc cuối cùng đi khuất, chỉ còn lại một lớp bụi mù.

Quay sang bà Thêm còn  ngẩn ngơ trông theo, ông nhẹ nhàng quàng tay qua vai ôm vợ vào lòng dỗ dành:

- Vô nhà thôi mình, còn cho thằng Bin ăn nữa, nó đang hờn.

Bà Thêm sực tỉnh, nhưng vẫn còn tần ngần đứng trông theo làn khói bụi. Ngón tay gầy gầy vẫn vân vê tà áo dài nhăn nhúm, bà lẩm bẩm "Về nhà người ta, lỡ có buồn thì về với mẹ, nghen con..."

      V.N.G 

Q. Sơn Trà - TP Đà Nẵng

                                                                              miengiao2007@gmail.com


 


READ MORE - BIỂN Ở BÊN KIA - Truyện ngắn Vũ Ngọc Giao

HOA TÍM NGƯỜI XƯA - Chùm ảnh - Chu vương Miện







 



READ MORE - HOA TÍM NGƯỜI XƯA - Chùm ảnh - Chu vương Miện