Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, February 19, 2019

BÀN VỀ BA BÀI BÌNH THƠ “NGHIÊNG” CỦA LA THỤY - Châu Thạch


       
           Nhà bình thơ Châu Thạch


      BÀN VỀ BA BÀI BÌNH THƠ “NGHIÊNG” 
                                                    CỦA LA THỤY
                                                           Châu Thạch
                              
NGHIÊNG

Ai từng chao nghiêng
Chắt lắng hết hương mê
Chừ hoài niệm
Len lỏi ngoằn ngoèo trong ký ức
Tình xưa hẹn ước
Chông chênh rơi mất ánh trăng thề?

                                       La Thụy

Đọc được bài thơ “Nghiêng” rất hay của nhà thơ La Thụy, Châu Thạch tôi nổi máu văn chương cũng muốn viết đôi dòng cảm nhận của mình. Thế nhưng thấy trên diễn đàn đã có nhiều bài bình luận về nó, mình có viết nữa cũng bằng thừa. Thôi thì chơi trội một chút, bình các bài bình viết về bài thơ ấy. Nói chữ “bình” cho oai thế thôi, chứ thật ra con dế hèn mọn nầy chỉ xin có đôi lời bày tỏ cảm giác của mình khi đọc các bài bình mà thôi, mục đích cũng là gáy bá vơ, góp một chút âm thanh trong hương thơm của hương đồng cỏ nội dưới ánh trăng nghiêng của nhà thơ La Thụy.

Trước hết, xin trích một vài câu mà nhà thơ Trần Mai Ngân đã cảm nghĩ về bài thơ “Nghiêng”của La Thuy.

“Ở trên tầng cao tôi đọc bài thơ NGHIÊNG của nhà thơ LA THUỴ.
Qua khung cửa sổ trước mặt tôi là con trăng trắng toát và rất tròn đầy”
 “Tôi nhìn ánh trăng đăm đắm và cảm thấy “chông chênh rơi mất ánh trăng thề” xa xưa...”
“Bài thơ NGHIÊNG của nhà thơ LA THUỴ chỉ với ba mươi chữ trong một tứ mà đã làm tôi thao thức đêm nay !
Đêm NGHIÊNG cùng tôi và ánh trăng buồn tháng Chạp !”

Bài thơ “Nghiêng” của La Thụy đã làm cho một người tỉnh táo  trước ánh trăng tròn đầy như Trần Mai Ngân cũng  thấy “đêm nghiêng theo cùng tôi”.
Dưới cái đầu đề “Bài thơ “Nghiêng” của La Thụy cùng tôi dưới ánh trăng tháng chạp” nhà thơ Trần Mai Ngân đã cảm tác nên một bài thơ không vần khác. Bài thơ không vần nhưng mượt mà như vầng trăng nghiêng trút ánh sáng xuỗng trần gian, để người đọc cảm nhận  trọn vẹn ánh trăng trong thơ La Thuỵ. Trần Mai Ngân đang đứng trước ánh trăng trắng toát và tràn đầy, thế nhưng bài thơ  Nghiêng đã gieo vào hồn chị kỷ niệm của “ánh trăng thề”  một thời trong quá khứ. Vậy thì trăng hiện tại tròn và đẹp, trăng thề trong quá khứ cũng rất tròn và đẹp. Sự “chông chênh rơi mất ánh trăng thề” và “Đêm NGHIÊNG cùng tôi và ánh trăng buồn tháng chạp”  chỉ là sự cảm nhận trong tâm hồn của chị.
Chỉ một vài câu bình thơ ngắn,  Nhà thơ Trần Mai Ngân đã diễn đạt đến thăng hoa cái nghiêng của trăng quá khứ mà La Thụy đã thổ lộ trong thơ.

Bây giờ xin mời đến với “Đọc bài thơ “Nghiêng” của La Thuỵ” do nhà thơ Phạm Đức Nhì phóng bút.
Trước hết tôi xin trích một vài câu trong bài bình luận nầy:
“Với tôi, La Thụy làm thơ đều tay và chắc tay.”
“Đặc biệt đến bài Nghiêng thì anh lại nổi hứng bứt phá hết những sợi dây trói buộc của thơ truyền thống và Thơ Mới.”
“Có thể nói Nghiêng của La Thụy là bài thơ phá hết mọi lề luật - chỉ giữ lại chút vần. Vần không chỉ thoang thoảng rất vừa độ ngọt mà vị ngọt cũng khác lạ. Không phải cái ngọt bình thường của đường mía hay đường thốt nốt mà hình như là vị ngọt của mật ong nguyên chất từ chốn rừng sâu núi thẳm.”

“Một đặc điểm nữa của Nghiêng là sự cô đọng. Bài thơ chỉ có 30 chữ, nhưng để “tóm tắt” đại ý của tứ thơ tôi đã phải “gói gọn” trong 45 chữ. Sức nén của ngôn ngữ thơ trong Nghiêng thật đáng nể.
Cảm xúc từ tầng 1 (câu chữ) và tầng 2 (thế trận) - đặc biệt là tầng 2 - khá mạnh. Độc giả thật sảng khoái khi bài thơ – lúc ấy cũng là bản nhạc – đi đến giai kết hoàn toàn (cadence parfaite). Chữ “thề”, có âm vang của chữ “mê” trợ lực, trở về chủ âm hết sức ngọt ngào. Vì bài thơ quá ngắn, có cảm xúc ở tầng 3 nhưng rất nhẹ.”

“Tóm lại, Nghiêng là bài thơ ngắn, ngắn nhưng hoàn chỉnh. Thi ảnh đẹp, thi pháp mới lạ”.

Sau đây tôi xin chép lại comment  của hai cây bút có uy tín, ít thấy khen ai trên diễn  đàn facebook đã viết dưới bài bình thơ trên:

 Trùng Dương: “Hay, bình thơ rất nhẹ, giống như những lời tâm sự của anh gởi cho La Thụy trút nỗi niềm tâm đắc ý nội, tâm ngoại. Lâu lâu đọc một đoản bút thật xúc động lâng lâng như một khúc nhạc mà chưa viết ra được thành âm giai. Trân trọng”

Lê Liên: “Thật tuyệt từ bài thơ tới bài bình. Cảm ơn nhà thơ và nhà bình thơ vì đã chia sẻ cảm xúc cho bạn thơ.
Chúc hai anh thật nhiều sức khỏe và sáng tác thật nhiều ạ.”

Nếu ta trực tiếp đọc toàn bộ bài bình thơ của nhà phê bình văn học Phạm Đức Nhì, ta sẽ thấy ở đó lần lượt nhưng nhận xét xác thực, bằng lời văn có tiếng thơ nhiều âm giai như nhạc sĩ Trùng Dương đã viết. Nếu nói Trần Mai Ngân viết cảm xúc trong nội tâm mình khi đọc bài thơ “Nghiêng” thì Phạm Đức Nhì viết suy nghiệm trong nội tâm mình về bài thơ ấy. Suy nghiệm ấy được trình bày bằng thuật ngữ và dưới bút pháp thi ca. Đọc bài thơ của La Thụy rồi đọc bài bình thơ của Phạm Đức Nhì, ta không phải mở lòng mà ta con mở trí để hiểu sâu xa thi pháp trong bài thơ mà tác giả đã xử dụng tài tình.

Bây giờ, xin mời bước qua bài bình thơ thứ ba, bài “Cảm nhận về bài thơ “Nghiêng” của La Thụy. Bài viết của Nguyên Lạc.

Ở bài nầy Châu Thạch xin trình bày từng phần để dễ hiểu hơn.

1-  Nguyên Lạc viết: “Theo quan niệm riêng tôi về thơ văn, trong con người có hai cái tôi: Cái tôi lý trí và cái tôi cảm xúc”

Từ xưa đến nay sách vở thường cho biết cái tôi chính là cái cá tính, cái bản chất vốn có của mỗi người. Có người xem cái tôi của mình quá lớn, có người lại tự ti về cái tôi của mình. Người thì có cái tôi nghiêng về lý trí, người lại có cái tôi nghiêng về tình cảm. Người bình thường thì phải giữ cái tôi sao cho hài hòa, không nghiêng bên nào quá. Khi cảm xúc lấn áp lý trí hay khi lý trí lấn áp cảm xúc trong một con người thì không phải là hai cái tôi trong con người đối nghịch lấn áp nhau mà là cái tôi của chính người đó diễn biến theo chiều tích cực hay tiêu cực mà thôi. Vậy cho nên trong con người không có hai cái tôi bao giờ.

2-  Nguyên Lạc viết 
“Chỉ có "xỉn" rượu và do đó "xỉn tình đời" mới nghiêng ngả , chông chênh. Và do đó TRĂNG nghiêng theo, đổ sầu vào lòng tác giả. Phải không?
Đây là "cơn hứng" (phút xuất thần) của tác giả khi "xỉn rượu" đầy tâm tư, nhớ TÌNH, ĐỜI. Rượu giải phá "thành sầu" nhưng được không? Hay là càng sầu thêm.”

 Bài thơ “Nghiêng” là bài thơ viết về sự hồi ức một quá khứ lâu dài mà tác giả vì một lý do gì đó đã để trôi đi những hương vị ngọt nào của một cuộc tình. Bài thơ “Nghiêng” không viết về tác giả nổi “cơn hứng”, “xỉn rượu” làm cho “nghiêng ngã”, “ chông chênh” như nhà bình thơ đã nói ở trên. Cái chữ “Ai từng” cho ta thấy là tác giả nhớ về quá khứ chứ không phải hiện tại. Câu thơ “Chắt lắng hết hương mê” cho ta thấy một hành động chậm chạp, chắt cho lắng hết chớ không phải là đổ ào đi. Vậy thì ý nghĩa của câu thơ là tác giả đã tự tay mình chao nghiêng “bình tình yêu” và chắt đi cái hương vi mê ly cho bằng hết. Câu thơ đó chứng tỏ tác giả đang ân hận về những gì mình trong quá khứ đã làm cho cuộc tình phải cạn yêu đương.
Có thể thi nhân viết bài thơ trong khi say nhưng chủ đề của bài mà thi nhân muốn nói là hồi ức và ân hận. Người bình thơ phải đồng cảm với diễn biến xảy ra trong chiều sâu tâm hồn tác giả chứ không phải làm lạc chủ đề của bài thơ, đưa chủ đề của bài thơ qua một lảnh vực khác không ăn nhập gì cả. Người bình có thể đề cập đến cái say của tác giả nhưng phải đặt ở phần phụ, phần nói thêm để diễn đạt sâu thêm về bài thơ mà thôi. Ở đây nhà bình thơ viết về cái say, cái xỉn mà hoàn toàn bỏ qua chủ đề chính của bài thơ là tưởng nhớ và ân hận. Hơn nữa bài bình thơ khi khen chỉ khen chung chung, không biết cái hay của bài thơ ở chỗ nào, ở câu thơ nào, ở ý nào hay ở tứ thơ nào cả.

3-  Nguyên Lạc viết:
“Một bài thơ hay phải có ba yếu tố:vần, nhạc và họa”, “ Thơ không có vần, nhạc, họa cũng giống như bộ xương thịt đã mát hết. Ai có thể ôm ấp, làm tình với bộ xương”
 “Tuy nhiên về vần, theo chủ quan, cách ngắt dòng của La Thụy chưa hoàn toàn đạt”
“Theo tôi câu 4 ngắt dòng như thế này thì tuyệt, ̣xin ghi lại bài thơ
1. Ai từng chao nghiêng
2. Chắt lắng hết hương mê
3. Chừ hoài niệm
3.' Len lỏi ngoằn ngoèo
4. Trong ký ức
5. Tình xưa hẹn ước
6. Chông chênh rơi mất ánh trăng thề?”


Đọc Phạm Đức Nhì ở trên ta thấy ông đã công nhận “Nghiêng” là một bài thơ trọn vẹn gây cảm xúc từ tầng 1 (câu chữ) cho đến tầng 2 “thế trận”, nghĩa là ngoài những cái hay khác thì bài thơ được gieo vận hợp lý mà tài hoa. Thế nhưng Nguyên lạc nói ngược lại hết.
Nhà bình thơ Nguyên Lạc nói “một bài thơ hay phải có ba yếu tố: vần, nhạc và họa” “ Thơ không có vần, nhạc, họa cũng giống như bộ xương thịt đã mát hết. Ai có thể ôm ấp, làm tình với bộ xương”
Thế rồi nhà bình thơ lại nói: “Tuy nhiên về vần, theo chủ quan, cách ngắt dòng của La Thụy chưa hoàn toàn đạt”
Vậy là nhà bình thơ Nguyên Lạc gián tiếp nói thơ La Thụy như bộ xương thịt đã mất. Nếu không mất hết thì bài thơ cũng giống như một thân thể cháy sém lòi xương ra rồi.
Thế rồi nhà bình thơ Nguyên Lạc còn làm thầy dạy tác giả La Thụy chỉnh sửa thơ nữa chứ:
“Theo tôi câu 4 ngắt dòng như thế này thì tuyệt, ̣xin ghi lại bài thơ
1. Ai từng chao nghiêng
2. Chắt lắng hết hương mê
3. Chừ hoài niệm
3.' Len lỏi ngoằn ngoèo
4. Trong ký ức
5. Tình xưa hẹn ước
6. Chông chênh rơi mất ánh trăng thề?”


Nhà thơ La Thụy, một cây bút được nhiều thi hữu ái mộ, chưa là bậc đàn anh, thì cũng có tầm cỡ  trên văn đàn. Thế nhưng Nguyên Lạc đã bày cho ông ấy làm thơ. Đó là một thái độ  trịch thượng. Thế nhưng nhà phê bình thơ cũng bày sai trật quá đổi, chưa nói là ấu trỉ vô cùng:
Bài thơ “Nghiêng” là một bài thơ tự do, chữ và vần không bó buộc khắt khe lắm. Tuy thế dầu là thơ tự do cũng phải có lúc trầm lúc bổng, lúc dồn dập lúc du dương.
Xin hãy đọc bài thơ nghiêng của La Thụy:

NGHIÊNG
Ai từng chao nghiêng
Chắt lắng hết hương mê
Chừ hoài niệm
Len lỏi ngoằn ngoèo trong ký ức
Tình xưa hẹn ước
Chông chênh rơi mất ánh trăng thề?

Người biết ngâm thơ hay không biết ngâm thơ, cứ thử ngâm to bài thơ nầy lên. Ta sẽ sẽ thấy câu thơ “Len lỏi ngoằn ngoèo trong ký ức” làm cho âm điệu bài thơ ở chỗ nầy ngân lên. Âm vọng của nó sẽ truyền tải đến ta sự thiết tha trong lòng tác giả.
Nay người bình biểu cắt câu thơ “len lỏi ngoằn ngoèo trong ký ức” thành hai câu “Len lỏi ngoằn ngoèo/ Trong ký ức” lập tức làm cho cả bài thơ thành một bài vè hoặc một bài lô tô vậy.
Người bình cho rằng câu thơ nầy không ăn vận với câu trên nhưng thật ra nó ăn câu trên ở yêu vận.

Tóm lại bài bình  của Nguyên Lạc không nói được gì cho bài thơ cả ngoài việc cho người đọc thấy tác giả say và xỉn và chếnh choáng mà thôi. Đem câu “Dục phá thành sầu tu dụng tửu” vào đây để biện luận cho lời bình chỉ là phá thêm cho bài thơ hay mất đi nhiều ý nghĩa thâm thúy, vô biên và quyến luyến .
Châu Thạch xin cảm ơn quý vị đã đọc bài viết thật dài.

                                                                    Châu Thạch
READ MORE - BÀN VỀ BA BÀI BÌNH THƠ “NGHIÊNG” CỦA LA THỤY - Châu Thạch

Monday, February 18, 2019

Chùm ảnh NÉT ĐẸP QUÊ HƯƠNG - Hồ Phú












READ MORE - Chùm ảnh NÉT ĐẸP QUÊ HƯƠNG - Hồ Phú

CHÙM THƠ " CẢM THÁN VỚI TÌNH YÊU" - Phạm Ngọc Thái




Nhậu say tỏ tình với 4 crush, cô gái đau đầu khi cả 4 người cùng đồng ý

                 TẠ TỘI TRƯỚC TÌNH YÊU

                               Tặng người nữ sinh yêu dấu của đời tôi

                                                       *
Đã xa lắm! Tình xưa bùng cháy lại
Thưở mơ màng đâu còn nữa, em ơi!
Tóc anh nay nhiều sợi bạc rồi
Em ở tận phương trời, biệt tích ...

Nhớ những đêm trăng cùng nhau dạo bước
Nụ hôn nào đang dính giọt sương đêm
Người nữ sinh ? Anh không thể quên 
Dù đã yêu bao nhiêu lần khác.

Tình đổ vỡ. Trái tim anh tan nát
Tháng năm qua, hàn vá được đâu em?
Đời trôi đi ... trăm nỗi u phiền ...
Cuộc sống phong trần. Tình nhạt nhòa, tẻ ngắt.

Có lỗi lầm không sao xóa được
Là phút giây anh gạt bỏ tình em
Ánh mắt thơ xưa tha thiết nhìn anh
Vết thương cũ xiết mãi lòng đau nhói

Em hiển hiện, người thiếu nữ dịu dàng biết mấy
Bao áng thơ ta từng viết về em
Nhìn thấy không gái ơi?
              Mảnh trăng khuyết bên thềm 
Ta thao thức gọi tên nàng trong hoang vắng

Anh quì xuống giữa không gian sâu thẳm
Tạ tội với đất trời ! Vì đã bội phản cuộc tình em ...

          11.2.2019
  
ANH ĐỨNG NHÌN THEO BÓNG CHIM CÂU

Mấy chục năm rồi ... Em ở đâu ?
Ơi, người con gái của thời yêu !
Chiều nay thành phố trong mưa lạnh
Anh đứng nhìn theo bóng chim câu

Kìa ! Dáng hình xưa lại hiện về
Gót thon bước nhẹ dưới đường quê
Gió bay mái tóc hương thơm ngát
Để cả trời xanh phải đê mê

Tiếng hát ai đưa vọng bên hồ
Đã xa năm tháng hãy còn mơ
Mắt em thăm thẳm soi làn nước
Tận đáy hồn anh cứ ngẩn ngơ

Chiều nay mà ngỡ buổi chiều nao
Vẫn đến trường em lối cổng vào
Đón cô thiếu nữ xinh xẻo ấy
Chạy đến bên anh tủm tỉm chào

Thôi thế, hết rồi ... Bé yêu ơi !
Bụi cát lầm lên phủ cuộc đời
Giá em mãi tuổi đôi mươi nhỉ 
Và anh cũng đừng vội già người

Mấy chục năm trời ... Em ở đâu ?
Anh đứng nhìn theo bóng chim câu ...

          13.2.2019
   PHẠM NGỌC THÁI
READ MORE - CHÙM THƠ " CẢM THÁN VỚI TÌNH YÊU" - Phạm Ngọc Thái

VỀ ĐỒNG HỚI QUÊ EM - Thơ Nguyễn Đại Duẫn

Tác giả Nguyễn Đại Duẫn



VỀ ĐỒNG HỚI QUÊ EM
Anh về Đồng Hới quê em
Bên dòng Nhật Lệ trôi êm hiền hòa
Mến em cái nết thật thà
Nụ cười chúm chím mặn mà nét duyên


Cùng em bãi biển triều lên
Đuổi con còng gió trăng lên chưa về


Hoa Hồng thành phố uy nghi
Đêm đêm ánh điện những vì sao xinh


Đến đây như thể quê mình
Rừng dương mê mãi rung rinh nắng hè


Cánh diều no gió bờ đê
Vi vu điệu nhạc đồng quê êm đềm


Trên dòng Nhật Lệ trăng lên
Thuyền ai thả lưới cất lên giọng hò


Điệu hò vang vọng đôi bờ
Xôn xao bến nước con đò lung linh


Quê em Đồng Hới đẹp xinh
Về đây anh muốn chúng mình quê chung


Nguyễn Đại Duẫn
Hội viên Hội VHNT Trường Sơn

READ MORE - VỀ ĐỒNG HỚI QUÊ EM - Thơ Nguyễn Đại Duẫn

TẾT NGUYÊN TIÊU - Trần Kiêm Đoàn




TẾT NGUYÊN TIÊU

Hình ảnh và nội dung tết Nguyên tiêu vẫn còn là một khái niệm tương đối xa lạ với phần đông người Việt Nam thuộc thế hệ trẻ, nhất là người Việt tại hải ngoại.

Vậy sau tết Nguyên Đán thì tết Nguyên Tiêu là gì?
Tết Nguyên Tiêu - Rằm tháng Giêng Âm lịch - là ngày lễ hội cổ truyền tại Trung Quốc và là tết Thượng Nguyên tại Việt Nam. Lễ hội trăng rằm từ giữa đêm 14 trọn ngày 15 và kéo dài cho đến nửa đêm 15 ( có trăng Rằm vằng vặc) vào tháng giêng âm lịch.

Ở Việt Nam, ngày rằm Tháng Giêng là dịp dân chúng lên chùa cúng sao giải hạn, cầu nguyện điều lành; mặc dầu tín lý nhà Phật không nói đến. Các chùa thường tụng kinh Dược Sư với sự quy tụ quần chúng Phật tử cùng tụng niệm và hồi hướng công đức để thế giới được an lành.

Lễ hội đêm trăng rằm hiện được nhiều nơi Việt Nam khôi phục truyền thống văn hóa cổ, tổ chức đêm Nguyên tiêu của Ngày Thơ Việt Nam. Cho đến nay tinh thần “Thơ Nguyên Tiêu Việt Nam” đã thành nếp sinh hoạt văn nghệ rất đẹp ở nhiều địa phương.

Đặc biệt tại Huế, tết Nguyên tiêu vẫn được duy trì và tổ chức dưới hình thức lễ hội như một ngày truyền thống đầu năm. Hầu hết các chùa đều có có mở Đàn Tràng Dược Sư để cầu an và cầu nguyện sự an vui trong năm mới.

Những năm về sau này, tết Nguyên tiêu ở Huế đã trở thành một lễ hội mang tính nghệ thuật đầy thú vị trong đại chúng. Địa điểm được chọn là núi Ngự Bình. Đêm rằm Nguyên tiêu, thường có rất nhiều người, đặc biệt là giới trẻ văn nghệ Huế, hẹn nhau lên núi Ngự Bình để uống rượu thưởng trăng trên núi Ngự Bình mà người ta thường cho rằng đây là hình ảnh mặt trăng treo trên bầu trời trong sáng và đẹp nhất trong năm. Những hình thức và tục lệ khả ái, mỹ thuật như làm thơ, ngâm thơ, vịnh thơ, bình thơ, thả thơ... cũng được nhiệt tình hưởng ứng.

Theo truyền thống Thả Thơ tại Trung Quốc trong dịp Nguyên tiêu thì phổ thông nhất là thể thơ Đường luật được sáng tác, ngâm vịnh, họa thơ, bình thơ và thả thơ. Thơ được làm ra viết trên giấy thả theo dòng nước hay là thả bay tung lên không gian qua nhiều hình thức khác nhau.

Các vị sính thơ tại Việt Nam thì thường dùng ba hình thức thơ phổ biến nhất là: Thất ngôn Bát cú, Song thất Lục bát và Lục bát. Vẫn có hình thức thơ tự do nhưng còn hiếm.

Sau đây, người viết những dòng này xin thả thơ với một bài Thất ngôn Bát cú “Con Cóc” như sau:

CÓC DẠ NGUYÊN TIÊU

Đêm trăng vằng vặc Tết Nguyên Tiêu,
Cóc nhớ Hằng Nga phải đánh liều.
Ra khỏi hang sâu trăng sáng quá,
Trở về chốn cũ bóng cô liêu.
Da cóc quản chi đời ấm lạnh,
Tâm trong chẳng ngại cảnh tiêu điều.
Cóc dạ Nguyên tiêu nhìn bốn hướng,
Thả thơ tặng bạn với thân yêu.

Tại Hoa Kỳ, California, nơi chúng tôi đang định cư trên 35 năm nay, tục lệ tết Nguyên tiêu thường được tổ chức trong các chùa theo môn phái Đại thừa Tịnh Độ mà các tăng ni chủ trì phần lớn xuất thân từ Huế.
Tết Nguyên tiêu năm nay, tôi được tham dự lễ hội tại chùa Kim Quang. Đây là một trong những ngôi chùa đầu tiên của người Việt Nam tại Mỹ được xây dựng sau 1975. Và theo truyền thống “Đông Tây đề huề” thì bất cứ lễ hội nào, dẫu quan trọng đến đâu tại các nước Âu Mỹ cũng phải tổ chức vào dịp Weekend - cuối tuần, nên “Nguyên Tiêu” năm nay là ngày Chủ Nhật, dẫu mới là ngày 13 tháng giêng Âm lịch.

Sau ba ngày hành lễ Đàn tràng Dược sư, Tết Nguyên tiêu kết thúc với một chương trình văn nghệ đặc biệt của Gia đình Phật tử Kim Quang với hơn 200 đoàn sinh tập luyện công phu từ nhiều tháng trước. Các cháu đã trình diễn khá xuất sắc, thu hút và tạo được sự hưởng ứng, cổ võ nồng nhiệt của đông đảo khán giả ngồi chật sân chùa.

Chào hội Nguyên tiêu và xin chúc mọi người tiếp tục hưởng một Năm Mới Kỷ Hợi 2019 sức khỏe và an vui.

                                     Sacramento, Nguyên tiêu 2019
                                               Trần Kiêm Đoàn

READ MORE - TẾT NGUYÊN TIÊU - Trần Kiêm Đoàn

ĐỌC BÀI THƠ “NGHIÊNG” CỦA LA THỤY - Phạm Đức Nhì



                       Nhà bình thơ Phạm Đức Nhì


ĐỌC BÀI THƠ “NGHIÊNG” CỦA LA THỤY


NGHIÊNG

Ai từng chao nghiêng
Chắt lắng hết hương mê
Chừ hoài niệm
Len lỏi ngoằn ngoèo trong ký ức
Tình xưa hẹn ước
Chông chênh rơi mất ánh trăng thề?

                                        La Thụy

Tứ thơ chỉ là một câu hỏi của tác giả “Có ai từng đang ngắm trăng, hồn bỗng chao nghiêng, hương mê lắng đọng, tình xưa hẹn ước, kỷ niệm hiện về, để cuối cùng trời đất cũng chao nghiêng, ánh trăng thề chông chênh rơi mất, chỉ còn ta với những bóng hình xưa?”

Với tôi, La Thụy làm thơ đều tay và chắc tay. Đọc một số thơ anh tôi có cảm tưởng anh “thích” lối dàn quân của Thơ Mới.. Nhưng không hiểu sao mấy bài sau này trên VNQT (Hòn Chồng, Mẹ) anh đã mạnh dạn thay đổi số chữ trong câu. Đặc biệt đến bài Nghiêng thì anh lại nổi hứng bứt phá hết những sợi dây trói buộc của thơ truyền thống và Thơ Mới.

Có lẽ khi “chao nghiêng” tâm hồn thi sĩ đang bồng bềnh chơi vơi ở một nơi xa nào đó - đủ xa để “quên hết lời em dặn dò”, ở đây là quên hết luật tắc của thơ và “rơi mất ánh trăng thề”. Nhưng chẳng phải quên như vậy lại là cái hay hay sao?

Có thể nói Nghiêng của La Thụy là bài thơ phá hết mọi lề luật - chỉ giữ lại chút vần. Vần không chỉ thoang thoảng rất vừa độ ngọt mà vị ngọt cũng khác lạ. Không phải cái ngọt bình thường của đường mía hay đường thốt nốt mà hình như là vị ngọt của mật ong nguyên chất từ chốn rừng sâu núi thẳm.

Cách ngắt dòng, dàn trận của Nghiêng, theo tôi cũng rất tuyệt, chứng tỏ tác giả đã nắm trong tay toàn quyền tự do sắp xếp, điều khiển đội quân chữ nghĩa của mình. Chữ “mê” đang lơ lửng trong không gian; “Chừ hoài niệm” và “Tình xưa hẹn ước” nên đọc khe khẽ, hơi lướt qua để câu “len lỏi ngoằn ngoèo trong ký ức” được sóng đôi với câu kết “Chông chênh rơi mất ánh trăng thề”. (Cả 2 câu đều 7 chữ). Chữ “mê” đang thơ thẩn đợi chờ, thấy bóng chữ “thề” ở cuối đường, chạy bay lại như gặp người tình trong mộng. “Mê” “thề” ôm ghì chặt nhau trong niềm hạnh phúc vô biên.
Người đọc nào đọc hết bài thơ mà không lây cái niềm hạnh phúc ấy!

Một đặc điểm nữa của Nghiêng là sự cô đọng. Bài thơ chỉ có 30 chữ, nhưng để “tóm tắt” đại ý của tứ thơ tôi đã phải “gói gọn” trong 45 chữ. Sức nén của ngôn ngữ thơ trong Nghiêng thật đáng nể.
Cảm xúc từ tầng 1 (câu chữ) và tầng 2 (thế trận) - đặc biệt là tầng 2 - khá mạnh. Độc giả thật sảng khoái khi bài thơ – lúc ấy cũng là bản nhạc – đi đến giai kết hoàn toàn (cadence parfaite). Chữ “thề”, có âm vang của chữ “mê” trợ lực, trở về chủ âm hết sức ngọt ngào. Vì bài thơ quá ngắn, có cảm xúc ở tầng 3 nhưng rất nhẹ.

Tóm lại, Nghiêng là bài thơ ngắn, ngắn nhưng hoàn chỉnh. Thi ảnh đẹp, thi pháp mới lạ, Chỉ thế thôi cũng đủ làm thi sĩ nở mày, nở mặt với đứa con tinh thần của mình. Hy vọng La Thụy nhận ra thế mạnh từ thi pháp của Nghiêng để khi có tứ thơ hay, cảm xúc dạt dào sẽ cho ra đời những bài thơ bề thế hơn. Và dĩ nhiên, còn hay hơn nữa.

                                                               Phạm Đức Nhì

READ MORE - ĐỌC BÀI THƠ “NGHIÊNG” CỦA LA THỤY - Phạm Đức Nhì

BÀN VỀ BÀI BÌNH THƠ “THUYÊN NEO BẾN LẠ” CỦA ĐĂNG XUÂN XUYẾN - Châu Thạch



        Nhà bình thơ Châu Thạch


BÀN VỀ BÀI BÌNH THƠ “THUYÊN NEO BẾN LẠ”
CỦA ĐĂNG XUÂN XUYẾN

Nhân được nhà thơ Đặng Xuân Xuyến báo tin cho tôi đọc bài viết “Tưng Tưng bảy chuyện cùng…Nguyễn Đăng Hành” tôi tò mò tìm đọc thêm một vài bài của anh trên trang web dangxuanxuyen.blogspot.com. Nhờ vậy bài bình thơ “Vài suy nghĩ khi đọc Thuyền Neo Bến Lạ của Phúc Toản” đập vào mắt tôi. Cái khiến cho tôi dừng lại để đọc không phải là bài bình mà chính là bài thơ “Thuyền Neo Bến Lạ” của nhà thơ Phúc Toản. Đọc bài thơ xong, xúc cảm với bài thơ đưa tôi đọc tiếp bài bình. Xin mời thưởng bài thơ trước:


THUYỀN NEO BẾN LẠ
          (Gửi NTPT)

Lạnh lùng cơn gió chiều đông
Xô con thuyền nhỏ theo dòng về xa ...
Dây đời buộc tím nhành hoa
Ngày vui ...mà lệ ướt nhòa câu thơ ...

Thật rồi... vẫn ngỡ là mơ
Lấy chồng! Em lấy chồng! Ơ! Lấy chồng...
Gừng cay, muối mặn xát lòng
Nỗi buồn cứ nhói vào trong nỗi mừng...
Một luồng gió thổi sau lưng
Tân bao kỷ niệm, đoạn từng nhớ thương...
Mùa xuân phía trước dâng hương
Đằng sau lạnh buốt một phương trời buồn...

                            Tân Yên, tháng 01.2001
                                  PHÚC TOẢN

Nhà thơ Đặng Xuân Xuyến đã viết lời bình ngắn, trình bày lướt qua vài cảm nhận mà anh đã có khi đọc bài thơ nầy. Để bài viết không dài, Châu Thạch xin nêu những ý chính trong bài bình của Đặng Xuân Xuyến và đóng góp những ý kiến của mình như là một cuộc trò chuyện văn chương, hầu góp vui cho bạn đọc thư giản năm, mười phút mà thôi.

Trong bài bình thơ ngắn, gọn và xúc tích nhà thơ Đăng Xuân Xuyến đã nêu cảm nhận của mình  đại ý như sau:   

1 - “Tôi thích khổ thơ thứ hai, khổ thơ gây nhiều ấn tượng với tôi.
Cách chuyển nhịp từ 2/4 (tiết tấu chậm) ở câu lục: "Thật rồi... vẫn ngỡ là mơ", sang nhịp 2/3/1/2 (tiết tấu nhanh) ở câu bát: "Lấy chồng! Em lấy chồng! Ơ! Lấy chồng...", đã khéo léo đặt tâm trạng của nhân vật "tôi" cùng (lúc) rơi vào nhiều cung bậc tình cảm. Với cách ngắt nhịp đặc biệt ở câu bát như thế, nhà thơ Phúc Toản đã thành công trong việc miêu tả nội tâm của chàng trai khi được tin người yêu lấy chồng chỉ trong một câu thơ”
“Tôi nghĩ, đấy là câu thơ độc đáo, đã giúp bài thơ sáng lên.”

Phần nầy nhà thơ Đặng Xuân Xuyến đã nói đủ, Châu Thạch tôi chỉ xin bàn về việc vì sao nhà thơ dùng chữ “Ơ!” mà không dùng chữ “Ơi!” hay chữ “ÔI” trong câu thơ “Lấy chồng! Em lấy chồng! Ơ! Lấy chồng…” mà thôi.

Ta thử tìm nghĩa của các chữ trong tự điển:
Nghĩa của chữ ơi: “Là cảm từ, tiếng dùng để gọi một cách thân mật”
Nghĩa của chữ ôi: “Là cảm từ, tiếng thốt ra biểu lộ ý than thở”
Nghĩa của chữ ơ: Không tìm thấy nghĩa

Chữ “Ơ!” là một cảm từ hay là một tiếng tán thán không có trong tự điển  nhưng có ở ngoài đời. Theo tôi,nhà thơ Phúc Toản thật là tinh tế khi dùng chữ “Ơ!” để diển tả sự ngạc nhiên đến bất ngờ do người thân yêu đem tới mà mình chưa kịp cảm nhận nỗi đau xảy ra trong lòng, chưa đủ bình tỉnh mà than thở bằng chữ “Ơi!” hay ta thán bằng chữ “Ôi!”. Chữ “Ơ!” là một tiêng kêu ngập ngừng được thốt lên giữa chữ “Ơi!” và chữ “Ôi!”,nó diễn tả được toàn bộ và rốt ráo diễn biến rất thật xảy ra trong lòng chàng trai khi hay tin người yêu lấy chồng “Thật rồi…vẫn ngỡ là mơ”. Chàng trai không biết rõ mình đang ở giữa sự thật hay chỉ là mơ nên nhà thơ dùng chữ “Ơ!” để cho chàng trai kêu lên. Đó là một cảm từ ít dùng trong văn, nhưng lại có trong thực tế, tác giả đã dùng để lột tả được biểu cảm của con người một cách rất hay.

Xin nói thêm về tiết tấu nhanh cúa câu thơ ở nhịp 2/3/1/2 mà nhà thơ Đặng Xuân Xuyến đã đề cập đến.
Nhà thơ Nguyễn Bính có một câu thơ tiết tấu hơi giống chớ không phải là giống toàn bộ câu thơ nầy: “Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm”(3/3/2). Ta đặt hai câu thơ cận nhau sẽ thấy rõ sự khác biệt về tiết tấu thơ, về ý nghĩa thơ khác nhau tất cả:

Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buôm (3/3/2)
Lấy chồng! Em lấy chồng! Ơ! Lấy chồng! (2/3/1/2)

Câu thơ của Nguyễn Bính chỉ dùng để chỉ sự vật, mô tả sự nhấp nhô của cánh buồm. Ngược lại câu thơ của Phúc Toản diễn tả nội tâm. Đem hai câu thơ nầy để so sánh câu nào hay hơn câu nào thì thật là khập khiểng. Thế nhưng ta có thể thấy rõ nhà thơ Phúc Toản chỉ dùng thêm chữ “Ơ!” mà câu thơ của anh có tiết tấu na ná như Nguyễn Bính lại khác hẳn đi trong cảm xúc của ta. Câu thơ của Phúc Toản bị dừng lại đột ngột ở chữ “Ơ!”, cho thấy sự thảng thốt xảy ra trong lòng chàng trai, giống như con thuyền ngừng lại bất ngờ trong phút chốc vì sự cố nào đó, rồi lại tiếp tục lên đường, còn câu thơ của Nguyễn Bính thì ta thấy con thuyền êm ái đi về cuối phương trời.

Đặng Xuân Xuyến tiếp tục suy nghĩ về bài thơ nầy như sau:

2) “Không than vãn, kế nể, không nặng lời trách móc khi người yêu theo "thuyền neo bến lạ", nhà thơ Phúc Toản đã gói ghém tất cả sự trách giận, nỗi xót xa của chàng trai vào 2 câu thơ:

"Gừng cay, muối mặn xát lòng
Nỗi buồn cứ nhói vào trong nỗi mừng ..."

“Nỗi đau ấy không chỉ bào xót trái tim chàng trai mà còn làm rức buốt trái tim cô gái - người đang cử hành hôn lễ với một người đàn ông xa lạ.”

Ý kiến của Châu Thạch:
Có người cấm dùng câu thơ “Gừng cay muối mặn xát lòng” vì cho rằng cặp trai gái phải động phòng hoa chúc, thành vợ thành chồng mới được dùng câu nầy.
Hiểu như vậy thì thật là quá khắt khe.
Biểu tượng muối mặn- gừng cay là một biểu tượng kép, ghép biểu tượng muối và biểu tượng gừng thành một với ý nghĩa tượng trưng cho cho tình duyên chung thủy cùng nhau, trong đó vợ chồng là một trong những ngữ cảnh mà thôi. Ngữ cảnh là hoàn cảnh lúc hành văn. Một câu nói nhưng đặt trong ngữ cảnh khác nhau thì mang nghĩa khác nhau. Ở đây nhà thơ Phúc Toản không đặt biểu tượng kép “Gừng cay muối mặn” vào ngữ cảnh vợ chồng mà đặt vào ngữ cảnh tình yêu. Đó là quyền của tác giả mà người đọc thơ phải thẩm thâu ý nghĩa đó thì mới thấy cái hay của nó. Ngược lại nếu người đọc thơ cứ xoi mói, tìm kiếm để bắt bẻ thì không bao giờ hiểu được cái hay của nó.

Về câu thơ “Nỗi buồn cứ nhói vào trong nỗi mừng”.
Câu thơ trên bị điệp từ chữ “nỗi”, có người cho là không hay. Thế nhưng điệp từ dưới những cây bút lão luyện thì đó là  “biện pháp tu từ nhắc đi nhắc lại nhiều lần, có tác dụng làm tăng cường hiệu quả diễn đạt, nhấn mạnh, tạo ấn tượng, gợi liên tưởng, tăng cảm xúc cho câu thơ rất nhiều”. Hai chữ “nỗi” trong câu thơ trên là điệp từ như vậy

Cuối xùng xin đặt ra một câu hỏi rất cắc cớ. Vì sao “nỗi buồn” lại nằm chung với “nỗi mừng”? Có nghịch lý chăng?
Có người cho rằng:
“Nỗi mừng”? Người yêu vu quy lấy chồng mà mừng? cũng lạ?
Nếu ‘mừng” này ở cô gái thì “không chân thật” trong tình yêu càng rõ ràng.

Xin thưa. Câu thơ không có gì là nghịch lý. Hai người yêu nhau nhưng nàng phải đột ngột chia tay để làm “thuyền neo bến lạ” tất nhiên bên trong cuộc tình phải có một nan đề gì đó. Nửa mừng nửa vui có thể là tâm trạng thật sự của riêng chàng trai, của riêng cô gái hay có khi, của cả hai người. Đọc thơ, ta cảm nhận được nỗi éo le trong cuộc tình, ta thổn thức với sự dở khóc dở cười của nhân vật trong thơ, chứ không đọc thơ để ta làm anh chàng ngồi lê, móc cái tâm sự của thiên hạ ra mà diểu cợt. Người đọc thơ cũng là người làm thơ. Khi không hiểu một điều mà tác giả không nói hết trong thơ được thì ta phải tự hư cấu lên mà thưởng thức cái hay của nó, chớ không ngồi đó mà hỏi tại sao thế nầy, tại sao thế nọ, phải như thế nầy phải như thế nọ thì muôn đời cũng không hiểu được thơ. Đọc thơ như thế thì thà ta ngồi chợ đấu khẩu nhau thú vị hơn nhiều. Nỗi buồn xen với nỗi mừng cũng có khi là tâm trạng của chính tác giả bài thơ. Cũng có thể nhà thơ đã  đặt cảm xúc của mình lên câu thơ đó, thấy hôn nhân thì vui, nhưng thấy sự sự tan vỡ thì buồn. Cảm xúc đó có ngay trong sâu kín của lòng ta khi đọc thơ mà ta không thấy được đấy thôi.

Cuối cùng tôi xin cảm ơn cả hai nhà thơ Phúc Toản và Đặng Xuân Xuyến đã đem đến cho tôi một niềm vui thưởng thức thơ và bình thơ đầu xuân Kỷ Hợi. Cả hai đều có phong cách viết ngắn gọn mà xúc tích, truyền tải đến người đọc sự rung cảm của chính mình bằng lời thơ, lời văn có âm vọng và có cánh bay cao.

                                                               Châu Thạch

READ MORE - BÀN VỀ BÀI BÌNH THƠ “THUYÊN NEO BẾN LẠ” CỦA ĐĂNG XUÂN XUYẾN - Châu Thạch