Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, November 21, 2016

BẾN ĐỢI NGẬM NGÙI - Thơ Sĩ Chương



              Tác giả Sĩ Chương



   BẾN ĐỢI NGẬM NGÙI

   Tạm biệt Sài Gòn
   mai mình về Đà Nẵng
   Con tàu đưa ta 
   biển Miền Trung vị mặn
   Hạt muối Sa Huỳnh 
   trắng tóc sân phơi
   Em có hỏi tôi 
   đường bao cây số
   Người về đó 
   cho vần thơ yên nghỉ
   Đất Phương Nam
   nắng gió lắm chai lòng
   Bao năm rồi
   đâu đấu nổi chờ mong
   Dòng Kênh Tẻ
   ngậm ngùi thương bến đợi
   Ngoài nớ trong ni
   hai miền xa vời vợi
   Biết bao giờ
   trở lại một lần thăm
   Con sáo xa bầy 
   lưu lạc biết bao năm
   Nay Bến Lức 
   mai Thủ Thiêm
   Hay dòng Kênh Tàu Hủ
   Đã xa rồi 
   những mùa thu quyến rủ
   Bến đợi người
   người chờ bến còn đâu
   Hai phận đời 
   khác biệt xót lòng nhau
   Đêm thao thức 
   Phương Nam vầng trăng lạnh

                               Sĩ Chương  
                                 10/2014

READ MORE - BẾN ĐỢI NGẬM NGÙI - Thơ Sĩ Chương

THẦY NÓI NGỌNG - Thơ vui của Nguyễn Khôi

     
                         Nhà thơ Nguyễn Khôi



Thơ vui: 

THẦY NÓI NGỌNG
(Tặng Nhà văn Lê Mai & Ts.ngôn ngữ Ng.Ngọc Kiên)
                  ----
"Tính tương cận dã/ Tập tương viễn dã"
                                             Luận Ngữ
                        
Hồi cắp sách tới trường
Thầy giáo nhắc :
- Em Thái Bình tránh lờ = nờ ,
- Em HưngYên tránh nờ = lờ ...
Ngọng (từ) lưỡi thì dễ uốn
Còn ngọng (từ) tai thì khó đấy
phải luyện tập, lắng nghe...
               
Thời đi làm Quan chức
Buồn cười nhất là Sếp to qua "bổ túc " (1)
Ngọng líu, ngọng lô lại thích đăng đàn :
-Các đồng chí phải HỌC, HỌC NỮA, HỌC MÃI
theo lời dạy của Nê Lin (Lê nin) ! ?
               
Chao, hôm nay
Trên Diễn đàn Thế giới phẳng
lại phải nghe một vị Thầy nói ngọng
trong ngoài nước phì cười "
 Ôi, "Đào tạo đúng quy trình" ? ! 

             Hà Nội, 20-11-2016
               NGUYỄN KHÔI
----
(1) Ca dao / tục ngữ thời 1980:
- Dốt chuyên tu, ngu tại chức.
- Nếu không gặp bác Chuyên Tu/ làm sao biết được kẻ ngu hơn mình.
  
READ MORE - THẦY NÓI NGỌNG - Thơ vui của Nguyễn Khôi

Sunday, November 20, 2016

TÔI NGƯỜI CHẤP BÚT - Hồi ký của Lâm Bích Thủy


          
                        Tác giả Lâm Bích Thủy



              TÔI NGƯỜI CHẤP BÚT            
                                           Hồi ký của Lâm Bích Thủy

  Thời gian trôi nhanh quá! như dòng nước xiết cuốn hết bốn mùa vào quá khứ. Muốn giữ cũng không được! Thoáng đó mà đã mười mấy lần xuân qua. Mùa thu này, tôi và các em từ hai đầu đất nước rong ruổi về quê để làm mân cơm tưởng nhớ cha - người thi sĩ của “Bến My Lăng”, đã ra đi vào thu năm ấy! (15/8/1998 âm lịch)

      Hôm nay chợ Gò Chàm cũng đang phiên, thời gian ở đây dường như dừng lại. Trong không khí thiêng liêng của đất trời, tôi như nhìn thấy bóng dáng người cha thân yêu đang tựa lưng trên chiếc ghế gỗ ở góc trái nhà, mắt hướng về khu chợ đầy mùi cần lao, để cảm nhận quá khứ và hiện tại của thị trấn mà ông gắn bó cả một đời.       

     
Ảnh của nhà văn Mang Viên Long. Nhà thơ Yến Lan ngồi bên phải, nhìn ra chợ Gò Chàm


    Con người được sinh ra, trưởng thành, già rồi chết - là qui luật tự nhiên, công bằng với mọi vật có mặt trên trái đất. Có nghĩa người cũng mang một con số như bao đồ vật khác. Con số ấy; nó vận vào ngôi sao vận mệnh như định mệnh trời ban. Với Yến Lan - ba tôi, dường như phận đời ông rơi vào ngôi sao không may mắn!!!


  Bồi hồi nhớ lại ngày giỗ thứ 10 (15/8/2008 âm lịch). Hôm đó, má tôi khoe: “Con biết không, ngày giỗ ba, anh em ở Hội Văn Học Nghệ Thuật Quy Nhơn “Tổ chức đêm thơ Yến Lan.” Đầu giờ chiều, cơ quan lên đón gia đình ta xuống dự. Hôm ấy, má thấy người đến dự đông lắm con à!” Niềm tự hào về người chồng thi sĩ lộ rõ trên khuôn mặt già nua tuổi 90 của bà. Có một điều gì đó như vỡ òa ra rồi trộn lẫn vào tôi; khiến sự tổn thương về người cha trong tôi như tan biến đâu mất! Và, tôi cảm nhận được sự có mặt của ông trong ngày giỗ cũng đã nhận được chút ân tình ở đời nên nhẹ nhàng vút vào không giang…!

        
               Bà  Nguyễn Thị Lan-Vợ Nhà Thơ Yến Lan và Mang Viên Long 
                             ( Một góc phòng lưu niệm nhà thơ Yến Lan) 


   Thời gian qua, người yêu thơ Yến Lan, bạn đồng niên, vong niên, ai cũng chạnh lòng về ông - người bằng văn chương làm rạng danh cho quê hương mình với cái Bến My Lăng huyền ảo và bốn bài thơ mang tên Bình Định: Bình Định 1935; Bình Định 1945; Bình Định 1947; Bình Định 1975-76. Nhưng quê hương dường như cố tình quên ông! Điều đó thể hiện rõ trong đêm Festival Bình Định, đêm thơ hoành tráng với chủ đề “...dành cho thi nhân Bình Định.”


Dành cho thi nhân Bình Định, nhưng người yêu thơ Bình Định chỉ nghe thơ của hai thi sĩ gốc Thanh Hóa và Quảng Trị; khiến cho nỗi lòng người yêu thơ Yến Lan rất bức xúc:

-“Chúng ta thật vô tình và không công bằng với Yến Lan!!!”


  Lần giỗ thứ 12 vào rằm trung thu 2009, gia đình tôi mời  anh em Văn nghệ sĩ ở thị trấn. Những gì thể hiện hôm ấy đã làm ấm lòng gia đình tôi. Ai cũng tỏ ra vô cùng tiếc nuối cho ông-người công dân số 3 của Tứ Hữu Bàn Thành - một nhóm thơ mà bằng văn chương của mỗi người đã làm nên niềm tự hào cho miền đất võ Bình định.

  Một nhà văn trẻ, vẻ mặt ưu tư, chân thành nói:

 -  “Gia đình hãy làm cái gì đó cho Yến Lan đi, đừng để ông thiệt thòi mãi như vậy!”.

 Còn anh giáo viên dạy văn ở Đập Đá, như thấy mình có lỗi:

- Từ lâu, hầu như chúng ta đều lãng quên Yến Lan! Thế là có lỗi với cụ. Việc khơi dậy một nhà thơ như ông, sớm muộn gì cũng phải làm. Giờ tuy mưộn còn hơn không!

  Nhà thơ Chế Lan Viên đã viết (trong tác phẩm thơ Yến Lan, xuất bản vào năm 1986):

 “Có nhiều lý do. Nhưng thơ là cái đẹp lặng im, đi lầm lũi trong im lặng. Nếu không ai nhắc đến, chỉ ra, gọi tên, tán dương thì nó bị vùi lấp đi, đầu là trong im lặng mà sau là sự lãng quên”
 Vâng! vậy đó, có thể nói là đã đến lúc rồi. Song, nếu người nhà không làm cái việc ấy thì làm sao người ngoài biết được những gì mà Yến Lan đã tâm huyết cả đời mình.

 Nhưng là ai trong gia đình tôi? Từng khuôn mặt các em hiện ra: Tú Thủy, Huy Ánh, Hưng Đạo, Bạch Đàn? có đứa nào để tâm đến việc này; ngay cả Lâm Huy Nhuận, nó mang danh là nhà báo, nhà thơ là phóng viên của Đài tiếng nói Việt Nam mà không ý kiến gì đến! Tôi ư? Khi còn ngồi ghế nhà trường, tôi là đứa dốt văn nhất lớp lại ít gần gia đình, vì sống và học trong Trường học sinh Miền Nam tại Hải Phòng.


 Đầu óc tôi lộn xộn, rối như tơ vò, nghĩ không ra. Có lần, nhà văn Mang Viên Long gợi ý và tôi hứa sẽ cố gắng viết bài gởi vào blog của anh. Song tôi cò cưa thoái thác dần. Nhưng, anh không để tôi yên, hai ba lần anh điện vào Sài Gòn giục: “Em bảo về nhà viết bài gửi, sao để anh chờ hoài vậy?”  Và, như hiểu cái khó của tôi, anh động viên: “Em viết đi, viết một cách tự nhiên, có gì không thông, anh giúp”. Lại nữa, nhà văn Nguyễn Hòa - Văn Chương Việt cũng vào cuộc; động viên:- “Em cố gắng viết, đừng ngại, nhà thơ Yến Lan phải được đặt đúng vị trí mà lẽ ra từ lâu ông đã phải được đứng; các anh luôn bên em…”

Tôi đang bâng khuâng; bỗng như có ai gợi mở cho tôi lối đi là hãy bắt đầu từ “Phòng Lưu Niệm Yến Lan”. Phòng lưu niệm này có là nhờ tâm sức của má tôi và sự giúp đỡ của anh Long.

  Tôi lên lầu, nhìn mấy tủ sách, tài liệu. Đầu tiên là sự ngạc nhiên về người mẹ của tôi. Ngày thường, bà chỉ là người nội trợ trong gia đình, sao bà có được ý thức thu thập, gìn giữ, bảo tồn những kỷ vật của ba tôi một cách cẩn trọng và phong phú đến vậy?!...

  Tôi bắt đầu từ các xấp báo, thư từ, rồi đến những bài viết về Yến Lan. Lần giở từng tờ báo, tôi dán mắt vào bài: 

“Yến Lan, một nhà thơ lớn của văn học Việt Nam và của tỉnh Bình Định”:                            
“Đi vào cỏi bất tử, nhà thơ Yến Lan đã để lại cho dân tộc, cho kho tàng thơ việt Nam nhiều bài thơ độc đáo, đặc sắc từ ý đến lời. Anh đã được đặt ngang hàng với các nhà thơ lớn như Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận…Trong thời Pháp thuộc anh là bạn của Hàn Mặc Tử, Quách Tấn, Bích Khê, Chế Lan Viên, anh có đăng nhiều thơ trên các tập san và các báo trong thời điểm lúc bấy giờ. Trong kháng chiến chống Pháp anh sáng tác được nhiều thơ. Thơ anh đã đến với nhân dân và phục vụ cách mạng đúng lúc. Tập kết ra Bắc anh lại càng sáng tác nhiều thơ và đã xuất bản nhiều tập thơ phục vụ kịp thời những biến động của sự phát triển lịch sử cách mạng ở Miền Bắc. Ngày 14 tháng 4 năm 1991 anh được Hội đồng Nhà nhước tặng thưởng Huân chương lao động hạng Nhất …”   Văn nghệ BĐ/91-Trà Văn Tri


 Bài viết của ông Trà Văn Tri đã mở lối cho tôi:

 Bài báo đặt một vấn đề rất lớn, tôn vinh “Yến Lan” một nhà thơ lớn của nền Văn học Việt Nam và của tỉnh Bình Định. Bài báo có một tầm khái quát cao về cuộc đời thơ Yến Lan. Nó như nhan đề của một quyển sách Văn học sử, có thể dày đến hai ba trăm trang. Mà yêu cầu nghệ thuật viết văn học sử về những vấn đề như vậy thì quyển sách (hay bài báo) lại thiếu các phần sau đây:

  1/ Tiểu sử nhà thơ (trong này phải nêu rõ những đặc điểm về tiểu sử có liên quan mật thiết đến những khía cạnh về mặt nội dung tư tưởng toàn bộ các tác phẩm của nhà thơ)

  2/ Những tư tưởng, quan điểm, chính kiến, lòng nhân đạo của nhà thơ. Đặt điểm về nội dung tư tưởng ấy đạt đến đâu, như thế nào. Nó kế thừa những gì của quá khứ và sáng tạo sự mới mẻ. Ý nghĩa các tư tưởng này đối với thời đại như thế nào trong thực tiễn đấu tranh xã hội, khám phá thiên nhiên và nhất là trong thực tiễn sáng tác của nhà thơ lúc còn sống và khi qua đời.

 3/ Những đặc điểm về nghệ thuật nhà thơ đã sử dụng để chuyển tải những nội dung tư tưởng những tác phẩm của nhà thơ. Mỗi nhà thơ lớn đều có một bài thơ làm biểu tượng. Ví dụ: Nguyễn Bính có “Lỡ bước sang ngang”, Bảo Định Giang có “Tháp Mười đẹp nhất bông sen” Tố Hữu có “Từ ấy” thì Yến Lan phải là bài “Bến My Lăng, Bình Định 1935” Nhưng trong bài viết trên không nói gì đến “Bến My Lăng” mà chỉ dẫn chứng một bài “Nhớ” và 4 câu thơ của bài Bình Định 1935...

 Hai hôm sau, chị em tôi tạm biệt mẹ, bay vào Sài Gòn để kịp làm mâm cơm theo dương lịch 5/10/2010. Ngồi chờ ở sân bay Phù Cát, tôi lấy tờ “Báo Bình Định” thấy bài:

  "Năm tháng còn trên mấy đốt tay" của tác giả Lê Hoài Lương: 
 “Năm tháng đời người còn trên mấy đốt tay? Không, còn trong sự tưởng vọng nhiều đời dành cho những giá trị chân chính.!

 Một lần cùng người bạn đến thăm nhà thơ Yến Lan lúc ông nằm trên giường bệnh mấy tháng trước khi qua đời, ông nói: “Cái đáng sợ nhất của tuổi già là sự tỉnh táo!” Câu nói không hẳn là sự chiêm nghiệm của ông khiến tôi lạnh người. Người già thường sợ sự cô đơn, hoặc sợ lú lẫn làm phiền con cháu, với ông, một thi sĩ, sự tỉnh táo của tuổi già còn đáng sợ hơn. Cũng lần này, hỏi thăm ông về mấy năm tháng buồn vì tai nạn nghề cầm bút, ông im lặng nói lảng sang chuyện khác. Ôi cái sự tình của ông, sao nghĩ tới thấy buồn thương.


 Trong nhóm thơ Bình Định, ông là linh Lân. Lân, vận vào ông sao đúng thế. Sách xưa mô tả lân là linh thú, mình giống nai, đuôi giống trâu, móng như ngựa, lưng có lông ngũ sắc, bụng thì vàng, một sừng. Đặc biệt đây là con thú nhân đức, không ăn các sinh vật, đi cỏ không nát! Ông hiền lành đức độ một đời, văn nhân thi hữu nhiều lứa tuổi khác nhau đều chung nhận xét này. Linh lân lành hiền và từng chói sáng trên thi đàn với “Nhóm thơ Bình Định” và “Trường thơ loạn” ít nhất tới giờ mọi người vẫn ngưỡng mộ với Bến My Lăng và Bình Định 1935. Riêng Bến My Lăng cái bến thơ đẹp lộng lẫy và kỳ ảo không thể thiếu trong danh mục những bài thơ hay nhất nước Việt Nam thế kỷ XX .!....

 Ông đã về với cái bến trăng huyền ảo của ông cách đây đúng 10 năm. Lạ lùng thay lại nhằm đúng vào đêm trăng đẹp nhất trong năm: Trung thu. Ông lặng lẽ về với trăng trong niềm hân hoan lớn của trẻ nhỏ tùng cắc múa lân, ông - con linh – thú - lân lành hiền đi không làm đau cỏ!


 Đọc bài viết, chị em tôi xúc động theo từng con chữ. Tâm tư tôi lại xáo trộn, và tôi nhận ra trách nhiệm của người chị cả: Trách nhiệm quá lớn đối với một người chưa từng cầm bút để viết về một nhà thơ, mà nhà thơ đó là một trong bốn nhà thơ nổi tiếng của Tứ linh đất võ. Mà nhà thơ đó đã để lại trong lòng người yêu thơ rất nhiều nỗi niềm bâng khuân: Chính một cô giáo-đồng hương Bình Định đã nhận xét: 

-Nhà thơ Yến Lan là người khá cầu toàn, em cảm nhận một cách rõ ràng, sâu thẳm trong trái tim ông luôn muốn hoàn thiện về giá trị nhân văn của văn học để thế hệ sau có thể tự hào về tiền bối của mình mà chưa làm được; vì lực bất tòng tâm”  

Với ý nghĩ “nếu mình không làm thì rồi đây những gì cha để lại cho đời sẽ mai một đi do sự lãng quên của con người. Tôi đành nhờ đến cụ Thổ Địa vậy. Tôi ghi nội dung vào hai mãnh giấy:

1/-  Con đừng viết, vì không đủ trình độ 

2/-  Con cứ viết, có khó khăn gì ta sẽ giúp . 

Tôi bỏ hai mẫu giấy ấy vào đĩa, nơi thờ thần Thổ Địa, thần tài; thắp nhang; khấn, bốc một; trúng mẫu số 2.


 Và, sau đó, không hiểu sao, ký ức về tuổi thơ, tình yêu, nhân cách sống về người cha thi sĩ của tôi ồ ạt xô vào tâm trí tôi. Rồi, tối đó, trong giấc chiêm bao tôi thấy ông đứng trước mặt, tay trái cầm tờ giấy khổ A4, tay phải huơ huơ lên trang giấy. Tôi không hiểu người âm, nên hỏi cô bạn nhà bên. Cô ấy bảo: - “chắc cụ muốn chị viết gì đó”.

Vậy là rõ: Tôi-người cha chọn để cầm bút .


  Trước kia, khi đối diện với vô vàn khó khăn trong đời sống. Chị em tôi cằn nhằn, gây áp lực cho cha: “Sao ba không làm việc gì dễ kiếm tiền, làm chi nghề nhà thơ để “Bút sa gà chết, lại nghèo xác xơ thế này?! Nỗi bức xúc đó chúng tôi chỉ nhận được sự im lặng của cha. Ông để con tự hiểu, không đôi co, không giải thích. Nhưng, khi bốc mẫu số 2, tôi như được ai đó âm thầm dẫn qua mọi ngõ ngách, góc khuất của  82 năm đời và hơn 60 năm làm thi sĩ của cha tôi.

  Dần dà tôi nhận ra được chân dung con người thật của cha qua thư bè bạn ông và qua cuộc sống thực tế mà ông đã chiêm nghiệm.

 Hồi ấy, tôi thuờng nghe người ta tranh luận về thơ ba tôi, nào là:

- “Thơ của Yến Lan là thực tế và là lời nhắc nhở sự tìm tòi Nào là nhận xét của Văn Cao hoàn toàn đúng với thơ của Yến Lan, không phải chỉ thời đó mà còn cả các tập thơ mới xuất bản sau này”; hay như “Những điều Yến Lan đưa ra trước đây, giờ mới thấy ông đúng.” họ còn cho rằng:

 “Yến Lan là nhà thơ biệt lạ! v.v…”

Tôi chú ý đến một lá thư của bác Quách Tấn. Bác dặn:

 - “Những chuyện của chú nên kể cho con trẻ biết. Bây giờ chúng ta chưa nhận ra, hoặc xem nó bình thường nhưng sau này, đối với trẻ là vàng, là ngọc quí đó chú ạ”.

   Còn nhà nghiên cứu văn học hiện đại Đinh Tấn Dung thì cho rằng: “rồi đây lớp trẻ sẽ nhìn Yến Lan với cái nhìn khác so với bạn cùng thời với ông”.

Tôi thấy trách nhiệm là con phải tìm cho ra sắc ngọc trong ba tôi để chuyển tải nó trước hết cho con cháu mình.                                     

Tuy cha tôi không để lại một thiên hồi ký nào viết về “tôi làm thơ” nhưng mỗi tác phẩm của ông là lời nhắn nhủ, là chính cuộc đời ông đã chiêm nghiệm. Nó như bức thông điệp mà ông muốn gửi lại cho thế hệ trẻ mai sau.


  Khi bắt tay vào những trang đầu của hồi ký, tôi phải lội qua ma trận của giới văn chương mà trước đó tôi chẳng hiểu tí gì  Tôi thật sự lúng túng! Nhưng nhờ sự giúp đỡ thấu tình đạt lý của nhạc sĩ La Nhiên-con trai nhà danh cầm nổi tiếng của Bình Định vào thập niên 50 của thế kỷ XX, của thầy giáo dạy triết Trường Đại học Qui Nhơn - anh Cao Kế, nhà nghiên cứu văn học Khổng Đức, nhà văn Mang Viên Long, Nguyễn Hòa. Và tôi đã đủ niềm tin để vững tâm cầm bút viết hồi ký về người cha thi sĩ của mình.


                                                                           Lâm Bích Thủy

READ MORE - TÔI NGƯỜI CHẤP BÚT - Hồi ký của Lâm Bích Thủy

BỤI PHẤN THÔI RƠI... - Thơ Hiệp Kim Áo Tím



           Tác giả Hiệp Kim Áo Tím


BỤI PHẤN THÔI RƠI...
(Thương tặng những người thầy 
             đã xong chuyến đò đời)

Hết rồi... bụi phấn thôi rơi
Ngôi trường biết mấy thân quen
 
Bây giờ từ giã sách đèn từ đây
Nhớ ơi ánh mắt thơ ngây
 
Bàn tay nhỏ bé cong tay viết bài
 
Tập tành con số một, hai
 
Tròn xoe đôi mắt nhung nai hiền hòa
 
Chẳng buồn giận chẳng âu lo
 
Biết ai còn nhớ lái đò năm nao
Nhìn hàng phượng tím xôn xao
 
Tìm về kỷ niệm ngọt ngào năm xưa
 
Nhớ thương biết mấy cho vừa
 
Những đêm thức trắng, những trưa tập tành
Dòng lưu bút viết mực xanh
 
Ghi bao dòng chữ mỏng manh học trò
 
Cũng là xong một chuyến đò
 
Ta về gác mái sống cho riêng mình
 
Một đời sống với học sinh
 
Nghĩa thầy một chữ...vẹn tình trăm năm

                               Hiệp Kim Áo Tím 
                  
            Đà Lạt, 20/11/2015 

READ MORE - BỤI PHẤN THÔI RƠI... - Thơ Hiệp Kim Áo Tím

PHÙ VÂN - Thơ Trần Mai Ngân



                Tác giả Trần Mai Ngân



PHÙ VÂN


Bấy lâu đuổi mộng phù vân
Hương Hoàng lan thoảng như gần như xa
Đuổi hình, bắt bóng hoá ta
Cuộn tròn kinh kệ, ta bà lạc tâm ...


Cầm lòng thương nhớ boăn khoăn
Ùa theo huyễn mộng... tháng năm lạc tình
Tà huy thảng thốt một mình
Như nhiên đã hết - chùng chình nữa chi !

                                      Trần Mai Ngân

READ MORE - PHÙ VÂN - Thơ Trần Mai Ngân

CHÀO TẠM BIỆT SÀI GÒN - thơ Nguyễn Phúc Vĩnh Ba

Ảnh tác giả


Nguyễn Phúc Vĩnh Ba

CHÀO TẬM BIỆT SÀI GÒN

(Kỷ niệm một chuyến Nam du)


Ai cũng bận,
nên đành về lại Huế
Có ở thêm,
thêm chỉ những lạc loài
Sài gòn chừ mở rộng cả trăm nơi
Từ quận bốn về quận năm cũng khổ
Đường mở thêm và nhà thay khác số
Muốn thăm nhau đi mất tiếng đồng hồ
Ôm người yêu thua ôm bác xe thồ
Chờ giữa phố, leo vỉa hè thấy ngán
Khói vào mũi, quẹt tay nhau buổi sáng
Buổi trưa chiều lại suýt phạng vào nhau


Ôi! Sài Gòn trời bỗng chợt mưa mau
Xưa thích thú,
chừ kêu trời van đất
May quá sá,
tình ngày xưa chưa mất
Buồn chút chun nhưng vui lại quá nhiều
Tuổi đã già, chân đã bước xiêu xiêu
Còn gặp mặt, còn chuyện trò là quá đủ


Xin chia tay, chào Sài Gòn, bạn bè và đủ thứ!
Nhớ một thời trai trẻ ở nơi đây
Máu giang hồ, sức khoẻ, chí hừng mây…
Ừ, chi nữa thì cũng là dĩ vãng
Có nán lại, hết đêm rồi phải sáng
Gặp gỡ là sửa soạn phút chia tay
Chân đè lên đất Huế sáng nay
Lòng lại nhớ Sài Gòn như nổi sóng
Rộng mà chi cho mình tôi lạc lõng
Huế nhỏ nhoi.
Ôi! ấm áp vô vàn!
Chào bạn bè và hứa ẩu cho sang
Sẽ trở lại để chuyện trò lần nữa.

Sài gòn 16-7
Huế 29-7-09
NPVB
READ MORE - CHÀO TẠM BIỆT SÀI GÒN - thơ Nguyễn Phúc Vĩnh Ba

Saturday, November 19, 2016

ĐI TÌM NỤ TẦM XUÂN - Thơ Nguyễn An Bình





ĐI TÌM NỤ TẦM XUÂN

 ...Hoa tầm xuân suốt đời không gặp
 Anh suốt đời chẳng gặp sắc tầm xuân...
        (Lưu Quang Vũ - Hoa tầm xuân)

Ai hát câu “Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc”
Lời ngân lên lại chìm xuống vô tình
Bài ca dao rất cũ
Trôi qua dòng sông ký ức
Hồn hoa phiêu dạt tận chốn nào
Ngực trầm hương đã nhạt
Sao vẫn nhói tình ơi.

Ai ngậm ngải tìm trầm
Qua đầu sông góc bể
Rừng cỏ may mấy mùa gió lộng
Mắt vương hoài giọt nắng
Lao xao tiếng chim gọi
Cho trắng hạt mưa bay.
Người đi tìm trong cơn mộng mị
Đường trầm luân xa ngái
Rơi mất tuổi thanh xuân.

Còn sợi tóc nào bay
Bóng chiều rơi sâu thẳm
Lãng đãng tiếng kinh cầu thầm lặng
Để sắc tầm xuân nhuộm hoài trong dòng sông thương nhớ
Tôi loay hoay tìm về màu nắng lụa vườn xưa
Nhà em tím vườn cà
Biết có còn hoa tầm xuân nở muộn.
Tháng mười hai cúc vẫn chưa tàn
Vàng lối cỏ bước chân em rạo rực
Hương bưởi hương cau thơm từng sợi tóc
Phải chăng ta chiếc lá cuối mùa
Trôi giữa dòng lạc dấu heo may
Con sóng xưa chia cắt đôi bờ
Lẻ loi mình tôi đứng đợi
Tìm hoài sắc biếc nụ tầm xuân..

                    Nguyễn An Bình

READ MORE - ĐI TÌM NỤ TẦM XUÂN - Thơ Nguyễn An Bình

CHÙM TRUYỆN RẤT NGẮN - Lê thị Tâm Thu


        


             MƯỢN

            Trưa nắng. Đường vắng teo. Dưới gốc bàng, thằng nhỏ với chiếc gậy trong tay đang say sưa nằm ngủ, chợt chiếc nón bên cạnh từ từ di động. Hiếu kỳ, tôi khép cửa băng vội qua phố; tang vật là một chiếc móc dài và mảnh còn dính trong nón,  thằng Tý thọt đang dúi vội số tiền vơ được vào túi.
          Nó hốt hoảng lạy tôi như tế sao: “Em mới bán được có chín tờ số. Mẹ em bệnh nhưng vừa hết thuốc. Em định mượn tạm thằng mù vài hôm sẽ trả lại. Em sợ mẹ chết lắm!”
          Một uất nghẹn nơi cổ: “Chờ chị chút”! Quyết định nhanh rồi dắt Tý vào nhà, tôi gom hết tiền từ con lợn đất: “ Đây, em cầm về mua thuốc cho mẹ. Có gì không bình thường thì  phải báo cho các cô, các bác trong xóm mình biết để cùng giúp đỡ chứ. Chiều chị sẽ sang thăm dì Tư”. Hai mắt tròn xoe, nó nhìn tôi kinh ngạc rồi lắp bắp cám ơn. Tôi  với thêm: “Tiền kia nhớ trả lại cho thằng mù nhé!”
           Thằng Tý khập khễng về phía gốc bàng. Lòng tôi dâng lên một nỗi bồi hồi, xa xót!


           CHIỀU ĐƯA TANG

          Trong nắng hoe vàng, những tờ giấy bạc phất phới trên đường tráng nhựa tiễn linh cữu về với đất.
          Mong mỏi của gia quyến những tờ giấy ấy chỉ nẻo cho âm hồn về thăm mái ấm.
          Sư sãi trì chú, gõ mõ, niệm kinh cầu cho người thân của gia chủ mau siêu linh cõi Niết Bàn.
          Bên gốc phượng già trụi lá, thằng bé chép miệng ước mơ “giá ngần giấy kia hóa thành tờ tiền thật cho con lót lòng đỡ dạ chiều nay”.

        THẦY ƠI!

          Như một lữ khách cứ mãi đi tiếp cuộc hành trình, có bao giờ ngoái lại sau lưng (?)
          Một chiều cuối thu, heo may không còn, cái se lạnh đầu đông dần đến. Những hạt mưa nhẹ rơi- rơi xuống sông chia làm trăm ngả vạn đường đổ ra biển lớn…Qua bến cũ, nhìn con thuyền chơ vơ chợt chạnh lòng xao xuyến. Một thảng thốt, bâng khuâng. Trỗi dậy trong tâm tưởng hình ảnh một người giáo trẻ vui nhộn nhưng vô cùng nghiêm khắc. Bao kỷ niệm ùa về. Lớp học còn đó, bạn bè nơi mô?
          Vòng quay cuộc sống như cơn lốc. Bất chợt chiều nay...Giọt mưa lất phất đánh thức từ xa ngái. Ngập ngừng rồi bước vội. Trong tôi không ngừng vang gọi “Thầy ơi!”…

                                                                             Lê thị Tâm Thu

READ MORE - CHÙM TRUYỆN RẤT NGẮN - Lê thị Tâm Thu

VU VƠ - Thơ Đại Ngàn



                         Tác giả Đại Ngàn



VU VƠ 

Hình như
Bất chợt ta ghen
Hình như
Bất chợt ta hờn thế nhân
Hình như
Thoáng chút tần ngần
Hình như
Ta tự dỗ mình bước đi
Bận lòng chi
Lời người dễ dãi
Câu yêu thương chưa đọng đã rơi rồi

                                       Đại Ngàn

READ MORE - VU VƠ - Thơ Đại Ngàn