Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, September 19, 2020

TẢN MẠN ĐÔI ĐIỀU VỀ TRÀ (Kỳ 3) - Nguyên Lạc

 


SƠ LƯỢC TRÀ KINH CỦA LỤC VŨ


Ở phần trên có liên hệ đến Lục Vũ và tác phẩm danh tiếng của ông:  Trà Kinh (Kinh thư của Trà), ông đã định thức hóa Pháp điển về Trà. Ta thử xem sơ lược về Trà Kinh.


                                (Hình Thần Trà Lục Vũ)

 

1. Tiểu sử Lục Vũ

Lục Vũ (733–804), đời Đường,  tác giả cuốn Trà Kinh, người đất Cảnh Lăng, Hồ Bắc; theo bản đồ thì cặp sát Tứ Xuyên và Quý Châu (lúc đó thuộc Nam Chiếu/ Đại Lý).

Lục Vũ, tự là Hồng Tiệm, vốn là một đứa trẻ mồ côi, được một thiền sư tên là Thái Chúc ở Hồ Bắc nhận nuôi. Thiền sư này vốn là một người hâm mộ và sành điệu trà đúng với truyền thống Thiền thời đó. Sáu năm trời Lục Vũ lưu ngụ tại thiền viện Long Vân, thời gian này ông được chỉ dạy nhiều về cách pha chế và thưởng thức trà. Tuy nhiên bẩm tính của Lục Vũ thích Nho giáo hơn là Thiền học nên thường bị sư ông trách phạt; cuối cùng không kham nổi Lục Vũ bỏ trốn theo một gánh hát. May sao đến năm 14 tuổi Lục Vũ gặp được một hoàng thân; ông này nhìn ra tư chất của Lục Vũ và có nhiều giúp đỡ. Sau loạn An Lộc Sơn, Lục Vũ lui về ẩn dật, kết bạn với nhiều văn nhân và cho ra đời cuốn Trà Kinh.


2. Trà Kinh

Trà Kinh gồm 3 quyển, chia làm 10 thiên, mỗi thiên đi vào một nội dung: Nhất chi nguyên: nói về nguồn gốc cây chè; Nhị chi cụ: nói về 15 công cụ trồng chè, hái chè, chế biến chè; Tam chi tạo: nói tiêu chuẩn, yêu cầu khi chế biến trà; Tứ chi khí: giới thiệu 25 dụng cụ pha trà; Ngũ chi chủ: bàn về cách pha trà; Lục chi ẩm: nói về thú uống trà; Thất chi sử: ghi chép các trà nhân, trà thoại; Bát chi xuất: nói về các vùng trà; Cửu chi lược: nói về giản lược hoá một số khâu trong chế biến trà; Thập chi đồ: nói về các tranh ảnh vẽ về trà.


                                  (Hình Trà Kinh Lục Vũ)


- Chương tư dành riêng để liệt kê và miêu tả hai mươi bốn thứ "trà khí", bắt đầu từ cái lò ba chân cho đến cái tủ tre để đựng những dụng cụ ấy.


- Trong chương thứ năm, Lục Vũ trình bày phương pháp nấu trà. Trừ muối, ông bỏ hết các thứ gia vị khác. Ông cũng đề cập tới vấn đề mà người ta đã bàn đến rất nhiều là vấn đề chọn nước và mức độ đun nước sôi. Theo ông thì nước sơn tuyền tốt nhất, rồi đến nước sông, và sau chót nước các nguồn khác. Có ba độ nước sôi: độ thứ nhất, khi có những bọt nho nhỏ như mắt cá bơi trên mặt nước; độ thứ hai, khi bọt nước trông giống như những hạt châu bằng pha lê lăn đi trong suối; độ thứ ba, khi sóng nước sủi lên sùng sục trong ấm. Người ta đem Trà bánh hong trước bếp lửa cho đến khi mềm ra như cánh tay con nít, rồi đặt giữa hai tờ giấy thật tốt, nghiền vụn ra. Khi nước sôi ở độ thứ nhất thì bỏ muối vào, ở độ thứ nhì thì bỏ trà. Đến độ sôi thứ ba thì đổ một thìa nước lã vào ấm để "trấn" trà và làm cho "nước hồi phục lại nguyên khí". Rồi người ta rót trà ra chén dể uống. Ôi cam lộ! Những chiếc lá nhỏ mong manh treo lên như những đám lân vân trên nền trời thanh quang, hoặc nổi vật vờ như những đóa sen trên dòng thủy lục.

Chính về món đồ uống này mà Lỗ Đồng, một thi nhân đời Đường đã viết: "Chén thứ nhất dấp ướt môi và cổ họng; chén thứ hai phá tan nỗi cô quạnh của ta; chén thứ ba thấm vào lòng ruột khô khan của ta và kiếm ra được năm ngàn cuốn biểu ý văn tự kỳ dị. Chén thứ tư làm cho ta dâm dấp mồ hôi, - bao nhiêu những điều tà ác ở trên đời đều tiết ra khỏi lỗ chân lông ta. Uống đến chén thứ năm, lòng thấy lâng lâng thanh tịnh; chén thứ sáu chiêu vời ta tới cõi bất tử. Chén thứ bảy - a, nhưng ta không thể nhắp hơn được nữa! Ta chỉ thấy luồng gió lạnh thổi phồng cánh tay áo ta lên thôi, bồng Lai Sơn ở đâu? Thôi hãy để cho ta cưỡi ngọn gió mát này bay đi đến đó cho xong"-  như đã biết ở phần trên.

 

- Chương thứ mười trà đồ, tức đem chín mục trên chép ra lụa trắng treo lên, để mục kích mà hiểu rành rọt được trà vậy.


Cuốn Trà Kinh là cuốn sách Bách khoa toàn thư về chè lâu đời nhất từ đời nhà Đường và có ảnh hưởng sâu xa, rộng lớn đến các đời sau này. Người Trung Quốc gọi Lục Vũ là Trà Thánh, và ông  được thờ như vị thần giám hộ của các nhà buôn trà. Hiện nay, tại quê hương Lục Vũ, nhân dân đã xây dựng một nhà bảo tàng kỷ niệm Lục Vũ, để ghi nhớ đến người đã có cống hiến lớn cho văn hoá và lịch sử chè Trung Quốc. Ngoài ra còn dựng một tượng đồng Lục Vũ đang ngồi uống một chén chè tại quê hương Thiên Môn của ông.


CÁC HÌNH THỨC TRÀ


1. Đoàn Trà

Đoàn trà hay trà bánh: Là khối nguyên lá hay đã xay nhỏ nén lại. Lá trà sau khi thu hoạch xay ra hay để nguyên rồi đem hấp chín, sau đó cho vào khuôn ép (có lò sản xuất ép khuôn mang dấu hiệu riêng của mình). Nếu lá trà xay thành bột, người ta hồ thêm bột gạo rồi mới ép. Cuối cùng đem sấy cho khô. Trà bánh là nguyên liệu cho nhiều loại thức uống như trà sữa của Mông Cổ và trà bơ của Tây tạng.

Thời Lục Vũ - thời Đường, người ta uống theo lối Đoàn Trà thô sơ: Trà khô được vo tròn thành bánh, trước lúc uống trà phải mang bánh trà ra hong trước bếp cho mềm trà, rồi đặt giữa hai tờ giấy sạch mà nghiền vụn ra. Chờ nước vừa sôi thì bỏ muối vào, chờ nước sôi thêm một lúc thì mới mang trà đã nghiền mà bỏ vào. Nước sôi sùng sục như giận dữ là lúc quan trọng nhất; cần phải bỏ vào lúc ấy một thìa nước lạnh gọi là để trấn trà, và là phục hồi tính của nước, tức là nguyên khí. Sau đó mới mang pha ra để uống.


2. Mạt trà

Mạt trà hay trà bột.

Đến đời Tống (962-1274) lối uống trà của Lục Vũ tức Đoàn Trà đã được bỏ đi để uống theo lối Mạt Trà- Lối nầy được gọi là đệ nhị trà phái. Trà được bỏ vào cối đá nghiền thành bột rồi mang đặt vào chén, đổ nước thật sôi, quấy đều bằng một chiếc "trà tiển" - thanh quậy trà- là dụng cụ hình như một cái chổi bằng tre, vót thật khéo, chọn tre tốt; một đầu chẻ tách ra thành nhiều que như que tăm dài, một đầu không chẻ để làm cán. Tiển là để chùi nồi, chùi ấm như ta vẫn thấy, nhưng đây cũng là một loại tiển được vót công phu hơn, thanh tao hơn đặc biệt để quậy trà.

Người Nhật và lối Trà Đạo của họ là lối uống theo nghi thức của đệ nhị trà phái thời Tống nầy. Mạt trà là loại bột trà xanh dùng trong nghi lễ trà đạo của Nhật bản, có màu xanh lục và mùi thơm tự nhiên của trà. Mạt trà thường cao giá hơn các thứ trà khác và có lẽ hiện nay ngoài Nhật Bản khó tìm nơi nào có xưởng sản xuất loại trà này.  Hình thức trà này có từ đời nhà Tống, truyền qua Nhật  và có liên quan đến Thiền tông.


3. Yêm trà hay Tiễn trà

Yêm trà còn gọi là tiễn trà hay trà ngâm, là loại trà ngày nay đang dùng. Loại trà này ra đời do Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương (trị vì 1368-1399) người sáng lập ra nhà Minh, quyết định bỏ hẳn lối sản xuất trà bánh/ trà ép khuôn và trà bột vì quy trình sản xuất các loại trà này đòi hỏi rất nhiều thời gian và công sức, thay thế vào đó là yêm trà. Sự ra đời loại trà này làm phát triển ngành gốm sứ phục vụ việc uống trà - trà cụ: Quyết định dùng trà ngâm/ yêm trà là động cơ thôi thúc các nghệ nhân lò Cảnh Đức Trấn, tỉnh Giang Tây và lò Yixing, tỉnh Giang Tô vẽ ra nhiều kiểu ấm và chén tinh xảo cho cách thức uống trà mới. Trà bột nhường chỗ cho trà có dạng lá tự nhiên và có cách chế biến như ngày nay. Đó là những lá trà phơi sấy khô, có thể ướp hương hay không, hãm với nước nóng mà dùng.

Loại hình trà ngâm có rất nhiều chủng loại và mỗi chủng loại có nhiều danh trà khác nhau. Hiện nay người ta lan truyền 10 loại đệ nhất danh trà Trung Hoa (dĩ nhiên không chính thức ) là: Tây Hồ Long Tỉnh của Hàng Châu, Đỗng Thính Bích Loa Xuân của Giang Tây, An Khê Thiết Quan Âm của Phúc Kiến, Hoàng Sơn Mao Phong của An Huy, Quân Sơn Ngân Châm của An Huy, Kỳ Môn Hồng Trà của An Huy, Vũ Di Nham Trà của Phúc Kiến, Lục An Qua Phiến của An Huy, Tín Dương Mao Tiêm của Hà Nam, và Đô Vân Mao Tiêm của Quỳ Châu. Chúng ta sẽ bàn vài danh trà tiêu biểu ở phần dưới.

Phương pháp dùng tiễn trà, trà ngâm/ hãm trong nước sôi, của hậu đại Trung Hoa tương đối là mới đối với Nhật Bản, vì mãi giữa thế kỷ mười bảy người Nhật mới biết đến phương pháp này.

(Còn tiếp nhiều kỳ)


Nguyên Lạc

 


READ MORE - TẢN MẠN ĐÔI ĐIỀU VỀ TRÀ (Kỳ 3) - Nguyên Lạc

ĐỌC ĐƯỜNG THI HỒ VĂN CHI VỀ DỊCH COVID TRONG TẬP THƠ “MÙA PHỐ VẮNG” - Châu Thạch

 

                           Nhà thơ Hồ Văn Chi

     Sáng nay. 17-9-2020, dịch Covid vừa đi qua thì cơn bão số 5 sắp đến. Đà Nẵng mưa buồn. Tôi và nhà thơ Đỗ Hùng Luân ngồi uống cà phê dưới mái hiên vắng vẻ của một cửa tiệm bên đường. Nhà thơ Hồ Văn  Chi đến, ngồi 10 phút, uống ly cà phê, tặng chúng tôi tập thơ “Mùa Phố Vắng” rồi cáo lỗi ra về vì có việc bận. 

     Tôi về nhà mở sách xem, thấy có trên 200 bài Đường thi của các nhà thơ  khắp nước  xướng họa cùng Hồ Văn Chi trong thời gian giãn cách xã hội vì dịch Covid hoành hành. Tất nhiên trong tập thơ nầy có  rất nhiều tuyệt tác. Thế nhưng tôi đọc thơ Hồ Văn Chi trước, vì  nhà thơ là người tôi từng ái mộ bởi những tác phẩm Đường thi của ông  trước đây như “Đọc Kiều”, “Nhật Ký Word Cup 21” có nhiều giá trị văn học.

     Quả vậy, liếc mắt đọc qua một vài bài Đường thi của Hồ Văn Chi, cảm xúc bắt tôi ngồi dậy viết ngay những điều vừa nẩy sinh trong lòng. Tôi không ngờ dịch Covid đem đến sự mất mát cho toàn thế giới, nhưng riêng tôi, cũng có niềm vui được thưởng thức văn chương do Covid mà có. 

     Phần một của “Mùa Phố Vắng” gồm một số bài thơ Hồ Văn Chi sáng tác và  họa của thi hữu. Ở những trang đầu, bài thơ “Covid-19 Ngâm Khúc” gồm 27 bài thơ Tứ Tuyệt liên vận, với 108 câu  thơ, nhà thơ Hồ Văn Chi đã kể lại toàn bộ diễn tiến cơn dịch Covid-19 xảy ra trên toàn thế giới một cách đầy đủ. Thế nhưng trong nhiều bài họa sau đó, Hồ Văn Chi đã khéo léo cô đọng lại trong những bài Đường thi thất ngôn bát cú rất thanh tao và dễ hiểu vô cùng:                

Đầu xuân bỗng dịch phát liên hoàn              

Lũ quỷ gai bùng, thập xứ tan!              

Mỹ, Ý, Trung, Hàn… bao mạng thiệt              

Nga, Sing, Đức, Nhật… lắm người lan              

Thương nhiều bác sĩ đà gây bệnh              

Xót những người già phải lụy nan              

Nước Việt chung tay phòng chống tốt              

Trong tầm kiểm soát, khá an toàn.

                             (Dịch Covid-19)               

 

Dịch đã lan vào cả nước ta               

Nguồn lây lắm hướng cứ theo đà               

Người từ ngoại nhập mang mầm tới               

Kẻ giấu mình vương phát nhiễm ra               

Chính phủ chuyên tâm lo đủ chuyện               

Nhân dân chỉ việc ở trong nhà               

Đồng tâm diệt hết quân trùng độc              

Chiến thắng, lại càng khẳng định nha!

                        (Chống Dịch Corona)

     Trong khi mà “Nhân dân chỉ việc ở trong nhà” thì nhà thơ Hồ Văn Chi bằng những vần thơ thâm thủy, diễn tả tâm trạng của thi nhân trong thời gian ấy, phát họa phong cảnh trong thành phố, chuyển tải hoàn toàn sự thanh nhã của người thơ trong những ngày phải chịu gò bó cả phần xác lẩn phần hồn:                  

Chống dịch ngồi nhà…mãi nhớ em                  

Trường canh nẫu ruột…gió lay rèm                  

Ai ca nhè nhẹ đầu con ngõ                  

Ta giấu âm thầm giữa trái tim                  

Bạn rủ, chờ lâu…không gặp vội                  

Thơ hòa, hẹn mãi…vẫn nằm im                  

Mong ngày Covid tiêu trừ sạch                  

Mở hội Đường thi, sẽ đến tìm!

                  (Hai Đầu Nỗi Nhớ)                   

 

Đương kỳ chống dịch, phố buồn tanh                   

Lá đón hè sang phủ rợp cành!                   

Phước Mỹ bờ yên không khách tắm                   

Hàn Giang bến tịnh chẳng thuyền tranh!                   

Mênh mông đại lộ xe thưa thớt                   

Lặng lẽ cao lầu dáng lịch thanh                  

“Giãn cách”. Chung tay trừ lũ quỷ                   

Đà Thành vạn thuở vẫn tươi xanh.

                  (Đà Thành Thời Covid)

    Qua phần hai của “Mùa Phố Vắng” gồm những bài thơ Hồ Văn Chi xướng cho các thi hữu họa. Phần nầy ngoài những bài thơ nói về nguyên nhân bùng phát Covid-19 vòng hai và những hệ lụy do nó gây ra, nhà thơ Hồ Văn Chi còn có những bài thơ rắn rỏi, cương quyết chỉ trích những phần tử xấu trong xã hội đã tiếp tay cho dịch bệnh lây lan:                     

Chống dịch, ai ai cũng dốc lòng                     

Sao mà lắm kẻ lại cuồng ngông!                     

Đua xe, rước cưới… lờ công luận                     

Quậy chốt, xàm ngôn…tỏ bất đồng                     

Băng hoại tình người, nghe ghét lắm                     

Coi thường phép nước, đáng buồn không?                     

Lê dân đã phạt theo điều luật                     

Phụ mẫu càng nên xử tới cùng!

                                                (Ngông!)

     Trong khi đất nước đang đối mặt với  muôn vàn khó khăn do dịch bệnh gây ra, thì người lính một phần phải giúp đở người dân qua cơn kiếp nạn, một phần phải lo giữ yên bờ cõi. Nhà thơ Hồ Văn Chi không quên những người đang bảo vệ  biên cương, ông tặng họ bài thơ đầy tha thiết của cõi lòng mình:                  

Biên phòng, vốn dĩ rất gian truân                  

Chống dịch, càng thêm khó bội phần                   

Chốt lẻ, đêm dài lo mọi hướng                  

Rừng sâu, gió lạnh thấu toàn thân                  

Canh từng lối mở, không coi nhẹ                  

Soát mỗi người qua, thật rất cần                  

Mấy tháng xa nhà tuy nhớ lắm                  

Nhưng vì nhiệm vụ trước toàn dân!

                 (Lính Tuần Biên Mùa Dịch)

     Thế rồi nhờ lòng cương quyết chống Covid của mọi tầng  lớp xã hội, dịch lệ cũng qua, nhà thơ Hồ Văn Chi không quên nhắc nhở chớ chủ quan. Bài thơ như một lời hịch rất bình dân, thâm tình, dễ hiểu, vang vọng vào lòng người ý niệm một sự đề phòng cần thiết và hữu ích:                         

Cả nước, gần đây nhiễm tạn dừng                       

Nhưng toàn thế giới vẫn chưa ngưng                       

Bao vùng thất thủ… buồn vô độ                       

Lắm cách vong thân…thảm quá chừng                       

Mới ổn riêng mình, đừng hớn hở                       

Chưa yên đại cục, chớ lừng khừng                       

Bao giờ triệt tận Covi đã                       

Mới thảy cùng nhau thỏa nỗi mừng

                                  (Chớ Chủ Quan)

     Trên đây người viết chỉ trích 7 bài thơ trong 30 bài thơ Hồ Văn Chi xướng họa trong tập thơ nầy. Nhìn qua, ta thấy mỗi bài Đường thi Hồ Văn Chi sáng tác rất dễ hiểu, rất bình dân, ý hay tiềm ẩn dưới những từ ngữ dung dị. Đường thi của Hồ Văn Chi không phải là thứ thơ bác học với Hán tư, điển tích, nhưng lại là một thứ thơ xúc tích như thơ bác học. Đường thi Hồ Văn Chi khi tả tình thì tình sâu đậm, khi tả cảnh thì cảnh hiện rõ như tranh, tất cả không cầu kỳ, không bí hiểm từ ngữ, dễ nhìn, dễ thấy, dễ cảm thông đối với tất cả mọi người.

 

    Tập thơ “Mùa Phố Vắng” còn là một dấu ấn thời cuộc, lưu lại cho đời bằng từ ngữ thơ, chứa trong đó diễn biến thới sự của cơn dịch, có giá trị văn học làm tư liệu cho đời sau. Chỉ tiếc một điều, tập thơ còn chưa đề cập nhiều đến nghĩa cử thiện nguyện của người với người trong mùa dịch, sự hy sinh cao cả của những thiên thần áo trắng đã xả thân vì nghĩa quên mình. Nếu có thêm những chủ đề ấy nữa thì tập thơ trọn vẹn vô cùng.

                                                                       Châu Thạch


READ MORE - ĐỌC ĐƯỜNG THI HỒ VĂN CHI VỀ DỊCH COVID TRONG TẬP THƠ “MÙA PHỐ VẮNG” - Châu Thạch

NGƯỜI ĐÀN ÔNG ĐI VỀ PHÍA BIỂN - Truyện ngắn Lê Hứa Huyền Trân




 NGƯỜI ĐÀN ÔNG ĐI VỀ PHÍA BIỂN

Truyện ngắn

Lê Hứa Huyền Trân


Như một cái lẽ thường nào đó, khi con người ta đứng trước biển, người ta thường đượm buồn. Cái buồn dường như không có nguồn cơn, chỉ vắt dòng đi qua khắp miền kí ức, rơi tõm vào dòng sóng cuộn xô rồi hóa thành nước mắt trên đôi mắt mọng đầy những quầng thâm của người đàn ông. Đó là đôi mắt của ba tôi, đôi mắt với những quầng đen, đôi chân mày rậm, và ánh nhìn lúc nào cũng xa ngai ngái. Thi thoảng nếu chỉ cần nhìn đôi mắt ấy trong đêm, đôi mắt ấy quắc lên giận dữ, người ta sẽ cảm thấy sợ, nhưng chỉ cần nhìn dáng ông bước đi, tập tễnh từng bước và vài tiếng ho hục hặc kéo theo, người ta sẽ biết, người đàn ông ấy đang yếu đuối trước cuộc đời. 

Tôi vẫn hay nhìn ba ngóng trông ra ngoài phương xa một cách xa xăm và đầy phiền muộn như thế. Mỗi khi ngắm nhìn hình bóng ba đang ngả rạp trên cát vào mỗi xế chiều, lòng tôi lại dấy lên nỗi niềm gì đó rưng rưng khiến tôi chực khóc. Và những lúc ấy ba sẽ đến bên tôi, bế thốc tôi lên, rồi lăn tròn những bước đi dài trên cát, tiếp tục đi về phía ánh mặt trời, cứ thế, đưa tôi đến đường chân trời mà suốt thời thơ bé tôi đã luôn mơ mình sẽ tới. 

Ba luôn nhìn vế phía biển, bởi nơi đó có mẹ, người đàn bà bám biển cùng những người đàn ông. Một người đàn bà khi phải cuộn mình trước sóng gió cuộc đời rồi vững chãi tay bè tay lưới là người đàn bà khiến ta ngưỡng mộ nhất. Thời chiến, ba là người anh hùng, là người đội trưởng khiến cả quân đoàn ngưỡng mộ, ba xông pha trận mạc, ba quên bản thân mình. Thế rồi hậu quả chiến tranh là vết đạn còn cắm ở nơi chân hành ba mỗi khi trái gió trở trời lại lên cơn đau nhức. Những năm tháng tôi lớn lên tôi những tưởng không thể chịu được mỗi mùa bão đến. Căn nhà nhỏ liêu xiêu đã bao lần chực ngã đổ chứa bên trong nó là cả cơn bão nhỏ của gia đình, với những lần ba đớn đau quằn quại. Nhiều đêm tôi nhìn mẹ “đuổi vội” tôi đi ngủ rồi chong đèn thức cả đêm trông ba; Nhiều đêm tôi thấy ba cuộn mình ôm lấy chân, lấy tay rồi giọt nước mắt đàn ông rơi đầy trên gối. Nước mắt người đàn ông dường như khó rơi ra lắm, nó thường hay quay ngược vào trong lòng để phơi bày niềm vui giả dối, nên một khi nó đã rơi ra, thì nỗi đau mà người đàn ông ấy chịu đựng hãy là to lớn lắm.

Mẹ yêu thương ba bằng cả trái tim, căn nhà bên bờ biển chưa khi nào ngớt tiếng cười trong veo của những tình cảm vô cùng chân thật. Làng chài be bé nơi tôi sống nuôi tôi bằng những đồng tiền ít ỏi đan lưới của mẹ và làm gỗ của ba. Gia đình tôi coi như có đồng ra đồng vào khi công việc ba ổn định thì nguy cơn ập đến. Tôi còn nhớ lúc ấy tôi và đám bạn vẫn còn mai đi bắt còng bên biển, tôi còn đang nhìn những cánh buồm giương gió ngoài khơi xa thì tin dữ ập đến: ba tôi đột quỵ. Khi gia đình tôi đến bên ba, bằng nụ cười yếu ớt ba vẫn vuốt tóc chúng tôi:

           “Ba sẽ ổn thôi mà, con gái!”

           “Lúc nào ba cũng nói ba sẽ ổn thôi!” Tôi khóc òa lên khi nhìn ba mình đang nghiêng mình trên chiếc giường trắng phau đầy mùi sợ hãi. “Ba à, ba đau lắm phải không?”

Ba nhìn tôi cười rồi không nói gì nữa. Sau lần ấy, gánh nặng gia đình đổ lên vai mẹ. Cả tháng trời ba nằm trên giường bệnh là cả tháng trời mẹ chạy vạy khắp nơi thang thuốc cho ba, cứ khỏe chút là ba lại đi làm cá, ba đi đan lưới chứ không thể làm công việc nặng như trước nữa. Mẹ làm nhiều hơn,sự hi sinh và tình yêu cao thượng mà lúc ấy mẹ giành cho ba và gia đình không bút mực nào tả xiết. Còn tôi, mệt nhoài với những cơn mơ và những lần đi làm thêm đôi lần phải lên trường trễ. Thế rồi, một lần tôi nghe mẹ bàn với ba:

"Em đi biển, anh ạ!" Giong mẹ đầy cương quyết nhưng cũng có hơi chùng. Ba không nói gì, mẹ tiếp: "Anh Sám nói đợt này đi biển thắng đậm, anh sẽ sắp xếp chỗ cho em, chứ em cứ làm mấy việc lặt vặt thế này không nuôi nổi gia đình mình. Cái Bi sắp vào cấp hai nữa." Ba vẫn không nói gì, khẽ ho hục hặc rồi đi vào nhà trong. Mẹ ngồi đó, chong đèn suốt đêm, suy tư nín lặng.

Tôi cuộn tròn người lại lăn vào lòng ba, ba nặng nhọc đưa tay ôm tôi vào lòng. Những vết thẹo thời chiến trên tay ba không làm tôi sợ, dù đột nhiên nó trở nên bóng lưỡng dưới ánh trăng mờ.

           “Ba à, sao hồi nãy má hỏi mà ba không nói gì?”

           “Ba không biết nói gì con ạ, vì nói gì cũng trở nên dư thừa trước những gì má con hy sinh.”

Tôi thấy vòng ôm của ba như chặt hơn, và tôi chắc rất nhiều lần. Trong giấc ngủ tôi thấy bờ vai mình ấm lên bởi những giọt nước ở nơi nào đó rơi ra nóng hổi. Ngày hôm sau mẹ đi, ba chuẩn bị đủ thứ cứ như mẹ đi về một nơi xa lắm. Tất cả cứ như đang hoán đổi, người đàn ông trở thành người mẹ ở nhà chăm lo vun vén cho tổ ấm đợi người phương xa trở về, còn người đàn bà trở thành trụ cột trong gia đình, đi bươn chải cùng gió sương với những con thuyền đầy những người đàn ông đượm mùi mưa nắng. 

Mẹ đi, sau khi xong hết việc, ba vẫn hay đi về phía biển, mỗi khi mặt trời lặn, ba ngồi phịch xuống cát, hai tay bó gối ôm lấy hai chân ngóng khơi xa. Trên ánh mắt người đàn ông ấy lúc nào cũng như có sương, bờ mắt nhăn nheo in hằn vết chân chim cố ép sao cho nước mắt không thể nào rơi xuống. Nước mắt người đàn ông ấy dường như đã rơi hết trong đêm người đàn bà quyết định bước ngoặt cuộc đời mình. Tôi hiểu ba không thể khóc, vì mẹ đã khóc đủ cho ba. Ba càng không thể khóc vì ba muốn mẹ sẽ về bình yêu sau những lần giương khơi ngoài biển cả. Ba không thể khóc vì quyền của người đàn ông là được phép giấu yêu đuối của mình vào trong mà không ai được phép hỏi. Dẫu ba rất muốn khóc, vì người đàn ông mà phải để cho người mình yêu thương dạn dày gió sương nơi biên cả thì đau đớn nào hơn?

Ba tôi, người đàn ông ấy cứ có một thói quen quen thuộc là cứ rạng sáng lại đi về phía biển, nhìn ngắm những con tàu, hai mắt ông cứ nhướn lên như kiếm tìm một điều gì đó quan trọng. Mái đầu hoe bạc như chói sáng cả rạng đông. Và cứ mỗi chiều tà ông như từ biển trở về, nụ cười rung rinh, đôi mắt ngời sáng, ánh nhìn chưa khi nào thôi xa xăm đọng chút tin yêu. Những vết chân ba đi mỗi ngày khi mẹ bám biển dường như đã in hằn trên khắp bãi biển này. Sau lưng ba tôi nhìn thấy cả niềm tin đong đầy trước mắt. Hôm nay, lại như mọi khi, tôi rướn người định gọi ba về ăn cơm, thì thấy phía xa xa, ba, vẫn nụ cười rung rinh khi ấy, nắm tay mẹ, như đã đợi được, trở về sau một chuyền giong khơi…



Tác giả  : Lê Hứa Huyền Trân

Hội viên Hội VHNT Tỉnh Bình Định


READ MORE - NGƯỜI ĐÀN ÔNG ĐI VỀ PHÍA BIỂN - Truyện ngắn Lê Hứa Huyền Trân

BẢNG LẢNG - Thơ Trần Đức Phổ

 

Nhà thơ Trần Đức Phổ

Bảng Lảng


Thương vì ai, nhớ vì ai
Tiếng con chim vịt kêu hoài mé sông
Bên hiên rụng cánh hoa hồng
Dư âm bảng lảng hương nồng ngày xuân

Rót đầy chén tống chén quân
Tiễn em về chốn thị thành phồn hoa
Dòng châu trước lúc đi xa
Dẫu không cam lộ cũng là dược tiên

Dốc bầu sót chút hơi men
Tình xưa mật đắng đan xen ngọt ngào
Cuối trời lấp lánh vì sao
Mòn con mắt đợi dẫu bao muộn phiền

Núi sông chưa vẹn phỉ nguyền
Thì thôi cũng chút tình duyên bọt bèo
Rượu suông, cảnh vắng buồn teo
Chiều nay rót cạn bao nhiêu chung tình?

Đường xa bước mỏi gập ghềnh
Gió mây lãng đãng lênh đênh phận người
Vẫn là em, vẫn là tôi
Chỉ là nuối tiếc một thời vu vơ

Gặp chi giây phút tình cờ
Rồi nay lối mộng đường mơ tro tàn
Nâng ly cạn chén nồng nàn
Trăm năm còn cái hồng nhan ví dầu

Tạ tình nhau, tạ tình nhau
Trái tim lỗi nhịp vẫn màu đam mê.

--
tranducpho

READ MORE - BẢNG LẢNG - Thơ Trần Đức Phổ

NẮNG VƯỜN THU - Thơ Tịnh Bình

 


NẮNG VƯỜN THU

 

Ai đang rót mật vào thu

Vàng mơ vạt nắng, vàng bờ cúc hoa

Giọt sương ban sớm la đà

Tiếng chim ngọt giọng chợt xa chợt gần

 

Vườn thu hương trái chín dần

Chuồn chuồn cao thấp phân vân cánh mềm

Khúc ru nhịp võng êm đềm

Bông mù u trắng rụng miền ca dao

 

Tím bèo đan kín mặt ao

Mưa qua ngõ vắng ướt màu áo xưa

Hoa chiều phơ phất giậu thưa

Chút mây chút gió đã thừa luyến vương

 

Heo may se sẽ mùa thương

Cầm tay lúng liếng má hường môi xinh

Vay thu vạt nắng lung linh

Vàng mơ áo lá tự tình lời thơ...

 

                             Tịnh Bình

                            (Tây Ninh)


READ MORE - NẮNG VƯỜN THU - Thơ Tịnh Bình