Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, July 20, 2019

VỀ VẤN ĐỀ NGUỒN GỐC THƠ LỤC BÁT - Nguyên Lạc





VỀ VẤN ĐỀ NGUỒN GỐC THƠ LỤC BÁT
                                                       Nguyên Lạc

Trong Facebook của nhóm Diartlogue - văn đàm có đăng bài viết “Lục Bát: Của Ta Hay Của Tàu”, tác giả Đỗ Quý Dân cùng lời mời tranh biện. Thấy tầm quan trọng của vấn đề nguồn gốc này, tôi xin ghi ra đây nguyên văn bài viết của ông Đỗ Quý Dân cùng lời phản biện của tôi.
Sau đây là nguyên văn bài viết của ông Đỗ:

LỤC BÁT: CỦA TA HAY CỦA TÀU?[*]

Từ trước đến nay nhiều người cho rằng thể thơ lục bát là do người Việt chúng ta đặt ra. Tuy nhiên, thể lục bát đã được sử dụng trong kinh, truyện, và sử của Trung Quốc (Kinh Dịch, sách Trung Dung và Tống Sử). Vậy phải chăng chúng ta đã mượn lục bát từ người Tàu?
Phần diễn giảng hào lục tam của quẻ Khôn trong Kinh Dịch có hai câu như sau:

“Lục tam, hàm chương khả trinh
Hoặc tòng vương sự, vô thành, hữu chung.”

Đúng là lục bát. Từ số chữ đến cách gieo vần.

Trong sách truyện (Trung Dung) có hai câu:

“Phù thủy, nhất thước chi đa
Cập kỳ bất trắc, ngoan đà giao long.”

Rõ ràng là lục bát. Có khác chăng là lời thơ bằng Hán tự.

Còn sách Tống Sử có hai câu:

“Đế sĩ Sái Xác hữu công,
Sử chi tòng tự Triết tông miếu đình...”

Cũng lại lục bát. Trước khi nên thơ văn của Việt Nam được phát triển.
Khi nhắc đến vấn đề này, cụ Ngô Tất Tố mượn nhân vật “Cụ bảng”, thầy dạy học của Đào Vân Hạc trong “Lều chõng”, để bàn như sau:
“ Cũng vì có mấy câu đó cho nên từ xưa đến nay đã có nhiều người cho rằng: lối văn trên sáu dưới tám của ta gốc ở kinh, truyện và sử mà ra. Nhưng theo ý ta, thì nói như vậy có lẽ cũng quá khiên cưỡng. Trời đã sinh ra mỗi nước có một thứ tiếng, thì tất nhiên mỗi nước cũng phải có một điệu hát. Nếu bảo điệu hát lục bát gốc ở kinh, truyện và sử, thì sao ở Tầu lại không có cái thể văn ấy? Tuy vậy, các cụ đời trước nói thế, bây giờ mình cũng hãy hay rằng thế, để rồi kê cứu dần dần, không nên vội vàng bài bác.” – trích “Lều Chõng” của Ngô Tất Tố
Không biết đúng sai thế nào, tôi chỉ biết người Việt chúng ta tự ái rất cao, tìm đủ mọi lý lẽ để chứng minh mình không lệ thuộc Tàu, nhưng cái mà chúng ta hay gọi là “chứng minh” chỉ là những ý kiến hết sức chủ quan, không dựa trên căn bản biện chứng vững chắc. Người Nhật cũng mượn nhiều từ văn hóa Trung Quốc, nhưng họ không phủ nhận điều đó mà chỉ đem mấy cái đã “mượn” kia làm cho hoàn hảo hơn rồi lấy đó làm tự hào. Sao người Việt chúng ta không làm được như người Nhật nhỉ? Cứ nhận là lục bát gốc ở Tàu, nhưng người Việt chúng ta đã biến nó thành thể thơ riêng, đặc biệt của mình đi, có làm sao đâu?
Chỉ sợ cái tự ái rất Việt Nam sẽ ngăn cản chúng ta làm chuyện đó.
                                                                  Đỗ Quý Dân

NHỮNG LỜI PHẢN BIỆN

Tôi sẽ lần lượt phản biện về câu “thơ” trong Kinh Dịch cùng 2 câu trong Trung Dung và Tống sử mà ông Đỗ cho là lục bát, cùng vài điểm nhỏ về “tự ái” dân tộc.

1. Về Kinh Dịch

Vì trong bài viết của Đỗ Quý Dân có liên hệ đến Quẻ Dịch - hào Lục tam - nên tôi ghi ra đây sơ lược vài hàng về Dịch:
Kinh Dịch là một trong ba bộ kinh cổ nhất của Trung quốc, sau Kinh Thi và Kinh Thư, nhưng nguồn gốc của nó (tức bát quái) thì có thể sớm hơn, vào cuối đời Ân, khoảng 1.200 năm trước Tây Lịch.
Nó không do một người viết, mà do nhiều người góp sức trong một ngàn năm, từ Văn Vương nhà Chu mãi đến đầu đời Tây Hán.
Vì nó được “tập đại thành” có hệ thống và giảng giải sơ khởi bởi Chu Văn Vương, và được giải thích rõ thêm bởi con ông là Chu Công nên thường được gọi là Chu Dịch. (Cũng có nhiều nguồn khả tín cho biết Dịch phát xuất từ nước nông nghiệp: Lạc Việt nên còn được gọi là Việt Dịch).
Điều kỳ dị nhất của Dịch là nó chỉ dựng trên thuyết âm dương, trên một vạch liền ____ tượng trưng cho dương, một vạch đứt __ __ tượng trưng cho âm. Hai vạch đó chồng lên nhau, đổi lẫn cho nhau nhiều lần thành ra tám hình bát quái, rồi tám hình bát quái này lại chồng lẫn lên nhau thành sáu mươi bốn hình mới: Lục thập tứ quái: 64 quẻ.
Sáu mươi bốn quẻ mới này gọi là trùng quái (quẻ trùng) để phân biệt với tám quẻ nguyên thủy gọi là đơn quái (quẻ đơn).
Mỗi quê trùng có 6 vạch - gọi là hào - thứ tự từ dưới lên trên là: Sơ, nhi, tam, tứ, ngủ và thượng. Gọi là thượng mà không gọi là lục vì trong Kinh Dịch Lục (6) là Âm: (vạch đứt: _ _ ), Cửu (9) là Dương: (vạch liền: ___ ). Riêng đặc biệt 2 quẻ Thuần Càn và Thuần Khôn có thêm hào 7 gọi là dụng
Thí dụ: Thượng lục là hào 6 âm, Thượng cửu là hào 6 dương, Cửu ngủ là hào 5 dương v.v ...
[Trích QUẺ DỊCH, CÁCH LẬP VÀ GIẢI ĐOÁN - Nguyên Lạc ] [*]
Trong bài, Đỗ Quý Quân nói hào “lục tam” nghĩa là hào 3 âm của quẻ Khôn/ Thuần Khôn
Thử xét quẻ trùng này:
QUẺ THUẦN KHÔN
Quẻ Thuần Khôn là quẻ thứ 2 trong 64 quẻ Dịch, nó gồm 6 vạch âm: (vạch đứt: _ _ ). Hào từ của quẻ Khôn (có thêm hào dụng như đã nói) từ dưới lên trên, kể cả lời Kinh là:
7. DỤNG LỤC: Lợi vĩnh trinh.
6. LỤC THƯỢNG: Long chiến vu dã, kỳ huyết huyền hoàng.  
5. LỤC NGŨ: hoàng thường, nguyên cát.
4. LỤC TỨ: quát nang, vô cữu, vô dự.
3. LỤC TAM: hàm chương khả trinh, hoặc tòng vương sự, vô thành hữu chung.
2. LỤC NHỊ: trực phương đại, bất tập vô bất lợi.
1. SƠ LỤC: Lý sương, kiên băng chí.
(Hào từ của quẻ Khôn từ dưới lên trên)
Hào Lục Tam mà Đỗ Quý Quân liên hệ là hào 3 âm.
Sau đây là lời hào Lục Tam - Hào 3 Âm - qua các lời giải:
六三:含章可真,或從王事,無成有終.
Lục Tam:
Hàm chương khả trinh, hoặc tòng vương sự, vô thành hữu chung.
Dịch nghĩa:
- Hào Sáu Ba:
Ngậm văn vẻ, có thể chính; hoặc theo đuổi việc nhà vua, không cậy công? Thì được tốt lành về sau. - Lời giải của Ngô Tất Tố:
- Hào 3, âm:
Ngậm chứa (đừng để lộ ra) đức tốt mà giữ vững được, có khi theo người trên mà làm việc nước, đừng chiếm lấy sự thành công thì sau cùng sẽ có kết quả - Lời giải của Nguyễn Hiến Lê
Lời hào lục tam là "Hàm chương khả trinh; hoặc tòng vương sự, vô thành hữu chung" viết liền và chỉ có 12 âm tiết. Ông Đỗ Quý Dân đã không lương thiện khi ghép thêm tên hào LỤC TAM vào 12 âm tiết của nội dung HÀO, cho đủ 14 âm tiết theo cách “mập mờ đánh lận con đen”, rồi viết xuống dòng kiểu “trên 6, dưới 8”, và gọi đó là THƠ LỤC BÁT:

“Lục tam, hàm chương khả trinh
Hoặc tòng vương sự, vô thành, hữu chung.”
                                          (Đỗ Quý Dân)

Rõ ràng có sự "nhập nhằng", có ý đồ ở đây!

2. Về hai câu thơ Trung Dung và Tống Sử
Trong sách truyện (Trung Dung) có hai câu:

“Phù thủy, nhất thước chi đa
Cập kỳ bất trắc, ngoan đà giao long.”

Sách Tống Sử có hai câu:

“Đế sĩ Sái Xác hữu công,
Sử chi tòng tự Triết tông miếu đình...”

Đúng là các câu lục bát âm Hán Việt dẫn trên đều là có đủ 6 thanh điệu: ngang (không dấu), huyền, sắc, hỏi, ngã và nặng. Nhưng ông Đỗ nên nhớ rằng tiếng Tàu chỉ có 4 thanh điệu: âm bình, dương bình, thượng thanh và khứ thanh. Hán Việt là đọc chữ Hán theo âm Việt chứ âm Tàu đâu phải vậy.
[Mời các bạn đọc thêm phần thanh điệu ở phụ chú dưới của Thiếu Khanh và nhà giáo, nhà thơ La Thụy] [*]
Theo riêng tôi, đây là cách các cụ đồ nho Việt Nam hồi trước dùng thể lục bát để diễn giải Trung Dung (của Khổng Tử) và Tống Sử cho các môn sinh hoặc người sau dễ dàng hiểu mà thôi.

3.Về sự tự ái của người Việt
Ông Đỗ Quý Dân nói:
“Không biết đúng sai thế nào, tôi chỉ biết người Việt chúng ta tự ái rất cao, tìm đủ mọi lý lẽ để chứng minh mình không lệ thuộc Tàu, nhưng cái mà chúng ta hay gọi là “chứng minh” chỉ là những ý kiến hết sức chủ quan, không dựa trên căn bản biện chứng vững chắc. Người Nhật cũng mượn nhiều từ văn hóa Trung Quốc, nhưng họ không phủ nhận điều đó mà chỉ đem mấy cái đã “mượn” kia làm cho hoàn hảo hơn rồi lấy đó làm tự hào. Sao người Việt chúng ta không làm được như người Nhật nhỉ?...”
Tôi có thêm ý kiến ngắn về điều này:
-- Có chút tương đối “tích cực” trong ý nghĩ này, nhưng ông Đỗ nên nhớ:
- Nếu không có tự ái dân tộc thì không có lòng yêu nước. Tuy nhiên phải suy nghĩ cho tận tường về lòng tự ái của mình, điều nào nên, điều nào không nên, nên tránh. Tự ái chủ quan mù quáng sẽ chặn bước tiến của dân tộc. Cái hay, cái đẹp là của chung nhân loại khi được công bố; và nước nào cũng có, chậm mau tùy điều kiện. Con người cao hơn con vật là ở tính "Kế thừa". Dại gì để mất thời gian, có khi cả đời để phát minh, phát kiến cái mà người xưa đã?
- May mắn cho nước Nhật là có được minh quân Minh Trị Thiên Hoàng và Yukichi Fukuzawa [***] đưa đến công cuộc Duy tân, canh tân đất nước trong một thời gian ngắn chỉ hơn 50 năm, biến nước Nhật thành cường quốc. Nhật không chỉ “Thoát Trung”, mà còn vượt hơn cả Trung nhờ học hỏi Hà Lan/ Tây phương. Giả dụ nếu không thoát Trung, biển đảo của Nhật chắc cũng giống như của Việt Nam bây giờ thôi.

LỜI KẾT
Thật lòng nói, bài viết của ông Đỗ tôi không cần phải bỏ nhiều thời gian phản biện như vầy, vì nó “bình thường” lắm; tôi không dám nói “ấu trỉ” như các bạn tôi vì sợ ông buồn. Tuy nhiên, như người Mỹ nói: ONCE AND FOR ALL: Trả lời một lần những ai cứ cho rằng mọi điều của Việt Nam đều từ Tàu; giống như một số người cố tình “moi móc” để cho truyện Kiều/ Đoạn Trường Tân Thanh là từ Thanh Tâm Tài Nhân bên Tàu.
Trân trọng và mong các bạn góp thêm ý kiến.
Mời đọc thêm Phụ Lục dưới.

                                                                   Nguyên Lạc
...................

[*] Đây là FB của bài Đỗ Quý Dân
[**] Quẻ Dịch, Cách Lập Và Giải Đoán - Nguyên Lạc
[***] Yukichi Fukuzawa - Khuyến Học
Fukuzawa Yukichi là nhà tư tưởng có ảnh hưởng sâu rộng nhất đối với xã hội Nhật Bản thời cận đại. Người Nhật tôn vinh ông là "Voltaire của Nhật Bản", không chỉ vì tính triệt để và tầm mức vựơt trội trong tư tưởng của ông, mà còn vì cũng như danh nhân người Pháp, Fukuzawa Yukichi cùng những người đồng chí của mình là những người khai sáng tinh thần quốc dân Nhật Bản, đem lại linh hồn, động lực và sự hậu thuẫn tinh thần cho công cuộc Duy tân của chính phủ Minh Trị. Những tác phẩm của ông dù viết từ hơn một thế kỷ trước nhưng vẫn được người Nhật Bản ngày nay hết lòng ngưỡng mộ.

@. Phụ Lục
Xin được ghi ra đây thêm những phản biện về bài viết của Đỗ Quý Dân:

I. Phản biện của Đỗ Phú:
Tác giả bài viết là ông Đỗ Quý Quân quá ấu trĩ. Ba cặp câu mà ông Quân nêu ra, xét về luật, vần thì đúng là 3 cặp thơ Lục bát, 3 cặp câu Lục Bát hay, khó có.
Tuy nhiên để gọi 1 cặp câu Lục Bát là 1 bài thơ thì chưa đủ. Hai câu thơ 7 chữ đối nhau cũng chỉ là 1 cặp đối chứ không phải là 1 bài thơ đường luật. 3 cặp câu ông Quân nêu ra bất quá chỉ là Tàu cú mà thôi.
Để gọi là một dòng thơ cần phải xét đến tính phổ quát của nó. Dọc theo từng thời kỳ phát triển của thơ ca, thể loại thơ đó, dòng thơ đó phải xuất hiện liên tục và không gián đoạn. Và điều tiên quyết là mọi nhà thơ của quốc gia, hoặc các nhà thơ sống tại lãnh thổ mà dòng thơ đó xuất hiện đều có sáng tác thơ theo thể loại này.
Thể thơ lục bát cũng không ngoại lệ. Muốn nói nó là thể thơ của quốc gia nào, phải xét khía cạnh có bao nhiêu bài thơ được lưu truyền, bao nhiêu tác giả danh tiếng, bao nhiêu bài bất hủ mà đại chúng hầu hết đã từng nghe, từng đọc
Không thể vì 3 câu lục bát tìm được trong 3 quyển sách khác nhau mà kết luận xứ sở nào đó khai sinh ra dòng thơ này.
Nếu nói lục bát là của Trung Quốc. Câu hỏi là tại sao chỉ có 3 cặp câu?Tại sao trong vài ngàn năm người Trung Quốc không làm thơ lục bát nữa? Thể thơ này vì sao không được lưu truyền? Nếu nó chết thì tại sao nó chết?
Nếu nó vẫn sống thì sao lại không thấy thơ?
                                                                         Đỗ Phú

II. Phản biện của nhà giáo, nhà thơ La Thụy

A/ Xét việc KINH DỊCH dùng thể thơ lục bát, cụ thể là Quẻ Thuần Khôn theo như ông Đỗ Quý Dân nêu.

Ta thấy:

* HÀO TỪ của QUẺ THUẦN KHÔN gồm có:
1/ SƠ LỤC: Lý sương, kiên băng chí. (5 âm tiết)
2/ LỤC NHỊ: trực phương đại, bất tập vô bất lợi. (8 âm tiết)
3/ LỤC TAM: hàm chương khả trinh, hoặc tòng vương sự, vô thành hữu chung.
(Chỉ có 12 âm tiết trong 3 cụm từ - mỗi cụm từ có 4 âm tiết)
4/ LỤC TỨ: quát nang, vô cữu, vô dự. (6 âm tiết)
5/ LỤC NGŨ: hoàng thường, nguyên cát. (4 âm tiết)
6/ LỤC THƯỢNG: Long chiến vu dã, kỳ huyết huyền hoàng. (8 âm tiết)
7/ DỤNG LỤC: Lợi vĩnh trinh. (3 âm tiết)
Trong quẻ thuần khôn của Kinh Dịch từ SƠ LỤC cho đến DỤNG LỤC hoàn toàn không thấy thể lục bát như THƠ LỤC BÁT Việt Nam “trên 6 dưới 8” gồm 14 âm tiết.
- Trong đó, HÀO LỤC TAM viết liền (không viết xuống dòng kiểu “trên 6, dưới 8”), chỉ có 12 âm tiết. Ông Đỗ Quý Dân đã có dụng ý riêng khi ghép thêm tên hào LỤC TAM vào 12 âm tiết của nội dung HÀO, biến hóa cho đủ 14 âm tiết, ông ấy lại viết xuống dòng kiểu “trên 6, dưới 8”, rồi gọi đó là THƠ LỤC BÁT:
(“Lục tam, hàm chương khả trinh
Hoặc tòng vương sự, vô thành, hữu chung.”
                                     Theo Đỗ Quý Dân)

Mà LỤC BÁT kiểu ông Đỗ Quý Dân không đúng LUẬT THANH, chữ thứ tư phải là thanh trắc (trong khi CHƯƠNG trong ‘hàm chương’ lại mang thanh bằng). Không giống như thơ của Tàu nói riêng, thơ thế giới nói chung - chỉ gieo vần chân (cước vận), thơ lục bát và thơ song thất lục bát Việt Nam ngoài việc gieo vần chân, còn có thêm vần lưng (yêu vận) nữa, mà thơ Tàu thì hàng nghìn năm vẫn chỉ gieo vần chân mà thôi…

B/ Xét việc SÁCH TRUYỆN TRUNG DUNG và việc SÁCH TỐNG SỬ dùng thể thơ lục bát như ông Đỗ Quý Dân nêu:

Trong sách truyện (Trung Dung) có hai câu:
“Phù thủy, nhất thước chi đa
Cập kỳ bất trắc, ngoan đà giao long.”

Sách Tống Sử có hai câu:
“Đế sĩ Sái Xác hữu công,
Sử chi tòng tự Triết tông miếu đình...”
                        (Theo Đỗ Quý Dân)
Cái gọi là sách truyện Trung Dung, sách Tống Sử này, ta nên xem thử ai là tác giả? Theo tôi, chỉ có thể là các nhà Nho Việt Nam hồi trước hứng khởi dùng thể lục bát để diễn giải Trung Dung (của Khổng Tử) và Tống Sử khi xem mà thôi. Nếu có điều kiện, chúng ta nên xem lại Trung Dung và Tống Sử (văn bản được xem là chính quy) sẽ tường tận hơn các bản do ông Đỗ Quý Dân nêu mà không nói rõ tên tác giả.
*
Mấy ông đồ nho cũng đã từng dùng thể lục bát để nêu cách viết chữ ĐỨC 德 đó mà:
Chim chích mà đậu cành tre
Thập trên, tứ dưới, nhất đè chữ tâm

Chữ Đức:
Bên trái có bộ xích (ở đây có hình tượng con chim chích đậu trên cành tre) – Chích và Xích cũng cùng âm
Bên trên có chữ thập: 十
Dưới chữ十 là chữ Tứ: 四
Dưới nữa là chữ Nhất: 一
Dưới cùng là chữ Tâm: 心

*
Tiếng Tàu chỉ có 4 thanh điệu: âm bình, dương bình, thượng thanh và khứ thanh. Trong khi âm Hán-Việt xét về hình thức (theo ngữ pháp thông dụng) có 6 thanh điệu: ngang (không dấu), huyền, sắc, hỏi, ngã và nặng. Phiên thiết Hán-Việt về thanh điệu thì 6 thanh điệu đó tương ứng với:
1/ Phù bình thanh – không dấu
2/ Phù khứ thanh –dấu sắc
3/ Phù thượng thanh – dấu ngã
4/ Trầm bình thanh – dấu huyền
5/ Trầm thượng thanh – dấu hỏi
6/ Trầm nhập thanh – dấu nặng

Theo ông Lê Ngọc Trụ và một số nhà làm từ điển khác, chia làm 8 thanh bậc: phù bình, trầm bình, phù thượng, trầm thượng, phù khứ, trầm khứ, phù nhập, trầm nhập
* Thanh bình: Có hai bậc, phù và trầm.
- Thanh bình bậc phù (phù bình hay âm bình) là những tiếng không dấu, tức thanh ngang. Ví dụ: vui, hương.
- Thanh bình bậc trầm (trầm bình hay dương bình) là những tiếng có dấu huyền. Ví dụ: đà, điền, thần.
Điều cần chú ý là các chữ thanh ngang bắt đầu bằng l, m, n, ng, nh, d, v đều thuộc "trầm bình" ("hạ bình") trong cách áp dụng phiên thiết (Lê Ngọc Trụ) như: minh, nhân, vân, nếu không sẽ sai về bậc thanh. Điều này rất ít tác giả nhấn mạnh.
* Thanh thượng: Có hai bậc, phù và trầm.
- Thanh thượng bậc phù (phù thượng) là những tiếng có dấu hỏi. Ví dụ: bả, hải, trảm.
- Thanh thượng bậc trầm (trầm thượng) là những tiếng có dấu ngã. Ví dụ: mẫu, nữ, ngữ.
* Thanh khứ:
- Thanh khứ bậc phù (phù khứ) là những tiếng có dấu sắc. Ví dụ: đấu, phóng, tiến.
-Thanh khứ bậc trầm (trầm khứ) là những tiếng có dấu nặng. Ví dụ: đại, tại, vọng.
* Thanh nhập:
- Thanh nhập bậc phù (phù nhập) là những tiếng có phụ âm cuối là p, t, ch, c và có dấu sắc. Ví dụ: đáp, thiết, trách, tróc.
- Thanh nhập bậc trầm (trầm nhập) là những tiếng có phụ âm cuối là p, t, ch, c và có dấu nặng. Ví dụ: đạp, diệt, thạch, trạc.
Tiếng Quan thoại có 1280 âm trong khi tiếng Việt có từ khoảng 4500 đến 4800 âm đọc, tùy theo phương ngữ, và 6200 âm viết trong quốc ngữ. Thơ Tàu không gieo vần lưng (yêu vận).Thanh điệu của ngữ âm Tàu chỉ có 4 thanh bậc không được phong phú 8 thanh bậc như ngữ âm Việt Nam.
Rõ ràng các câu lục bát Tàu trên do ông Đỗ Quý Dân nêu, đều mang âm Hán Việt có đủ 8 thanh bậc… Nên, Khổng Tử không thể ghi dạng lục bát đủ 8 thanh bậc trong khi san định Kinh Dịch và khi viết Trung Dung. Tương tự, sách Tống Sử cũng thế.

C/ Xét việc học giả Ngô Tất Tố được ông Đào Quý Dân nêu:

“Khi nhắc đến vấn đề này, cụ Ngô Tất Tố mượn nhân vật ‘Cụ bảng’, thầy dạy học của Đào Vân Hạc trong ‘Lều chõng’, để bàn như sau:
“Cũng vì có mấy câu đó cho nên từ xưa đến nay đã có nhiều người cho rằng: lối văn trên sáu dưới tám của ta gốc ở kinh, truyện và sử mà ra. Nhưng theo ý ta, thì nói như vậy có lẽ cũng quá khiên cưỡng. Trời đã sinh ra mỗi nước có một thứ tiếng, thì tất nhiên mỗi nước cũng phải có một điệu hát. Nếu bảo điệu hát lục bát gốc ở kinh, truyện và sử, thì sao ở Tầu lại không có cái thể văn ấy? Tuy vậy, các cụ đời trước nói thế, bây giờ mình cũng hãy hay rằng thế, để rồi kê cứu dần dần, không nên vội vàng bài bác.” – trích ‘Lều Chõng’ của Ngô Tất Tố”
Trong trích đoạn mà ông Đỗ Quý Dân nêu ở trên, thì cụ Ngô Tất Tố cũng đặt câu hỏi nghi ngờ đó mà...
*
Tôi đồng ý với anh Đỗ Phú:
“3 cặp câu lục bát tìm được trong 3 quyển sách khác nhau mà kết luận xứ sở nào đó khai sinh ra dòng thơ này.
Nếu nói lục bát là của TQ. Câu hỏi là tại sao chỉ có 3 cặp câu? Tại sao trong vài ngàn năm người TQ không làm thơ lục bát nữa? Thể thơ này vì sao không được lưu truyền? Nếu nó chết thì tại sao nó chết? Nếu nó vẫn sống thì sao lại không thấy thơ.”
                                                                            La Thụy                                                                                                                      
*
III. Thêm về vụ "thanh điệu".
Mời các bạn đọc trích đoạn từ bài viết của Thiếu Khanh:
Một học giả rất nổi tiếng của Trung quốc hiện đại là “Quý Tiễn Lâm (季羡林 Ji Xian-lin, 1911-2009), người được dư luận chính thống nước này tôn vinh là “Quốc học đại sư”, “Học giới Thái đẩu” (Siêu sao trong giới học thuật), “Quốc bảo” (Báu vật của nước nhà)” vân vân, viết rằng “chữ viết của người Việt Nam sau khi được La tinh hóa, đầu đội mũ, chân đi giầy, rất nực cười,” (越 南 文 字 拼 音 化 之 后,头戴帽子,脚穿鞋子,很滑稽. [Việt Nam văn tự bính âm hóa chi hậu, đầu đái mạo tử, cước xuyên hài tử, ngận hoạt kê] )
Ts Nguyễn Hải Hoành nhận thấy cái ông “đại sư” “quốc bảo” của Tàu nói năng hồ đồ và chứng tỏ chẳng biết gì cả về chữ quốc ngữ của người Việt. Dù vậy, hình tượng “đội mũ mang giầy” mà Quý Tiễn Lâm gán cho chữ quốc ngữ của chúng ta, cũng ngộ nghĩnh đó chớ. “Mũ” và “giầy” theo con mắt Quý Tiễn Lâm chính là các dấu phụ nguyên âm (diacritical marks). và dấu giọng (accent marks) chúng ta “gắn” vào chữ viết của mình.
"Đội mũ mang giầy: chuyện không đơn giản" Đây nhé:
-- Cái ông “siêu sao học thuật” (Học giới Thái đẩu) của Tàu này không hề... rê đuốc vào chân mình, chỉ nói lấy được. Trong bài viết dẫn trên, Ts Nguyễn Hải Hoành cho biết: “Tiếng phổ thông TQ có 4 thanh điệu, vì thế chữ Latin trong phương án Hán ngữ Pinyin do Nhà nước TQ ban hành sử dụng từ năm 1958 cũng phải kèm theo 4 dấu giọng, ví dụ [lī], [lí], [lǐ], [lì], ngoài ra các phụ âm kép như zh, ch, sh có thể viết tắt là ẑ, ĉ, ŝ. Như vậy chữ Hán ngữ Pinyin (Bính âm) (5) cũng “đội mũ,” vì sao cụ Quý Tiễn Lâm lại chỉ chê chữ Quốc ngữ Việt Nam “rất nực cười”?”
Ts Nguyễn Hải Hoành nhắc lại lời học giả Hồ Thích từ 100 năm trước “phán” về chữ quốc ngữ của người Việt: “Chữ viết Việt Nam hiện nay xem ra giống như chữ Pháp bị nước mưa xối tan ra, giống như phiên bản Latin của chữ hình vuông, vừa không thanh thoát cũng chẳng mỹ quan.” Hồ Thích cho rằng chữ quốc ngữ của người Việt Nam vừa không giống chữ Hán, không giống chữ Nôm (đã đành!) lại không giống chữ Pháp, mà cũng không giống cả chữ La tinh, “nghĩa là không đâu vào đâu, chẳng ra cái giống gì.” (6) . Lời phán ấy có lẽ khiến một số nhà nho Việt Nam thủ cựu bài bác chữ Quốc ngữ thời đó khoái lắm.
-- Xem ra các tay học phiệt Tàu không biết gì về chữ quốc ngữ của Việt Nam, chỉ phán bừa vì họ rất hậm hực về việc Việt Nam “thoát Trung” thành công về mặt văn tự. Với thứ chữ viết La tinh hóa này chỉ trong khoảng 60 - 70 năm người Việt Nam đã hoàn toàn thoát ra khỏi hệ thống văn tự Hán, điều mà người Nhật và người Hàn đã không làm được, dù họ cũng sáng tạo được văn tự riêng cho mình.
-- Tiếng Việt có 6 thanh (Phù bình thanh – không dấu, Phù khứ thanh –dấu sắc, Phù thượng thanh – dấu ngã, Trầm bình thanh – dấu huyền, Trầm thượng thanh – dấu hỏi, và Trầm nhập thanh – dấu nặng), nên phải dùng 5 ký hiệu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng để phân biệt thanh điệu. Tiếng Trung quốc (chỉ có 4 thanh: âm bình thanh, dương bình thanh, thướng thanh, và khứ thanh) không có thanh “trầm nhập” như tiếng Việt nên chữ “bính âm” (pinyin) của họ không mang dấu “nặng”, tức là họ có đội mũ mà không mang giầy, giống như anh chàng nhà quê đội mão mà không mang hia, hoặc như Táo quân mặc áo mà không mặc quần chớ gì mà cười tiếng Việt! [theo Thiếu Khanh]
Link:

READ MORE - VỀ VẤN ĐỀ NGUỒN GỐC THƠ LỤC BÁT - Nguyên Lạc

Friday, July 19, 2019

XA RỒI NHỮNG VẾT THƯƠNG - Thơ Phạm Hòa Việt


Phạm Hòa Việt

XA RỒI NHỮNG VẾT THƯƠNG


Chiều nay nghe khúc hát chèo khua
Cứ tưởng thời gian đã giao mùa
Thân đau chậm bước vào quên lãng
Vết tích trên vai ngọn gió lùa...

Nằm đợi cơn mưa nhẹ lướt qua
Lòng vui chào đón khách phương xa
Nằm đây từng khắc chờ ai đến
Như đã tìm em với dáng hoa...

Như đã quên đi những vết thương
Nhìn em chăm chút sợi tơ vương
Lòng anh rung cảm nấc thành tiếng
Như đã xa rồi những vết thương...

PHV

READ MORE - XA RỒI NHỮNG VẾT THƯƠNG - Thơ Phạm Hòa Việt

Thursday, July 18, 2019

CHUYỆN TÌNH VÙNG U MINH NAM BỘ QUÊ TÔI (PHẦN II) - Nguyên Lạc


  
                                         Hoa sứ trắng

Phần II

CHUYỆN TÌNH
SƠ LƯỢC CHUYỆN TÌNH VÙNG U MINH

Đây là bài thơ kể lại chuyện tình vùng U Minh nam bộ quê tôi, được gợi hứng từ truyện "Hương Rừng" nổi tiếng của nhà văn Sơn Nam. Xin tóm tắt chuyện như sau:
Di dân từ ngũ Quảng vào lập nghiệp vùng rừng U Minh. Ông Hương giáo có một người con gái duy nhất, xinh đẹp mà ông rất thương yêu tên Hoàng Mai. Khi Hoàng Mai đến tuổi trăng tròn, hỡi ơi ông phát hiện nàng bị bệnh nan y: Cùi  (bệnh hủi hay bệnh Hansen)
Tìm trong gia phả thấy có ghi: - Luyện thuốc bằng "ngọc" ong mật có thể chữa bệnh cùi. Ông bèn thuê một chàng trai trẻ, làm nghề bắt ong mật đi tìm "ngọc" để ông luyện thuốc cho con gái yêu. Ông Hương giáo mời chàng trai ở luôn trong nhà cho có bạn. Ngày đêm, ông chong hàng chục ngọn nến bạch lạp chung quanh mớ “ngọc” để luyện, hy vọng rằng khi đúng một ngàn ngày, nó sẽ trị được bịnh nan y của Hoàng Mai.
Một hôm tại nhà ông Hương giáo, chàng trai gặp nàng, người con gái mỏng mảnh, liêu trai đứng tựa cây sứ cùi, mặt cạnh bên những đóa hoa trẳng nhìn chàng với ánh mắt đầy ân tình. Lòng đầy yêu thương, chàng đến đứng cạnh Hoàng Mai xin được cầm tay nàng.
[- Anh nắm cái chéo tay áo này, em cũng đủ vui rồi.
Cảm đông làm sao!...
Và ngạc nhiên làm sao, một mùi hôi hám từ trong tay áo bay ra  khi níu cái chéo tay áo của người đẹp. Tư Lập thấy rõ ràng bên trong, ngón tay của nàng rụng mất hồi nào, chỉ có năm cuộn vải nhỏ vấn khéo léo thay thế.
Hôm sau, chàng trai  viện cớ ra đi lúc mùa bông tràm nở trắng rực. Anh không thèm làm nghề ăn ong nữa, về ở Long Xuyên ...]
                                             (Hương Rừng - Sơn Nam)

Nhưng hương rừng có ma lực quyến rũ, lúc mới đến thì vui, ở lâu lại sanh buồn; nhưng xa cách lâu ngày thì đâm ra nhớ không nguôi, không trở lại thì không được. Ôi đẹp quá mùa bông tràm nở trắng rực, cảnh rừng tràm lúc ong "đi bông" *. Anh lại trở về.
Khi phát hiện anh về, ông Hương giáo nhắn mời anh thăm Hoàng Mai. Anh ăn ong hứa, nhưng giữa đêm chàng ta xuôi dòng sông trốn mất.
........
(*) Đi bông: Ong bay từng đàn tìm từng nụ hoa (bông) lấy mật. Đi bông là tiếng riêng của những người làm nghề bắt ong.

Và đây là đoạn cuối của "Chuyện Tình Vùng U Minh":
[... Trên thềm nhà, trong bóng mát, hình dáng của Hoàng Mai với đôi mắt và mớ tóc trùm kín trong chiếc khăn. Chiếc tay áo của nàng lòng thòng che khuất mấy ngón tay, từ từ nâng lên như tiễn đưa một hình bóng ... ]
                                                (Hương Rừng - Sơn Nam)

                              Hoa mẫu đơn

@. Cảm thương người con gái, Nguyên Lạc xin đổi chữ CÙI bằng chữ MẪU ĐƠN (nôm na: Mẹ thằng cùi)
Xin được trích đoạn truyện ngắn nổi tiếng của nhà văn Sơn Nam để giải thích rõ về chữ Mẫu đơn/ Mẹ thằng cùi:

[... THAI ĐỐ TRONG DỊP TẾ LỄ KỲ YÊN

Thời xưa, ở Nam Bộ, dịp tế lễ Kỳ Yên (cầu an lành) thường bày ra đấu xảo bánh khéo nhất, đấu xảo mâm xôi ngon nhất, ráo nhất. Lại chưng bài vài sản phẩm tượng trưng cho sự bội thu: củ khoai mì nặng cân ít thấy; trái bí rợ to đến mức kỳ dị; con trăn, con rùa to, khó gặp. Nhưng vui nhất có lẽ là "Thai đố ", đã thu hút mọi giới. [Thai đố (quiz): Đố vui có thưởng]
Chủ trì là một ông kỳ lão đầu bịt khăn đỏ, ngồi ghế, giữa sân, bên cạnh là thúng đầy cam, quít, bưởi (dùng làm vật thưởng). Trước mặt ông là mõ và thanh la, với cây dùi.
Dùng cây dùi gõ vào mõ "cốc, cốc..." khi đoán câu đố sai; gõ vào thanh la nhẹ "beng" khi đoán gần đúng; gõ mạnh và liên hồi thanh la "beng beng beng" để xác nhận đoán đúng và trúng giải.
Thoạt đầu, ra những câu Thai dễ, thí dụ như:

Ví dầu cầu ván đóng đinh,
Cầu tre lắt lẻo gập ghình khó đi.

- Xuất bỉnh (tên một thứ bánh).

Trẻ 1 hô lớn: "bánh ướt". Ngụ ý cầu khó đi, có thể té, quần áo ướt mem. Vì gần đúng, ông kỳ lão gõ một tiếng "beng" vào cái phèng la.
Cậu 2 đáp là "bánh tét". Ông kỳ lão gõ một tiếng "cốc", ngụ ý sai lời giải.
Rốt cuộc, một cậu đáp to : "Cái bánh bò"!. Tiếng phèng la đổ dồn, khá to, xác nhận cậu ta trúng giải. Cây cầu khó đi thì phải bò, khom lưng.
Và đây là câu đố mà chúng ta cần chú ý:
Kỳ lão ra câu Thai:
- Mẹ thằng cùi!
Xuất mộc (Tên một loài cây)
Vài người thử đáp giải, nhưng được lãnh tiếng "cốc, cốc", hoặc tiếng "beng" thật nhỏ.
Rốt cuộc, ông kỳ lão ra Thai tự giải đáp:
- Mẹ là mẫu theo nghĩa chữ Hán.
Đơn là bịnh phong, người nổi đơn, da thịt sưng lên, sần sùi, gọi là bịnh cùi.
Vậy "Mẹ thằng cùi" là "bông mẫu đơn"! (hoa mẫu đơn)...]
                    (Thuần Phong Mỹ Tục Việt Nam - Sơn Nam)

Giờ mời các bạn đi vào bài thơ của tôi:

CHUYỆN TÌNH VÙNG U MINH

I. ANH HÙNG LỠ VẬN

U Minh tràm đước, cóc kèn (*)
Anh hùng lỡ vận vào rừng bắt ong
Bắt sao trúng phải nỗi buồn
Cảm thương phận bạc
Lệ tuôn lưng tròng

Dõi theo con nước lớn ròng
Bỏ đi trốn bậu
mà lòng xốn xang
Nước mắt sao cứ chảy hai hàng
Chèo ghe lướt tới,
mà lòng quay lui!

Rạch sông muôn nẻo ngược xuôi
Cố quên nẻo ấy
Dáng người bên hoa

Mắt xưa giờ chắc lệ nhòa
Gặp nhau chi hở?
Bậu qua phải sầu!

II.  "MẪU ĐƠN" HOÀNG MAI

Bên sông tựa nhánh bần xiêu
Lặng thinh đêm lạnh
đìu hiu bên trời
Sương rơi thấm lạnh vai người
Vạc kêu tiếng khổ,
buồn rơi đoạn lòng

Mắt ơi!
Thôi. chớ hoài trông
Làm sao giữ được một dòng nước xuôi?

Về thôi?
Thôi hãy về thôi!
Trăm năm. cũng vẫn một đời cô liêu!

Về thôi!
Trời ửng bóng nhiều
Ngàn chim ríu rít
như trêu lòng người

Về thôi!
Người chẳng đến rồi!
Gặp chi?
Rồi để cả đôi phải sầu

Hoa xưa. nay có còn đâu
Còn màu lá úa
Còn đau tình này!
.............
                                      Nguyên Lạc
   
(*) Cây cóc kèn: Derris trifoliata rất phổ biến trong những vùng ngập mặn, rừng sác, rừng ngập mặn. là loại cây bò trườn, thuộc họ Fabaceae.

.....................

@.Phụ lục cho toàn bài viết:

Huyền Thọai Trận Mù U - Võ Hương An

Rừng U Minh Ta không thấy em ( Nguyễn Văn Nho đàn và hát )

READ MORE - CHUYỆN TÌNH VÙNG U MINH NAM BỘ QUÊ TÔI (PHẦN II) - Nguyên Lạc

Wednesday, July 17, 2019

“GÃ VÀ TA” THƠ LANG TRƯƠNG, TÊN CÔN ĐỒ THI SĨ - Châu Thạch


              Nhà thơ Lang Trương


GÃ VÀ TA
(Viết giúp ai đó)

Có một gã du côn đời bỏ lại
Ta vô tư nhặt được ở bên đường
Gã nắn nót vuốt cung đàn tình ái
Mọi nẻo đường đời bỗng hoá lối yêu đương.

Thơ ta viết lời yêu thương nồng cháy
Từ những giọt tình gã rót vào ta
Ta thèm khát mỗi ban mai thức đậy
Mỗi hoàng hôn, mỗi lúc bóng chiều tà.

Ta yêu gã, tên côn đồ thứ thiệt
Khoác áo thi nhân lem luốc chợ đời
Một nửa tâm hồn thanh cao tinh khiết
Gã vứt bên đường qua những cuộc chơi.

Cám ơn gã, chút men nồng tình ái
Đốt lòng ta cháy bỏng lúc trời chiều
Tim rạo rực như thuở còn con gái
Mỗi bước đường đời, thêm một bước liêu xiêu.

                                                     Lang Trương


      
                          Nhà  bình thơ Châu Thạch
                      
        “GÃ VÀ TA” THƠ LANG TRƯƠNG - 
                                    TÊN CÔN ĐỒ THI SĨ 
                                                      Châu Thạch

Lang Trương còn có biệt hiệu là Trương Đạo Sĩ, là người bạn thơ vong niên của tôi. Khi chưa gặp nhau tôi tưởng anh ta lớn hơn tôi ít nhất là 10 tuổi, vì thi phú của Lang Trương thật là chững chạc, kiến thức thật cao. Vậy nhưng khi gặp nhau, hóa ra anh ta thuộc hàng con cháu, nhỏ hơn tôi đến 25 tuổi. Tôi ít viết cảm nhận cho người quen thân vì nhiều lý do. Lần nầy thấy bài thơ ngông ngông thật dễ thương khiến cảm xúc trong lòng rạo rực muốn viết. Thôi thì xin viết tản mạn cho vui, chơ viết bình thơ, rủi sai trật thì gã nạt tôi như là nạt con cháu của gã, du côn mà. Vì trong bài thơ Lang Trương tự nhận mình là “du côn”, là “côn đồ” nên tôi có cơ hội mở google tìm hiểu cuộc đời của nhiều tên du côn thuở xưa như Đại Ca Thay chẳng hạn. Tôi thấy những tên côn đồ hạng nhất xưa nay còn thua Lang Trương nhiều lắm, vì họ toàn bị tù tội và chẳng biết làm thơ.

Côn đồ Lang Trương không bị tù ngày nào, biết làm thơ phú hay có danh, lại còn làm đạo sĩ mà không theo pháp tu nào cả.
Kinh nghiệm cho biết những đạo sĩ mà không theo phương tiện nào để thành chánh quả thì thường theo phương tiện “Ghẹo Gái” mà thôi. Ha Ha ha! Thế nhưng ông bạn vong niên của tôi tu ghẹo gái thế nào mà đến nay tuổi đã tri thiên mạng vẫn còn độc thân. Lần nầy gã làm bài thơ viết giúp cho ai đó, nhưng đọc thì biết ngay không ai vào đó ngoài người yêu của gã!
Thôi bây giờ xin nói qua thơ.

 Vào đề:  

Có một gã du côn đời bỏ lại
Ta vô tư nhặt được ở bên đường

Bài thơ nầy tác giả lấy lời một người đàn bà để viết về mình. Hai câu thơ mở đầu tác giả tự hạ mình xuống thật thấp. Chúa nói “Ai hạ mình xuống thì ta sẽ đưa lên”. Ở đây Chúa chưa đưa lên mà hai câu thơ đã đưa tác giả lên rồi. Đọc thơ, bạn đọc nào cũng biết không ai dại gì tự cho mình là du côn cả, không ai dại gì tự hạ gíá trị mình xuống làm một vật rơi ở bên đường. Ở đây Lang Trương đã dùng phương pháp nghịch lý một cách kỷ xảo để tôn mình lên bằng những cụm từ hạ mình xuống. Tất nhiên đọc thơ ai cũng cảm tình ngay với chàng “du côn” tự hạ mình xuống thật là hiền hòa, thật là dễ thương ấy.

Tiếp hai câu sau:  

Gã nắn nót vuốt cung đàn tình ái
Mọi nẻo đường đời bỗng hóa lối yêu đương

Đúng y, gã không chỉ là du côn. Du côn thì không thể làm cho em “Mọi nẻo đường đời bổng hóa lối yêu thương”. Vậy gã còn  là nhà thơ? Chỉ có nhà thơ mới dễ hư cấu thành hoa bướm, trải thảm yêu thương trên khắp nẻo đường đời, dầu các nẻo đường đời ấy có lắm chông gai. Chỉ có nhà thơ thôi, chớ dầu có đại gia thì cũng không hóa hoa, hóa bướm dễ như vậy.
Đọc bốn câu thơ ta hiểu ngay Lang Trương đã tự thú trước bình minh rằng trong mình có hai bản chất: Một là du côn, một là thi sĩ.
Du côn thì thường có khí chất anh hùng hảo hán, thi sĩ thì mộng mơ, yêu thương và đắm đuối. Hai tính chất ấy hòa nhập trong một con người thì thành một nhân phẩm, một con người trác tuyệt hiếm có trên đời.
Bốn câu thơ Lang Trương viết có một ẩn dụ kín đáo vô cùng, nằm sâu trong ý thơ, nhưng lại thẩm thấu vào lòng người nhẹ như hơi nước, đến nỗi lòng người yêu mến sự kiêu hãnh trong thơ một cách tự nhiên trong vô thức của mình.

Tiếp khổ thơ thứ hai:

       Thơ ta viết lời yêu thương nồng cháy
       Từ những giọt tình gã rót vào ta
       Ta thèm khát mỗi ban mai thức đậy
       Mỗi hoàng hôn, mỗi lúc bóng chiều tà.

À hóa ra nàng cũng là thi sĩ. Thi sĩ mà gặp thi sĩ thì hai tâm hồn đồng điệu biết bao. Nếu họ khác nhau thì như hai cục nam châm cùng cực, đẩy nhau suốt đời. Nếu họ giống nhau thì như hai cục nam châm khác cực, hút vào nhau vô cùng khắng khít. Người nữ nầy cực âm, đã nhặt được bên đường một cực dương, hay đúng hơn là một viên trân châu quý giá, hay đúng hơn nữa là một mối tình vừa ý, nên yêu đến nỗi cuồng say da diết.

Qua khổ thơ thứ ba người phụ nữ thổ lộ hết tình yêu của mình và cũng công khai người yêu của mình là một tên côn đồ thi sĩ:

          Ta yêu gã, tên côn đồ thứ thiệt
          Khoác áo thi nhân lem luốc chợ đời
          Một nửa tâm hồn thanh cao tinh khiết
          Gã vứt bên đường qua những cuộc chơi.

Thật ra, bài thơ là của gã viết thay cho người nữ, nên những gì trong thơ là từ miệng lưỡi gã tự nói về mình. Người nữ yêu là vì yêu cái tính chất của gã: Côn đồ, thi nhân, lem luốc mà thanh cao và tinh khiết.
Chữ “côn đồ” chẳng qua là một cách viết nhún nhường để nói lên tính cách trung trực, hảo hán của con người, còn lại những từ khác đều chứng minh trong thơ được đây là tâm hồn của một kẻ sĩ.
Khổ thơ cũng cho ta biết gã là một con người bất đắc chí. Cuộc đời không ưu ái với một nhân tài, nên gã mới làm tên côn đồ, đem linh hồn thanh cao tinh khiết của mình vứt vào những cuộc ăn chơi.

Qua khổ thơ chót, ta thấy người nữ thốt lời cảm ơn, một lời cảm ơn không vui mấy, một lời cảm ơn buồn như ánh sáng của ngọn đèn bùng lên trước gió, để sẳn sàng chờ tắt đi trong một phút giây nào đó:

Cám ơn gã, chút men nồng tình ái
Đốt lòng ta cháy bỏng lúc trời chiều
Tim rạo rực như thuở còn con gái
Mỗi bước đường đời, thêm một bước liêu xiêu.

Yêu thì đến nỗi “Thơ ta viết lời yêu thương nồng cháy”, “ta thèm khát mỗi ban mai thức dậy/Mỗi hoàng hôn, mỗi lúc chiều tà”, “Gã nắn nốt vuốt cung đàn tình ái/Mọi nẻo đường bổng hóa lối yêu thương”, nhưng tất cả điều ấy chỉ được nàng cho là một “Chút men nồng tình ái” mà thôi.
Vì sao vậy? Tất nhiên ai cũng biết đó là thứ tình “lúc về chiều” trong bước đường đời “thêm một bước liêu xiêu”.

Đọc thơ không ai không thấy se lòng bởi mặc cảm bi quan của người phụ nữ, hiểu thấu và cảm thông với niềm đau của chính tác giả bài thơ. Nhà thơ đã viết cho người phụ nữ nhưng cũng viết chính cho mình, cho “Mỗi bước đường đời, thêm một bước liêu xiêu”, nghĩa là cả hai người đã bị đời xô đẩy biết bao lần.
Đọc toàn bộ bài thơ, ta thấy một chút ngông nghênh, một chút ngổ ngáo, một tâm hồn thi sĩ, một con người bất mãn, một tình  yêu như lửa cháy, tất cả tạo thi vị, tạo cảm xúc và tạo nên một trường phái viết thơ tình không khóc, không than, không bi lụy, khiến cho người đọc có vui có buồn và có cảm khoái rất mới lạ với thơ!!!

                                                                        Châu Thạch

READ MORE - “GÃ VÀ TA” THƠ LANG TRƯƠNG, TÊN CÔN ĐỒ THI SĨ - Châu Thạch

CÁI NOỐNG - Võ Văn Cẩm






CÁI NOỐNG
Gia tài quý giá mà cha tôi để lại

Trong những ngày oi bức nhất của năm, với cơn gió Lào khắc nghiệt, tôi có mặt ở quê nhà 14/7/2019.
Tôi còn nặng nợ với quê hương, với đồng môn, với ngôi trường mà tôi được học.
Lần này theo tiếng gọi của bạn bè, trong vòng tay yêu thương trìu mến của đồng môn, trong réo rắt, gợi nhớ của một ngôi trường, trong sâu thẳm trái tim mình, những hình ảnh và bao kỷ niệm thời bé dại.
Tôi lần tìm trong ký ức mình. Cơn nắng hạ làm tôi tới quay quắt, trong căn nhà nhiều năm tôi ở, không tiện nghi cho lắm, không nơi nào nằm nghỉ được một chốc, cơn nắng hắt vào không chợp mắt được, tôi vào buồng tắm dội nước nhiều lần, ngồi hành lang bên ảng nước mà không chịu nổi. Nắng quá tôi vào nhà bếp tìm bóng mát dưới gốc cây phía sau vườn, nơi này tôi ít lui tới trong nhiều lần về. Hôm nay tôi tìm thêm một kỷ vật mà cha tôi để lại. Từ lâu nay, tôi cứ nghĩ chỉ còn chiếc giường tre là kỷ vật duy nhất, nay tôi phát hiện thêm cái Noống do chính tay cha tôi đan đát khi chạy giặc trở về cách nay hơn đúng 38 năm, lúc người bỏ chúng tôi mà đi.
Thời cơ hàn ấy, sân nhà toàn đất không phơi được cái gi. Cha tôi vốn là một người thợ mộc nỗi tiếng trong vùng, người đan những sản phẩm mây tre thì không có đối thủ.
Khi nhìn thấy kỷ vật, tôi không còn biết ngoài trời nắng gắt gần 40°. Cơn nắng không làm tôi quên đi hình bóng người cha quý mến một đời lam lũ vì đàn con.
Khi lấy máy chụp tấm hình này nước mắt tôi hòa với những giọt mồ hôi mà tôi quên bên ngoài trời đang gắt nắng. Căn nhà bếp cũ, đứa em trai út đang ở. Hai chiếc noống kỷ vật của cha tôi còn sót lại, đứa em gác lên trần nhà làm plafon. Chính để nơi ấy mới còn nguyên, nhờ khói (mồ hóng) bám vào như một lớp sơn.
Sau nhiều ngày vất vả để nuôi đàn con trưởng thành, người vui mừng mãn nguyện được nhìn thấy các con thành nhân, cháu
lớn khôn. Người nhắm mắt khi tuổi đời đã 91 năm trên dương thế.
Cha mẹ tôi để lại cho đời 4 trai 2 gái, vượt qua cuộc chiến khốc liệt, hiện nay đang còn đủ ở khắp mọi nơi, phải chăng nhờ phúc ấm tiên tổ?
Đứng nhìn một cách say sưa, khi bước đi, tôi mới bỗng nhận ra cơn nắng hắt vào, khi tôi ngoái người nhìn kỷ vật mà người cha thân thương để lại.
Chỉ một cái giường tre mà một năm tôi phải về 3 lần để được ngủ trên đó, nay có thêm kỷ vật chắc chắn tôi phải về nhiều hơn. Xin thân hữu cùng cảm nhận những cảm xúc của tôi qua " Chiếc giường tre cậu tôi nằm".

                                                     Quảng Trị 16/6/2019
                                                            Võ Văn Cẩm

READ MORE - CÁI NOỐNG - Võ Văn Cẩm